Năm 1981 để khắc phục tình trạng trì trệ của mô hình tập thể hóa trong nông nghiệp, ngày 13/1/1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100/CT- TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng “k
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Lịch sử và các giảng viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và viết luận văn
Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Trương Thị Tiến, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cám ơn Văn phòng Huyện ủy huyện Ứng Hòa, phòng tài nguyên môi trường huyện Ứng Hòa…đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và tài liệu thực tế cho luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cám ơn
Hà nội, ngày 12 tháng 8 năm 2014
Tác giả Trần Thị Phương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực Luận văn thừa kế các công trình nghiên cứu của những người đi trước và có sự bổ sung thêm tư liệu hoàn toàn mới
Học viên : Trần Thị Phương
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban Nhân dân
DĐĐT : Dồn điền đổi thửa
HTX : Hợp tác xã
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 8
2 Lịch sử nghiên cứu 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 11
5 Đóng góp của luận văn 12
6 Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN ỨNG HÒA TRƯỚC NĂM 1993 13
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ứng Hòa 13
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 13
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 17
1.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Ứng Hòa trước năm 1993 22 1.2.1 Trong những năm thực hiện mô hình tập thể hóa nông nghiệp (1958 – 1978) 22
1.2.2 Trong những năm 1979 - 1992 24
Chương 2: QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN VỀ QUAN HỆ SỞ HỮU – SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN ỨNG HÒA – HÀ NỘI (1993 – 2012) 35 2.1 Chuyển biến về quan hệ sở hữu – sử dụng đất nông nghiệp huyện Ứng Hòa – Hà Nội (1993 - 2003) 35
2.1.1 Chuyển biến về sở hữu đất nông nghiệp theo tinh thần Luật Đất đai năm 1993 35
2.1.2 Chuyển biến về quan hệ sử dụng đất nông nghiệp 39
2.2 Chuyển biến về quan hệ sở hữu – sử dụng đất nông nghiệp huyện Ứng Hòa – Hà Nội (2003 – 2012) 54
2.2.1 Chuyển biến về sở hữu đất nông nghiệp theo tinh thần Luật Đất đai năm 2003 54
Trang 72.2.2 Tiếp tục chuyển biến về quan hệ sử dụng đất nông nghiệp 61
Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN BIẾN QUAN HỆ SỞ HỮU – SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỚI KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN ỨNG HÒA 74
3.1 Tác động đối với kinh tế 74
3.1.1 Tạo thuận lợi cho chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi trong nông nghiệp, hình thành vùng sản xuất hàng hóa 74
3.1.2 Góp phần chuyển biến cơ cấu kinh tế 79
3.2 Tác động đối với xã hội 87
3.2.1 Góp phần chuyển dịch về lực lượng lao động 87
3.2.2 Tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân 89
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp Từ trong lịch sử, nông nghiệp luôn là ngành kinh tế quan trọng đối với nước ta Theo điều tra lao động và việc làm năm 2011 có tới 70,3% [21] lực lượng lao động ở nông thôn, một con số biết nói minh chứng cho vị thế quan trọng của nông nghiệp với con người và đất nước Việt Nam Một trong những vấn đề trung tâm và xuyên suốt trong nông nghiệp đó chính là vấn đề về ruộng đất (đất nông nghiệp) – tư liệu sản xuất chính của người nông dân
Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời 2/9/1945 và trải qua các thời kỳ lịch sử, Đảng và Nhà nước luôn nỗ lực giải quyết và đổi mới những chính sách, chủ trương về nông nghiệp, đất nông nghiệp để bám sát với tình hình thực tiễn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân
Năm 1981 để khắc phục tình trạng trì trệ của mô hình tập thể hóa trong nông nghiệp, ngày 13/1/1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100/CT-
TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm tới nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp, quyền tự chủ trong sử dụng ruộng đất của hộ xã viên bước đầu đã được khôi phục Hộ nông dân được nhận ruộng khoán, được tận dụng đất đai để tăng vụ, mở rộng diện tích vụ đông…, nhờ đó diện tích gieo trồng tăng, hiệu quả sử dụng đất tăng lên trông thấy so với trước Sự đổi mới căn bản trong chính sách ruộng đất ở nông thôn Việt Nam được thể hiện rõ ràng và quyết liệt nhất ở nghị quyết 10 NQ/TW của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI ngày 5/4/1988
về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp Nghị quyết đã thừa nhận hộ nông dân được quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh và được giao khoán ruộng đất ổn định, lâu dài (đối với cây hàng năm thời hạn giao khoảng 15 năm) Tới năm
1993, Luật Đất đai mới được thông qua đã giao quyền sử dụng đất cho hộ nông dân và luật đã ghi nhận chi tiết hơn về quyền của người sử dụng đất Từ năm
Trang 91997 tới nay, Đảng và nhà nước có chủ trương lớn dồn điền đổi thửa để khuyến khích tích tụ ruộng đất
khắc phục tình trạnh manh mún về ruộng đất, tạo điều kiện hình thành vùng chuyên canh lớn
Huyện Ứng Hòa cũng như các địa phương khác trong cả nước, tích cực thực hiện các chủ chương chính sách trên Trong công tác dồn điền đổi thửa, Ứng Hòa là một huyện đi đầu thực hiện chủ trương Quá trình Ứng Hòa thực hiện các chủ chương, chính sách của Nhà nước về nông nghiệp nói chung, đất nông nghiệp nói riêng là một quá trình vừa làm vừa rút kinh nghiệm Do vậy, nghiên cứu quá trình này sẽ góp phần tổng kết những thành tựu, hạn chế đồng thời phát hiện những vấn đề nảy sinh đòi hỏi giải quyết Từ đó, góp phần giúp các nhà quản lý tiếp tục vận dụng chính sách nông nghiệp của Đảng vào thực tế địa phương, tạo thuận lợi để người nông dân sử dụng đất đai một cách hiệu quả
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài “Chuyển biến về quan hệ
sở hữu - sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa – Hà Nội (1993 – 2012) làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Nông nghiệp cùng với vấn đề về ruộng đất trong nông nghiệp là một đề tài thu hút được nhiều nhà quản lý, nhà nghiên cứu khoa học Bằng chứng là các cuốn sách và những đề tài nghiên cứu về vấn đề này khá đa dạng và phong phú
Những công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn như: PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc với “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” (1986 – 2000), Nhà xuất bản Thống Kê, hà Nội, 2003; Đặng Kim Sơn với
“Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm sau đổi mới”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội 2006; Nguyễn Văn Bính – Chu Tiến Quang với “Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996; Hồng Vinh với
“Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn một số vấn đề lý luận và
Trang 10với “Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 PGS.TS Trương Thị Tiến với “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam” Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999
Bên cạnh đó, cũng có những công trình nghiên cứu riêng về vấn đề đất nông nghiệp như: Trần Thị Minh Châu với “Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2007; Hoàng Việt với “Vấn đề sở hữu ruộng đất trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1999
Ngoài ra còn có nhiều bài viết trên tạp chí nghiên cứu như: PGS.TS Trương Thị Tiến với “Đường lối đổi mới của Đảng đối với vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch Sử Đảng, số 1 năm 1995 và “Đổi mới chính sách ruộng đất ở Việt Nam và vấn đề ruộng đất của kinh tế hộ nông dân”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch Sử Đảng, số 5, năm 2004 Trương Hữu Quýnh với “Mấy suy nghĩ về nông thôn đồng bằng Bắc Bộ từ góc độ sở hữu”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 4, năm 1993
Trong thời gian gần đây cũng ghi nhận một số luận văn lựa chọn đề tài về chính sách nông nghiệp, cùng chính sách về đất nông nghiệp: “Đường lối phát triển nông nghiệp nông thôn của Đảng trong những năm 1986-2006” của tác giả
Lê Thị Thu Hương (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội), “Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn từ 1996 đến 2006” của tác giả Hoàng Thị Nhung (Đại học Quốc Gia Hà Nội) “Quá trình dồn điền đổi thửa điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất ở xã Phù Lưu tế huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây”( 1993 – 2008) của tác giả Phạm Tô Huyền (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội)…
Các công trình trên đây đã phác họa bức tranh về tình hình sử dụng đất nông nghiệp của cả nước thời kỳ đổi mới Một số công trình đi sâu nghiên cứu tình hình đất nông nghiệp của một số địa phương cụ thể nhưng phần lớn là trên
Trang 11Riêng với địa phương huyện Ứng Hòa – Hà Nội, chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về sự chuyển biến về quan hệ sở hữu - sử dụng đất nông nghiệp tại huyện từ 1993 đến 2012 Tuy nhiên, những công trình trên giúp tôi có định hướng, phương pháp tiếp cận để tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề đặt ra
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chuyển biến về quan hệ sở hữu và sử dụng đất
nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa – Hà Nội (1993 – 2012)
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nội dung:
- Quá trình chuyển biến về quan hệ sở hữu - sử dụng đất nông nghiệp ở một địa bàn cấp huyện, trong đó luận văn tập trung nghiên cứu nhiều hơn về sự chuyển biến trong quan hệ sử dụng đất nông nghiệp vì sự chuyển biến này thể hiện đậm nét hơn
- Tác động của chuyển biến về quan hệ sở hữu - sử dụng đất nông nghiệp tới tình hình kinh tế - xã hội của huyện
Địa bàn nghiên cứu: huyện Ứng Hòa – Hà Nội, trong một chừng mực
nhất định, luận văn có đề cập tới tỉnh Hà Tây (cũ) để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu tại địa phương
Thời gian: Luận văn nghiên cứu quá trình chuyển biến quan hệ sở hữu -
sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Ứng Hòa trong thời gian từ 1993 đến 2012, chia làm hai giai đoạn 1993 – 2003 và 2003 – 2012 Năm 1993 là năm nhà nước ban hành luật Đất đai sửa đổi đồng thời là năm ghi nhận cột mốc bắt đầu tính thời hạn giao đất sử dụng ổn định lâu dài để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm(1993 – 2013) theo Luật Đất đai 1993 Năm 2012 là năm đăng kí tên đề tài luận văn
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu: Hệ thống văn kiện của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp
và nông thôn, các công trình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề nông nghiệp, nông thôn và ruộng đất trong thời kỳ đổi mới, các tài liệu lưu trữ: báo cáo về
Trang 12tình hình ruộng đất, niêm giám thống kê của huyện ủy và phòng Tài nguyên môi trường của huyện Ứng Hòa
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu
lịch sử và lôgic là chủ yếu; kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh nhất là phân tích số liệu thống kê của các báo cáo tổng kết, khảo sát thực tế
5 Đóng góp của luận văn
- Dựng lại quá trình chuyển biến quan hệ sở hữu – sử dụng đất nông
nghiệp tại huyện Ứng Hòa từ 1993 đến 2012
- Phân tích tác động của quá trình chuyển biến này tới kinh tế và xã hội của huyện
- Luận văn góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa học, thực tiễn giúp các nhà quản lý kiểm nghiệm hiệu quả của các chính sách, vận dụng sáng tạo và linh hoạt chủ trương của Nhà nước vào tình hình cụ thể của địa phương
6 Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Ứng Hòa trước năm 1993
Chương 2: Quá trình chuyển biến về quan hệ sở hữu – sử dụng đất nông nghiệp huyện Ứng Hòa (1993 – 2012)
Chương 3: Tác động của quá trình chuyển biến quan hệ sở hữu - sử dụng đất nông nghiệp tới kinh tế - xã hội huyện Ứng Hòa
Trang 13Chương 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN ỨNG HÒA TRƯỚC NĂM 1993
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ứng Hòa
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1: Bản đồ huyện Ứng Hòa
Địa giới của huyện: Huyện Ứng Hòa nguyên là phủ Ứng Thiên đời nhà
Lê thuộc trấn Sơn Nam Năm Gia Long thứ 13 (năm 1814) phủ Ứng Thiên đổi
tên là phủ Ứng Hòa
Trang 14Năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1831), khi tỉnh Hà Nội được thành lập, Ứng Hòa là một trong bốn phủ của tỉnh Hà Nội Phủ Ứng Hòa gồm các huyện Sơn Minh sau đổi thành Sơn Lãng, Chương Đức (sau đổi thành Chương Mỹ), Thanh Oai và Hoài An
Năm 1888, khi tỉnh Hà Đông được thành lập, phủ Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Đông Năm 1891, thành lập phủ Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Đông, bao gồm huyện Yên Đức, Chương Mỹ và Sơn Lãng
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, huyện Sơn Lãng đổi tên là huyện Ứng Hòa, huyện Yên Đức đổi tên là huyện Mỹ Đức
Ngày 21/4/1965, tỉnh Hà Tây được thành lập theo Nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông Theo
đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây gồm thị trấn Vân Đình và 29 xã là Cao Thành, Đại Cường, Đại Hùng, Đội Bình, Đông Lỗ, Đồng Tiến, Đồng Tân, Hoa Sơn, Hòa Lâm, Hòa Nam, Hòa Phú, Hòa Xá, Hồng Quang, Kim Đường, Liên Bạt, Lưu Hoàng, Minh Đức, Phù Lưu, Phương Tú, Quảng Phú Cầu, Sơn Công, Tân Phương, Tảo Dương Văn, Trầm Lộng, Trung Tú, Trường Thịnh, Vạn Thái, Viên An, Viên Nội
Ngày 27/12/1975, kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa V thông qua Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Sơn Bình
Ngày 12/8/1991, kỳ họp thứ chín Quốc hội khóa VIII thông qua Nghị quyết chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây
Ngày 23/9/2003, Chính phủ ra Nghị định số 107/2003/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị trấn Vân Đình thuộc huyện Ứng Hòa Theo đó, sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Tân Phương và một phần diện tích và dân số các xã Liên Bạt, Phương Tú, Vạn Thái vào thị trấn Vân Đình Sau khi điều chỉnh, huyện Ứng Hòa gồm 29 đơn vị hành chính gồm thị trấn Vân Đình và 28 xã
Trang 15Từ ngày 1/8/2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội theo Nghị quyết của kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa XII ngày 29/5/2008 Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc thành phố Hà Nội
Sau những lần sát nhập trên, huyện có những thay đổi về tên gọi qua các
thời kỳ nhưng địa giới huyện về cơ bản bản không có những thay đổi về đất đai
Vị trí địa lý: Ứng Hòa là một huyện đồng bằng nằm ở phía Nam của
thành phố Hà Nội Phía Bắc giáp huyện Thanh Oai và huyện Chương Mỹ Phía Nam giáp huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam Phía Tây giáp sông Đáy, ngăn cách với huyện Mỹ Đức Phía Đông giáp huyện Phú Xuyên Diện tích tự nhiên là 183,72 km2 (năm 2010), chiếm 5,5% tổng diện tích toàn thành phố Hà Nội
Huyện Ứng Hòa có 29 đơn vị hành chính, bao gồm 1 thị trấn và 28 xã, với
138 thôn, tổ dân phố Huyện nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, đất đai mầu
mỡ thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp sinh thái toàn diện và năng xuất cao Hệ thống kết cấu hạ tầng đang từng bước được xây dựng và cải thiện để
có thể tạo bước đột phá làm tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện Các tuyến trục giao thông quan trọng ( QL21B, 428 và các tuyến đường trục phát triển lớn của thủ đô Hà Nội, gồm trục phát triển Bắc – Nam, Trục phát triển phía Nam
và tuyến đường Đỗ Xá – Quan Sơn) kết nối huyện Ứng Hòa với trung tâm Hà Nội, các trung tâm kinh tế của Thủ đô và các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Địa hình: Địa hình đồng bằng, tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình
1,5m – 4m, thấp nhất là 0,6m, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Dựa trên đặc điểm địa hình, lãnh thổ huyện có thể chia làm 2 vùng như sau:
- Vùng 1 (vùng ven sông Đáy) gồm 14 xã là những xã năm dọc sông Đáy, phía trong đồng chủ yếu trồng lúa, phía ngoài đồng chủ yếu trồng cây công nghiệp ngắn ngày
- Vùng 2 (vùng cao và trũng) gồm 14 xã và 1 thị trấn, chủ yếu trồng cây lúa và cây vụ Đông Nhìn chung, địa hình của huyện rất thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp và thuận lợi cho việc bố trí các công trình công nghiệp
Trang 16Khí hậu và thủy văn: Nằm trong vùng đồng bằng, huyện có đặc trưng của
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa đồng thời là mùa hạ nóng ẩm; mùa đông lạnh, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Một số đặc điểm về khí hậu của huyện:
- Nhiệt độ trung bình hàng năm: 23,5 độ C, trong đó cao nhất là 2,7độ C (tháng 6) và nhiệt độ thấp nhất là 16,0 độ C (tháng 1)
- Độ ẩm trung bình trong năm là 84%, trong đó tháng cao nhất (tháng 3 và tháng 4), tháng thấp nhất là (tháng 12) là 80%
- Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.760mm, trong đó tập trung vào tháng 8 và tháng 9 hàng năm và thấp nhất vào tháng 12
- Tổng số giờ nắng trong năm: 1.597 giờ
Khí hậu có hai mùa rõ rệt, độ ẩm cao, mưa nhiều thuận lợi cho sự phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới và một số loại cây ôn đới chất lượng cao
Các loại tài nguyên
- Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt đất rất là phong phú, gồm có nước từ
sông Đáy và sông Nhuệ Hiện nay, nguồn nước từ sông Nhuệ đang bị ô nhiễm nặng nề, tác động xấu tới sản xuất và đời sống nhân dân ven sông Nước ngầm chưa được thăm dò, đánh giá cụ thể, nhưng theo kết quả sợ bộ co thấy mực nước ngầm khoảng ở độ sâu 15 – 25 m, chất lượng tốt có thể khai thác và sử dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân
- Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 18.371 ha
Bảng 1.2: Cơ cấu phân bố đất đai năm 2010
64,33 59,71
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ứng Hòa năm 2010)
Trang 17Thời gian qua, diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm tương đối nhanh,
từ 12.834 ha năm 2005 xuống 11.819 ha năm 2010 (tỷ trọng từ 69,9% xuống còn 63,33% tổng diện tích tự nhiên) Đất chuyên dùng và đất ở đang có xu hướng gia tăng mạnh từ 4.487 ha năm 2005 tăng lên 5.510 (tỷ trọng từ 24,42 % lên 30,0% tổng diện tích đất tự nhiên) Chuyển biến trên xuất phát từ thực tế yêu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội, xây dựng các trục đường giao thông lớn, nhu cầu mở rộng đô thị và các khu, cụm, điểm công nghiệp trong tương lai đòi hỏi phải có quỹ đất khá lớn, trong đó chủ yếu sẽ phải chuyển từ đất nông nghiệp sang sử dụng xây dựng cơ sở hạ tầng và dân sinh
Hầu hết toàn bộ diện tích đất của huyện đã được sử dụng vào các mục đích kinh tế, dân sinh Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người rất thấp, chỉ khoảng 650m2/người và 1.296m2/lao động nông nghiệp Hệ số sử dụng đất nông nghiệp của huyện Ứng Hòa tương đối cao là 2,3 lần, khó có thể nâng lên cao hơn nữa và hầu hết diện tích đất huyện Ứng Hòa được tạo thành từ nguồn phù sa sông Hồng, có độ phì nhiêu cao, thích hợp và tốt cho nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây lương thực, rau, đậu thực phẩm và cây ăn quả
- Khoáng sản: Trên lãnh thổ của huyện chưa phát hiện loại tài nguyên khoáng sản nào có trữ lượng lớn, đáng kể Chủ yếu có một số loại:
+ Than bùn: có ở các xã vùng trũng khu Cháy (trên địa bàn các xã Trung
Tú, Đồng Tân, Hòa Lâm, Trầm Lộng, Minh Đức, Kim Điền, Đông Lỗ và Đại Hùng) có than bùn với trữ lượng chưa xác định, đó là nguồn nguyên liệu làm phân hữu cơ vi sinh rất tốt cho trồng trọt
+ Cát: hiện đang khai thác ở các xã dọc sông Đáy, từ Viên An đến Hồng Quang, bao gồm Viên An, Tân Phương, Hòa Nam và Hòa Phú phục vụ cho xây dựng cơ bản trong huyện
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế
Nông nghiệp là ngành kinh tế chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu nền
kinh tế huyện với tỷ trọng 44,3% (năm 2011) Sản xuất nông nghiệp phát triển
Trang 18tương đối ổn định, có sự chuyển biến quan trọng về cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp và nông thôn Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2011 (theo giá cố định năm 1994) đạt 849 tỷ đồng, trong đó trồng trọt là 396 tỷ đồng, chăn nuôi đạt 489
tỷ đồng Tốc độ tăng bình quân/năm là 5,3%/năm, trong đó tốc độ tăng của ngành chăn nuôi là 6,8%/ năm, ngành trồng trọt là 3,4%/năm
Ứng Hòa đã tập trung chỉ đạo nhân rộng các mô hình nông nghiệp giá trị kinh tế cao nhằm phát huy tối đa hiệu quả giá trị sử dụng đất ở địa phương Đẩy mạnh chương trình chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, theo các mô hình chuyên canh, đa canh, nuôi thủy sản (lúa + cá + vịt) Năm 2009 tổng đàn gia súc, gia cầm của huyện duy trì khoảng gần 900.000 con Đi đôi với việc đồn điền đổi thửa đã tạo điều kiện hình thành các trang trại sản suất đa dạng, đa canh kết hợp Kinh tế trang trại tiếp tục phát triển (toàn huyện có 127 trang trại – vườn trại với diện tích 298 ha) Đặc biệt, để thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, huyện đã quy hoạch 12 điểm với 635
ha diện tích trồng rau an toàn tập trung tại các xã ven sông Đáy
Cùng với chăn nuôi gia súc, gia cầm, một mũi nhọn khác của huyện là nuôi trồng thủy sản Phát huy lợi thế của một huyện có vùng trũng thuận lợi cho
sự phát triển ngư nghiệp Thủy sản phát triển nhanh cả về diện tích nuôi và sản lượng, trong những năm 2005– 2010, diện tích nuôi tăng 1,75 lần và sản lượng tăng 2,8 lần, chủ yếu do ứng dụng các loại giống mới với năng suất cao, đã hình thành một số khu nuôi thủy sản tập trung quy mô lớn (xã Trung Tú, xã Đồng Tân) Năng suất thủy sản trung bình đạt 6,2-6,5 tấn cá/ha/năm, cho thu nhập 75-
85 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 2,5 đến 3 lần so với cấy lúa Nhiều hộ đầu tư vốn lớn cho thu nhập lên tới 100-120 triệu đồng/ha/năm
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện những năm gần
đây cũng có tốc độ phát triển tương đối cao Tính đến năm 2008, trên địa bàn huyện có 5.102 cơ sở sản xuất công nghiệp với 11.496 lao động Quy mô sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện còn nhỏ bé, nhưng tốc độ tăng trưởng cao Tổng giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định năm
Trang 191994) năm 2009 đạt 320 tỷ đồng và năm 2010 đạt 368 tỷ đồng, bình quân tăng 15%/năm trong giai đoạn 2005 – 2010
Tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong tổng giá trị sản xuất của huyện tăng từ 14,8% (năm 2005) lên 17,6% (năm 2010) Đến nay, toàn bộ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện đều thuộc thành phần kinh tế ngoài nhà nước (kể từ năm 2005, sau khi thực hiện cổ phần hóa, không còn doanh nghiệp nhà nước hoạt động trên địa bàn)
Giá trị xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 37,5 tỷ đồng (hàng xuất khẩu gồm: mây tre đan, tăm hương xuất khẩu, hàng thủ công
mỹ nghệ…) tăng trung bình 17,7%/năm
Cơ cấu sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của huyện Ứng Hòa tập trung vào một số ngành nghề: Chế biến lương thực – thực phẩm, sửa chữa cơ kim khí, tái chế vật liệu, sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ gia dụng, dệt may chiếm tỷ trọng cao Huyện đã có được một số cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ (có
22 doanh nghiệp tư nhân, 48 công ty trách nhiệm hữu hạn,16 công ty cổ phần và
107 hợp tác xã)
Trên địa bàn huyện đã hình thành những điểm tiểu thủ công nghiệp làng nghề (có 87 làng nghề), trong đó đến năm 2007 có 19 làng nghề được công nhận, phân bố tập trung ở các xã Quảng Phú Cầu, Trường Thịnh, Liên Bạt, Hoa Sơn, Hòa Lâm, Hòa Xá, Phương Tú và Đại Hùng Giá trị sản xuất từ các làng nghề chiếm tỷ trọng trên 60% giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của toàn huyện Những cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nhỏ này đã tạo nền và kinh nghiệm cho sự phát triển trong những năm tiếp theo
Thương mại và dịch vụ của huyện tiếp tục phát triển về hình thức, phương
thức và chủng loại mặt hàng Thị trường được mở rộng, hoạt động thương mại – dịch vụ được đa dạng với nhiều thành phần kinh tế tham gia trong lưu thông hàng hóa, trong đó khu vực thương mại tư nhân phát triển mạnh, chất lượng phục vụ từng bước được nâng cao Tổng mức luân chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ năm 2008 trên địa bàn đạt 185 tỷ đồng, tốc độ tăng doanh thu
Trang 20thương mại – dịch vụ bình quân/năm (2000 – 2005) tăng 11,5%/năm, do mở rộng thị trường nội địa đồng thời với xuất khẩu Tổng giá trị sản xuất của khu vực thương nghiệp – dịch vụ năm 2009 đạt 358,0 tỷ đồng, năm 2010 đạt 413,5
tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân/năm 15,7%, chiếm 24,1% trong cơ cấu kinh tế huyện Các hoạt động thương mại – dịch vụ của huyện Ứng Hòa đã từng bước cung ứng được vật tư sản xuất và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, là đầu mối phân luồng hàng hóa và dịch vụ với các huyện phía nam Hà Nội Một
số sản phẩm xuất khẩu của huyện đã bước đầu khẳng định trên thị trường: mây tre đan, tăm hương
Huyện cũng đã đầu tư mở rộng, nâng cấp một số cơ sở thương mại – chợ, gắn với các cụm điểm dân cư trên địa bàn huyện Toàn huyện có 31 chợ (6 chợ xây dựng kiên cố), trong đó các chợ có tính chất liên xã: chợ thị trấn Vân Đình, chợ Ngăm, chợ Cháy, chợ Đinh Xuyên, chợ Choòng, chợ Kim Đường, chợ Dầu, chợ Ba Thá, chợ Xà Kiều, chợ Đặng Giang và chợ Trung Tú Chợ đầu mối nông sản thị trấn Vân Đình, trung tâm thương mại và dịch vụ nhà ở thị trấn Vân Đình
đã hoàn thành xây dựng vào cuối năm 2009 Các chợ đang được đầu tư nâng cấp
là chợ Ngăm và chợ Bái
Về cơ sở kinh doanh xăng dầu hiện có 15 điểm ở dọc các tuyến đường giao thông chính trên địa bàn Toàn huyện có 6 cơ sở làm dịch vụ vận tải (1 doanh nghiệp tư nhân, 1 hợp tác xã và 4 công ty cổ phần) Thị trấn Vân Đình có bến xe khách đi ngoại huyện và ngoại tỉnh và bến xe buýt đi vào trung tâm Hà Nội Dịch vụ vận tải về cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận tải hàng hóa, đi lại của nhân dân ngoại tỉnh, trong tỉnh và trong huyện
Dịch vụ du lịch bước đầu được đầu tư mở rộng, nâng cấp một số cơ sở hạ tầng các điểm du lịch, trên địa bàn cũng có những điểm phát triển dịch vụ du lịch văn hóa – di tích lịch sử, văn hóa, du lịch sinh thái đồng quê
Điều kiện xã hội
Văn hóa: Ngay từ xa xưa, khi cư dân mới quần tụ về đây đã biết đoàn kết
nương tựa vào nhau cùng khai phá mảnh đất hoang dã, tạo dựng quê hương,
Trang 21làng xã Ứng Hòa nằm trong vùng thuộc nền văn minh lúa nước sông Hồng, mang đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp truyền thống Nhân dân có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, đoàn kết, tình cảm yêu thương quê hương và
gắn bó sâu nặng với xóm làng
Trải qua chiến tranh, sự huỷ hoại của thời gian, nhiều làng vẫn còn những công trình văn hoá nghệ thuật đặc sắc như đền, chùa, quán Đó là những công trình kiến trúc mà nhân dân xây dựng từ lâu đời, có công trình tồn tại đã mấy trăm năm Những công trình đó không chỉ nổi tiếng về tầm vóc qui mô mà chính là đạt tới giá trị cao về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, đậm đà bản sắc dân tộc Theo thống kê trong Dư địa chí Hà Tây, toàn huyện có 103 ngôi đình, chùa, đền, quán được Bộ Văn hóa thông tin và Ủy ban Nhân dân Tỉnh công nhận và xếp hạng di tích Trong đó, tiêu biểu có: đình Vân Đình; đình, miếu Đông Dương; đình và quán Đinh Xuyên; đền Hữu Vĩnh; đình, chùa Miêng Hạ; đình Phú Lương; đình Quảng Nguyên; đền Thái Bình; đình Tử Dương; đình Trung Thịnh; đình Vĩnh Lộc Thượng; đình Yên Trường; đình Hoàng Xá Điều này thể hiện cho bề dày lịch sử của huyện
Ứng Hòa có một số các làng nghề truyền thống như làng may Trạch Xá thuộc xã Hòa Lâm, làng bún Bặt thuộc xã Liên Bạt, làng đàn Đào Xá thuộc xã Đông Lỗ, làng nghề khảm trai Cao Xá thuộc xã Trung Tú Toàn huyện có 18/29 trường đạt chuẩn quốc gia và 13/29 trạm y tế xã đạt chuẩn và có bác sĩ phục vụ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Dân tộc và dân cư: Cư trú ở vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, nhân dân
Ứng Hòa chủ yếu là dân tộc Kinh Đạo Phật là gốc rễ trong tính ngưỡng của người dân Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đạo Thiên chúa được du nhập vào địa bàn huyện, có một số nhà Xứ, nhà thờ lớn nhất ở Miêng Thượng và Giang Soi Hiện nay, số đồng bào theo đạo Thiên chúa ở huyện là dưới 7% so
với tổng số dân của huyện
Dân số trung bình năm 2008 có 196.558 người (chiếm 3,05 tổng dân số thành phố Hà Nội), trong đó: thành thị 13.585 người (chiếm 6,92%), nông thôn:
Trang 22bằng 55,6% mật độ dân số trung bình của thành phố Hà Nội (mật độ dân số của thành phố Hà Nội là 1.926 người /km)
1.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Ứng Hòa trước năm 1993
1.2.1 Trong những năm thực hiện mô hình tập thể hóa nông nghiệp (1958 – 1978)
Sau năm 1954, hoà bình được lập lại, nhân dân miền Bắc bước vào công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh đồng thời tiếp tục hoàn thành cải cách ruộng đất, tạo tiền đề đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cải cách ruộng đất tuy có một số sai lầm nghiêm trọng nhưng nó đã góp phần xoá bỏ căn bản chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân góp phần hình thành hàng triệu hộ tiểu nông với mức ruộng đất xấp xỉ với mức bình quân chung của địa phương Đó là sự biến đổi có ý nghĩa tích cực đối với sản xuất nông nghiệp Trong thời kỳ này, các chính sách của Đảng và Nhà nước đã duy trì kinh tế hộ nông dân, bảo đảm quyền sở hữu ruộng đất và tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của hộ Các hộ nông dân đã được tạo điều kiện để phát triển sản xuất theo quy mô từng hộ gia đình Nhờ vậy, hộ tiểu nông trở thành đơn vị kinh tế tự chủ và là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp Cũng như nông dân cả nước, nhân dân huyện Ứng Hòa cũng được chia ruộng đất và được quyền sở hữu về ruộng đất, được quyền tự chủ trong sản xuất theo quy mô từng hộ gia đình Hình thức hợp tác chủ yếu trong giai đoạn này là hình thức tổ đổi công Với hình thức này, người nông dân vẫn còn làm chủ ruộng đất, làm chủ quá trình sản xuất và làm chủ khối lượng sản phẩm làm ra Bởi vậy họ thật sự quan tâm, lo lắng đến mùa màng, đến kết quả cuối cùng của lao động nhờ đó mà sản xuất nông nghiệp ở huyện phát triển, năng xuất và sản lượng đều tăng
Vậy có thể thấy rằng, tổ chức sản xuất theo quy mô từng hộ gia đình với hình thức hợp tác đơn giản là phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nông thôn sau cải cách ruộng đất, đáp ứng được nguyện vọng
Trang 23của nông dân nên đã tạo ra động lực để phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, mô hình này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và chỉ được coi như một bước đệm để tiến tới xây dựng mô hình tổ chức sản xuất cao hơn
Thực hiện chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa với nông nghiệp, Đảng bộ huyện Ứng Hòa đã vận động nhân dân tham gia vào các hợp tác xã nông nghiệp
“Năm 1966, toàn huyện có 158 hợp tác xã với 20.430 hộ xã viên, đạt tỷ lệ 86% tham gia hợp tác xã” [39, tr 315] Trong thời kỳ đầu của cải tạo xã hội chủ nghĩa với nông nghiệp, ở các hợp tác xã bậc thấp thì người nông dân còn được chia hoa lợi tùy theo mức ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác góp vào hợp tác
xã Tuy nhiên, vào giai đoạn sau của quá trình cải tạo, khi phát triển quy mô hợp tác xã lên hợp tác xã bậc cao thì sở hữu tập thể về ruộng đất đã hoàn toàn được xác lập cùng với cơ chế quản lý tập trung và phân phối theo công điểm Hình thức sở hữu tập thể về ruộng đất có những điểm hạn chế đó là người nông dân bị tách khỏi ruộng đất, không gắn bó với ruộng đất Tình trạng sử dụng đất nông nghiệp diễn ra một cách lãng phí và phổ biến Tại Ứng Hòa, mô hình tập thể hóa
về ruộng đất cũng không đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân Nếu năm
1966, toàn huyện có 158 hợp tác xã với 20.430 hộ xã viên, đạt tỷ lệ 86% tham gia hợp tác xã thì trong đó, số hợp tác xã yếu, kém còn tới 16%, còn 20 hợp tác
xã chia theo đội, mới sử dụng hết 60% sức lao động trong các hợp tác xã, hiện tượng tham ô, lãng phí còn tồn tại ở nhiều hợp tác xã [39,tr.315] Việc hoàn thành cày cấy đúng thời vụ, hết diện tích vẫn là một khó khăn, có hợp tác xã, có mùa vụ còn để diện tích hoang hóa Năng suất lúa đạt được chưa cao, những hợp tác xã khá cũng chỉ đạt 4 tấn/ha, khẩu hiệu 5 tấn thóc/ha gieo trồng vẫn là một khẩu hiệu xa vời, khó đạt được của huyện
Sang tới những năm 1977 – 1978, tình hình cũng chưa có nhiều thay đổi tích cực Chế độ phân phối lương thực từ thời chiến, theo định suất, định lượng
đã không chỉ làm cho hộ nông dân thiếu phấn khởi, giảm gắn bó với ruộng đồng, năng suất lao động giảm Tình trạng dong công phóng điểm trở nên phổ biến, bình quân mỗi hộ lao động mới làm từ 120 đến 180 công mỗi vụ, tình trạng bỏ,
Trang 24giấu diện tích, năng suất và sản lượng nợ nần diễn ra phố biến Nhiều đội, nhiều hợp tác xã giấu diện tích, năng suất, sản lượng để giảm nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước Tinh thần ăn chia theo đội ngày càng nhiều “năng suất vẫn chỉ đạt khoảng 4tạ/ha, tổng sản lượng lương thực cả năm là 44.607 tấn”[39, tr.373]
Hợp tác xã không có chủ thể kinh tế đích thực đã không tạo ra động lực cho sự phát triển Cùng với mô hình này, địa vị của hộ nông dân đã hoàn toàn khác trước, thực chất họ đã trở thành người làm công cho hợp tác xã, nông dân không còn gắn bó với ruộng đất
1.2.2 Trong những năm 1979 - 1992
Trước sự khủng hoảng của mô hình hợp tác xã nông nghiệp trong những năm tập thể hóa, một số tổ chức Đảng và quần chúng đã tìm kiếm cách làm mới, xác lập vai trò của kinh tế hộ trong quá trình sản xuất nông nghiệp Thậm chí cách làm mới được thực hiện ngay trong những năm tháng mà mô hình hợp tác
xã được đẩy mạnh về quy mô Điển hình là năm 1966 tại Vĩnh Phúc xuất hiện hình thức “khoán hộ” (thường được gọi là khoán chui) Khoán hộ là cách làm khoán trực tiếp đến hộ gia đình xã viên Hợp tác xã chỉ cung cấp giống, kỹ thuật, phân bón, thuốc trừ sâu và đến vụ thu hoạch thì người lao động chia lại một phần lúa cho hợp tác xã từ năng suất lúa mà họ thu hoạch được Ruộng đất đã gắn với công sức và quyền lợi của người nông dân Nếu họ tích cực đầu tư công sức trên phần đất được giao khoán thì lúa sẽ tốt và hứa hẹn vụ mùa đó họ sẽ thu hoạch được nhiều hơn Sau năm 1975, hình thức khoán tới hộ xã viên lại xuất hiện ở Vĩnh Phúc, Hải Phòng và sau đó lan dần ra nhiều địa phương khác ở mức
độ khác nhau Huyện Ứng Hòa cũng đã có xã thực hiện cách làm mới này Đảng
bộ, hợp tác xã Sơn Công đã mạnh dạn mở rộng việc khoán cho hộ gia đình xã viên Nhưng việc “khoán chui” thời điểm đó bị nhìn nhận như một sai phạm có tính nguyên tắc, đi ngược lại con đường phát triển của chủ nghĩa xã hội Bởi tại thời điểm đó, khoán hộ bị phê phán là xa rời Chủ nghĩa xã hội, đưa nông nghiệp trở lại con đường tư hữu hoá vì giao ruộng đất, tài sản cho nông dân
Trang 25Giữa lúc huyện ủy đang lúng túng giải quyết “sai lầm” của xã Sơn Công thì Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV đã họp Hội nghị lần thứ 6 (8/1979) điều chỉnh một số chính sách về kinh tế và làm cho sản xuất bung ra Hội nghị chủ trương cho phép hộ xã viên mượn đất của hợp tác xã để sản xuất,
ổn định mức nghĩa vụ giao nộp lương thực, coi kinh tế gia đình xã viên là một
bộ phận hợp thành kinh tế xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở tổng kết, đánh giá kinh nghiệm, ngày 13/1/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị 100/CT-TW
về cải tiến công tác khoán và mở rộng khoán sản phẩm tới nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp
Chỉ thị 100/CT - TW (Khoán 100) được coi là sự đột phá đầu tiên vào mô hình tổ chức sản xuất cũ - tập thể hoá trong nông nghiệp Điểm cốt lõi của Khoán 100 là cho phép hợp tác xã giao khoán ruộng đất cho các hộ, thực hiện khoán ba khâu (cấy – trồng, chăm sóc và thu hoạch), ngoài thu nhập trong định mức, hộ còn được thêm thu nhập từ sản phẩm vượt khoán Động lực khoán nằm
ở chính phần vượt khoán Ý nghĩa của Khoán 100 thể hiện ở chỗ đã trả lại một phần quyền tự chủ cho hộ nông dân Hộ nông dân thay thế tập thể đảm nhiệm ba/tám khâu của quy trình sản xuất Hình thức khoán cải tiến từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán theo đội – nhóm sản xuất sang khoán theo hộ gia đình Đây là một bước quá độ từ kiểu quản lý, tổ chức sản xuất tập thể sang phát huy quyền tự chủ của xã viên Do đó, lợi ích của người nông dân thu được không còn hoàn toàn phụ thuộc vào lượng công điểm như trước mà đã gắn với kết quả của quá trình sản xuất, gắn với sản phẩm vượt khoán
Khi Chỉ thị 100/CT-TW được ban hành, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã về thăm, khen cán bộ, đảng viên và xã viên hợp tác xã Sơn Công đã năng động và mạnh dạn đi đầu trong việc khoán sản phẩm Ngay khi Chỉ thị được ban hành, hưởng ứng chính sách của Đảng và Nhà nước, Ủy Ban thường vụ Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết số 19 về mở rộng khoán sản phẩm, đến nhóm lao động và người lao động và Huyện ủy Ứng Hòa đã tổ chức quán triệt
và chỉ đạo thực hiện khẩn trương kịp thời ngay trong vụ xuân năm 1981 Các gia
Trang 26đình được làm ba khâu là cấy – trồng, chăm sóc và thu hoạch còn tập thể đảm nhiệm năm khâu trong quá trình sản xuất cây lúa Điều đó có nghĩa là đã cởi mở hơn trong quá trình gắn trách nhiệm của người sản xuất với sản phẩm cuối cùng
và giao cho gia đình đảm nhiệm một số khâu trong quá trình sản xuất cây lúa Vì vậy, đông đảo xã viên của địa phương phấn khởi đồng tình với chủ trương
“khoán sản phẩm” nên ngay trong năm đầu, 100% số hợp tác xã trong huyện đã thực hiện khoán sản phẩm tới nhóm và người lao động Người lao động với quyết tâm vượt khoán, trên tinh thần đó “trong 2 năm 1981 – 1982, diện tích, năng suất và sản lượng đều tăng năm sau cao hơn năm trước: diện tích gieo cấy
1982 đạt 23.030 ha, bằng 105,3% năm 1979, năng suất năm 1982 là 5,02 tấn/ha (năm năm 1960 là 3,2 tấn/ha, năm 1964 là 3,5 tấn/ha, 1979 là 4 tấn/ha), tổng sản lượng năm 1982 là 57,794 tấn (năm 1979 là 44,607 tấn)” [39, tr.376] Đặc biệt là năm 1982, năm đầu tiên Ứng Hòa vượt cửa ải 5 tấn, một số hợp tác xã đạt trên 6 tấn có Hòa Xá, Liên Bạt, Phù Lưu Một số hợp tác xã nhanh nhạy chỉ đạo xã viên tiếp thu giống mới đưa vào vụ đông như ngô, đậu tương Chăn nuôi cũng phát triển, cả chăn nuôi tập thể và chăn nuôi gia đình: đàn trâu “năm 1979 có 5.869 con, 1982 tăng lên 6.027 con, đàn bò năm 1979 có 660 con, năm 1982
tăng lên 1927 con” [39, tr.376] Như vậy, với khoán 100, quyền tự chủ trong sử
dụng ruộng đất của hộ xã viên bước đầu đã được khôi phục Điều này kích thích nông dân thúc đẩy sản xuất, tăng năng suất lao động, huy động được thêm vốn, phân bón, tận dụng khả năng lao động của từng gia đình, từng người trên tinh thần làm chủ được cụ thể một số khâu nên việc gieo trồng, cấy gặt nhanh hơn, kịp thời vụ, bảo vệ sản xuất, đỡ lãng phí, tham ô trong quá trình chỉ đạo
Song Khoán 100 mới là sự thể nghiệm để trả lại một phần quyền tự chủ kinh tế cho người nông dân, là sự thể nghiệm chưa rõ ràng, chưa dứt khoát về vai trò của kinh tế hộ, sợ kinh tế hộ lấn át kinh tế hợp tác xã do đó vẫn duy trì sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất và hợp tác xã vẫn là đơn vị sản xuất kinh doanh chủ yếu Hội nghị huyện ủy Ứng Hòa ngày 12 và 13/8/1981 cũng rút ra những mặt thiếu sót so với tinh thần của Chỉ thị 100 là “Ruộng khoán còn manh mún,
Trang 27một số hợp tác xã còn giữ ruộng lại làm chung; Mức khoán thấp nên các loại quỹ thấp có ảnh hưởng đến tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật của hợp tác xã;
năm khâu do hợp tác xã đảm nhiệm chưa đảm bảo tốt” [39, tr.377] Với thực tế
ruộng khoán và mức khoán không ổn định, không có thời hạn quy định cụ thể đã dẫn tới việc làm chủ ruộng khoán của hộ nông dân bấp bênh, không vững chắc
Hộ xã viên không yên tâm đầu tư thâm canh, chỉ dám đầu tư cầm chừng vì lo hợp tác xã sẽ điều chỉnh mức khoán khi năng suất cao Một vấn đề được đặt ra là người nông dân cần có một khoảng thời gian ổn định để làm chủ ruộng đất, để yên tâm canh tác trên mảnh ruộng của mình
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Đại hội VI đánh dấu bước chuyển căn bản về tư duy kinh tế của Đảng, là cơ sở lý luận cho quá trình đổi mới căn bản và toàn diện nền kinh tế nông nghiệp Đại hội chỉ rõ “Nhiệm vụ trước mắt của những năm còn lại của của chặng đường đầu tiên (1986 – 1990) là phải tập trung sức người, sức của thực hiện cho được 3 chương trình mục tiêu về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” [66] Đảng cũng khẳng định điều quan trọng nhất hiện nay là một mặt cải tiến, nâng cao trình độ quản lý hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, mặt khác phải từng bước hoàn thiện phương thức khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động
Tháng 1/1988, Luật Đất đai được ban hành, đánh dấu bước phát triển mới trong sản xuất nông nghiệp Luật đất đai quy định rõ tại Điều 1 “Đất đai thuộc
sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao đất cho các nông trường, lâm trường, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp lâm nghiệp,
xí nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân - gọi là người sử dụng đất - để sử dụng ổn định, lâu dài.” Cho phép các hộ được quyền chuyển, nhượng, bán thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao và nghiêm cấm việc mua bán ruộng đất trái phép Điều 28 quy định
“Căn cứ vào khả năng đất đai, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và khả năng
sử dụng đất của từng loại hộ, hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
Trang 28ương và đơn vị hành chính tương đương quy định mức đất giao cho các hộ nông dân cá thể ở địa phương trên cơ sở bình quân đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp tính theo nhân khẩu ở mỗi xã”[18] Uỷ ban Nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất cho các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và cá nhân
để sử dụng lâu dài vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
Sự đổi mới căn bản trong chính sách ruộng đất ở nông thôn Việt Nam được thể hiện rõ ràng và quyết liệt nhất ở Nghị quyết 10 NQ/TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI ngày 5/4/1988
về “đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” Nghị quyết 10 chỉ rõ giao khoán ruộng đất ổn định dài hạn cho nông dân từ 10 đến 15 năm; Hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến hộ xã viên; Xoá bỏ chế độ phân phối công điểm,
xã viên chỉ có một nghĩa vụ nộp thuế; Hộ xã viên được quyền tự chủ về ruộng đất, hưởng trên 40% sản lượng khoán
Như vậy, Nghị quyết đã thừa nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ nhận khoán, có quyền bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trước pháp luật Hai là, thực hiện điều chỉnh về sử dụng đất nông nghiệp - giao khoán ruộng đất ổn định, lâu dài (cây hàng năm khoảng 15 năm, cây lâu năm và cây rừng có thể giao quyền sử dụng đất từ 1 đến 2 chu kỳ kinh doanh) đến hộ nông dân Hộ gia đình trở thành đơn vị kinh tế tự chủ Tính tự chủ được biểu hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất là về tư liệu sản xuất, hộ được nhận khoán ruộng đất ổn định dài hạn trong khoảng 10-15 năm, họ không bị hạn chế việc mua sắm tư liệu sản xuất khác như trâu bò, công cụ sản xuất thuộc tài sản tập thể được chuyển thành sở hữu của xã viên
Thứ hai, về tổ chức sản xuất, với những lao động trong gia đình, các hộ tự phân công lao động, sắp xếp công việc, chủ động xác định cơ cấu cây trồng và
họ được đảm nhiệm phần lớn các khâu trong quá trình sản xuất
Thứ ba, về phân phối, đã xóa bỏ hạch toán và phân phối theo công điểm,
xã viên chỉ có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và đóng góp xây dựng quỹ của
Trang 29hợp tác xã Các hoạt động dịch vụ sản xuất giữa hợp tác xã với xã viên đều thông qua quan hệ hàng hóa tiền tệ Hộ xã viên được quyền tự chủ kinh tế, các
xã viên tự thu hoạch toàn bộ sản phẩm Sau khi đóng thuế, góp quỹ, trả công cho dịch vụ của hợp tác xã thì hộ xã viên được tự do sử dụng số sản phẩm còn lại, được hưởng trên dưới 40% sản lượng khoán
Với Nghị quyết 10, hợp tác xã nông nghiệp chuyển đổi về chức năng, nội dung và phương thức hoạt động Các hợp tác xã đều tiến hành từng bước xóa bỏ việc tập thể hóa về ruộng đất, các tư liệu sản xuất cơ bản Hợp tác xã rút dần sự can thiệp trực tiếp vào quyền chủ động sản xuất kinh doanh của hộ xã viên Khi kinh tế hộ gia đình càng khẳng định là đơn vị kinh tế tự chủ thì những cơ sở của hợp tác xã kiểu cũ không còn tồn tại nữa (hợp tác xã không còn quyền quản lý đất đai, bố trí sản xuất, điều động lao động, phân phối sản phẩm…) thì yêu cầu cần tự đổi mới để thích nghi với tình hình mới Các hợp tác xã đã phải chấn chỉnh lại bộ máy tổ chức, phải chuyển sang làm chức năng dịch vụ đầu vào – đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, áp dụng các phương thức quản lý theo cơ chế thị trường…để trợ giúp cho kinh tế hộ gia đình Trong quá trình vật lộn tìm cho mình một hướng đi mới bảo đảm sự tồn tại và phát triển của mình, có những hợp tác xã đã tự giải thể và có những hợp tác xã tự chuyển đổi để có thể tồn tại được
Đảng bộ, nhân dân Ứng Hòa phấn khởi và tiếp nhận chủ trương này Trong ba ngày từ 14 đến 16/5/1988, hội nghị Huyện ủy đã nghiên cứu, thảo luận
và đề ra Đề án thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 08 của Tỉnh ủy về tổ chức lại sản xuất và đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện với tinh thần quán triệt 4 yêu cầu: Một là thực sự giải phóng sức lao động sản xuất, phát huy tiềm năng của mọi thành phần kinh tế, chuyển kinh tế mang tính tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa Hai là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa 3 lợi ích Nhà nước, tập thể và người lao động Ba là coi trọng và thực sự mở rộng dân chủ, công khai, công bằng Bốn là đổi mới về tổ chức và cán bộ phù hợp với cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý mới Nhân dân trong huyện
vô cùng phấn khởi tiếp thu Khoán 10, thực hiện đề án của huyện ủy ngay trong
Trang 30vụ mùa năm 1988 Theo đề án, về quy mô hợp tác xã, đã xác định giữ nguyên quy mô những hợp tác xã ổn định, sản xuất phát triển và chỉ xem xét quy mô lại những hợp tác xã quá lớn, sản xuất trì trệ Về quy mô đội, xem xét điều chỉnh lại
ở mức từ 25 tới 35 hộ Quán triệt tinh thần lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế tự chủ, “84,5% quỹ đất được giao khoán cho hộ gia đình, phần còn lại để đấu thầu”[39,tr.398] Huyện ủy đã xem xét, quyết định 18 hợp tác xã quy mô toàn xã
tổ chức lại theo quy mô thôn Sau khi tổ chức lại, toàn huyện có 54 hợp tác xã
Nghị quyết 10 đi vào cuộc sống như một động lực mạnh mẽ thúc đẩy nông nghiệp có bước chuyển biến nhanh và đáng kể Ngay vụ đầu thực hiện khoán 10, thu nhập của xã viên tăng 18 – 20%, sản lượng đã tăng lên 37 - 40%
Cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp bước đầu được xóa bỏ nhằm phát huy tính năng động, chủ động trong sản xuất, kinh doanh của các đơn vị và người lao động Nhờ đó, kinh tế địa phương có những bước chuyển động tích cực với những kết quả đáng phấn khởi “Năng suất lúa vụ xuân năm 1988 đạt 39,33 tạ/ha - mức cao nhất từ trước tới thời điểm đó, tổng sản lượng lương thực
cả năm đạt 72.816 tấn, bình quân lương thực tính theo đầu người là 492 kg, vượt chỉ tiêu do Đảng bộ Huyện lần thứ XVII đề ra.“Đàn gia súc từ khi thực hiện khoán 10 tăng mạnh trong khu vực chăn nuôi gia đình với tổng đàn trâu bò đạt 10.861 con Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công đã khắc phục khó khăn về nguyên liệu, vật tư, giá cả để duy trì và phát triển sản xuất, giá trị tổng sản lượng hàng năm đều tăng, năm 1988 đạt 165 triệu đồng, tăng 9,2% so với năm 1986” [39, tr.400] “Năm 1989, năng suất lúa đạt 67,38 tạ/ha, năm 1990 có giảm sút nhưng vẫn đạt 62,82 tạ/ha Tổng sản lượng lương thực quy ra thóc năm 1989 đạt gần 8 vạn tấn, cao nhất từ trước tới nay, năm 1990 đạt 7 vạn 4 ngàn tấn Chăn nuôi tiếp tục phát triển mạnh, chủ yếu là khu vực chăn nuôi gia đình Tổng đàn gia súc năm 1990 là 52.355 con, tăng hơn năm 1988 là 5000 con” [39, tr.408]
Có được những điểm tiến bộ trên của khoán sản phẩm, cũng chính bởi những ưu điểm của kinh tế hộ gia đình Đó là sử dụng được thế mạnh của nền nông nghiệp gia đình truyền thống, nguồn lao động dồi dào, sự hợp tác giữa các
Trang 31thành viên trong hộ gia đình cũng gắn bó chặt chẽ hơn, dễ thích ứng với mọi điều kiện thời tiết, sự chênh lệch giữa thời gian sản xuất và thời gian lao động Quan trọng hơn là sự kết hợp trực tiếp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, nếu ở Chỉ thị 100 thì hộ xã viên chưa gắn bó chặt chẽ với tư liệu sản xuất thì tới đây, người lao động đã gắn chặt chẽ hơn với tư liệu sản xuất, nhờ đó người nông dân yên tâm đầu tư cải tạo đất, phấn khởi sản xuất hơn, để từ đó cho năng suất cao hơn
Giữa năm1992, Đảng bộ huyện bước vào thực hiện chủ trương giao quyền
sử dụng ruộng đất lâu dài cho xã viên Ngày 16/7/1992, Huyện ủy trên cơ sở Thông báo 41 của Tỉnh ủy và tình hình thực tế của địa phương đã quyết định
“Trong năm 1992 thực hiện 100% hợp tác xã giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài đến hộ nông dân, bảo bảo đúng chính sách, đúng pháp luật” Từ làm điểm ở hai xã Đội Bình và Quảng Phú Cầu, đến cuối năm 1992 có 26 xã thực hiện xong Trước và trong khi thực hiện có nổi lên một số điểm có mâu thuẫn tranh chấp về đất đai, chủ yếu là tranh chấp ruộng đất sau khi chia hợp tác xã, gay gắt nhất là ở Tân Phương, Minh Đức, Phương Tú Trước tình hình này, Huyện ủy cũng chỉ đạo các cơ quan giải quyết theo Luật Đất đai và các văn bản pháp quy với tinh thần kiên quyết không xáo trộn, không điều chỉnh giữa các thôn xã
Như vậy, từ Chỉ thị 100 tới Nghị quyết 10 là một bước tiến dài về quan hệ
sở hữu - sử dụng ruộng đất, một động lực sản xuất mới được thiết lập Thực chất của sự đổi mới cơ chế quản lý trên nhằm giải phóng tiếp một bước mới về quyền
sở hữu tư liệu sản xuất và quyền huy động vốn phục vụ sản xuất Nhờ đó, tạo ra
sự gắn kết giữa người lao động và tư liệu sản xuất, quan trọng nhất là ruộng đất, tạo ra môi trường cho nông dân tự chủ trong sản xuất, trong phân phối và trong
sử dụng sản phẩm của mình Đã giao cho nông dân quyền quản lý nhiều hơn với các tư liệu sản xuất chính, quyền chủ động hơn trong sản xuất và cơ hội hưởng nhiều hơn từ sản phẩm mình làm ra Người nông dân do tác động của cơ chế mới đã gắn bó hơn với ruộng đất Ý nghĩa trên của Khoán 10 đã được khẳng định tại Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khóa VII (6/1993), Đảng ghi nhận “Việc
Trang 32phát huy vai trò kinh tế tự chủ của hộ nông dân trong thời gian qua là một nhân
tố quyết định sự chuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp, nông thôn” và “Bản thân hộ nông dân có vị trí không thể thay thế được” [4, tr.264] Sau Nghị quyết
10 - đánh dấu lại vai trò tự chủ kinh tế của hộ nông dân thì các chủ trương, chính sách của Đảng về sau vẫn tiếp tục nhằm vào việc phát huy vai trò của kinh tế hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp
Tuy nhiên, sau một thời gian phát huy tính tích cực của Nghị quyết 10, mâu thuẫn mới lại nảy sinh trong quan hệ ruộng đất ở nông thôn Đó là trong khi đất nông nghiệp ít, là tài nguyên thiên nhiên có đặc điểm suy giảm dần thì cách chia ruộng theo khoán bình quân (để đảm bảo công bằng xã hội) trên tinh thần của Khoán 10 đã càng làm cho đất nông nghiệp bị chia nhỏ dần Trong khi đó, yêu cầu của nền sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn lại đòi hỏi sự tích tụ, tập trung ruộng đất vào những nông dân biết làm
ăn giỏi để tăng năng suất và chất lượng nông sản Trong Nghị quyết 10 cũng yêu cầu phân công lại lao động theo hướng chuyên môn hóa, ai giỏi nghề nào làm nghề đó Thế nhưng, đòi hỏi này bị cản trở bởi chính sách khoán bình quân Việc phân chia quỹ đất khoán thành các vùng khác nhau (vòng 1, vòng 2 và đấu thầu) cũng đã tạo ra kẽ hở trong quản lý và khoán trong các hợp tác xã Những
hộ nông dân nghèo, không có vốn, ít kinh nghiệm sản xuất, ít lao động vẫn nhận được một xuất ruộng bình quân như các hộ khá giả hơn, có vốn, có kinh nghiệm sản xuất và có nhiều lao động Thực trạng này dẫn tới tiềm năng đất đai, vốn, kinh nghiệm và lao động bị lãng phí do vậy mà năng suất lao động cũng kém hiệu quả hơn
Sau Nghị quyết 10, nông nghiệp Việt Nam nói chung trong đó có huyện Ứng Hòa, một huyện thuần nông đã có những bước phát triển mới song lại xuất hiện những mâu thuẫn mới, đó là mâu thuẫn giữa lao động, đất đai và thu nhập ở nông thôn đã nảy sinh do lao động nông thôn có xu hướng tăng, quỹ đất lại có hạn và có xu hướng giảm dần Mẫu thuẫn này càng tăng khi với cách chia khoán của Nghị quyết 10, cách khoán quỹ đất bình quân theo nhân khẩu và theo lao
Trang 33động Do vậy, các hộ xã viên có xu hướng tăng nhân khẩu, để tăng lao động và tăng quỹ đất được nhận khoán Lao động chuyển sang trồng trọt để giữ đất, sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp cho hộ gia đình Tiếp đó, là mâu thuẫn giữa yêu cầu sản xuất hàng hóa với cơ sở hạ tầng nông thôn thấp kém Mâu thuẫn giữa sản xuất và chế biến nông sản Từ thực tế ấy, các vấn đề bức xúc về nông thôn, nông nghiệp được đặt ra và đòi hỏi cần có những giải pháp cơ bản về cả lý luận
và thực tiễn Thực tế cũng đặt ra điều kiện cho sự ra đời những chính sách cùng văn bản mới về nông nghiệp, nông thôn và nông dân để đáp ứng được tình hình thực tế
Tiều kết chương 1
Nông nghiệp – nông thôn là lĩnh vực đầu tiên tiếp thu, thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong kinh tế Từ sự trải nghiệm trong thực tiễn, Đảng ta đã đúc rút kinh nghiệm, nâng lên thành lý luận, chủ chương đổi mới cơ bản và toàn diện cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp Quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Đảng ta là một quá trình hoàn chỉnh dần dần từ thấp lên cao trên từng lĩnh vực: quan hệ sở hữu – sử dụng
đất, mô hình tổ chức sản xuất, sự tự chủ của kinh tế hộ, vai trò của hợp tác xã…
Từ năm 1981 đến 1992 là thời kỳ diễn ra những đổi thay có tính cách mạng về quan hệ ruộng đất trong nông thôn Trong thời kỳ này có nhiều chính sách về nông nghiệp và đất nông nghiệp mà tinh thần chung của những văn bản này đã từng bước khẳng định vai trò của kinh tế hộ nông dân, cũng như đã đề ra được những giải pháp cụ thể để giải quyết những vấn đề về ruộng đất Từ chủ trương cho hộ xã viên mượn đất để làm vụ đông năm 1979 đến giao khoán ruộng đất cho hộ xã viên để thực hiện khoán sản phẩm tới nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (Khoán 100) và tới giao khoán ruộng đất ổn định cho hộ nông dân (Khoán 10) Đó là cả một bước tiến dài về quan hệ sở hữu - sử dụng ruộng đất, thể hiện sự chuyển biến căn bản rõ nét nhất của tư duy kinh tế, đổi mới chính sách đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn Tuy nhiên, những bất cập về đất đai vẫn còn tồn tại, đó là trong khi yêu
Trang 34cầu của nền sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn đòi hỏi sự tích tụ, tập trung ruộng đất vào những nông dân biết làm ăn giỏi
để tăng năng suất và chất lượng nông sản, trong Nghị quyết 10 cũng yêu cầu phân công lại lao động theo hướng chuyên môn hóa, ai giỏi nghề nào làm nghề
đó Thế nhưng, đòi hỏi này bị cản trở bởi chính sách khoán bình quân Những hộ nông dân nghèo, không có vốn, ít kinh nghiệm sản xuất, ít lao động vẫn nhận được một suất ruộng bình quân như các hộ khá giả hơn, có vốn, có kinh nghiệm sản xuất và có nhiều lao động Thực trạng này dẫn tới tiềm năng đất đai, vốn, kinh nghiệm và lao động bị lãng phí do vậy mà năng xuất lao động cũng kém hiệu quả hơn Thực tiễn trên đòi hỏi cần phải có những điều chỉnh và cải tiến mãnh mẽ hơn nữa chính sách về nông nghiệp và về ruộng đất để đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của thực tế
Trang 35Chương 2: QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN VỀ QUAN HỆ SỞ HỮU – SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN ỨNG HÒA – HÀ NỘI (1993 – 2012)
2.1 Chuyển biến về quan hệ sở hữu – sử dụng đất nông nghiệp huyện Ứng Hòa – Hà Nội (1993 - 2003)
2.1.1 Chuyển biến về sở hữu đất nông nghiệp theo tinh thần Luật Đất đai năm 1993
Về vấn đề sở hữu đất nông nghiệp
Khái niệm về đất nông nghiệp: Điều 42 Luật Đất đai năm 1993[19] nêu
rõ “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp” Theo Luật đất đai năm 1993, điều 11 có qui định là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, đất được phân thành các loại sau đây:
“Đất nông nghiệp; Đất lâm nghiệp; Đất khu dân cư nông thôn; Đất đô thị; Đất
chuyên dùng; Đất chưa sử dụng”
Trong Luật đất đai năm 2003, Đất đai được phân loại thành 3 nhóm như sau: Nhóm đất nông nghiệp; Nhóm đất phi nông nghiệp; Nhóm đất chưa sử dụng Trong đó, Nhóm đất nông nghiệp được chia thành các phân nhóm sau: Đất trồng cây hàng năm; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thuỷ sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp
khác
Quyền sử dụng đất hiện nay được quan niệm là loại hàng hóa đặc biệt, được lưu chuyển đặc biệt trong khuôn khổ các quy định của pháp luật Quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là
Trang 36của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân” Như vậy, sau Hiến Pháp năm 1980 ở Việt Nam chỉ còn một hình thức sở hữu duy nhất đối với đất đai là sở hữu toàn
dân Nội dung nguyên tắc này được tiếp tục khẳng định tại Điều 1 Luật Đất đai
năm 1993 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước,tổ chức chính trị, xã hội (gọi chung là tổ chức), hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất” và Điều 13 về nội dung quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm:
1- Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính 2- Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất
3- Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó
4- Giao đất,cho thuê đất, thu hồi đất
5- Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
6- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất
7- Giải quyết tranh chấp về đất đai; Giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai
Sau khi ban hành Luật Đất đai năm 1993, đã có nhiều văn bản triển khai Luật được ban hành, trong đó đáng chú ý là Nghị định 64 – CP [75, tr.395], ngày 27/9/1993 về đất nông nghiệp Theo đó, Chính phủ thực hiện việc chia đất theo phương châm là dựa vào hiện trạng đất nông nghiệp mà các hộ và cá nhân đang sử dụng khi thực hiện Chỉ thị 100/CT-TW theo nguyên tắc cơ bản là mỗi
hộ được nhận ruộng có tốt, có xấu, có gần có xa
Ủy ban Nhân dân huyện Ứng Hòa thực hiện vai trò quản lý nhà nước
về đất nông nghiêp
Theo quy định của Luật Đất đai năm 1993, cấp Huyện có những quyền hạn cụ thể đối với đất nông nghiệp, những quyền hạn này là cơ sơ pháp lý và thực tiễn để huyện Ứng Hòa đưa các chủ trương, chính sách của nhà nước về
Trang 37nông nghiệp và đất nông nghiệp vào thực tế địa phương Theo Điều 7 “Quốc hội thực hiện quyền quyết định, quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong cả nước Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền quyết định, quyền giám sát việc quản lý và sử dụng đất đai trong địa phương mình”
Điều 8 “Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai trong cả nước Uỷ
ban Nhân dân các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai trong địa phương
mình theo thẩm quyền được quy định” Điều 16 “Chính phủ lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đai trong cả nước Uỷ ban Nhân dân các cấp lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất trong địa phương mình” Điều 24 về Thẩm quyền giao đất
để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp được quy định như sau: Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao đất cho các tổ chức;
Uỷ ban Nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giao đất cho các hộ gia đình và cá nhân
So với thời kỳ tập thể hóa trong những năm 1957 – 1980, khi các hợp tác
xã chính là đơn vị quản lý, đơn vị kinh tế chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp với toàn bộ ruộng đất và các tư liệu sản xuất của hộ nông dân được đưa vào hợp tác xã, áp dụng cách làm ăn tập thể, phân phối sản phẩm dựa vào cách chấm công điểm Luật đất đai năm 1993, ghi nhận rõ uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giao đất cho các hộ gia đình và cá nhân, thực hiện quyền quyết định, quyền giám sát việc quản lý và sử dụng đất đai, đồng thời lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong địa phương mình
Từ những tháng cuối năm 1992 (8/1992), UBND tỉnh Hà Tây (cũ) đã đưa
ra Quy định số 250 - QĐ/UB về Ban hành bản quy định về giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cho hộ nông dân và cũng đưa ra cụ thể Quy định về giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cho hộ nông dân để triển khai và hướng dẫn các huyện trong tỉnh thực hiện chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước căn cứ theo Hiến pháp năm 1992, quyết nghị 201 của Tổng cục quản
lý ruộng đất về việc cấp giấy chứng nhận sử dụng ruộng đất Theo văn bản trên
Trang 38“Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất là chứng thực pháp lý xác lập mối quan hệ hợp đồng giữa Nhà nước với người sử dụng đất nhằm để Nhà nước nắm chắc quản lý nguồn tài nguyên đất đai và người sử dụng đất yên tâm khai thác sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả mọi tiềm năng đất đai theo đúng pháp luật”
Thực hiện quy định trên của Tỉnh, Huyện Ứng Hòa đã có văn bản Hướng dẫn về việc giao ruộng sử dụng đất ổn định lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cho hộ nông dân số 01/HĐ-UB, ngày 28/8/1992 để triển khai công tác cụ thể tới các địa phương trong phạm vi huyện Theo đó, các xã sau khi giao ruộng ổn định lâu dài cho từng hộ phải tiến hành chỉnh lý bản đồ, lập hồ sơ địa chính để trên cơ sở đó tiến tới lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Và diện tích ruộng giao là diện tích đất canh tác của hợp tác
xã đã giao trước đó cho các hộ thực hiện theo khoán 10 trước đây, quỹ đất này được gọi là quỹ đất 1 (chia cho khẩu), giữ nguyên hiện trạng để giao ổn định lâu dài (chỉ điều chỉnh những trường hợp ở những hộ đã giảm nhiều khẩu) Quỹ đất thứ 2 (chia cho lao động, đấu thầu hoặc giao thầu) trong khoán 10 thì được xem xét điều chỉnh lại cho các hộ mới phát sinh mới, để quỹ đất công ở khoảng 10%, nếu còn dư thừa thì bổ sung vào quỹ đất 1, giao ổn định cho các hộ xã viên
Chính những chủ trương và chính sách về đất nông nghiệp của Đảng và Nhà nước cùng quá trình thực hiện của huyện Ứng Hòa đã tạo cơ sở cho những chuyển biến về quan hệ sở hữu – sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa –
Hà Nội từ 1993 đến 2003
Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu (Luật Đất đai năm 2003) Song trên thực tế Nhà nước không chiếm hữu, sử dụng đất mà giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đang sử dụng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài Điều này khác biệt với quan niệm của người Châu Âu về sở hữu tài sản trong dân luật của họ, theo đó thì quyền sở hữu bao gồm ba nhóm quyền: quyền chiếm đoạt, quyền sử dụng và quyền định đoạt Đặc điểm này cho thấy tính chất đặc thù của chế độ sở hữu đất đai ở nước
ta Quyền sử dụng đất phát sinh trên cơ sở quyền sở hữu toàn dân về đất đai,
Trang 39thông qua việc Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu giao đất, cho thuê đất
và công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng ổn định Tuy nhiên, quyền sử dụng đất tách khỏi quyền sở hữu đất đai và trở thành một loại quyền có tính độc lập tương đối
Quyền sở hữu và quyền sử dụng có những điểm khác nhau và không thể đồng nhất Quyền sở hữu xuất hiện trước, quyền sử dụng là quyền phát sinh, xuất hiện sau, chỉ có khi được Nhà nước giao đất, cho thuê, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hay công nhận quyền sử dụng đất Quyền sử dụng là một loại quyền thiếu trọn vẹn còn quyền sở hữu là một quyền trọn vẹn, đầy đủ Điều này được thể hiện ở một số điểm:
- Người sử dụng đất không có đầy đủ các quyền như Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai
- Không phải bất cứ người nào có quyền sử dụng đất hợp pháp cũng có các quyền: chuyển đổi, tặng cho, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế,
Quyền sở hữu đất đai là một quyền tồn tại độc lập, quyền sử dụng là quyền phụ thuộc Mặc dù, người sử dụng đất có nhiều quyền lợi từ quyền sử dụng của mình nhưng nó vẫn không đủ để cho phép người sử dụng tự mình quyết định mọi vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng đất, họ (người sử dụng đất) vẫn phải thực hiện những quy định của Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu đối với đất được giao
Như vậy, ở nước ta quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất được tách
ra, ở một chừng mực nào đó quyền sử dụng đất có tính độc lập với quyền sở hữu Điều này cho thấy mối quan hệ khăng khít, gắn bó mật thiết giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất, song không thể đồng nhất quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất
2.1.2 Chuyển biến về quan hệ sử dụng đất nông nghiệp
Phần lớn ruộng đất được giao cho các hộ xã viên Quyền sử dụng đất
ổn định, lâu dài của các hộ được pháp luật thừa nhận
Trang 40Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn; được có một số quyền theo quy định của pháp luật
và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, có sự phân biệt các loại đất và nguồn gốc đất; đồng thời phải có nghĩa vụ chấp hành pháp luật về đất đai, phải đăng ký quyền sử dụng đất, sử dụng đất đúng mục đích, tuân thủ quy hoạch và chấp hành quyết định thu hồi đất của Nhà nước
Trong Điều 20 của Luật Đất đai năm 1993 quy định về việc Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài với “thời hạn giao đất sử dụng ổn định lâu dài để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản
là 20 năm, để trồng cây lâu năm là 50 năm Khi hết thời hạn, nếu người sử dụng đất có nhu cầu tiếp tục sử dụng và trong quá trình sử dụng đất chấp hành đúng pháp luật về đất đai thì được Nhà nước giao đất đó để tiếp tục sử dụng” Khi được Nhà nước giao quyền sử dụng đất nông nghiệp, người sử dụng đất có các quyền được quy định tại Điều 3 Luật Đất đai năm 1993 “Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất
Ngay từ quý 4/1992, Ứng Hoà đã triển khai thực hiện kết luận số 41 ngày 13/7/1992 của Tỉnh uỷ và quyết định 250 ngày 3/8/1992 của UBND tỉnh về việc giao ruộng đất đất ổn định, lâu dài cho các hộ nông dân trên địa bàn Huyện Trước khi thực hiện giao đất đã có nhiều thôn đang có tranh chấp gay go kéo dài Ngoài ra, một số xã thôn từ công tác kiểm tra đã dẫn tới mất đoàn kết nội
bộ Dưới sự chỉ đạo của huyện uỷ, chỉ đạo của UBND Huyện và sự cố gắng của các ngành các cấp đã thực hiện tốt công việc giao ruộng cho các hộ, đảm bảo không xáo trộn, giữ gìn trật tự và an toàn xã hội Tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện là 13.207 ha, trong đó đã giao cho:
- Hộ gia đình: 11.982 ha chiếm 87,8%
- UBND xã và HTX quản lý: 1.561 ha chiếm 11,8%
- Các đối tượng khác: 55 ha chiếm 0,4%