1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)

281 726 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 281
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGÔ THỊ HỒNG ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH VĂN HÓA CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGÔ THỊ HỒNG

ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH VĂN HÓA CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Hà Nội-2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGÔ THỊ HỒNG

ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH VĂN HÓA CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 01 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đinh Văn Đức

Hà Nội-2014

Trang 3

3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 8

PHẦN MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Lịch sử vấn đề 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 14

6.1 Về mặt lý luận 14

6.2 Về mặt thực tiễn 14

7 Cấu trúc luận văn 14

PHẦN NỘI DUNG 16

Chương 1 Cơ sở lý luận 16

1.1 Giao tiếp và giao tiếp bằng ngôn ngữ trên truyền hình 16

1.1.1 Giao tiếp là gì 16

1.1.2 Giao tiếp bằng ngôn ngữ 18

1.1.3 Giao tiếp bằng ngôn ngữ trên truyền hình 20

1.2 Báo chí truyền hình Việt Nam và ngôn ngữ báo chí truyền hình Việt Nam 22

1.2.1 Báo chí truyền hình Việt Nam 22

1.2.2 Ngôn ngữ báo chí truyền hình 26

Trang 4

4

1.2.3 Chuẩn mực trong ngôn ngữ và chuẩn mực trong báo chí 29

1.3 Người dẫn chương trình văn hóa trên truyền hình 33

1.3.1 Chương trình văn hóa là gì 33

1.3.2 Người dẫn chương trình là ai 37

1.4 Ngôn ngữ người dẫn chương trình văn hóa trên truyền hình 43

Chương 2: Đặc điểm từ ngữ, cú pháp và ngữ âm của lời dẫn chương trình văn hóa trên Đài Truyền hình Việt Nam 46

2.1 Phương thức tạo lập lời dẫn của người dẫn chương trình 46

2.2 Cách thức sử dụng từ vựng 49

2.2.1 Cách thức sử dụng lớp từ khẩu ngữ 49

2.2.2 Cách thức sử dụng lớp từ thuộc phong cách viết 59

2.2.3 Cách thức sử dụng lớp từ trung hòa về phong cách 61

2.2.4 Cách thức sử dụng lớp từ được đánh dấu về phong cách 66

2.3 Cách thức sử dụng câu và phát ngôn 69

2.3.1 Câu chủ động và câu bị động 70

2.3.2 Câu đơn và câu ghép 71

2.3.3 Dung lượng âm tiết trong câu 71

2.3.4 Cấu trúc chủ - vị trong câu 73

2.3.5 Trật tự ngữ đoạn trong câu 75

2.3.6 Nhánh rẽ thông tin trong câu 77

2.3.7 Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu 77

2.3.8 Mối quan hệ giữa câu với phong cách ngôn ngữ người dẫn chương trình 79

Trang 5

5

2.3.9 Mối quan hệ giữa câu với đối tượng giao tiếp 80

2.4 Đặc điểm ngữ âm 81

2.4.1 Phát âm chuẩn theo giọng Hà Nội 81

2.3.2 Về ngữ điệu 82

2.4.3 Về vận dụng yếu tố tốc độ 85

2.5 Chiến lược sử dụng các phương tiện hỗ trợ 85

Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình văn hoá trên Đài Truyền hình Việt Nam 88

3.1 Khảo sát thực trạng người dẫn chương trình văn hóa trên Đài Truyền hình Việt Nam 88

3.1.1 Về việc khảo sát thực trạng đội ngũ người dẫn chương trình văn hóa trên Đài Truyền hình Việt Nam 88

3.1.2 Về việc khảo sát nhận xét của khán giả đối với người dẫn chương trình văn hóa trên Đài Truyền hình Việt Nam 97

3.2 Những biện pháp, giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình văn hóa 101

3.2.1 Nâng cao hơn nữa chất lượng các chương trình văn hóa 101

3.2.2 Từng bước xây dựng mô ̣t môn ho ̣c chuyên ngành về dẫn chương trình của ngành học phát thanh truyền hình trong hệ thống các trường đào ta ̣o báo chí 104

3.2.3 Về hướng sử dụng từ vựng trong ngôn ngữ người dẫn chương trình 106

3.2.4 Về hướng sử dụng câu trong ngôn ngữ người dẫn chương trình văn hóa hiện nay 109

3.2.5. Về hướng thể hiện ngữ âm trong ngôn ngữ người dẫn chương trình văn hóa 111

Trang 6

6

3.2.6. Sử dụng hiệu quả các yếu tố phi ngôn ngữ 114

PHẦN KẾT LUẬN 116

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

PHỤ LỤC 128

Trang 7

7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BBT : Ban biên tập BTV : Biên tập viên ĐTHVN : Đài Truyền hình Việt Nam ĐDVPC : Đánh dấu về phong cách

PCV : Phong cách viết THVPC : Trung hòa về phong cách

VTV : Đài Truyền hình Việt Nam VHTT&DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 8

8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.2 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình 34 Bảng 2.1: Khảo sát tỷ lệ sử dụng các lớp từ 66 Bảng 2.2: Khảo sát tỷ lệ câu chủ động và câu bị động 68 Bảng 2.3: Khảo sát tỷ lệ sử dụng câu đơn và câu ghép 69 Bảng 2.4: Khảo sát tỷ lệ số ý được sử dụng trong câu 69 Bảng 2.5: Khảo sát tỷ lệ số âm tiết được sử dụng trong câu 70 Bảng 2.6: Khảo sát tỷ lệ sử dụng cấu trúc chủ - vị trong câu 71 Bảng 2.7: Khảo sát tỷ lệ số câu có nhánh rẽ thông tin 75 Bảng 3.1: So sánh tỷ lê ̣ thời gian tham gia dẫn chương trình

Bảng 3.4 So sánh tỷ lê ̣ người dẫn có hoă ̣c chưa có bằng cử

Bảng 3.5 Mức độ các phẩm chất cần thiết cho người dẫn

Bảng 3.7 Biểu đồ nhận xét của khán giả về yếu tố cần thiết

với người dẫn chương trình

Trang 9

nghiệp của phóng viên Ngôn ngữ truyền hình là "loại" ngôn ngữ tổng hợp, có

ngôn ngữ viết cho độc giả báo in, có ngôn ngữ nói cho thính giả phát thanh, hơn thế nữa, có ngôn ngữ hình ảnh cho khán giả truyền hình [121]

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các chương trình truyền hình ngày càng thu hút sự chú ý của công chúng Đội ngũ người dẫn chương trình cũng vì thế mà ngày càng nhiều Tuy nhiên, vì mục đích các chương trình dẫn dắt khán giả đến những vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, nghệ thuật – giải trí khác nhau nên yêu cầu về trang phục cũng như phong cách ngôn ngữ của người dẫn chương trình cũng có những nét khác biệt Có những cách viết, cách đọc, cách nói hấp dẫn, tạo hứng thú với khán, thính giả Nhưng cũng không ít trường hợp viết sai, đọc, nói vô hồn, vô cảm không được phát hiện và chỉnh sửa kịp thời, trở thành thói quen không tốt, ảnh hưởng đến hiệu quả thông tin Hơn nữa, nó còn làm phương hại đến sự trong sáng, giàu đẹp của ngôn ngữ tiếng Việt Sự hạn chế trong sáng tạo ngôn từ và nghệ thuật đọc, nói trên sóng

là một trong những rào cản lớn nhất đối với sự tiếp nhận của thính giả

Ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình đã được nghiên cứu nhiều ở các nước Châu Âu, Châu Mỹ nhưng ở nước ta, hiện có rất ít văn bản bàn luận về vấn đề này Trước tình hình đó, việc khảo sát, phân tích, đánh giá

Trang 10

10

một cách toàn diện thực trạng sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình nói chung và các lĩnh vực cụ thể như chương trình văn hóa nói riêng trên Đài Truyền hình Việt Nam, từ đó, nêu ra những vấn đề còn tồn tại, đề xuất hướng giải quyết nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả ngôn ngữ truyền hình là một việc làm cần thiết

Là một người đã có kinh nghiệm công tác tại một công ty truyền thông chuyên sản xuất các chương trình cho Đài Truyền hình Việt Nam, trực tiếp tổ chức sản xuất và thực hiện các chương trình ký sự, phóng sự về văn hóa, người thực hiện luận văn có điều kiện để tìm hiểu và gặp gỡ những người có

liên quan đến lĩnh vực này Chính vì vậy, tôi chọn “Đặc trưng ngôn ngữ của

người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của Đài Truyền hình Việt Nam” làm đề tài luận văn Thạc sĩ với mong muốn đóng góp thêm vào

quỹ tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho những ai muốn gắn bó với công việc của một người dẫn chương trình truyền hình nói chung và chương trình văn hóa nói riêng

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu ngôn ngữ người dẫn chương trình là một đề tài tương đối mới mẻ so với các lĩnh vực nghiên cứu báo chí khác Hầu hết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều đã có đề cập đến ngôn ngữ người dẫn chương trình truyền hình nhưng ở những góc độ liên quan chứ chưa trực tiếp

đi vào nghiên cứu nó với tư cách là đối tượng cụ thể

Đầu tiên phải kể đến đến cuốn Media Writing của nhóm tác giả W

Richard Whitaker, Janet E Ramsay, Ronald D Smith Theo các tác giả này, ngôn ngữ nói trong truyền hình phải là một bàn đỡ mà ở trên đó hình ảnh được sắp xếp một cách hợp lý Ở đây tác giả muốn nói đến lời bình của một

tác phẩm truyền hình Tiếp đến là The Language of Television của Jill

Marshall, Angela Werndly với nội dung nói về lịch sử, các thể loại, có bàn về

Trang 11

11

ngôn ngữ của một vài thể loại cụ thể như tin, phóng sự truyền hình Trong

cuốn Báo chí truyền hình, tập 2 của các tác giả G.V Cu- dơ- nhét- xốp,

X.L X-vích và A Ia Iu-rốp-xki, nhà xuất bản Thông tấn in năm 2004, các tác giả đã trình bày những đặc tính quý báu của người dẫn chương trình

tin tức như: gương mặt ăn hình, sự hiểu biết và lòng cảm thông của người

dẫn chương trình, ngữ điệu truyền cảm Với tựa đề 10 bí quyết thành công của những diễn giả, MC tài năng nhất trên thế giới [7], tác giả Carmine Gallo

đồng thời là một nhà diễn thuyết tài năng của Mỹ đã chỉ ra những bí quyết của một người thuyết trình, rất đáng được những người dẫn chương trình học hỏi

Ở Việt Nam, trong khoảng 10 năm trở lại đây, ngôn ngữ người dẫn chương trình truyền hình đã được chú ý nghiên cứu trong một số công trình nhưng chưa thật cụ thể và xứng đáng với vai trò của nó trong sự thành công

của một tác phẩm truyền hình Trong cuốn “Ngôn ngữ báo chí - Những vấn đề

cơ bản” [4], tác giả Nguyễn Đức Dân đã đề cập đến đặc điểm của ngôn ngữ

truyền hình trong sự đối sánh với ngôn ngữ báo in và chỉ ra sự khác biệt về cách tiếp thu, về từ ngữ, về ngữ pháp giữa hai thể loại đó

Ở một số bài báo khoa học, chúng ta có thể kể đến như “Vài nét về sự

đa dạng của phong cách ngôn ngữ trên truyền hình” và “Suy nghĩ về hệ quả của ngôn ngữ trên vô tuyến truyền hình” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình

Trong hai bài viết này, tác giả khẳng định ngôn ngữ âm thanh trên truyền hình phải thể hiện dưới ba hình thức là nói, đọc, viết và chỉ ra vị trí đặc biệt của phương ngữ Bắc Bộ và giọng Hà Nội cũng như phân tích những nét hay và nét đẹp của các phương ngữ khác

Ở hướng tiếp cận khác, Nguyễn Thế Kỷ (Nguyễn Bá Kỷ) có hai bài viết

“Mấy nhận xét về nói và viết trên đài truyền hình” [73] và “Vài nhận xét về dạng thức nói trên đài truyền hình từ vai trò gián tiếp với công chúng” [74]

Trong hai bài báo này, tác giả đã khảo sát và đưa ra những vấn đề về việc sử

Trang 12

12

dụng ngôn ngữ nói và phương pháp nói, viết như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất trên các đài truyền hình Năm 2005, tác giả của hai bài viết này cũng đã

bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ với đề tài “Dạng thức nói trên truyền

hình” tại Viện Ngôn ngữ học Hà Nội [72]

Ngoài ra, một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ trong nước cũng đã đề cập đến ngôn ngữ truyền hình như: luận văn của Lê Thi ̣ Phong Lan với đề tài

“Ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình” do PGS TS Vũ Quang

Hào hướng dẫn, luận văn Ngôn ngữ của người dẫn chương trình trò chơi truyền

hình” của Vương Thị Huyền do PGS.TS Hoàng Anh hướng dẫn, Ngôn ngữ truyền hình trong bản tin thời sự lúc 19h00 (2004) của Mai Thị Minh Thảo

Tuy nhiên, chưa có công trình nào tiếp cận ngôn ngữ truyền hình ở khía

cạnh người dẫn chương trình văn hóa Chính vì vậy, luận văn “Đặc trưng

ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của Đài Truyền hình Việt Nam” hy vọng sẽ có đóng góp hữu ích vào nguồn tư

liệu nghiên cứu trong lĩnh vực ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ truyền hình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của người dẫn chương trình văn hóa trên các kênh của ĐTHVN, người viết muốn so sánh với các chương trình thể thao, giải trí, kinh tế và chính trị để rút ra sự khác biệt về ngôn ngữ của người dẫn giữa các thể loại Qua đó, giúp độc giả có một cái nhìn sâu sắc hơn về nghề dẫn chương trình truyền hình nói chung và đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình văn hóa nói riêng

Trong đề tài này, người viết lựa chọn ngẫu nhiên một số sản phẩm của các chương trình văn hóa trên các kênh phát sóng của ĐTHVN (có người dẫn chương trình) Bao gồm:

- Người dẫn chương trình tại trường quay

- Người dẫn chương trình tác nghiệp tại hiện trường

Trang 13

13

Tại trường quay, người dẫn chỉ cần đọc lại lời dẫn đã biên soạn sẵn trên màn hình và lặp lại chính xác nội dung Tại hiện trường, người dẫn tác nghiệp theo nội dung đã soạn sẵn nhưng vẫn có những biến hóa cho hợp với hoàn cảnh Chính vì vậy, chúng ta không chỉ so sánh phong cách, ngôn ngữ của người dẫn các lĩnh vực khác nhau mà còn phải chỉ ra sự khác biệt ngay chính trong các chương trình văn hóa Giữa các bối cảnh khác nhau, người dẫn dùng khả năng ngôn ngữ của mình như thế nào để giao tiếp với khán giả, để chương trình của họ hấp dẫn và lôi cuốn là nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của những người dẫn chương trình văn hóa trên các kênh phát sóng của Đài truyền hình Việt Nam

Người viết đặt ra giả thuyết rằng, ngôn ngữ truyền hình luôn yêu cầu người dẫn phải có nhạy cảm riêng với nghề, phải trực tiếp tham gia cùng êkip sản xuất, tác nghiệp tại hiện trường và tham gia vào khâu biên soạn lời dẫn

Có như vậy, lời dẫn mới thực tế và sâu sắc Bên cạnh đó, người dẫn chương trình văn hóa phải là người có kiến thức khá rộng về tất cả các lĩnh vực thì mới có thể đối thoại với nhân vật một cách trôi chảy, dẫn dắt vấn đề một cách linh hoạt

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, người viết sử dụng các phương pháp sau để nghiên cứu:

- Phương pháp thống kê: Thống kê các lớp từ, thống kê số lượng câu, thống kê các dạng câu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tổng số chương trình được chúng tôi chọn khảo sát là 70 chương trình, trong đó, mỗi chương trình có thể được khảo sát ở nhiều số phát sóng khác nhau ở thời điểm từ tháng 9/2009 đến tháng

Trang 14

14

10/2014 Các nội dung mà người dẫn nói trên truyền hình được tác giả ghi lại thành dạng văn bản viết và tiến hành khảo sát Các vấn đề tập trung khảo sát là:

tỉ lệ sử dụng các lớp từ, tỉ lệ sử dụng các yếu tố thuộc về câu, ngữ âm Trên cơ

sở các nguồn tư liệu đã có, chúng tôi phân tích, đánh giá cách thức sử dụng các yếu tố ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách thể hiện của người dẫn chương trình văn hóa trên truyền hình và cuối cùng là đưa ra các kết luận

- Phương pháp xã hội học: điều tra ý kiến của 50 người dẫn chương trình văn hóa và 150 khán giả bằng phiếu hỏi để lấy thông tin về thực trạng người dẫn chương trình văn hóa trên ĐTHVN và ý kiến nhận xét của khán giả khi theo dõi các chương trình đó

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6.1 Về mặt lý luận

Đây có thể sẽ là luận văn đầu tiên nghiên cứu tương đối đầy đủ và sâu sắc đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình văn hoá của một Đài Truyền hình Quốc gia - Đài Truyền hình Việt Nam Kết quả của luận văn

sẽ góp thêm tư liệu và cách nhìn nhận về việc sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình

6.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể giúp ích cho việc nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình văn hoá trên truyền hình nói riêng cũng như các chương trình truyền hình nói chung Đó cũng chính là nâng cao chất lượng của chương trình truyền hình mang tính quốc gia

7 Cấu trúc luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận

1.1 Giao tiếp và giao tiếp bằng ngôn ngữ trên truyền hình

1.1.1 Giao tiếp là gì

1.1.2 Giao tiếp bằng ngôn ngữ

Trang 15

15

1.1.3 Giao tiếp bằng ngôn ngữ trên truyền hình

1.2 Báo chí truyền hình Việt Nam và ngôn ngữ báo chí truyền hình Việt Nam

1.3 Vai trò của người dẫn chương trình truyền hình

1.4 Ngôn ngữ người dẫn chương trình văn hóa trên truyền hình Chương 2: Đặc điểm từ ngữ, cú pháp và ngữ âm của lời dẫn chương trình văn hóa trên Đài Truyền hình Việt Nam

2.1 Phương thức tạo lập lời dẫn của người dẫn chương trình

2.2 Cách thức sử dụng từ vựng

2.3 Cách thức sử dụng câu và phát ngôn

2.4 Đặc điểm ngữ âm

2.5 Chiến lược sử dụng các phương tiện hỗ trợ

Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình văn hoá trên Đài Truyền hình Việt Nam

3.1 Khảo sát thực trạng người dẫn chương trình văn hóa trên Đài Truyền hình Việt Nam

3.2 Những biện pháp, giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình văn hóa

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 16

16

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Nghiên cứu về ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình, nhất

là những chương trình cụ thể như chương trình văn hóa hay chương trình thời

sự, chương trình trò chơi truyền hình là một vấn đề còn khá mới mẻ và phức tạp Bởi vì, nó không chỉ liên quan đến lĩnh vực báo chí, truyền hình mà còn liên quan chặt chẽ tới những vấn đề ngôn ngữ học Chính vì vậy, để khảo sát, phân tích được thực trạng sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình hiện nay, đòi hỏi phải xác lập được hệ thống lý thuyết đúng đắn về ngôn ngữ truyền hình Do đó, chương 1 cần làm sáng tỏ các vấn đề:

- Vai trò của ngôn ngữ trong giao tiếp trên truyền hình

- Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và báo chí

- Những yếu tố ảnh hưởng đến phương pháp sáng tạo ngôn ngữ của người dẫn chương trình văn hóa trên truyền hình

- Yêu cầu đối với ngôn ngữ người dẫn chương trình văn hóa trên truyền hình hiện nay

1.1 Giao tiếp và giao tiếp bằng ngôn ngữ trên truyền hình

1.1.1 Giao tiếp là gì

Như chúng ta đã biết, bản thân mỗi con người là một bộ phận của xã hội với các mối quan hệ xung quanh như: gia đình, đồng nghiệp, đối tác Để dung hòa các mối quan hệ ấy, con người cần có giao tiếp Giao tiếp là sự chia

sẻ ý nghĩ, tình cảm, thông tin với một hoặc nhiều người Trong giao tiếp, chúng ta thường sử dụng lời nói để biểu đạt ý nghĩ của mình và để trao đổi thông tin với người khác Tuy nhiên, giao tiếp không chỉ đơn giản là nói chuyện với một ai đó mà còn liên quan đến rất nhiều các vấn đề khác như: Bạn nói như thế nào? Bạn hiểu đối tượng giao tiếp với mình như thế nào?

Trang 17

17

Làm thế nào để hai bên có thể hiểu rõ về các thông tin cùng trao đổi? Bạn làm thế nào để lần giao tiếp đó đạt được kết quả như bạn mong đợi ?

Chúng ta hãy nhìn vào sơ đồ sau:

A: Người nói (speaker) B: Người nghe (hearer)

C: Mã (Code) E: Chu cảnh (Environment) N: Nhiễu (Noise)

Bảng 1.1: Sơ đồ giao tiếp [126]

Đây là sơ đồ thể hiện những nhân tố thiết lập nên sự giao tiếp giữa con người với con người Các hình thức giao tiếp là:

- Giao tiếp đơn thoại: là mối liên hệ thuận trong giao tiếp Người nói

muốn trao gửi thông điệp cho người nghe và không quan tâm đến phản hồi của người nghe Do đó, cũng không thể xử lý được các phản ứng từ phía người nghe

- Giao tiếp đối thoại: là mối liên hệ nghịch trong giao tiếp Trong đó,

người nói trao gửi thông điệp và người nghe phản ứng trước những thông tin, thông điệp mà người nói đã chia sẻ Cả người nói và người nghe sử dụng mối liên hệ này để điều chỉnh toạ độ giao tiếp, nhu cầu giao tiếp và mục đích giao

tiếp cho thích hợp Khi chỉ có mối liên hệ giữa A đến B mà không có mối liên

hệ theo chiều ngược lại, hoặc không có nhu cầu của A về một phản ứng nào

đó từ B, thì người ta gọi đó là độc thoại [126]

Ngoài yếu tố người nói (A) và người nghe (B), sơ đồ giao tiếp còn có

sự tham gia của các nhân tố sau:

Mã ngôn ngữ (C): Giao tiếp của con người là sự tìm hiểu và thống nhất

bởi mã ngôn ngữ Do sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan như môi

Trang 18

18

trường sống, đặc điểm sống nên kinh nghiệm xử lý ngôn ngữ của con người

có những điểm khác biệt, dẫn đến mã ngôn ngữ không hoàn toàn thống nhất

Vì vậy, nghệ thuật của giao tiếp là nghệ thuật biết dừng lại ở sự thống nhất về

mã, về mức độ mã [126]

Chu cảnh giao tiếp (E): Là môi trường hay hoàn cảnh xã hội, vị thế xã

hội yếu tố không gian và thời gian diễn ra việc giao tiếp Việc sử dụng hiệu quả chu cảnh giao tiếp góp phần tạo nên thành công của giao tiếp

Nhiễu (N): là yếu tố cản trở quá trình giao tiếp, làm phương hại các giá

trị thông tin được chuyển giao, làm sai lạc nội dung thông điệp Nhiễu có thể

là tiếng ồn, thời tiết (yếu tố khách quan), cũng có thể xuất phát từ chính tinh thần, cảm tính của chính những người tham gia giao tiếp

Dựa vào vật chất, người ta có thể chia giao tiếp thành hai loại là: giao tiếp vật chất và giao tiếp phi vật chất Dựa vào khoảng cách người ta có thể chia thành giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp Dựa vào việc sử dụng ngôn ngữ cũng có thể chia hoạt động giao tiếp làm hai loại: giao tiếp bằng ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ Hai loại hình này luôn bổ sung, hỗ trợ nhau trong việc truyền tải thông điệp giữa người nói với người nghe

1.1.2 Giao tiếp bằng ngôn ngữ

Mọi cuộc giao tiếp đều phải sử dụng một hệ thống tín hiệu làm công

cụ Khi giao tiếp bằng ngôn ngữ thì hệ thống giao tiếp là những ngôn từ tự nhiên Trong tất cả các phương tiện mà con người sử dụng để giao tiếp thì ngôn ngữ là phương tiện cơ bản và cũng là phương tiện có nhiều ưu thế nhất trong việc thoả mãn được các nhu cầu của con người Ngôn ngữ phục vụ đông đảo thành viên trong cộng đồng và giúp cho các thành viên trong cộng đồng

có thể bộc lộ hết các nhu cầu giao tiếp

Các yêu cầu của giao tiếp bằng ngôn ngữ:

Trang 19

19

- Lời nói phải đúng vai xã hội, đúng cương vị xã hội của con người Khi giao tiếp với ai, chúng ta hãy định hướng cho cách giao tiếp ứng xử của mình sao cho phù hợp

- Lời nói phải phù hợp với trình độ người nghe Trình độ quá chênh lệch

về ngôn ngữ giữa người nói và người nghe có thể gây khó hiểu hoặc hiểu lầm

- Bảo đảm nguyên tắc truyền đạt một thông điệp Thông điệp phải rõ ràng, rành mạch, không có những từ, những câu thừa, nhưng mặt khác lại cho phép ở một số chỗ nào đó cần có sự lặp lại ít nhiều với mục đích nhấn mạnh, nêu bật những ý cần thiết

Chúng ta có cách cách nói sau:

- Cách nói cơ giới và cách nói tình thái Nói cơ giới là nói thẳng, nói

vỗ mặt Ví dụ: tôi không có, tôi không cho, tôi bỏ, tôi cắt, anh nói sai Nói

tình thái là nói tế nhị, có tình cảm, làm cho người nghe có thể tiếp thu một

cách thoải mái nội dung câu nói Ví dụ: Tôi e rằng đánh giá như thế là chưa

thỏa đáng

- Cách nói chỉ rõ và nói gợi, nói ví Nói chỉ rõ sự việc là nói trực diện, như 2 với 2 là 4 Nói gợi là nói đến một dấu hiệu gì đó có liên quan để người nghe tự hiểu Nói ví là một cách nói gợi, dùng sự so sánh Ví dụ để phê bình

một bài diễn văn nhậm chức sáo rỗng: “Bài này cho đăng vào một tạp chí văn

hóa nghệ thuật thì tuyệt”

- Cách nói triết lý Cách nói này được dùng để giảm thiểu nỗi bất hạnh

của người đối diện Ví dụ: Của đi thay người!

- Nói hiển ngôn và nói hàm ngôn Hiển ngôn là lời nói có nghĩa biểu hiện trực tiếp ra ngoài Hàm ngôn là lời nói có nghĩa ẩn bên trong, đòi hỏi người nghe phải cố gắng để hiểu, để giải mã câu nói

Ví dụ: Ở trong phòng họp, A nói: Nóng quá!, B nói: Ừ, nóng như lửa!

Câu nói của A trong trường hợp này này là hiển ngôn, không có hàm ngôn; Ở

Trang 20

20

nhà riêng của B, A nói: Nóng quá!, B bảo: Có chai bia đây! Câu nói của A

vừa là hiển ngôn (trời nóng) vừa là hàm ngôn (cho uống gì đi)

- Nói mỉa mai, châm chọc Theo Paul Guth và Michelle Maurois, tự ái rất nên giữ vì đó là tình cảm của con người có phẩm cách Vì vậy, chúng ta nên tôn trọng cái tự ái của mỗi người và tránh không làm tổn thương đến nó bằng những cách nói gợi ý, tế nhị hơn Đừng nói đùa châm chọc, nhất là đối với những người quá nhạy cảm

Những điều tối kỵ trong ngôn ngữ giao tiếp:

- Nói năng nửa chừng rồi dừng lại hoặc cướp lời người đang nói, làm nhiễu thứ tự hoặc luồng suy nghĩ của người đó

- Không nói rõ và giải thích đầy đủ làm người nghe cảm thấy đột ngột, khó hiểu thông điệp, không nêu ra những trọng tâm, những khái quát, làm người tiếp chuyện khó theo dõi mạch chuyện

- Nói sai đề tài, không quan tâm tới điều mình nói Nói thao thao bất tuyệt, không ngừng nêu ra những câu hỏi làm người tiếp chuyện có cảm giác

bị yêu cầu hơi nhiều Không trả lời thẳng vào câu hỏi mà quanh co, dài dòng gây nên cảm giác không trung thực cho người nghe

- Tự cho rằng mình biết nhiều hơn người khác Làm ra vẻ hiểu sâu biết rộng, phát triển câu chuyện không tập trung vào chủ đề chính làm người tiếp chuyện cảm thấy nhàm chán Ngắt bỏ hứng thú nói chuyện của người khác để

ép người đó phải chuyển sang nói về đề tài mà bạn thích

- Dùng ngôn ngữ quá bóng bẩy Sử dụng những câu tiếng nước ngoài một cách tùy tiện Dùng những lời quá thân mật so với mức độ quan hệ Dùng những từ đệm không cần thiết Nói giọng khích bác, chạm vào lòng tự ái của người khác

1.1.3 Giao tiếp bằng ngôn ngữ trên truyền hình

Trang 21

21

Ông Vũ Văn Quang – Phó Giám đốc Trung tâm Đào tạo Đài Truyền hình Việt Nam trong một lần phát biểu với các học viên tại một khóa học về

kỹ năng báo chí đã nói: “Khán giả của các bạn có những người là nông dân,

có người trình độ thấp, nhưng có những người trình độ bậc thầy của các bạn, vậy thì mỗi phát ngôn trên sóng, mỗi lời bình thì phải nhớ rằng chúng ta có bao nhiêu người thầy đang theo dõi chương trình của mình…” [122]

Điều đó có nghĩa là ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong

quá trình giao tiếp trên truyền hình Giao tiếp báo chí nói chung và giao tiếp

truyền hình nói riêng là một quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ và các yếu tố phụ trợ để tạo ra lời nói, các diễn ngôn nhằm trao đổi thông tin giữa nhà báo, nhà đài với công chúng [72]

Cũng như quá trình giao tiếp cơ bản, sơ đồ giao tiếp trên truyền hình

gồm các yếu tố: Nhân vật giao tiếp (chủ thể phát là đài truyền hình (A), chủ thể nhận là công chúng (B)), Chu cảnh giao tiếp (môi trường giao tiếp trên

truyền hình có thể diễn ra trong trường quay hay hiện trường với không gian

rộng, hẹp hay thời gian dài, ngắn khác nhau), Nhiễu (N), và Mã ngôn ngữ (C)

Trong các nhân tố tham gia giao tiếp trên truyền hình, mã ngôn ngữ có một vị trí rất quan trọng Với báo in là các con chữ hay còn gọi là kênh viết Với báo nói là âm thanh hay kênh nói Với truyền hình, mã ngôn ngữ - kênh giao tiếp là việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách và văn hóa ngôn ngữ khi giao tiếp

Trong quá trình giao tiếp, nhà báo sử dụng ngôn ngữ để truyền thông điệp là các sự kiện, tin tức, tư tưởng, tình cảm đến công chúng Công chúng tiếp nhận thông tin và phản hồi qua nhiều phương thức khác nhau Có thể là phản hồi trực tiếp nếu bối cảnh giao tiếp là các cuộc tọa đàm trong trường quay hoặc phản hồi gián tiếp thông qua các cấp trung gian như hộp thư truyền hình, dư luận

Trang 22

22

Giao tiếp trên truyền hình cũng gồm hai hình thức:

Giao tiếp đơn thoại: là hình thức giao tiếp một chiều từ nhà báo truyền

hình đến công chúng, là sự phát ngôn có tính diễn đạt

Giao tiếp hội thoại: là hình thức giao tiếp hai chiều, có sự tương tác

bằng lời, nhà báo và nhân vật luân phiên đổi vai cho nhau

Việc sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt thông điệp cũng phải có nguyên tắc,

cụ thể Đối với người phát ngôn (đài truyền hình, nhà báo) phải xác định trúng vấn đề bằng cách trả lời các câu hỏi (theo ngành báo chí gọi tắt là 5W + 1H), cụ thể như sau:

- What: Thông điệp cần truyền đi là gì?

- Why: Vì sao phải truyền thông điệp đó?

- Who: Đối tượng giao tiếp với mình là ai?

- When: Lúc nào thì bắt đầu truyền thông tin?

- Where: Truyền thông điệp đó đến những nơi nào?

- How: Truyền thông điệp như thế nào cho hiệu quả?

Nếu những vấn đề trên được xác định rõ, nhà báo mới biết điều chỉnh vốn hiểu biết về ngôn ngữ của mình để truyền thông tin một cách hiệu quả đến công chúng xem truyền hình

1.2 Báo chí truyền hình Việt Nam và ngôn ngữ báo chí truyền hình Việt Nam

1.2.1 Báo chí truyền hình Việt Nam

Truyền hình là loại hình phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện từ khoảng giữa thế kỷ XX nhưng đã phát triển rất nhanh chóng, mạnh mẽ và được phổ biến hết sức rộng rãi trong vài thập niên trở lại đây Thế mạnh của truyền hình là cung cấp thông tin dưới dạng hình ảnh kết hợp với âm thanh và

cả chữ viết Chính vì vậy, nó trở thành phương tiện truyền thông hấp dẫn, sinh động và tạo nên được ở người tiếp nhận thông tin hiệu quả tổng hợp tức thời

Trang 23

23

về nhận thức và thẩm mỹ Bằng sự kết hợp các chức năng phản ánh, nhận thức thẩm mỹ và giải trí, truyền hình ngày càng thu hút được nhiều khán giả theo dõi

“Theo nghĩa rộng của tín hiệu học thì truyền hình là một phương tiện truyền tin Dưới góc độ ngôn ngữ học, truyền hình là việc truyền hình ảnh,

âm thanh bằng sóng điện tử, là phương tiện giao tiếp đặc biệt của chủ thể truyền hình với khán giả” [73]

Là một thể loại báo chí mang tính tổng hợp cao (có hình, có tiếng, có chữ ), truyền hình có thể đến được với nhiều người, ở nhiều nơi khác nhau trong cùng một lúc nên tính chất báo chí nổi bật của truyền hình là tính xã hội

và dân chủ Bên cạnh nhiệm vụ tuyên truyền, truyền hình còn là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, văn hóa cũng như lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội

Với kỹ thuật hiện đại, sự tiếp cận thông tin kịp thời, nhanh chóng, rộng rãi và kịp thời, truyền hình không chỉ là phương tiện thông tin đại chúng đơn thuần mà còn là một trường học bổ ích, hiệu quả cho nhiều đối tượng Chính

vì vậy, đòi hỏi các chương trình truyền hình phải có tính định hướng, tính chính xác, tính chuẩn mực và tính văn hóa

Ngày 07/9/1970, chương trình truyền hình thử nghiệm đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được phát sóng Từ đó đến nay, truyền hình Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ với nỗ lực của rất nhiều cán bộ, kỹ thuật viên, phát thanh viên, biên tập viên trong việc nghiên cứu, học tập kinh nghiệm từ các nước trên thế giới để phát triển hệ thống truyền hình của nước nhà Đến nay, hệ thống truyền hình Việt Nam đã có một Đài truyền hình quốc gia, 5 đài truyền hình khu vực (Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Phú Yên, Hồ Chí Minh) và 64 Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương, nhiều kênh truyền hình cáp hữu tuyến Tuy nhiên, Đài Truyền hình quốc gia – Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) có cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại và cán bộ được đào

Trang 24

24

tạo bài bản, có chất lượng hơn cả, đáp ứng được xu thế toàn cầu hóa trong truyền thông đại chúng thế giới

Các kênh quảng bá quốc gia của VTV phát sóng 24/24 bao gồm:

VTV1: Kênh thông tin tổng hợp với nội dung thông tin về mọi mặt của

đời sống như chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội

VTV2: Chương trình khoa học và giáo dục, nhằm vào đối tượng sinh

viên, học sinh và cải thiện giáo dục cộng đồng Nội dung chương trình tập trung vào các chủ đề khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và thông tin phát minh công nghệ

VTV3: Kênh thể thao, giải trí và thông tin kinh tế Đây là kênh truyền

hình rất được ưa chuộng tại Việt Nam với các thể loại chương trình đa dạng phong phú, chất lượng cao nhằm phục vụ nhu cầu giải trí của khán giả thuộc mọi lứa tuổi từ các giải bóng đá quốc tế cho những người hâm mộ bóng đá tới các cuộc thi kiến thức cho tầng lớp sinh viên và những người lớn tuổi hay các cuộc thi về kỹ năng công việc gia đình cho các bà nội trợ

VTV4: Chương trình đặc biệt cho người Việt Nam tại nước ngoài: Nội

dung kênh này bao gồm tin tức, sự kiện trong nước, các chương trình thiếu nhi, Việt Nam - Đất nước, Con người, các chương trình du lịch, văn hóa Kênh được phát sóng bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc với phụ đề tiếng Anh

VTV5: Chương trình đặc biệt cho các dân tộc thiểu số bằng tiếng của

họ Trên lãnh thổ Việt Nam có hơn 50 nhóm dân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu trên các vùng đồi núi xa xôi Kênh chương trình này được đánh giá là cách hiệu quả nhất để kết nối với những người dân này và đem đến cho họ các thông tin về chính sách của chính phủ, các sự kiện đang diễn ra trên đất nước Việt Nam Bằng cách này, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền trong đất nước đã được giảm bớt

Trang 25

25

VTV6: Kênh truyền hình dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng Kênh

truyền hình dành cho tuổi trẻ với các MC đều là những sinh viên làm VTV6 trở nên gần gũi với giới trẻ hiện nay Từ ngày 07/09/2013, kênh VTV6 chính thức phát HD trên hệ thống DVB-T2 của VTV, VTVCab,

Các kênh quảng bá khu vực bao gồm:

VTV9: Là kênh thông tin tổng hợp được phát sóng 24/24 thể hiện bản

sắc và cá tính riêng để phù hợp với khán giả truyền hình khu vực Nam bộ Nội dung các chương trình của kênh VTV9 cũng đa dạng ở nhiều lĩnh vực từ thời sự - chính luận đến văn hóa - văn nghệ; từ quảng bá hình ảnh đất nước đến nghệ thuật - thể thao

VTV Huế: Sản xuất, khai thác các chương trình truyền hình tại khu

vực Bắc Miền Trung và được phát sóng 18h/ngày

VTV Đà Nẵng: Nội dung thông tin của kênh tập trung hướng tới đối

tượng khán giả thuộc địa bàn duyên hải miền Trung và Tây Nguyên Thời lượng phát sóng là 18h/ngày

VTV Cần Thơ 1: Bám sát địa bàn, ghi nhận những vấn đề thời sự nổi

bật về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tại Đồng bằng sông Cửu Long, phản ánh kịp thời trên các bản tin thời sự của Đài THVN

VTV Cần Thơ 2: Kênh chuyên sản xuất các chương trình phục vụ

hơn một triệu bà con dân tộc Khmer Nam bộ

VTV Phú Yên: Nội dung thông tin của kênh tập trung hướng tới đối

tượng khán giả thuộc khu vực 6 tỉnh phía Nam Trung Bộ Kênh phát sóng 18h/ngày

Mỗi kênh quảng bá hướng đến một đối tượng riêng nhưng đều có chung một đặc điểm, đó là chức năng báo chí

Trang 26

26

1.2.2 Ngôn ngữ báo chí truyền hình

Truyền hình Việt Nam đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ với những mục đích khác nhau như vai trò, vị trí của nó với các vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa nhưng ngôn ngữ truyền hình là đề tài chưa thực sự được chú trọng Mặc dù trong thời đại hiện nay, ngôn ngữ truyền hình có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với tác phẩm truyền hình và định hướng dư luận

Theo xu hướng của toàn cầu là ngày càng có nhiều loại hình thông tin đại chúng, ngôn ngữ báo chí cũng dần tách ra theo từng nhóm, ngành khác nhau Lợi thế của truyền hình là những hình ảnh sống động, chân thực nên ngôn ngữ truyền hình không những phải bám sát khuôn hình mà còn phải biết gợi mở cảm xúc cho người xem Ở truyền hình, khán giả - công chúng tiếp cận thông tin vừa bằng mắt, vừa bằng tai nên tác phẩm truyền hình muốn truyền tải thông điệp thành công thì vừa phải đẹp mắt, vừa phải hợp tai người xem Đó cũng chính là lợi thế khiến truyền hình hấp dẫn hơn nhiều thể loại báo chí khác

Ngôn ngữ truyền hình nói riêng cũng như ngôn ngữ báo chí nói chung đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực, chuẩn phong cách ngôn ngữ báo chí

1.2.2.1 Chức năng của ngôn ngữ báo chí:

Các chức năng của báo chí trong xã hội đã làm cho ngôn ngữ trên báo chí mang những đặc điểm đặc thù, phân biệt với hàng loạt các phong cách chức năng khác xét từ phía ngôn nghĩa Sau đây là các đặc điểm quan trọng nhất của ngôn ngữ báo chí

- Chức năng thông báo

Do nhiệm vụ hàng đầu của báo chí là phản ánh tin tức các sự kiện trong cộng đồng, nên công việc cấp thiết đặt lên hàng đầu của những người làm công tác báo chí là phải sẵn sàng có một bộ phương tiện truyền tải tin tức sắc

Trang 27

27

bén và nhanh nhạy Để thực hiện được yêu cầu này, ngôn ngữ trước nhất phải đảm báo được tính khách quan trong phản ánh sự kiện Báo chí nhờ chức năng này của ngôn ngữ phản ánh được trung thực thông tin diễn ra trong thực

tế Qua đó báo chí trở thành thức ăn tinh thần lành mạnh, có ích, giúp người tiếp nhận thông tin mở rộng hiểu biết, phát triển tư duy theo khuynh hướng toàn diện hóa

- Chức năng định hướng dư luận

Chức năng này gắn liền với chức năng thông báo Ngôn ngữ báo chí luôn phải đảm nhiệm một nhiệm vụ to lớn là hướng dẫn dư luận và tác động lên dư luận, làm cho người đọc hiểu được bản chất của sự thật để phân biệt rõ đâu là một chân lý, đâu là ngụy biện, phân biệt thật giả để quyết định thái độ ủng hộ hay phản đối

- Chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng

Khi thực hiện chức năng định hướng dư luận, bản thân báo chí có sức qui tụ bạn đọc về phía mình Chính sự thu hút của ngôn ngữ báo chí đã tạo ra khả năng tập hợp và tổ chức quần chúng rất lớn Lịch sử đã chứng minh sức mạnh tinh thần to lớn đến mức chuyển hóa thành sức mạnh vật chất của ngôn ngữ báo chí Ví dụ sức mạnh của tờ báo “Thanh niên” ra đời năm 1925, tờ

“Cờ Giài phóng” trong thời kỳ giành chính quyền

1.2.2.2 Đặc điểm phong cách của ngôn ngữ báo chí

Trong tiến trình thực hiện các nhiệm vụ của báo chí đối với xã hội, hệ thống ngôn từ của báo chí loại bỏ và tiếp thu các đặc điểm ngôn ngữ ở các lĩnh vực và các thiết chế xã hội khác và tự thiết lập nên cho mình hệ đặc điểm riêng Chính các đặc điểm này tạo nên đặc điểm cấu trúc phong cách của ngôn ngữ báo chí Hệ đặc điểm riêng này bao gồm:

- Cô đọng và biểu cảm

Trang 28

28

Nói tới báo chí là nói tới đặc điểm ngắn gọn Sự ngắn gọn của báo chí khác với sự ngắn gọn của phong cách hành chính – công vụ và phong cách khoa học Bởi sự ngắn gọn của ngôn ngữ báo chí vẫn ít nhiều gắn với xúc cảm chủ quan cá nhân, với quan điểm của mỗi tờ báo cụ thể

Tính ngắn gọn của ngôn ngữ báo chí cũng là yêu cầu tất yếu xuất phát từ chức năng cơ bản của báo chí là thông tin nhanh Muốn thông tin nhanh, nhiều làm cho báo đa dạng phong phú, những nét rườm rà trong báo chí phải bị loại bỏ

- Hấp dẫn và thuyết phục

Tính hấp dẫn và thuyết phục của ngôn ngữ báo chí có thể coi là một trong các yếu tố quyết định sinh tồn của nó Trong thời đại mà báo chí phát triển, cuộc cạnh tranh bạn đọc diễn ra ngày càng quyết liệt thì yêu cầu về tính hấp dẫn và thuyết phục ngày càng cao Đặc tính này được thể hiện qua các phương diện:

Về nội dung, thông tin luôn phải mới, đa dạng và phong phú Trong đó

có yêu cầu đưa tin nhanh, xác thực, có tính chất cập nhật Không đưa thông tin một chiều mà phải phản ánh được nhiều hướng dư luận khác nhau (nếu có)

Về hình thức, ngôn ngữ trong bài báo phải có sức lôi cuốn người đọc Điều này thể hiện trước tiên ở tít bài Cùng với cách trình bày, hình ảnh minh họa, cuối cùng là các biện pháp sử dụng ngôn ngữ, trong đó có việc lựa chọn

từ ngữ Đặc biệt là cách tạo kiểu câu bất ngờ gây ấn tượng mạnh về ngữ nghĩa

sẽ có tác dụng rất lớn với sự cảm nhận và tri giác của người đọc

- Thẩm mỹ song hành giáo dục

Khi thực hiện tính thẩm mỹ trong ngôn từ, báo chí cũng đồng thời thực hiện tính giáo dục Dù đưa tin, dù luận chiến, báo chí tiến bộ bao giờ cũng hướng con người ta tới lẽ phải, chân thiện mỹ Là phương tiện giúp con người

ta tự thức tỉnh mình, tự điều chỉnh theo các qui phạm xã hôi được biểu hiện ở tất cả các phương diện như đạo đức, luân lý, đến luật pháp Và các chức năng

Trang 29

29

này ẩn chìm trong lớp ngôn ngữ Việc đưa tin, bình luận trung thực đầy đủ cùng với việc phân tích, bình luận các sự kiện theo cách nhìn khách quan lành mạnh, tự nó tạo nên tính giáo dục của ngôn ngữ báo chí

- Tính chiến đấu

Báo chí chính là diễn đàn bộc lộ, phản ánh những quan điểm, thái độ khác nhau, thậm chí đối lập nhau về một sự kiện Tính chiến đấu của báo chí được hình thành từ những lập luận đanh thép, từ các phương pháp sử dụng từ ngữ nhằm “châm biếm, công kích, tiến tới phủ định đối phương” Trong đó việc sử dụng ngôn ngữ để xây dựng các hình ảnh tương phản, các mệnh đề khẳng định hoặc phủ định của báo chí có vai trò hết sức quan trọng Tính chiến đấu của ngôn ngữ báo chí được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau như phủ định hoàn toàn hay châm biếm, đả kích, nhằm hạ uy thế, uy tín của đối tượng…

1.2.3 Chuẩn mực trong ngôn ngữ và chuẩn mực trong báo chí

1.2.3.1 Chuẩn mực ngôn ngữ

Chuẩn hóa tiếng Việt là nhiệm vụ của mỗi người khi sử dụng ngôn ngữ

là tiếng Việt để phục vụ hoạt động giao tiếp Sử dụng ngôn ngữ một cách chuẩn mực là việc không phải dễ dàng và cần được mỗi người tự ý thức trau dồi kiến thức để sử dụng ngôn ngữ một cách chuẩn mực trong suốt cuộc đời

Chuẩn ngôn ngữ là mẫu ngôn ngữ đã được xã hội đánh giá, lựa chọn và

sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực truớc hết phải là những thói quen giao tiếp ngôn ngữ được định hình về mặt xã hội và được chấp nhận trong cảm thức ngôn ngữ của người bản ngữ Nó là cơ sở cho người nói hay người viết tạo lập lời nói, hay tạo lập văn bản, cũng là cơ sở cho người nghe hay người đọc lĩnh hội được lời nói hay văn bản đó Chuẩn ngôn ngữ bao gồm: chuẩn từ vựng, chuẩn ngữ pháp và chuẩn phong cách

Chuẩn ngôn ngữ, trước tiên phải là chuẩn hóa về từ vựng Từ vựng chuẩn là những từ đã được chau truốt, gọt giũa, đã được sàng lọc đề phục vụ

Trang 30

30

hữu hiệu nhất cho yêu cầu giao tiếp văn hóa của tòan dân tộc Chuẩn từ vựng được hình thành dần dần trong quá trình sử dụng Nói cách khác, chuẩn từ vựng vận động phát triển theo thời gian Chuẩn hóa từ vựng thuộc phạm trù quy phạm hóa ngôn ngữ Quy phạm hóa ngôn ngữ là kết quả nhận thức khoa học về những quy luật thể hiện chuẩn ở một giai đoạn nhất định của sự phát triển ngôn ngữ, là sự tập hợp những quy luật về cách dùng từ và các hình thái trong mọi phong cách của ngôn ngữ văn hóa Nội dung của chuẩn hóa từ vựng bao gồm cả ba mặt: Mặt ý nghĩa của từ ngữ, mặt ngữ âm của từ ngữ, mặt chữ viết của từ ngữ

Về mặt ngữ nghĩa, một đơn vị từ vựng hợp chuẩn là đơn vị có khả năng diễn đạt chính xác nhất nội dung cần diễn đạt, tự thân nó lại ngắn gọn, không gây hiểu lầm

Về mặt ngữ âm, hệ thống ngữ âm của tiếng Việt được hình thành dần dần trên cơ sở phương ngữ Bắc Bộ với sự bổ sung thêm một số yếu tố của các phương ngữ khác, Vì thế đứng trước các biến thể địa phương, cần lựa chọn biến thể nào phù hợp với hệ thống ngữ âm chuẩn của tiếng Việt Cần lưu ý là các tiêu chuẩn của cái gọi là chuẩn chỉ tồn tại ở giá trị xã hội của nó chứ không động chạm đến bản thân hệ thống cấu trúc của nó Vì thế những hình thức ngôn ngữ khác với chuẩn không phải là những hình thức “dưới chuẩn” hoặc “không chuẩn” Trong những hoàn cảnh giao tiếp nhất định vẫn có thể dùng nó Thực tế, chuẩn ngữ âm hình thành dẫn dần, không thể đòi hỏi các địa phương trong cả nước phát âm các từ thống nhất ngay được Tuy nhiên không thể coi nhẹ vấn đề chính âm Vai trò của nhà trường và các phương tiện thông tin đại chúng là vô cùng quan trọng trong vấn đề này

Về mặt chữ viết, chữ quốc ngữ là cơ sở tốt để thống nhất chính tả giữa các vùng Ngôn ngữ trước hết là để nói, nhưng trong thực thể giao lưu văn hóa và xã hội ngày nay, chữ viết có một tác dụng quyết định đối với cuộc

Trang 31

Chuẩn mực về ngữ pháp rất cần cho sự hiểu biết của tiếng Việt và cho việc sử dụng tiếng Việt Bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới cũng tồn tại những quy tắc đặc trưng của nó để thực hiện chức năng giao tiếp Chuẩn về ngữ pháp được biểu hiện ở việc cấu tạo các từ, việc kết hợp các từ thành cụm từ và câu, ở việc cấu tạo các thành phần của văn bản và các văn bản thuộc các loại khác nhau Các chuẩn mực này được đúc kết thành các quy tắc ngữ pháp và các quy tắc sử dụng cho cả ngữ pháp học và ngữ dụng học

Xác định những đặc điểm tất yếu của việc dùng tiếng Việt trong các lĩnh vực giao tiếp và các tình huống giao tiếp khác nhau của đời sống xã hội chính là sự chuẩn mực về phong cách Ngôn ngữ được sử dụng để giao tiếp trong mọi lĩnh vực, tình huống như vậy có những nhiệm vụ và mục đích nhất định Để đáp ứng điều đó đòi hỏi những nhân tố và phương tiện ngôn ngữ đặc thù Có những chuẩn mực thuộc ngôn ngữ nói, có những chuẩn mực thuộc ngôn ngữ viết, có những chuẩn mực thuộc phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách nghệ thuật, phong cách khoa học, phong cách nghị luận, phong cách hành chính và phong cách báo chí Khi sử dụng tiếng Việt cần tuân thủ những phong cách này

Tuy nhiên, việc sử dụng tiếng Việt theo chuẩn mực không hề phủ nhận

và thủ tiêu những sự sáng tạo trong sử dụng, những cách dùng độc đáo,

Trang 32

32

những đóng góp mới mè và sự uyển chuyển, linh hoạt trong sử dụng, tuy nhiên những đóng góp và sự sáng tạo đó cần được dựa trên những quy luật, những sự uyển chuyển và linh hoạt đó phải được thực hiện trong những điều kiện nhất định [76] Bởi chuẩn mực là gì nếu chỉ là những quy định hoàn tòan

có tính chất sách vở Một quy định về ngôn ngữ dù có ngặt nghèo đến đâu nhưng nếu không đi vào được ý thức cộng đồng, bị bật khỏi thực tế thì cũng vẫn không thể trở thành chuẩn mực Một hiện tượng chuẩn ngữ pháp nhưng chưa chắc đã chuẩn phong cách Để cho cái đúng trong ngôn ngữ trở thành chuẩn thì phải xét nó trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, trong một chức năng cụ thể Vì một câu nói cụ thể chỉ phát huy được hiệu lực giao tiếp khi được đặt đúng lúc, đúng chỗ, nói cách khác đặt đúng hoàn cảnh giao tiếp mà

nó cần phải có Việc sử dụng ngôn ngữ trong các phong cách chức năng mới

là cái mốc chuẩn mực cuối cùng

Trong quá trình phát triển tiếng Việt, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, tiếng Việt cần được tiếp nhận các yếu tố ngôn ngữ có giá trị tích cực từ các tiếng bên ngoài, cần thiết để làm giàu có thêm vốn ngôn ngữ dân tộc, bằng cách Việt hóa chúng

1.2.3.2 Chuẩn ngôn ngữ trong báo chí

Báo chí có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội, trong sự phát triển kinh tế văn hóa của cả nước nói chung và các địa phương nói riêng Cho nên báo chí phải sử dụng ngôn ngữ chuẩn

Báo chí cũng có vai trò quan trọng đối với ngôn ngữ dân tộc Cách nói, những thông tin, những khuôn ngữ trên báo chí có ảnh hưởng nhất định đến khán giả, bạn đọc Cái sai của báo chí cũng có thể trở thành cái sai của nhiều người thậm chí là của chung xã hội cho nên, trước hết ngôn ngữ sử dụng trên báo chí phải là ngôn ngữ chuẩn, hướng tới góp phần hoàn thiện và làm trong sáng ngôn ngữ dân tộc

Trang 33

33

Chuẩn ngôn ngữ báo chí cần xét trên hai phương diện: phải mang tính chất quy ước xã hội (được xã hội chấp thuận và sử dụng), phải phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch sử Xác định chuẩn ngôn ngữ báo chí cần phải dựa trên những cứ liệu thực tế của ngôn ngữ

để nắm được quy luật biển đổi và phát triển của ngôn ngữ trên các cấp độ ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách, cũng như cần xét đến lý do ngoài ngôn ngữ vốn ảnh hưởng đến sự phát triển của tiếng Việt

Nói cách khác, chuẩn ngôn ngữ báo chí gồm hai nội dung căn bản: Cái đúng và sự thích hợp Cái đúng, cái được cộng đồng ngôn ngữ hiểu và chấp nhận là một trong những điều kiện để thừa nhận tính chuẩn mực của ngôn ngữ Đối với chuẩn ngôn ngữ, cái đúng là nhân tố quan trọng bậc nhất đảm bảo cho

quá trình giao tiếp Như Lép - tôn – xtôi đã viết: “trước hết cần phải quan tâm

sao cho công cụ truyền đạt các khái niệm, tức là ngôn ngữ, phải đúng”

Chuẩn hóa ngôn ngữ báo chí chính là góp phần chuẩn hóa tiếng Việt Với tư cách là công cụ thông tin đại chúng, bám sát và phản ánh kịp thời từng bước đi của mỗi ngành, mỗi vùng trên toàn đất nước, cung cấp kịp thời những thông tin mới nhất trên tất cả các lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu, báo chí phải đạt tính chuẩn mực và thống nhất cao trước tiên là về ngôn ngữ

Là ngôn ngữ dùng để thông báo tin tức, thời sự trong nước và quốc tế,

nó phản ánh chính kiến của cơ quan báo chí và dư luận quần chúng nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội

1.3 Người dẫn chương trình văn hóa trên truyền hình

1.3.1 Chương trình văn hóa là gì

1.3.1.1 Văn hóa là gì

Văn hóa là sản phẩm của con người; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật Tuy nhiên, để

Trang 34

34

hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó

có những định nghĩa khác nhau về văn hóa

Năm 1952, A.L Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a

critical review of concept and definitions (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn

phê phán các khái niệm và định nghĩa) [117], trong đó tác giả đã trích lục

khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau Điều này cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp

Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo

nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [35] Theo

định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật…

Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau Chủ tịch Hồ

Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài

người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [91] Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm

toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới

một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả

hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản

Trang 35

góc độ hẹp, mà ông gọi là “góc nhìn báo chí” Theo góc nhìn này, văn hóa sẽ

là kiến thức của con người và xã hội Nhưng, ông không mặn mà với cách hiểu này vì hiểu như thế thì người nông dân cày ruộng giỏi nhưng không biết

chữ vẫn bị xem là “không có văn hóa” do tiêu chuẩn văn hóa ở đây là tiêu chuẩn kiến thức sách vở Còn góc nhìn thứ hai là “góc nhìn dân tộc học” Với

góc nhìn này, văn hóa được xem là toàn bộ cuộc sống -cả vật chất, xã hội, tinh thần- của từng cộng đồng; và văn hóa của từng cộng đồng tộc người sẽ khác nhau nếu nó được hình thành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường sống khác nhau Văn hóa sẽ bị chi phối mạnh mẽ bởi sự kiểm soát của xã hội thông qua gia đình và các tổ chức xã hội, trong đó có tôn giáo

Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả

ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa

do UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo

hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức

hệ, tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương

mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…” [104]; còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn

hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”…

Trang 36

Thuật ngữ chương trình “program” trong chương trình truyền hình được hiểu gồm các chương trình như: chương trình thời sự, chương trình

“kinh tế”, chương trình “văn hóa”, chương trình “thiếu nhi”, chương trình “trò chơi” (gameshow) được nhà đài phân bổ theo các kênh chương trình và được thể hiện bằng những nội dung cụ thể qua tin, bài, tác phẩm truyền hình Chương trình truyền hình là kết quả hoạt động sáng tạo của cả tập thể: từ lãnh đạo, bộ phận kỹ thuật, bộ phận nội dung đến bộ phận hậu cần Các tác phẩm tin, bài được phát qua các chương trình truyền hình đều có sự lựa chọn, sắp xếp, bố trí hợp lý để giúp khán giả tiếp nhận chương trình một cách đầy đủ nhất Có thể nói, nếu không có chương trình thì không có truyền hình

Quy trình sản xuất chương trình truyền hình được mô tả như sau:

Bảng 1.2 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình

Trang 37

37

Các loại hình truyền thống đại chúng như báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử có sự khác nhau trong phương thức phản ánh và tái tạo hiện thực bởi quá trình sản xuất các tác phẩm báo chí từ các loại hình này không giống nhau

Như vậy, chương trình văn hoá trên truyền hình là những chương trình

thể hiện các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Đó không chỉ là chương trình nghệ thuật, văn chương mà còn là các chương trình về lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”

1.3.2 Người dẫn chương trình là ai

1.3.2.1 Định nghĩa về người dẫn chương trình

MC tên tiếng Anh là Master of Ceremonies là người dẫn chương trình phát thanh hoặc truyền hình Từ điển bách khoa toàn thư định nghĩa: MC là người có tính hoạt bát, tự tin trước công chúng, có kiến thức sâu rộng, thanh lịch, duyên dáng, là người có khả năng dẫn dắt chương trình như là cầu nối với khán giả, làm cho khán giả không chỉ say mê, thích thú mà còn là một bộ phận không thể thiếu trong kết cấu của chương trình MC còn là người biết biên soạn lời dẫn

Trong lĩnh vực truyền hình, ở Mỹ, người ta cũng dùng thuật ngữ MC dùng để chỉ người dẫn chương trình truyền hình, tương tự như từ Host Thế

nhưng do khả năng phân biệt của từ này quá rộng, nên trong lĩnh vực truyền hình, người ta thường dùng các thuật ngữ khác có khả năng diễn đạt cụ thể

nội hàm của nó, ví dụ như: Chúng ta thấy cách dùng thuật ngữ News

presenter của người Anh để gọi người dẫn chương trình tin tức trên truyền

hình, đó là người có nhiệm vụ xây dựng một khung chương trình Tin tức, quyết định lựa chọn những tin tức nóng hổi, sắp xếp thứ tự tin và đồng thời

Trang 38

38

anh ta(hay cô ta) dẫn chương trình đó, để mang chương trình tin tức đó đến

với những khán giả của họ Hoặc người Mỹ sẽ dùng thuật ngữ: show host để gọi người thực hiện và hướng dẫn các chương trình talk show hay game show

Chẳng hạn, người ta gọi Larry King ở talk show mang tên Larry King Live là

talk show host Trên thực tế, khi chuyển nghĩa của từ talk show host sang

tiếng Việt chúng ta vẫn chưa có một khái niệm tương ứng, bởi một talk show

host như Larry King hay Oprah Winfrey, họ không chỉ làm công việc dẫn

chương trình, mà còn là tác giả của format, tác giả kịch bản, thậm chí tổ chức sản xuất chương trình đó Chính vì còn nhiều khác biệt như vậy, nên tác giả

luận văn chỉ nghiên cứu ở góc độ chức năng là một người dẫn chương trình

mà thôi

Hoặc truyền hình ở Anh thường dùng từ Newscaster để gọi người dẫn ở mục điểm tin Trong khi đó tại Mỹ và Canada người ta gọi các Newscaster và

News presenter là News Anchor Riêng hãng tin BBC lại gọi các Newscaster

và News presenter là: Newsreader

Khác với các nước có nền truyền hình phát triển mạnh trên thế giới , khi

du nhâ ̣p vào Viê ̣t Nam , thuâ ̣t ngữ MC được người ta dùng đ ể gọi tắt chức

danh người dẫn chương trình truyền hình, ban đầu là tại đài Truyền hình Việt

Nam (MC truyền hình) Chưa có một tài liệu nào khẳng định thuật ngữ này chính thức được nhập vào Việt Nam từ bao giờ, song rõ ràng nó có sức sống

khá mãnh liệt ở mảnh đất còn rất màu mỡ này

Thuật ngữ người dẫn chương trình ở Việt Nam mới chỉ xuất hiện thời

gian gần đây (có thể) từ khi Truyền hình Việt Nam (VTV) bắt đầu sản xuất

các chương trình Trò chơi, đó là vào thời điểm những năm 1996, 1997 với chương trình đầu tiên là SV 96 do nhà báo Lại Văn Sâm dẫn (trước đó ở VTV

và các đài truyền hình địa phương, người ta gọi những người dẫn chương

trình trên truyền hình là các phát thanh viên) Sau đó là thời gian phát triển

Trang 39

39

mạnh mẽ các chương trình trò chơi trên truyền hình, điều đó bắt buộc VTV

phải có đội ngũ những người dẫn chương trình nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu này Một loạt chương trình mới như: Từ ánh mắt đến trái tim gắn với tên tuổi

người dẫn chương trình Hoa Thanh Tùng; Trò chơi liên tỉnh gắn với tên tuổi

nhà báo Lại Văn Sâm, Đỗ Hồng Cư…; Vườn cổ tích với sự dẫn dắt của Thuận Sơn; Đường lên đỉnh Olimpia với sự dẫn dắt của nhà báo Tạ Bích Loan, Lưu Minh Vũ, Tùng Chi…; Ở nhà chủ nhật với sự xuất hiện của Bùi Thu Thủy

trong vai trò người dẫn chương trình…

Những năm gần đây, đặc biệt từ những năm 2000 trở lại đây là thời kỳ hoàng kim của các chương trình trò chơi truyền hình, người ta thấy hàng loạt chương trình mới, chủ yếu là các chương trình trò chơi mua bản quyền từ

nước ngoài: Hãy chọn giá đúng với người dẫn là nhà báo Lại Văn Sâm, Lưu Minh Vũ; Ai là ai do Kim Khánh dẫn; Trò chơi âm nhạc với sự xuất hiện của Anh Tuấn, Diễm Quỳnh; Đấu trường 100 với Thái Tuấn… Hàng loạt chương

trình mới ra đời đồng nghĩa với sự xuất hiện của các người dẫn chương trình ngày càng nhiều hơn

Cùng với sự phát triển mạnh các thể loại chương trình truyền hình, sự ảnh hưởng của truyền hình tới thói quen sử dụng ngôn ngữ của khán giả cũng

lớn hơn Hiện tượng chức danh người dẫn chương trình truyền hình được đọc tắt, viết tắt là MC, có thể xuất hiện trong hoàn cảnh như vậy

Giờ đây, dưới ảnh hưởng của truyền hình, cách gọi người dẫn chương

trình thậm chí có tần suất xuất hiện còn ít hơn cách gọi tắt MC, đặc biệt trong

phong cách ngôn ngữ lời nói Tuy nhiên, cũng cần phân biệt MC với các biên tập viên dẫn chương trình và các phát thanh viên

Như vậy, khác (thậm chí ngược lại) với các nước như: Anh, Mỹ, Canada…(Như ở trên đã nói, ở các nước Anh, Mỹ Canada…người ta không

dùng thuật ngữ MC với tư cách là một người dẫn chương trình truyền hình); ở

Trang 40

40

Việt Nam, thuật ngữ MC là thuật ngữ du nhập, ban đầu được sử dụng nhiều

trên các phương tiện thông tin đại chúng, nó là cách gọi tắt, dùng để chỉ người

dẫn chương trình truyền hình Sau đó dưới ảnh hưởng của các phương tiện

thông tin đại chúng và nhu cầu sử dụng trong đời sống xã hội, thuật ngữ này

đã được ứng dụng rộng rãi, hiện nay, từ MC được hiểu là dùng để chỉ: người

dẫn chương trình nói chung Chúng ta có thể thấy, trong bất kỳ sự kiện nào,

từ hôn sự cho tới các buổi trình diễn ca nhạc; từ cuộc giới thiệu sản phẩm mới

đến cuộc trao giải Cánh diều vàng…đều xuất hiện người dẫn chương trình và

được giới thiệu là MC Thuật ngữ này ngày càng có xu hướng được mở rộng

nội hàm và được xã hội chấp nhận

1.3.2.2 Vai trò của người dẫn chương trình truyền hình

Dẫn chương trình là một mắt xích trong quy trình sản xuất một chương

trình truyền hình Người dẫn chương trình truyền hình là thành viên của ê kíp

sản xuất chương trình đó

Trong hầu hết các chương trình truyền hình đều có sự tham gia của

người dẫn chương trình Tùy vào đặc điểm thể loại tác phẩm, tùy thuộc vào

yêu cầu thực tế của công việc, mà người dẫn chương trình được đòi hỏi thể hiện vai trò, nhiệm vụ khác nhau, thế nhưng, điểm chung nhất, người dẫn chương trình chính là cầu nối đầu tiên đưa khán giả đến với tác phẩm truyền hình Người dẫn chương trình là người giới thiệu chương trình Anh ta có trong tay toàn bộ nội dung, chi tiết trình tự diễn tiến của chương trình Đồng thời anh ta phải chịu trách nhiệm có tính quyết định về hiệu quả toàn bộ chương trình, anh ta có nhiệm vụ dẫn dắt làm cho mọi người thấy được chủ

đề xuyên suốt của chương trình

Trong mối quan hệ giao tiếp bằng ngôn ngữ, người dẫn chương trình truyền hình là (A), là chủ thể phát, chủ ngôn, là đại diện cho một giai cấp, một

tổ chức Nhà nước, một tổ chức xã hội, nghề nghiệp

Ngày đăng: 06/07/2015, 12:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Khảo sát tỷ lệ sử dụng các lớp từ  Qua  các  số  liệu  khảo  sát,  chúng  ta  thấy  rằng,  từ  vựng  chủ  yếu  trong  ngôn ngữ của người dẫn chương trình văn hóa trên Đài Truyền hình Việt Nam - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
Bảng 2.1 Khảo sát tỷ lệ sử dụng các lớp từ Qua các số liệu khảo sát, chúng ta thấy rằng, từ vựng chủ yếu trong ngôn ngữ của người dẫn chương trình văn hóa trên Đài Truyền hình Việt Nam (Trang 68)
Bảng 2.4: Khảo sát tỷ lệ số ý đƣợc sử dụng trong câu - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
Bảng 2.4 Khảo sát tỷ lệ số ý đƣợc sử dụng trong câu (Trang 71)
Bảng 2.3: Khảo sát tỷ lệ sử dụng câu đơn và câu ghép - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
Bảng 2.3 Khảo sát tỷ lệ sử dụng câu đơn và câu ghép (Trang 71)
Bảng 3.1: So sa ́nh thời gian tham gia dẫn chương trình văn hóa - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
Bảng 3.1 So sa ́nh thời gian tham gia dẫn chương trình văn hóa (Trang 89)
Bảng 3.2: So sa ́nh tỷ lê ̣ số người dẫn đã được đào ta ̣o - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
Bảng 3.2 So sa ́nh tỷ lê ̣ số người dẫn đã được đào ta ̣o (Trang 91)
Bảng 3.3. So sa ́nh tỷ lê ̣ đào ta ̣o người dẫn chương trình - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
Bảng 3.3. So sa ́nh tỷ lê ̣ đào ta ̣o người dẫn chương trình (Trang 92)
Bảng 3.4. So sa ́nh tỷ lê ̣ người dẫn có hoă ̣c chưa có bằng cử nhân Báo chí Trước  tình  trạng  "thừa  mà  thiếu"  người  dẫn  chương  trình  chuyên  nghiệp đã buộc các đài truyền hình, các nhà sản xuất quay ra tìm nguồn ngươ ̀ i - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
Bảng 3.4. So sa ́nh tỷ lê ̣ người dẫn có hoă ̣c chưa có bằng cử nhân Báo chí Trước tình trạng "thừa mà thiếu" người dẫn chương trình chuyên nghiệp đã buộc các đài truyền hình, các nhà sản xuất quay ra tìm nguồn ngươ ̀ i (Trang 94)
Bảng  3.6.  Nhận  xét  của  khán  giả  về  yếu  tố  cần  thiết  với  người  dẫn  chương trình - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
ng 3.6. Nhận xét của khán giả về yếu tố cần thiết với người dẫn chương trình (Trang 97)
Bảng 3.7. Biểu đồ nhận xét của khán giả về yếu tố cần thiết với người  dẫn chương trình - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
Bảng 3.7. Biểu đồ nhận xét của khán giả về yếu tố cần thiết với người dẫn chương trình (Trang 98)
Bảng 3.8. Chất lượng sử dụng các kỹ năng của người dẫn chương trình  Nhận  xét  về  kỹ năng nói lưu loát ,  có  23,3%  khán  giả  chấm  điểm  5;  45,3% khán giả chấm điểm 4; 25,3% chấm điểm 3 và chỉ 6,1% chấm điểm 2;  không có ai chấm điểm 1 - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
Bảng 3.8. Chất lượng sử dụng các kỹ năng của người dẫn chương trình Nhận xét về kỹ năng nói lưu loát , có 23,3% khán giả chấm điểm 5; 45,3% khán giả chấm điểm 4; 25,3% chấm điểm 3 và chỉ 6,1% chấm điểm 2; không có ai chấm điểm 1 (Trang 99)
Bảng 3.9. Mức độ hài lòng của khán giả đối với người dẫn chương trình  Thực  ra  với kết  quả thu đƣợc  từ  các  câu hỏi 1  và câu hỏi 2, chúng  ta  cũng đã có thể dễ dàng nhận biết đƣợc thái độ của khán giả đối với chất lƣợng  của  người  dẫn  chương  tr - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
Bảng 3.9. Mức độ hài lòng của khán giả đối với người dẫn chương trình Thực ra với kết quả thu đƣợc từ các câu hỏi 1 và câu hỏi 2, chúng ta cũng đã có thể dễ dàng nhận biết đƣợc thái độ của khán giả đối với chất lƣợng của người dẫn chương tr (Trang 101)
- Phóng sự 2: Hình ảnh Hà Nội qua ca dao, ngạn ngữ cổ. - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
h óng sự 2: Hình ảnh Hà Nội qua ca dao, ngạn ngữ cổ (Trang 190)
- Phóng sự 01: Hình tượng người phụ nữ trong lịch sử nghệ thuật tạo hình Việt  nam - Đặc trưng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình văn hóa của đài truyền hình Việt Nam ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học)
h óng sự 01: Hình tượng người phụ nữ trong lịch sử nghệ thuật tạo hình Việt nam (Trang 248)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w