Mục đích, ý nghĩa đề tài 2.1 Mục đích Chúng tôi thực hiện khảo sát các phép liên kết nối mà cụ thể là các từ nối theo phạm trù tương phản trong truyện ngắn của ba tác giả nhằm mục đích
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ HUYỀN TRANG
KHẢO SÁT GIÁ TRỊ LIÊN KẾT VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ NỐI THEO PHẠM TRÙ TƯƠNG PHẢN
TRONG VĂN BẢN TIẾNG VIỆT (Trên cơ sơ ̉ tư liê ̣u truyê ̣n ngắn của ba tác giả Nam Cao, Nguyễn
Huy Thiê ̣p, Nguyễn Ngo ̣c Tư)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ ho ̣c
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ HUYỀN TRANG
KHẢO SÁT GIÁ TRỊ LIÊN KẾT VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ NỐI THEO PHẠM TRÙ TƯƠNG PHẢN
TRONG VĂN BẢN TIẾNG VIỆT (Trên cơ sơ ̉ tư liê ̣u truyê ̣n ngắn của ba tác giả Nam Cao, Nguyễn
Huy Thiê ̣p, Nguyễn Ngo ̣c Tư)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ ho ̣c
Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Pha ̣m Văn Tình
Hà Nội - 2014
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích, ý nghĩa đề tài 6
3 Nhiệm vụ của đề tài 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Phạm vi nghiên cứu 8
6 Bố cục của luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
1.1Đặt vấn đề 9
1.2 Các khái niệm liên quan 10
1.2.1 Văn bản, phát ngôn 10
1.2.2 Câu và ngữ trực thuộc 14
1.3 Liên kết và mạch lạc 16
1.3.1 Liên kết 16
1.3.2 Mạch lạc 22
1.4 Phép nối với tư cách là một phương tiện liên kết 24
1.4.1 Khái niệm 24
1.4.2 Phép nối lỏng và phép nối chặt 26
1.5 Tiểu kết 29
CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ LIÊN KẾT CỦA CÁC TỪ NỐI THEO PHẠM TRÙ TƯƠNG PHẢN TRONG CÁC TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO, NGUYỄN HUY THIỆP, NGUYỄN NGỌC TƯ 30
2.1 Các từ nối 30
2.1.1 Đặt vấn đề 30
2.1.2 Tiêu chí phân loại từ nối 31
Trang 42.2 Danh sách các từ nối theo phạm trù tương phản 34
2.3 Miêu tả các từ nối theo phạm trù tương phản trong các truyện ngắn 39
2.3.1 Các từ nối tương phản 39
2.3.2 Các từ nối đối lập 48
2.3.3 Mô tả các từ nối qua bảng số liệu 50
2.4 Khả năng liên kết của các từ nối theo phạm trù tương phản với các phép liên kết khác trong tiếng Việt 52
2.5 Phạm vi liên kết của các từ nối tương phản theo mối quan hệ giữa chủ ngôn, kết ngôn 54
2.5.1 CN : KN theo quan hệ 1 : 1 56
2.5.2 CN : KN theo quan hệ 1 : n (n ≥ 2) 56
2.5.3 CN : KN theo quan hệ n (n ≥ 2) : 1 58
2.5.4 CN : KN theo quan hệ n : n (n ≥ 2) 59
2.5.5 Mô tả chủ ngôn, kết ngôn và mối quan hệ giữa chủ ngôn và kết ngôn 61 2.6 Tiểu kết 63
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ NỐI THEO PHẠM TRÙ TƯƠNG PHẢN TRONG CÁC TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO, NGUYỄN HUY THIỆP, NGUYỄN NGỌC TƯ VỚI SỰ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH TÁC GIẢ 65
3.1 Ngữ trực thuộc nối theo phạm trù tương phản 65
3.2 Giá trị ngữ nghĩa biểu hiện qua giá trị lập luận của các từ nối tương phản 67
3.3 Ngữ nghĩa biểu hiện của các từ nối theo phạm trù tương phản và sự hình thành phong cách tác giả 72
3.3.1 Ngữ nghĩa biểu hiện của các từ nối tương phản trong các văn bản truyện ngắn được khảo sát 72
Trang 53.3.2 Hiệu quả của các từ nối theo phạm trù tương phản trong việc hình
thành phong cách tác giả 76
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
NGUỒN XUẤT XỨ TƯ LIỆU 93
PHỤ LỤC 94
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các phương thức liên kết và phạm vi sử dụng của chúng 20
Bảng 1.2: Liên kết nội dung và các phương thức liên kết được sử dụng trong hai bình diện của nó 22
Bảng 2.1: Bảng phân loại khảo sát số lượng từ nối tương phản xuất hiê ̣n trong các văn bản 39
Bảng 2.2: Bảng thống kê số trang khảo sát/ tác phẩm/ tác giả 50
Bảng 2.3: Bảng thống kê số phiếu/ tác phẩm/ tác giả 50
Bảng 2.4: Tần số xuất hiện của các từ nối thuộc phạm trù tương phản 51
Bảng 2.5: Bảng tỷ lệ của các từ nối thuộc phạm trù tương phản, đối lập/ tác giả 51
Bảng 2.6: Tần số xuất hiện của các từ nối tương phản, đối lập 51
Bảng 2.7: Mật độ phân bố của phát ngôn/tác giả/ tác phẩm 61
Bảng 2.8: Tỷ lệ của các phát ngôn/tác phẩm/tác giả 62
Bảng 2.9: Mối quan hệ giữa chủ ngôn và kết ngôn/tác giả/tác phẩm 62
Bảng 2.10: Bảng tần số xuất hiện dựa trên mối quan hệ chủ ngôn và kết ngôn/các tác phẩm/các tác giả 62 Bảng 3.1: Độ phân bố của từ nối thuộc phạm trù tương phản/tác phẩm/tác giả 77
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người ngay từ buổi đầu sơ khai đã luôn có nhu cầu giao tiếp, trao đổi thông tin Người ta có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện nhưng phương tiện cơ bản và quan trọng nhất để con người thực hiện chức năng giao tiếp chính là ngôn ngữ Đơn vị ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp không phải là một từ, một câu, hay những câu rời rạc mà bằng những phát ngôn có liên quan với nhau - các phát ngôn tạo thành một văn bản Nói như M A K Halliday, 1960: "Đơn vị cơ
bản khi chúng ta sử dụng ngôn ngữ, không phải là từ hay câu mà là văn bản"
Văn bản là đối tượng nghiên cứu của bộ môn ngôn ngữ học văn bản ra đời vào những năm 50 của thế kỷ XX Kể từ đó đến nay, lĩnh vực ngôn ngữ học văn bản luôn thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng như ở Việt Nam, và đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Có thể kể ra những đại diện tiêu biểu như: M.A.K.Halliday & R.Hasan (1976), I P.Gal’perin (1987), O I Moskal’skaja (1998), Trần Ngọc Thêm (1985), Diệp Quang Ban (1994), Nguyễn Thị Việt Thanh (1999),
Một đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất của văn bản là tính liên kết Các câu trong văn bản gắn bó với nhau theo những phương thức nhất định và bằng những phương tiện nhất định Có rất nhiều phép liên kết được sử dụng trong văn bản như:
phép lặp, phép thế,phép nối, phép đối, phép tỉnh lược,
Phép nối là phép liên kết dùng các phương tiện nối cụ thể là các từ (cụm từ) nối để tạo nên mối liên hệ trên văn bản Các từ (cụm từ) nối này được phân loại
theo nhiều phạm trù khác nhau: phạm trù hợp - tuyển, phạm trù nguyên nhân - kết
quả, phạm trù thời gian - không gian, phạm trù thừa nhận - khẳng định, Việc
nhận diện dựa trên các từ (và cụm từ nối) tường minh trên văn bản
Quan hệ tương phản được hiểu như một cách nói thông thường trong đời sống hàng ngày Tiếng Việt thường nhấn mạnh vế thứ hai trong mối quan hệ tương phản Bởi tâm lý thích hoa mỹ, từ từ đi vào vấn đề, cũng như cách diễn đạt "vòng
vo, tam quốc" nên vế thứ hai trong mối quan hệ tương phản này luôn đóng vai trò
Trang 8trung tâm và luôn được chú trọng Chính vì lẽ đó người Việt rất thích thao tác lập luận theo hướng phản đề: tức nêu ra mô ̣t ý kiến , sau đó lại đưa ra mô ̣t ý kiến ngược lại - đó mới chính là du ̣ng ý của người viết Mối liên kết ngữ nghĩa giữa lập đề - phản đề được thể hiện bằng các từ (cụm từ) nối theo phạm trù tương phản Mỗi một
từ nối tạo ra các giá trị ngữ nghĩa khác nhau
Để góp phần tìm hiểu thêm về phép nối, trong luận văn này, chúng tôi sẽ đi
vào tìm hiểu một lĩnh vực nhỏ trong phương thức liên kết nối, đó là: "Giá trị liên
kết và giá trị ngữ nghĩa của các từ nối theo phạm trù tương phản (trên cơ sở tư liệu truyện ngắn của ba tác giả Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc
Tư)" Có thể khẳng định tuy đã có một số công trình nghiên cứu đề cập tới phép
liên kết nối theo một phạm trù nhỏ nhưng chưa có công trình nào xem xét mối liên kết ngữ nghĩa giữa các câu có chứa các từ nối thể hiện ý nghĩa tương phản mô ̣t cách
hê ̣ thống và chi tiết
2 Mục đích, ý nghĩa đề tài
2.1 Mục đích
Chúng tôi thực hiện khảo sát các phép liên kết nối mà cụ thể là các từ nối theo phạm trù tương phản trong truyện ngắn của ba tác giả nhằm mục đích tìm hiểu cách thức sử dụng cũng như vai trò của các phương tiện liên kết nối trong văn bản được khảo sát Qua đó thấy được giá trị liên kết và giá trị ngữ nghĩa cũng như vai trò của nó trong việc hình thành phong cách tác giả qua việc sử dụng từ nối theo phạm trù này
2.2 Ý nghĩa
- Về mặt lý luận: Đề tài nghiên cứu về giá trị liên kết và giá trị ngữ nghĩa của
các từ nối theo phạm trù tương phản là một bộ phận rất nhỏ nằm trong phương thức liên kết nối nói riêng và hệ thống các phương thức liên kết nói chung được sử dụng trong việc tạo lập văn bản Ở một chừng mực nào đó, luận văn của chúng tôi góp thêm một tiếng nói nhằm hoàn thiện việc nghiên cứu hệ thống các phương thức liên kết trong văn bản tiếng Viê ̣t
Trang 9- Về mặt thực tiễn: Luận văn của chúng tôi sẽ giúp cho công tác giảng dạy văn bản và liên kết văn bản trong nhà trường hiệu quả hơn, trợ giúp giáo viên vận dụng đúng lý thuyết liên kết văn bản vào dạy liên kết câu cho học sinh thông qua việc xây dựng, thiết kế bài giảng thích hợp khi dạy các từ nối cụ thể Qua đó giúp cho người học nắm vững lý thuyết và áp dụng hiệu quả hơn vào quá trình tạo lập
văn bản (cả viết và nói)
3 Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài của chúng tôi thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Xác định một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài để định hướng cho việc nghiên cứu
- Khảo sát các từ nối theo phạm trù tương phản trong từng tập truyện ngắn, tiến hành so sánh và nhận xét
- Tìm hiểu giá trị liên kết và giá trị ngữ nghĩa của các từ nối thể hiện trong các truyện ngắn Qua đó rút ra những nhận xét về cách thức sử dụng các từ nối trong việc hình thành phong cách tác giả
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp phân tích - mô tả, phương pháp phân tích so sánh - đối chiếu
- Phương pháp thống kê - phân loại: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để
thu thập các phát ngôn và các ngữ cảnh chứa từ nối mà chúng tôi khảo sát trên tư liệu truyện ngắn của ba tác giả Sau đó chúng tôi tiến hành phân loại chúng thành từng nhóm
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích
để phân tích đặc điểm của từng nhóm từ nối theo phạm trù tương phản Trên cơ sở phân tích đó chúng tôi sẽ tổng hợp số liệu để có thể rút ra những kết luận
- Phương pháp so sánh - đối chiếu ngư ̃ nghĩa: Chúng tôi sử dụng phương
pháp so sánh để nêu lên thực trạng sử dụng từ nối theo phạm trù tương phản trong các tuyển tập truyện ngắn của ba tác giả mà chúng tôi khảo sát
Trang 105 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập tới phương thức liên kết nối, cụ thể là các từ nối theo phạm trù tương phản dựa trên cứ liệu thống kê trong các văn bản truyện ngắn của ba tác giả ở ba thời kỳ là Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư
6 Bố cục của luận văn
Bố cục của luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục là tập hợp các phát ngôn mà chúng tôi khảo sát có chứa các từ nối theo phạm trù tương phản trong các văn bản truyện ngắn thì phần nội dung chính gồm 3 chương được sắp xếp như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Giá trị liên kết của các từ nối theo phạm trù tương phản trong các truyện ngắn của Nam Cao, Nguyễn Huy Thiê ̣p, Nguyễn Ngo ̣c Tư
Chương 3: Giá trị ngữ nghĩa biểu hiện của các từ nối theo pha ̣m trù tương phản trong các truyê ̣n ngắn của Nam Cao , Nguyễn Huy Thiê ̣p , Nguyễn Ngo ̣c Tư và sự hình thành phong cách tác giả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 11nữa!” [dẫn theo 32,8]
Những công trình đặt nền móng cho bộ môn ngôn ngữ học văn bản xuất hiện vào buổi giao thời giữa nửa trước và nửa sau của thế kỷ Năm 1953, nhà ngôn ngữ học Đan Mạch L.Hjelmslev - người đầu tiên đề cập đến ngôn ngữ học văn bản - đã viết: “Cái duy nhất đến với người nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách khởi điểm [ ]
đó là văn bản trong tính hoàn chỉnh tuyệt đối và không tách rời của nó” [dẫn theo 2,5] Năm 1960, M.A.K.Halliday khẳng định: “Đơn vị cơ bản khi chúng ta sử dụng ngôn ngữ, không phải là từ hay câu, mà là văn bản” [dẫn theo 2,5]
Bước sang những năm 70 của thế kỷ trước, ngôn ngữ học văn bản đã nhanh chóng đạt tới thời kỳ phát triển rầm rộ, thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới cũng như ở Việt Nam Từ đây, văn bản được coi
là đối tượng nghiên cứu và trở thành đơn vị cao nhất của ngôn ngữ học
Đặc trưng cơ bản nhất của văn bản là tính liên kết: “Tính liên kết chính là nhân
tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câu trở thành văn bản” [32,19] Tính liên kết được xem là một thuộc tính đặc thù chỉ có ở cấp độ trên câu Các câu trong văn bản có mối liên hệ qua lại với nhau tạo thành một mạng lưới Chính nhờ mạng lưới này mà các câu gắn bó lại với nhau tạo thành văn bản – đây chính là sự liên kết Việc tạo lập và tiếp nhận văn bản không thể tách rời khỏi tính liên kết - yếu tố
có vai trò quyết định tư cách “ là văn bản” của một chuỗi câu (hay phát ngôn) liên tiếp bất kỳ
Trang 12Phép nối là một trong bốn phương thức liên kết văn bản đựợc các nhà ngôn ngữ học quan tâm Các nhà phân tích diễn ngôn khẳng định phép nối được sử dụng nhiều hơn so với các phương thức liên kết khác trong liên kết văn bản Sự xuất hiện của các phương tiện nối báo trước mối quan hệ giữa các mệnh đề, câu, phát ngôn, đoạn văn trong văn bản; chúng liên kết các bộ phận của văn bản thành một chỉnh thể thống nhất Nhờ có nó, văn bản trở nên mạch lạc, logic, giúp người đọc tiếp nhận văn bản một cách dễ dàng, hiệu quả hơn
1.2 Các khái niệm liên quan
1.2.1 Văn bản, phát ngôn
1.2.1.1 Văn bản
Văn bản (Text) là một trong những đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học Cho đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam về văn bản Ở trên thế giới có thể kể đến những đại diện tiêu biểu như: L.Hjelmslev, M.A.K Halliday, D.Crystal , D.Nunan,… Ở Việt Nam có nhiều nhà nghiên cứu như Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Việt Thanh, Phạm Văn Tình,…
Mỗi một nhà nghiên cứu lại có những quan niệm, những cách hiểu khác nhau
về văn bản Vì vậy đã có rất nhiều những định nghĩa về văn bản Dưới đây xin trích một số quan niệm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước [dẫn theo Diệp Quang Ban, 2, 15]:
L.Hjelmslev (1953), nhà ngôn ngữ học Đan Mạch cho rằng: “…văn bản đươ ̣c xét như một lớp phân chia được thành các khúc đoạn”
W.Koch (1966) định nghĩa: “Văn bản được hiểu ở bậc điển thể là phát ngôn bất kỳ có kết thúc và có liên kết, có tính chất độc lập và đúng về ngữ pháp”
Halliday (1976, 1994) thì lại nói: “Một văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng Nó không phải là một đơn vị ngữ pháp loại như một mệnh đề hay một câu; mà nó cũng không được xác định bằng kích cỡ của nó […] Một văn bản không phải là một cái gì loại như một câu, chỉ có điều là lớn hơn; mà nó là một cái
Trang 13khác với một câu về mặt chủng loại Tốt hơn nên xem xét văn bản như là một đơn
vị nghĩa; một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa”
L.M.Loseva (1980): “Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo viết có đặc trưng là tính hoàn chỉnh về ý và cấu trúc và thái độ nhất định của các tác giả đối với điều được thông báo […] Về phương diện cú pháp, văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện từ vựng - ngữ pháp”
D.Crystal (1992): “Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách
tự nhiên duới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng vì những mục đích phân tích Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích”
I.O.Moskal’skaja: “Đơn vị cơ bản của lời nói thể hiện một nội dung hoàn chỉnh không phải là câu mà là văn bản Câu hoặc phát ngôn chỉ là một đơn vị cá biệt và văn bản là đơn vị cao nhất”
Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về văn bản
Trần Ngọc Thêm (1985) định nghĩa: “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu
và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy”
Trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì văn bản là: “Bài viết hoặc in mang nội dung là những gì cần được ghi để lưu lại làm bằng; là chuỗi ký hiệu ngôn ngữ hay nói chung những ký hiệu ngôn ngữ thuộc một hệ thống nào đó làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn” [21]
Định nghĩa trong Bách khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học (tập 10, Phần chú giải thuật ngữ, tr.1580) như sau: “Văn bản: (1) Một quãng viết hay phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, đề tài - chủ đề … của nó, hình thành nên một đơn vị, loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường … (2) Văn
Trang 14học, trước hết được coi như một tài liệu viết, thường đồng nghĩa với sách, […] (3) trong PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì được dành cho ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn được dùng bao gồm cả văn bản” [dẫn theo Đàm Thi ̣ Sương,24,8]
Đặc trưng của văn bản
Sau đây là những đặc trưng cụ thể của văn bản xét ở phương diện xác định văn bản trong bản thân nó và trong mối quan hệ với những cái khác liên quan đến
nó [dẫn theo Diệp Quang Ban,2,19]
Văn bản bao gồm 5 đặc trưng chủ yếu:
1) Yếu tố chức năng: Văn bản có đích hay chủ định của chủ thể tạo ra văn bản,
cụ thể là người tạo văn bản dùng lời nói ( miệng hay viết ) của mình để thực hiện một hành động nào đó nhằm tác động người nghe ( như sai khiến, hỏi, trình bày, nhận định, phủ định, mời chào, cảm ơn…) Chính chức năng này của văn bản gắn trực tiếp với chức năng cơ bản của ngôn ngữ: chức năng giao tiếp
2) Yếu tố nội dung: Văn bản có một hoặc vài ba đề tài - chủ đề xác định - giúp phân biệt văn bản với chuỗi câu nối tiếp lạc đề, hoặc xa hơn nữa, phân biệt với chuỗi câu không mạch lạc, tình cờ đứng cạnh nhau, tạo ra “ chuỗi bất thường về nghĩa” hay “ phi văn bản”
3) Mạch lạc và liên kết: Là yếu tố quyết định việc tạo thành văn bản, trong đó nổi
rõ lên việc tạo thành tính thống nhất đề tài - chủ đề là mạch lạc – đây là yếu tố giúp
phân biệt văn bản với “ phi văn bản” ở mặt tổ chức nội dung
4) Yếu tố chỉ lượng: Văn bản được thể hiện bằng sự nối tiếp tuyến tính của
nhiều câu - phát ngôn - đây là cơ sở hiện thực cho mạch lạc và liên kết
5) Yếu tố định biên: Văn bản có biên giới phía bên trái (đầu vào) và biên giới phía bên phải (đầu ra) và nhờ đó mà có tính kết thúc tương đối - yếu tố này giúp phân biệt những văn bản khác nhau khi nhiều văn bản được tập hợp lại như một bài tập nghiên cứu, một tờ báo,
Mỗi đặc trưng như là một dấu hiệu có tác dụng nhất định góp phần làm cho
một quãng lời là một văn bản, trong số đó đặc trưng mạch lạc hiểu rộng được coi là
đặc trưng quyết định tính văn bản ( textuality) hay chất văn bản (texture)
Trang 15Trên đây là các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu về văn bản Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau về văn bản nhưng tất cả đều thống nhất cho rằng văn bản là một sản phẩm của ngôn ngữ, được hình thành từ các câu ( phát ngôn) và
có tính hoàn chỉnh về nội dung và hình thức Luận văn này của chúng tôi lấy quan
điểm của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Hệ thống liên kết văn bản
Tiếng Việt” làm cơ sở lý thuyết để khảo sát các từ, cụm từ nối trong văn bản truyện
ngắn của Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp, và Nguyễn Thị Ngọc Tư [32]
1.2.1.2 Phát ngôn
Câu được coi là đơn vị cao nhất, đơn vị thực hiện chức năng thông báo và được định nghĩa theo 3 tiêu chí:
- Có nghĩa hoàn chỉnh, hoặc “tương đối” hoàn chỉnh (tiêu chí nội dung)
- Được cấu tạo theo những mô hình nhất định với nòng cốt là cấu trúc chủ -
vị ( tiêu chí cấu trúc)
- Có những dấu hiệu hình thức nhất định như ngữ điệu, dấu câu (tiêu chí hình thức) Trong thực tế, không phải câu nào cũng mang đủ 3 tiêu chí trên Người ta cho rằng, thích hợp hơn cả là dùng thuật ngữ “phát ngôn” thay cho thuật ngữ “câu” Thuật ngữ “phát ngôn” được dùng theo 2 nghĩa Theo nghĩa thứ nhất thì “phát ngôn” không phải là một đơn vị,; mà là một hành vi lời nói không có ranh giới xác định Trong đối thoại, nó tương ứng với lời của từng người; trong độc thoại, nó có thể gồm một từ, một “câu”, một chuỗi “câu” thậm chí có thể bằng cả một cuốn tiểu thuyết lớn Theo nghĩa thứ hai thì “phát ngôn” là “một đơn vị của lời nói” có ranh giới xác định bằng hai quãng ngắt hơi” [2,19]
Định nghĩa về phát ngôn của tác giả Trần Ngọc Thêm gần với cách hiểu thứ hai:
“Phát ngôn (utterance) là một bộ phận của đoạn văn, với một và nội dung nhất định nào đó (đầy đủ hoặc không đầy đủ), được tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức: Ở dạng viết, nó bắt đầu bằng chữ cái hoa và kết thúc bằng dấu ngắt phát ngôn; Ở dạng nói, nó được phát ra theo một kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc bằng một quãng ngắt hơi; về mặt lượng, nó có thể được kết thúc bằng một ngữ khí từ” [32,42]
Trang 16- Tiêu chí nội dung: có nghĩa hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh
- Tiêu chí cấu trúc: được cấu tạo theo mô hình với nòng cốt chủ - vị
- Tiêu chí hình thức: có dấu hiệu hình thức như ngữ điệu, dấu câu
Việt ngữ học có rất nhiều công trình nghiên cứu về câu Và mỗi tác giả lại xuất phát từ những quan điểm khác nhau, từ đó hình thành nên những cách hiểu khác nhau về câu
Trước đây khi định nghĩa về câu, các tác giả thường quy về các hướng chính là: hướng định nghĩa về câu dựa vào mặt ý nghĩa; hướng định nghĩa về câu theo quan điểm ngữ pháp duy lý; dựa vào hành động phát ngôn; dựa vào mặt hình thức; dựa vào hoạt động giao tiếp;… Tuy nhiên đến sau này khi việc định nghĩa chỉ dựa vào 2 tiêu chí hoặc ý nghĩa hoặc hình thức bộc lộ những hạn chế thì các nhà nghiên cứu đã đi theo hướng nghiên cứu mới: dựa vào cả hai tiêu chí là hình thức và ý nghĩa Các tác giả đại diện cho hướng nghiên cứu này là Diệp Quang Ban, Hồ Lê, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Kim Thản,…
Trong số các định nghĩa về câu, đáng chú ý là định nghĩa của Uỷ ban Khoa học xã hội: “Câu là một đơn vị dùng từ hay đúng hơn, là dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; nó có ý nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp và
có tính độc lập” [41]
Thực tế có rất nhiều tiêu chí để xác định câu nhưng chúng tôi sẽ lấy cấu trúc Chủ - Vị để áp dụng khi phân tích các câu Như vậy, câu luôn có “cấu trúc hoàn
Trang 17chỉnh diễn đạt một thông báo trọn vẹn” Nói như nhiều nhà nghiên cứu đi trước là câu phải có tính vị ngữ Tuy nhiên ngoài tính vị ngữ, một câu bất kỳ chỉ thực sự có giá trị khi nó được đưa vào hiện thực giao tiếp Đó chính là tính tình thái của câu
1.2.2.2 Ngữ trực thuộc
Tác giả Trần Ngọc Thêm khi xem xét vấn đề câu đã định nghĩa: “Câu là phát ngôn hoàn chỉnh về cấu trúc” [32,46] Như vậy, đối với những phát ngôn còn lại, về mặt cấu trúc chúng chưa đủ tư cách là một câu bởi vì các cụm từ cấu tạo nên chúng chưa hoàn chỉnh về cấu trúc – đó mới chỉ là những ngữ Nhưng nhờ có hình thức hoàn chỉnh của một phát ngôn mà chúng được đặc cách hoạt động ngang hàng với câu, là đơn vị tham gia liên kết với các câu để tạo nên đoạn văn, nghĩa là chúng trực thuộc thẳng vào đoạn văn Trần Ngọc Thêm gọi những phát ngôn này là ngữ trực thuộc hay nói cách khác “ngữ trực thuộc là phát ngôn không hoàn chỉnh về cấu trúc” [32,46] Như vậy, nó phụ thuộc về mặt cấu trúc cú pháp và nội dung ngữ nghĩa với phát ngôn trước nó Khi một phát ngôn liên kết với ngữ trực thuộc thì đó
là liên kết mạnh nhất Trong phép liên kết nối, ngữ trực thuộc chủ yếu xuất hiện ở
phép nối chặt
Dưới đây là sơ đồ phát ngôn gọi là câu với phát ngôn gọi là ngữ trực thuộc:
[Dẫn theo Phạm Văn Tình: 40,55]
Trang 181.3 Liên kết và mạch lạc
1.3.1 Liên kết
1.3.1.1 Khái niệm liên kết
Liên kết (cohesion) là một thuật ngữ quen thuộc trong ngôn ngữ học văn bản Cùng với mạch lạc, liên kết cũng là đối tượng được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Mạch lạc là cái “chất văn bản”, tạo ra một văn bản đích thực, còn liên kết chỉ là hình thức ngôn ngữ để tường minh các kiểu quan hệ giữa các câu
trong diễn ngôn
Liên kết là một hiện tượng dễ nhận biết, nhưng cách hiểu về liên kết cũng không hoàn toàn giống nhau ở các nhà nghiên cứu Cho đến nay vẫn tồn tại hai quan niệm lớn khác nhau về liên kết Hai quan niệm này đã được trình bày rõ ràng
và hệ thống trong “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” của Diệp Quang Ban [2]
Quan niệm thứ nhất thịnh hành ở giai đoạn “các ngữ pháp văn bản” coi liên kết văn bản thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ Liên kết được khai thác cả ở mặt các phương tiện hình thức lẫn ở mặt ý nghĩa Do có tính đến mặt ý nghĩa nên liên kết được hiểu như là yếu tố quyết định làm cho một sản phẩm ngôn ngữ có được cái phẩm chất “là một văn bản” (being a text) Đại diện tiêu biểu cho quan
điểm này là tác giả Trần Ngọc Thêm với cuốn: “Hệ thống liên kết văn bản tiếng
Việt” [32]
Quan niệm thứ hai thịnh hành vào những năm 70 của thế kỷ XX và ngày càng được phổ biến rộng rãi Theo quan niệm này thì liên kết với tư cách một khái niệm chuyên môn, không thuộc về cấu trúc của ngôn ngữ, mặc dù bản thân các yếu
tố cấu trúc trong ngôn ngữ là có thuộc tính liên kết Liên kết không thuộc cấu trúc
mà thuộc về ý nghĩa, và chỉ các phương tiện hình thức của ngôn ngữ thực hiện chức năng đó mới thuộc liên kết Với cách hiểu này, liên kết không giữ vai trò yếu tố quyết định cái “là văn bản” của sản phẩm ngôn ngữ Cái đó là mạch lạc (coherence) hay tính văn bản (textuality) hay chất văn bản (texture) Tiêu biểu cho quan niệm này là M.A.K Halliday và R.Hassan với cuốn “Liên kết trong tiếng Anh” (1976), và
Trang 19đã được Diệp Quang Ban khai thác trong công trình nghiên cứu “Văn bản và liên
kết trong tiếng Việt” [2]
Cụ thể định nghĩa về liên kết của hai tác giả Trần Ngọc Thêm và Diệp Quang
Ban như sau:
Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ
của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên
kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy” [32,19]
Như vậy tính liên kết chính là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câu trở thành văn bản Tính liên kết có khả năng rất lớn Nó có thể làm cho một chuỗi câu không liên quan gì với nhau trở thành một bộ phận của văn bản bằng cách thêm một câu thứ n+1 cho nó Khi đó lập tức cả chuỗi câu hỗn độn bỗng trở
nên một bộ phận hợp pháp của văn bản
Diệp Quang Ban thì định nghĩa: “Liên kết là thứ quan hệ giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu hoặc nằm trong hai vế của một câu ghép theo kiểu giải thích nghĩa cho nhau Chi tiết hơn thì liên kết là thứ quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của
yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu chứa chúng liên kết được với nhau” [4,352]
Hai định nghĩa trên đây của hai tác giả về liên kết đã khái quát được hai quan niệm thịnh hành ở hai giai đoạn khác nhau về liên kết của các nhà nghiên cứu Tuy
có cách nhìn nhận khác nhau về liên kết nhưng đều khẳng định liên kết vẫn là đối tượng được quan tâm, nghiên cứu nhiều trong văn bản, liên kết là hình thức góp
phần tường minh hoá các kiểu quan hệ giữa các phát ngôn
1.3.1.2 Liên kết hình thức và nội dung
Vấn đề "liên kết hình thức" và "liên kết nội dung" được tác giả Trần Ngọc
Thêm trình bày trong cuốn "Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt" [32] và tác giả Diệp Quang Ban trình bày trong cuốn "Văn bản và liên kết trong tiếng Việt" [2] một
cách có hệ thống, rõ ràng và chọn lọc
Trang 20Tính liên kết của văn bản có hai mặt: liên kết hình thức và liên kết nội dung Giữa hai mặt liên kết hình thức và liên kết nội dung có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ: liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương tiện liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung Tuy nhiên mối quan hệ này không phải sự tương ứng tuyệt đối theo kiểu một - đối - một Bản thân tính chất biện chứng của mối quan hệ này cũng đã nói lên sự linh hoạt đó
được phân loại thành câu tự nghĩa, câu hợp nghĩa, ngữ trực thuộc
Câu tự nghĩa: là loại phát ngôn hoàn chỉnh nhất ở cả 3 mặt: hình thức, nội
dung, và cấu trúc Nó là một phát ngôn mang tính độc lập lớn nhất, có thể đứng một
mình mà vẫn hiểu được
Ví dụ: Lão Hạc thổi cái mồi rơm, châm đóm
(Nam Cao, Lão Hạc, tr.86)
Câu hợp nghĩa: là loại phát ngôn đầy đủ về cấu trúc câu nhưng không hoàn
chỉnh về nội dung Nó không mang tính độc lập về nghĩa, muốn hiểu được nó phải dựa vào một phát ngôn khác về mặt nội dung
Ví dụ: Nó hất mái tóc nhuộm vàng hoe chơm chởm như rễ tre, nhìn hai người, cười héo hắt: "Ăn bám mà kéo theo cả bầy"
(Nguyễn Ngọc Tư, Cải ơi, trang 7)
Muốn hiểu được "nó" và "hai người" ở đây là ai thì phải phụ thuộc vào phát ngôn trước đó
Trang 21Ngữ trực thuộc: là loại phát ngôn không hoản chỉnh về nội dung và không
đầy đủ về cấu trúc Nó không độc lập ở cả hai phương diện nội dung và cấu trúc Nó không có khả năng tồn tại độc lập
Ví dụ: Tôi thích những mối tình câm, tình thầm Tôi tưởng đó là những mối tình da diết, sâu sắc Mãi mãi chẳng dám nói thật lòng, cho đến cuối đời, tình ấy vẫn bàng bạc, rập rờn, và mỗi khi có dịp (như đi qua chỗ ngồi cũ, con đường cũ, gương mặt cũ ), ta thấy lòng nhói ran
Chắc là khó chịu lắm, khi yêu mà giả bộ không yêu, khi buồn cố diễn mặt vui, khi đau tình phải tỏ ra vô tình
(Nguyễn Ngọc Tư, Nhà cổ, trang 62)
Như vậy, căn cứ vào tính hoàn chỉnh của các loại phát ngôn thì có 3 loại: câu
tự nghĩa, câu hợp nghĩa, và ngữ trực thuộc Dựa theo hướng phân loại này, cùng với việc coi liên kết thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ, Trần Ngọc Thêm đã phân loại các phương tiện liên kết dựa vào chính các loại câu, bao gồm:
- Các phương thức liên kết chung cho cả 3 loại phát ngôn (câu tự nghĩa, câu hợp nghĩa, ngữ trực thuộc) gồm: phép lặp (lặp từ vựng, lặp ngữ pháp, lặp ngữ âm), phép đối, phép thế đồng nghĩa, phép liên tưởng, phép tuyến tính
- Các phương thức liên kết hợp nghĩa, dùng cho câu hợp nghĩa và ngữ trực thuộc gồm: phép thế đại từ, phép tỉnh lược yếu, phép nối lỏng
- Các phương thức liên kết trực thuộc, chỉ dùng cho ngữ trực thuộc gồm: phép tỉnh lược mạnh, phép nối chặt
Xét theo góc độ liên kết thì các phương thức liên kết chung là những phương thức liên kết yếu, hai phương thức còn lại là những phương thức mạnh, riêng phương thức liên kết trực thuộc có độ liên kết mạnh nhất
Dưới đây là bảng phân chia các phương thức liên kết và phạm vi sử dụng của chúng:
Trang 22Kiểu câu
Phương thức liên kết
Câu tự nghĩa Câu hợp nghĩa Ngữ trực thuộc
b.Liên kết nội dung
Cũng như liên kết hình thức, liên kết nội dung không chỉ giới hạn trong phạm vi giữa các phát ngôn mà nó còn thể hiện ở mọi cấp độ có nghĩa khác (giữa các đoạn văn, giữa các vế của phát ngôn, giữa các từ, ) Ở bình diện liên kết nội dung, tất cả các câu trong văn bản đều phối hợp với nhau một cách hài hoà, bổ sung
cho nhau để cùng thể hiện một nội dung
Liên kết nội dung bao gồm hai bình diện: liên kết chủ đề và liên kết logic
- Liên kết chủ đề: là bình diện quan trọng thứ nhất của liên kết nội dung:
"Liên kết chủ đề của văn bản chính là sự tổ chức những chủ đề và phần nêu của các phát ngôn" [Trần Ngọc Thêm, 239] Liên kết chủ đề đòi hỏi toàn bộ văn bản phải xoay quanh một chủ đề nhất định Liên kết chủ đề là sợi dây kết nối hợp lý giữa
Trang 23những sự vật, sự việc được nói đến trong các câu có liên quan với nhau Liên kết chủ đề được thể hiện bằng liên kết duy trì chủ đề và triển khai chủ đề
+ Duy trì chủ đề: là việc đề cập đến cùng một sự vật, sự việc nào đó trong
các câu có liên kết với nhau Liên kết duy trì chủ đề được thực hiện qua 5 phương thức liên kết: lặp từ vựng, thế đồng nghĩa, thế đại từ, tỉnh lược yếu, tỉnh lược mạnh
+ Triển khai chủ đề: là cùng với một (hoặc vài) chủ đề đã cho, đưa thêm vào
một hoặc những chủ đề (sự vật, sự việc) khác nữa có liên quan với chủ đề ban đầu dựa theo những tiêu chuẩn nhất định của logic làm cho các câu chứa chúng liên kết được với nhau Các phương thức liên kết để triển khai chủ đề là: phép liên tưởng, phép đối
- Liên kết logic: "Nếu như liên kết chủ đề chủ yếu là sự tổ chức những phần nêu của các phát ngôn thì liên kết logic chủ yếu là sự tổ chức của các phần báo" [32,266]
Có thể xem xét liên kết logic ở hai phạm vi rộng hẹp khác nhau:
+ Bên trong một câu
+ Giữa câu với câu (hoặc rộng hơn: giữa cụm câu này với cụm câu khác, giữa phần này của văn bản với phần kia của văn bản)
Liên kết logic là một bình diện sâu hơn của liên kết nội dung, mang tính ngữ nghĩa nhiều hơn, và cũng phụ thuộc vào những nhân tố ngoài ngôn ngữ nhiều hơn Liên kết logic là sợi dây nối kết hợp lý giữa vật, việc với đặc trưng của chúng trong một câu và giữa đặc trưng này với đặc trưng kia trong những câu liên kết với nhau Liên kết logic được thể hiện bằng: phép tuyến tính, phép nối lỏng, phép nối chặt Dưới đây là bảng thể hiện liên kết nội dung và các phương thức liên kết được sử dụng của nó:
Trang 24Liên kết nội dung
Cấp độ
từ
Cấp độ câu
1.3.2 Mạch lạc
Mạch lạc (Coherence) trong văn bản là một vấn đề được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cũng như ở Việt Nam Ở nước ngoài có thể kể đến những đại diện tiêu biểu như: M.A.K Halliday (1976), Widdowson (1978), Green (1989), D.Nunan (1993), D.Togeby (1994),
Trang 25Ở Việt Nam có thể kể đến hai đại diện tiêu biểu là Trần Ngọc Thêm với cuốn
"Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt" (1985), đặc biệt tác giả Diệp Quang Ban với hai cuốn: "Văn bản và liên kết trong tiếng Việt" (1998), và "Giao tiếp, Văn bản,
Mạch lạc, Liên kết, Đoạn văn" (2002) Ngoài ra còn có các nhà nghiên cứu như Đỗ
Hữu Châu, Nguyễn Thị Việt Thanh, Nguyễn Thiện Giáp,
Dưới đây chúng tôi xin trình bày một vài định nghĩa về mạch lạc của một số nhà nghiên cứu như sau:
M.A.k Halliday và R.Hassan: " Mạch lạc được coi như phần còn lại (sau khi trừ liên kết) thuộc về ngữ cảnh tình huống (context of situation) với những dấu nghĩa tiềm ẩn (registers) Mạch lạc được coi là phần bổ sung cần thiết cho liên kết,
là một trong những điều kiện tạo thành chất văn bản (texture)" [dẫn theo Nguyễn Thị Thìn,33,45]
D.Togeby cho rằng: "Mạch lạc hiểu theo một cách chung nhất là đặc tính của
sự tích hợp văn bản, tức là cái đặc tính đảm bảo cho các yếu tố khác nhau trong một văn bản khớp được với nhau trong một tổng thể gắn kết" [2,71]
Green định nghĩa: "Mạch lạc là cái tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là có "mắc vào nhau" chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan đến nhau" [dẫn theo Nguyễn Thị Thìn, sách,33,45]
Đỗ Hữu Châu: "Một văn bản, một diễn ngôn là một lập luận đơn hay phức hợp bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào Tính lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức của văn bản, của diễn ngôn" [7,174]
Theo Nguyễn Thị Thìn: "Mạch lạc được hiểu là logic của sự trình bày - logic, của sự trình bày có quan hệ chặt chẽ với các logic khách quan, logic nhận thức nhưng không đồng nhất Bởi nó còn là kết quả của ý đồ, chiến lược giao tiếp, với phong cách và thể loại văn bản Do vậy, người ta mới có thể nói tới kiểu mạch lạc của một thể loại văn bản, nói tới những nét đặc thù về mạch lạc của từng văn bản thuộc cùng thể loại" [33,46]
Trang 26Diệp Quang Ban thì định nghĩa: "Cách nhìn chung nhất hiện nay là những từ ngữ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối giữa các câu - phát ngôn làm thành các tiểu hệ thống (các phương tiện liên kết) thì được xếp vào liên kết, còn những mối quan hệ kết nối nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các câu thì thuộc về mạch lạc" [7,71]
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về mạch lạc trong văn bản nhưng các tác giả đều cùng thống nhất coi mạch lạc là điều kiện và là yếu tố quyết định tạo thành văn bản Theo Diệp Quang Ban, có thể xem mạch lạc ở 3 phương diện:
- Mạch lạc trong triển khai mệnh đề thể hiện trong tính thống nhất đề tài chủ
đề, trong tính hợp lý logic của sự triển khai mệnh đề và trình tự giữa các câu
- Mạch lạc trong hành động ngôn ngữ (mạch lạc diễn ngôn) thể hiện trong khả năng dung hợp nhau giữa các hành động ngôn ngữ
- Mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác, do M.Green đưa ra năm 1989
Như vậy, mạch lạc và liên kết là yếu tố quyết định việc tạo thành văn bản Trong một văn bản, mạch lạc có thể dùng các phương tiện liên kết làm cái diễn đạt cho mình Tuy nhiên không có phương tiện liên kết, người ta vẫn có thể hiểu được nội dung của văn bản nhờ mạch lạc Trong một văn bản có liên kết mà không có mạch lạc thì chưa gọi là văn bản đích thực Vì vậy, mạch lạc là yếu tố quyết định việc làm cho một chuỗi câu trở thành văn bản
1.4 Phép nối với tư cách là một phương tiện liên kết
1.4.1 Khái niệm
Phương thức liên kết nối được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm Phép nối không giống với những phương tiện liên kết khác như phép tỉnh lược, phép quy chiếu, phép thế, phép liên kết từ vựng, Các phép liên kết này chủ yếu dựa vào mối quan hệ trực tiếp giữa hai hay nhiều yếu tố tạo ra liên kết, tạo ra mối quan hệ ngữ nghĩa trong văn bản Trong khi đó phép nối lại chủ yếu dựa vào ý nghĩa chuyên biệt của bản thân từ nối và ý nghĩa của các đơn vị phát ngôn được nối trong văn bản
Ở hai giai đoạn khác nhau lại có những quan niệm về liên kết và phép nối khác nhau
Trang 27Quan niệm thứ nhất thịnh hành ở giai đoạn "các ngữ pháp văn bản" coi liên kết thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ Liên kết được xem như là yếu tố quyết định làm cho một sản phẩm ngôn ngữ có được phẩm chất "là một văn bản"
Trong cuốn "Hệ thống liên kết văn bản trong tiếng Việt", tác giả Trần Ngọc
Thêm đã trình bày: "Cơ sở cho việc liên kết hai phát ngôn là sự tồn tại của các quan
hệ ngữ nghĩa giữa chúng Ở phép tuyến tính, những quan hệ đó nằm ở dạng tiềm ẩn Nếu những quan hệ đó được thể hiện ra bằng những phương tiện từ vựng thì ta có hiện tượng nối liên kết hay các phép nối nói chung" [32,169]
Dấu hiệu để nhận diện các phép nối như những phương thức liên kết phát ngôn là sự vắng mặt của một trong hai "ngôi" của quan hệ ở phát ngôn chứa từ nối Phương tiện nối kí hiệu r có hai chức năng: chức năng liên kết và chức năng ngữ nghĩa (gọi tên, định loại quan hệ) không bao giờ tách ra để nằm giữa hai phát ngôn
A và B, mà nó luôn nằm hẳn ở một trong hai phát ngôn đó, khiến cho phát ngôn chứa nó trở thành kết ngôn và phụ thuộc vào phát ngôn kia (chủ ngôn) Nếu r nằm ở
B (trong mô hình A.rB) thì ta có liên kết hồi quy Còn nếu r nằm ở A (trong mô hìnhAr.B) thì ta có liên kết dự báo [32,169]
Dựa theo tính chất của các phương tiện nối, tác giả Trần Ngọc Thêm đã phân chia ra làm 2 loại: phép nối lỏng và phép nối chặt
Quan niệm thứ hai thịnh hành vào giữa những năm 70 của thế kỷ trước và ngày càng được phổ biến rộng rãi: coi liên kết với tư cách một khái niệm chuyên môn, không thuộc về cấu trúc ngôn ngữ mà thuộc về ý nghĩa, và chỉ ra các phương tiện hình thức của ngôn ngữ thực hiện chức năng đó mới thuộc liên kết Như vậy, liên kết không giữ vai trò là yếu tố quyết định "là văn bản" của sản phẩm ngôn ngữ
mà là mạch lạc Đi theo quan điểm này là tác giả Diệp Quan Ban [2,147]
Trong cuốn "Giao tiếp Văn bản Mạch lạc Liên kết Đoạn văn", ông định
nghĩa: "Phép nối được hiểu là việc sử dụng tại vị trí đầu câu, hoặc trước vị tố (trước động từ ở vị ngữ) những từ ngữ có khả năng chỉ quan hệ để làm bộc lộ kiểu quan hệ giữa hai câu có quan hệ với nhau và bằng cách đó liên kết hai câu này với nhau" [3,248]
Trang 28Tác giả chỉ ra các phương tiện nối kết mà phép nối sử dụng như sau:
+ Quan hệ từ chỉ quan hệ bình đẳng như: và, vả lại, rồi, còn, nhưng, hay, hoặc, chỉ quan hệ phụ thuộc như: vì, nếu, tuy, dù, để, và những từ có giá trị tương đương Những quan hệ do những từ này diễn đạt là những quan hệ logic giữa hai bộ phận do chúng nối kết lại
+ Từ ngữ nối kết gồm:
Đại từ thay thế: vậy, thế hoặc tổ hợp có chứa đại từ thay thế: và thế (là), vì vậy, sau
đó, trước đó, Những quan hệ từ thuộc nhóm này dùng để chỉ quan hệ logic giữa hai câu
Những tổ hợp từ ngữ có ý nghĩa quan hệ và có tác dụng liên kết: đồng thời, trong lúc đó, một là, làm nhiệm vụ nối kết câu chứa chúng với câu khác nên chúng có tư cách là liên tố (phần biệt lập)
Dựa trên cơ sở phân loại phép nối của Halliday và Hassaan, Diệp Quang Ban phân loại phép nối liên kết văn bản tiếng Việt thành 6 kiểu quan hệ nghĩa như sau:
- Quan hệ điều kiện
- Quan hệ tương phản (bao gồm cả quan hệ nhượng bộ)
Như vậy mặc dù hai quan niệm này xuất phát từ những thời điểm khác nhau, nền tảng lý luận khác nhau nhưng vẫn gặp nhau ở một vài điểm nhất định Trong luận văn này, chúng tôi đi theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm, và có bổ sung quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban
1.4.2 Phép nối lỏng và phép nối chặt
Trong cuốn "Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt", tác giả Trần Ngọc Thêm
đã phân loại phép nối thành phép nối lỏng và phép nối chặt Cơ sở phân loại chủ
Trang 29yếu dựa vào cấu trúc ngữ pháp của chủ ngôn và kết ngôn: "Nếu sự có mặt của các phương tiện nối có khả năng làm thay đổi cấu trúc nòng cốt của phát ngôn, khiến cho nó phụ thuộc vào chủ ngôn không chỉ về mặt nội dung mà cả về mặt cấu trúc thì
ta có phép nối chặt Còn nếu sự có mặt của các phương tiện nối chỉ làm cho phát ngôn chứa nó phụ thuộc vào chủ ngôn về mặt nội dung mà không động chạm gì đến
mặt cấu trúc thì ta có phép nối lỏng" [32,170]
Phép nối lỏng nằm trong các phương thức liên kết hợp nghĩa: "Phép nối lỏng
là phương thức liên kết thể hiện ở sự có mặt trong kết ngôn những phương tiện từ vựng (từ, cụm từ) không làm biến đổi cấu trúc của nó và diễn đạt một quan hệ ngữ
nghĩa hai ngôi mà "ngôi" còn lại là chủ ngôn" [32,170]
Phép nối lỏng có thể được phân loại theo tính chất, chức năng của các phương tiện nối (tức là xác định xem những loại yếu tố từ vựng nào có thể làm phương tiện thể hiện của phép nối lỏng) Theo hướng này, có thể chia phép nối thành 2 kiểu: kiểu có phương tiện nối là các từ và cụm từ làm thành phần chuyển tiếp và kiểu có phương tiện nối là các từ phụ tố có nghĩa so sánh trong danh ngữ và động ngữ Ngoài ra, các phương tiện nối lỏng còn có thể được phân loại theo loại quan hệ ngữ nghĩa mà chúng diễn đạt hoặc theo hướng liên kết của chúng (hồi quy
hoặc dự báo)
Ví dụ:
“Lúc nhỏ Cải mười ba tuổi, một bữa mê chơi, nó làm mất đôi trâu, sợ đòn, nó
trốn nhà Rồi con nhỏ không quay lại, vợ ông khóc lên khóc xuống, bảo là chắc là
ông để bụng chuyện nó là con của chồng trước nên ngược đãi, hà khắc, đuổi xua Ông lấy trời đất, thần phật, rắn rít và cả kiếp sau (mặc dù cũng chưa biết nó ra làm sao) ra thề nhưng bà không tin, giận chẳng nhìn, chớ thèm cười nói Người ta còn đồn đãi ông giết con nhỏ rồi lấp ở một chỗ đất nào, họ ùn ùn lại coi Ông khăn gói
bỏ xứ ra đi, bụng dạ đinh ninh dứt khoát tìm được con Cải về”
(Nguyễn Ngọc Tư, tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận, Cải ơi, trang 8)
Trong ví dụ trên, phát ngôn thứ hai chứa từ nối "Rồi" chỉ thời gian kế tiếp Khi ta bỏ từ nối "Rồi" đi thì phát ngôn đó vẫn hoàn chỉnh về cấu trúc: " Con nhỏ
Trang 30không quay lại, vợ ông khóc lên khóc xuống, đuổi xua" nhưng nó lại phụ thuộc chủ ngôn về mặt nội dung Rõ ràng khi tách riêng phát ngôn này ra người ta sẽ không hiểu vì sao "con nhỏ không quay lại " mà muốn hiểu được thì phải căn cứ vào phát ngôn làm tiền đề trước nó (tức là chủ ngôn)
Còn phép nối chặt, cũng theo tác giả Trần Ngọc Thêm: "Phép nối chặt là phương thức liên kết của ngữ trực thuộc thể hiện bằng sự có mặt của từ nối (liên từ, giới từ) ở chỗ bắt đầu (liên kết hồi quy) hoặc chỗ kết thúc (liên kết dự báo) của nó, tạo thành một quan hệ ngữ nghĩa hai ngôi giữa ngữ trực thuộc với chủ ngôn" [32,205]
Phép nối chặt là phép liên kết có độ liên kết cao, có sự gắn bó mật thiết giữa chủ ngôn và kết ngôn Sự có mặt của các từ nối làm cho phát ngôn trở nên không hoàn chỉnh về cấu trúc và biến nó trở thành ngữ trực thuộc
Ví dụ:
“Anh nhìn trộm vợ Chị không thèm nói nữa, nhưng vác cái mặt lên, khinh bỉ chồng Trông đã ghét Anh muốn tát vào cái mặt cong cớn của vợ anh vài cái
Nhưng lấy cớ gì mà tát nó? Nó đã câm họng rồi Anh quả quyết lại mâm cơm Anh
hất con mèo một cái, nẩy ru tận đằng xa Rồi anh xúc cơm, rắc muối vừng ăn Anh cúi đầu ăn, mặt hầm hầm Bởi vì anh còn tức lắm "
( Nam Cao, Con mèo, 349)
Trong ví dụ trên, phát ngôn "Nhưng lấy cớ gì mà tát nó" chứa từ nối "nhưng"
là một ngữ trực thuộc Nghĩa của ngữ trực thuộc này bị quy định bởi phát ngôn trước nó, nên giữa phát ngôn ngữ trực thuộc với phát ngôn đứng trước có sự liên kết chặt chẽ với nhau bởi từ nối "nhưng"
Dễ nhận thấy là phép nối chặt, phương thức liên kết chính của nó được thể hiện chủ yếu ở phát ngôn ngữ trực thuộc Vì các ngữ trực thuộc không chứa phương tiện nối chủ yếu phụ thuộc vào phát ngôn đứng trước nó Việc phân chia các phương tiện của phép nối cũng phụ thuộc vào những quan hệ ngữ nghĩa mà chúng biểu hiện
Trang 311.5 Tiểu kết
Ở chương 1, chương cơ sở lý thuyết chúng tôi đã đề cập đến các khái niệm
cơ bản liên quan đến đề tài mà chúng tôi khảo sát Đối tượng chúng tôi quan tâm là vấn đề liên kết trong văn bản tiếng Việt, đặc biệt là phép nối.Trong những thời kỳ nghiên cứu khác nhau, xuất phát từ những nền tảng lý luận khác nhau nên quan niệm về liên kết cũng khác nhau, do đó tạo nên sự khác nhau trong việc phân loại các phép liên kết giữa các nhà nghiên cứu Luận văn của chúng tôi đi theo hướng phân loại các phương thức liên kết dựa vào quan điểm của Diệp Quang Ban và Trần Ngọc Thêm
Về phép nối, chúng tôi đi theo quan điểm của tác giả Trần Ngọc Thêm trong
cuốn “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” (2006), kết hợp với cách phân chia của Phạm Văn Tình trong “Vai trò của các từ và cụm từ nối Cách sử dụng chúng trong
tập làm văn” (1982) để làm cơ sở lý thuyết cho lý luận ở các chương sau
Trang 32CHƯƠNG 2
GIÁ TRỊ LIÊN KẾT CỦA CÁC TỪ NỐI THEO PHẠM TRÙ TƯƠNG PHẢN TRONG CÁC TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO, NGUYỄN HUY THIỆP,
NGUYỄN NGỌC TƯ 2.1 Các từ nối
2.1.1 Đặt vấn đề
Luận văn của chúng tôi lấy đề tài là "Khảo sát giá trị liên kết và giá trị ngữ nghĩa của các từ nối thuộc phạm trù tương phản trong truyện ngắn của Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư", cho nên đối tượng mà chúng tôi quan tâm
đó là phép liên kết nối và từ nối (theo phạm trù tương phản) Về phép liên kết nối đã được chúng tôi trình bày ở chương 1, còn trong chương này chúng tôi sẽ trình bày
cụ thể về từ nối
Từ nối trong ngữ pháp văn bản còn được gọi là phép nối Từ nối đã được nghiên cứu ở góc độ logic - ngữ nghĩa, ở góc độ dụng học và góc độ liên kết văn bản Có thể gọi từ nối bằng nhiều tên gọi khác nhau, khi thì là hư từ, khi thì là phụ
từ, quan hệ từ nhưng chủ yếu là liên từ
Vai trò của từ nối là dùng để nối các mệnh đề trong câu ghép hoặc sử dụng
để liên kết các câu với nhau trong một văn bản Đồng thời từ nối còn dùng để làm
rõ mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu, làm tăng tính mạch lạc cho văn bản
Trong lĩnh vực ngữ pháp văn bản, từ nối được coi là một phương thức liên kết ngang hàng với các phương thức liên kết khác và được gọi là phép nối Theo đó, phép nối có hai chức năng: chức năng liên kết và chức năng biểu hiện ngữ nghĩa (gọi tên, định loại quan hệ) Hai loại phương tiện của phép nối là quan hệ từ và từ
ngữ nối kết
Trong phương diện ngữ dụng, từ nối được dùng để liên kết các hành vi ngôn ngữ Các hành vi ngôn ngữ thường xuất hiện thành một chuỗi có sự liên kết với nhau về phương diện ngữ nghĩa Việc sử dụng từ nối trong trường hợp này đảm bảo tính logic của câu và làm rõ hơn chức năng của câu
Trang 33Từ nối còn có vai trò quan trọng trong việc chi phối trật tự các câu trong văn bản Nó góp phần tổ chức sắp xếp văn bản theo một trình tự logic nhất định Từ nối làm tường minh hoá mối quan hệ giữa các câu, và đồng thời chi phối vị trí của các câu Đây chính là mối quan hệ giữa chủ ngôn và kết ngôn Kết ngôn là phát ngôn có chứa từ nối và nó luôn đứng sau chủ ngôn ở đằng trước nó
Ví dụ:
"Câu được vài ba con cá rô, anh bắc cái ơ lên kho quẹt, tỉ mẩn lọc phần thịt dành cho tía, phần xương xẩu cho mình Những trưa nắng tốt, tranh thủ giờ cơm trưa anh xin phép chạy về, dắt tía anh ra ngoài hè tắm rửa, kỳ cọ Những tối trời mưa, anh lúp xúp cầm cái nón mê đi đón ông già Đi cạnh, che đầu cho ba, nghiêm trang như đang chở che cho sinh linh nào đó nhỏ bé, yếu ớt lắm
Nhưng ông già đâu có yếu, ông xách gậy rượt đánh anh hoài đó chớ "
(Nguyễn Ngọc Tư, Hiu hiu gió bấc, tr.30)
Ở ví dụ trên đã sử dụng liên từ "nhưng" biểu thị ý nghĩa tương phản, đối lập của câu sau với tất cả các câu trước, nối liền ý của các câu lại với nhau theo phương thức liên kết chặt chẽ
2.1.2 Tiêu chí phân loại từ nối
Từ nối được phân loại dựa theo quan hệ ý nghĩa cơ bản mà các yếu tố tham gia liên kết thể hiện Đây chính là bình diện ngữ nghĩa của phép nối
Trong cuốn "Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt" [32], tác giả Trần Ngọc
Thêm đã chia các phương tiện nối thành ba loại quan hệ khác nhau, giúp cho người tìm hiểu rất dễ nhận diện và phân biệt
- Quan hệ định vị
- Quan hệ logic diễn đạt
- Quan hệ logic - sự việc
Trong mỗi một quan hệ riêng biệt đó, tác giả lại chia thành rất nhiều các nhóm quan hệ nhỏ khác nhau, các từ nối khác nhau tạo nên một hệ thống những từ nối rất phức tạp, đa dạng
Trang 34Trên thực tế, có từ nối là thuộc quan hệ nối này, nhưng cũng lại thuộc quan
hệ nhóm khác Những trường hợp như vậy thường gây nhầm lẫn cho người đọc Trong tình hình đó chỉ có thể dựa vào những tính chất và bối cảnh của từng đoạn, từng câu trong văn bản để có thể xác định được chúng
Dưới đây là bảng phân loại từ nối theo tác giả Trần Ngọc Thêm:
I QUAN HỆ ĐỊNH VỊ
1 Định vị thời gian:
a) Thời gian kế tiếp: thế rồi, lát sau, sau đó, tiếp đó; vẫn, càng,còn,
b) Thời gian đảo: trước đó, sau khi
c) Thời gian đồng thời: đồng thời, trong đó,
d) Thời gian đột biến, ngắt quãng: bỗng nhiên, đột nhiên, nửa chừng
2 Định vị không gian: cạnh đó, gần đó, trong đó, tại đây
II QUAN HỆ LOGIC DIỄN ĐẠT
1 Trình tự diễn đạt:
a) Mở đầu: trước hết, trước tiên, thoạt tiên, đầu tiên, thứ nhất, dưới đây, sau đây b) Diễn biến: trở lên, ở trên, trên đây, tiếp theo, đến lượt mình, thứ hai,
c) Kết thúc: cuối cùng, tóm lại, nói tóm lại, nói chung, nhìn chung
2 Thuyết minh - bổ sung:
a) Giải thích: tức là, nghĩa là, nói cách khác, nói khác đi
b) Minh hoạ (chi tiết hoá): chẳng hạn, ví dụ, cụ thể là
c) Bổ sung: ngoài ra, hơn nữa, thêm vào đó, vả lại, nhân tiện, thậm chí, thêm, còn,
Trang 351 Nhân quả: thì ra, hoá ra, thành ra, rốt cuộc, như vậy, như thế, vì vậy, do đó, do
vậy, thế là, kết quả là,
2 Tương phản - đối lập:
a) Tương phản: tuy nhiên, tuy vậy, mặc dù vậy, mặt khác, lẽ ra,
b) Đối lập: trái lại, ngược lại, song le, cứ
Trên đây là bảng phân loại của Trần Ngọc Thêm Ngoài ra trong Khoá luận tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ học, Lê Văn Thành (1979) đã phân loại các từ nối thành 17 nhóm khác nhau [27] căn cứ theo ý nghĩa của các từ nối
Trong luận văn này chúng tôi sẽ dựa vào cách phân loại của Lê Văn Thành
và cách phân loại theo phạm trù của Phạm Văn Tình để có thể đưa ra cách phân loại các từ nối một cách logic nhất
Theo cách phân loại từ nối và cụm từ nối theo phạm trù của Phạm Văn Tình như sau:
1, Hợp - Tuyển: và, hay là, hoặc là, mà
2, Tương phản: nhưng (song), trái lại, ngược lại, tuy vậy, tuy nhiên, mặc dù, mặt
khác
3, Thừa nhận - Khẳng định: nói đúng ra, nói thật tình, thật (thực) ra, quả nhiên,
đúng là
4, Thời gian - Không gian: sau đây, đồng thời, trong khi ấy, thế rồi, rồi, sau đó,
cuối cùng, ở đây, dưới đây
5, Nhấn mạnh: đặc biệt (là), nhất là, thậm chí, riêng, ít ra, đơn cử, ấy là, chỉ biết
rằng
6, Giải thích - Bổ sung: nói cách khác, cụ thể là, nghĩa là, vả lại, ngoài ra (là), hơn
nữa
7, Minh hoạ - Giới thiệu: ví dụ, chẳng hạn, thứ nhất (là), thứ hai (là), như sau
8, Giả thiết - Nguyên nhân: nếu thì , bởi vì, cho nên, miễn là
9, Kết quả - Tổng kết: do đó, rốt cuộc, kết quả là, tựu trung là, nói chung, chung
quy (là), nhìn chung, tóm lại
Trang 36Cách phân loại trên khá chi tiết và đa dạng, đã khái quát được gần như toàn
bộ các từ nối xuất hiện trong các loại văn bản khác nhau Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát một trong những phạm trù trên, đó là từ và cụm từ nối theo phạm trù tương phản
2.2 Danh sách các từ nối theo phạm trù tương phản
Qua quá trình khảo sát trong các truyện ngắn của ba tác giả, chúng tôi đã thu được 671 phát ngôn trong 97 tác phẩm có chứa từ nối tương phản Sự xuất hiện của chúng rất đa dạng và phong phú
Việc phân loại các từ nối có thể dựa trên tiêu chí hình thức và tiêu chí nội dung Tiêu chí hình thức tức là dựa vào vị trí và khả năng kết hợp của các từ nối đó Các từ nối này thường có vị trí đứng trước các kết ngôn, sau dấu chấm của chủ ngôn Nhưng cũng có khi các từ nối này đứng trước vị từ (trước động từ ở vị ngữ) của kết ngôn, ví dụ như các từ nối cứ, vẫn, Dựa vào tiêu chí nội dung tức là dựa vào nội dung ngữ nghĩa mà các từ nối này biểu hiện Những từ nối tương phản như: nhưng, mà, ấy thế mà, mà vẫn, mặc dầu, thế nhưng, thế mà, song, cứ,
Khi khảo sát và phân loại các quan hệ ngữ nghĩa mà các từ nối tương phản biểu hiện, chúng tôi áp dụng theo cách phân loại của Trần Ngọc Thêm áp dụng trong việc phân loại các quan hệ biểu hiện trong phép nối lỏng và phép nối chặt Tuy nhiên hướng phân loại của chúng tôi chỉ mang tính chất tương đối
Dưới đây là bảng thống kê tất cả các từ nối theo phạm trù tương phản mà chúng tôi khảo sát được trong ba tập truyện ngắn của ba tác giả Các từ nối được sắp xếp theo thứ tự ABC