Theo báo cáo lần thứ 3 của nhóm chuyên gia liên chính phủ về biến đổi khí hậu cho thấy dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, các nguồn nước sẽ bị tác động như sau: - Các
Trang 1
TIỂU LUẬN MÔN HỌC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC
BIỂN DÂNG ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC
Giảng viên : TS Nguyễn Hồng Quân Học viên : Đặng Hoài Phú
Võ Thị Hồng Phong Lớp : Quản lý môi trường – K2010
TP Hồ Ch í Minh, tháng 11 năm 2011
Trang 2HV thực hiện: Đặng Hoài Phú – Võ Thị Hồng Phong Trang 2
MỤC LỤC
Chương 1 3
MỞ ĐẦU 3
Chương 2 6
TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BI ẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN NƯỚC 6
2.1 Tình Hình Thế Giới 6
2.2 Tình Hình Ở Việt Nam 8
Chương 3 10
TÁC ĐỘNG CỦA BI ẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN 10
CÁC NGUỒN NƯỚC VÀ CÁC HỆ LỤY CỦA NÓ 10
3.1 Nước bề mặt 10
3.2 Nước ngầm 13
3.3 Lũ lụt và hạn hán 13
Chương 4 18
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN BI ẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BI ỂN DÂNG 18
Chương 5 19
KẾT LUẬN 19
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 20
Trang 3HV thực hiện: Đặng Hoài Phú – Võ Thị Hồng Phong Trang 3
Chương 1
MỞ ĐẦU
Nước ngọt rất cần cho sự sống của con người và tất cả các sinh vật khác Liên Hiệp Quốc xem việc tiếp cận các nguồn nước ngọt là một quyền cơ bản của con người
Sự tranh chấp các nguồn nước ngọt đang ngày càng nóng bỏng, nhất là ở những vùng khô hạn như Trung Đông Theo báo cáo lần thứ 3 của nhóm chuyên gia liên chính phủ về biến đổi khí hậu cho thấy dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, các nguồn nước sẽ bị tác động như sau:
- Các dòng chảy sẽ có lưu lượng không đều, có khi lên cao, có khi xuống thấp tùy theo từng khu vực
- Lượng mưa cũng thay đổi theo từng khu vực, do đó cũng làm thay đổi lưu lượng dòng chảy và trữ lượng nước ngầm
- Do băng tan trên các miền núi cao nên mực nước các dòng chảy lên cao vào mùa đông thay vì mùa xuân như trước kia
- Nhiều sông băng nhỏ sẽ biến mất
- Nhiệt độ nước tăng lên sẽ làm chất lượng nước giảm đi
- Các cơn lũ ở nhiều nơi sẽ gia tăng về cường độ và tần suất
- Do sự bùng nổ dân số nhiều nơi nên nhu cầu nước ngọt tăng cao
- Các cách quản lý nước như hiện nay sẽ trở nên ít hiệu quả vì biến đổi khí hậu đặt ra nhiều vấn đề mới
- Khả năng ứng phó sẽ không đồng đều trên khắp thế giới
Biến đổi khí hậu làm thay đổi lượng mưa và phân bố lượng mưa không đều tại các vùng Lượng mưa thay đổi sẽ làm thay đổi dòng chảy của các sông, tần suất và cường độ các trận lũ, lụt cũng nhiều hơn
Biến đối khí hậu và sự gia tăng nhiệt độ có khả năng gây ra tình trạng thiếu nước vào mùa khô, thiếu nước tưới tiêu, sản xuất và sinh hoạt Do lượng bốc hơi cao nên
độ mặn của các sông tiếp tục tăng cao và diễn biến phức tạp hơn Vào mùa khô, hiện tượng xâm nhập mặn lấn sâu vào đất liền làm tăng khả năng thiếu nước sạch, kiệt nước trong mùa khô diễn ra ngày càng trầm trọng Xâm nhập mặn gây tác động tiêu cực đến chất lượng nước mặt và nước ngầm, gây ô nhiễm nguồn nước cấp
Trang 4HV thực hiện: Đặng Hoài Phú – Võ Thị Hồng Phong Trang 4
Một khi nguồn nước ngọt bị nhiễm mặn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp ( liên quan đến vấn đề đảm bảo an ninh lương thực), gây khó khăn cho cấp nước sinh hoạt và công nghiệp, bắt buộc phải có các giải pháp ứng phó như : Quy hoạch nguồn cấp nước mới an toàn hơn và /hoặc áp dụng các công nghệ xử lý nước tiên tiến hơn và đòi hỏi chi phí cao hơn Vì vậy, suy thoái tài nguyên nước sẽ tác động đến cuộc sống người dân và phát triển kinh tế, xã hội Bên cạnh đó, sự suy giảm trữ lượng tài nguyên nước có khả năng nảy sinh những mâu thuẫn giữa các địa phương trong nước nói riêng và toàn thế giới nói chung
Hình 1: Phạm vi ngập ở TP Hồ Chí Minh theo kịch bản nước biển dâng 75 cm
Trang 5HV thực hiện: Đặng Hoài Phú – Võ Thị Hồng Phong Trang 5
Trang 6HV thực hiện: Đặng Hoài Phú – Võ Thị Hồng Phong Trang 6
Chương 2
TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN NƯỚC
2.1 Tình Hình Thế Giới
Sự ấm lên của hệ thống khí hậu là rõ ràng Biến đổi khí hậu làm cho đại dương thế giới ấm hơn và bị axít hóa Nó làm tăng nhiệt độ bề mặt của Trái Đất, cũng như tổng lượng mưa, thời điểm và cường độ của những trận mưa, kể cả bão và hạn hán Trên đất liền, những tác động đó ảnh hưởng đến khả năng sử dụng và chất lượng nước ngọt và sự lan truyền các mầm bệnh phát sinh trong môi trường nước Ở Bắc cựu nhiệt độ tăng gấp 2.5 lần trung bình toàn cầu làm cho một lượng lớn băng ở biển và băng ở lục địa tan ra cũng như tầng đất bị đóng băng vĩnh cữu Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng áp lực, trực tiếp hoặc gián tiến lên tất cả các hệ thống sinh thái dưới nước
Hình 3: Nhiệt độ trung bình trên bề mặt trái đất thay đổi từ năm 1870 cho đến năm 2100 Biến thiên nhiệt độ từ thấp (màu xanh) đến cao (màu đỏ)
Có thể tóm tắt các ảnh hưởng trượng tiếp và gián tiếp của biến đổi khí hậu đến môi trường nước theo bảng sau:
Trang 7HV thực hiện: Đặng Hoài Phú – Võ Thị Hồng Phong Trang 7
Bảng 1: Các ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của hiện tượng
nóng lên toàn cầu Ảnh hưở ng trực tiếp Ảnh hưở ng gián tiếp
1 Nh iệt độ bề mặt nước biển tăng
Thay đổi cấu trúc dinh dưỡng và lưới thức
ăn
Làm trắng và có thể gây chết san hô
Tăng mực nước biển
Tăng tầng suất và cường độ bão nhiệt đới
Hạn hán
3 Giả m băng ở biển và đất liền
Thay đổi dòng hải lưu đại dương
Mất dần các dòng sông băng trên núi
Tăng mực nước biển
4 Tan tầng đất bị đóng băng vĩnh cửu
( ở vùng cực)
Thay đổi hệ thống sinh thái ở hai cực
5 A xít hóa đại dương Sinh vật chịu kiềm kể cả những rạn san
hô ngầm
Theo dự đoán, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng trước nguy cơ
bị nước biển nhấn chìm do mực nước biển dâng - hậu quả trực tiếp của sự tan băng
ở Bắc và Nam cực Trong số 33 thành phố có quy mô dân số 8 triệu người vào năm
2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần và khoảng 332 triệu người sống ở vùng ven biển và đất trũng sẽ bị mất nhà cửa vì ngập lụt
Hình 5: So sánh lượng băng tan ở Greenland năm 1992 và 2002
Trang 8HV thực hiện: Đặng Hoài Phú – Võ Thị Hồng Phong Trang 8
Mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do nước biển dâng theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Bănglađet, Việt Nam, Inđônêxia, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kỳ, Thái Lan và Philippin
Hình 5: Ngập lụt ở Thái Lan trong tháng 10/2011 2.2 Tình Hình Ở Việt Nam
Việt Nam là một trong số ít các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Đối với nước ta, mực nước biển dâng sẽ làm mất đi một vùng đất rộng lớn,các hệ sinh thái đất ngập nước của các đồng bằng lớn nhất cả nước nơi ở của các cộng đồng dân cư lâu đời, cái nôi của nền văn minh lúa nước, vùng có tiềm năng sản xuất nông nghiệp lớn nhất và các sinh cảnh tự nhiên của nhiều loài bản địa bao gồm cả các khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển
Dưới tác động của biến đổi khí hậu, khi nhiệt độ tăng, độ bất thường của thời tiết, khí hậu và thiên tai gia tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tài nguyên nước ở các khía cạnh sau:
Nhu cầu nước cho sinh hoạt, nước phục vụ cho nông nghiệp, công nghiệp, năng
lượng, giao thông… đều tăng Bên cạnh đó, lượng bốc hơi nước ở các thủy vực (hồ,
Trang 9HV thực hiện: Đặng Hoài Phú – Võ Thị Hồng Phong Trang 9
ao , sông suối, ) cũng tăng Hậu quả là dẫn đến sự suy thoái tài nguyên nước cả về
số lượng và chất lượng sẽ trầm trọng hơn
Thay đổi về lượng mưa, dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của các con sông và
cường độ các trận lũ, tần suất và đặc điểm của hạn hán, lượng nước dưới đất Theo
dự đoán, biến đổi khí hậu sẽ làm giảm đáng kể lượng nước trong các con sông ở nhiều vùng trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Khi băng tuyết ở các đỉnh núi tan sẽ làm tăng dòng chảy ở các sông và cường độ
các trận lũ và tần suất lũ Khi các băng trên núi cạn, lũ lụt sẽ giảm đi nhưng khi đó các dòng chảy cũng giảm đi, thậm chí cạn kiệt Nạn thiếu nước sẽ trầm trọng hơn Điều này rất đặc trưng cho các nước châu Á với nguồn nước sông ngòi lại phụ thuộc nhiều vào nguồn nước thượng nguồn
Tần suất bão và cường độ bão ngày càng nhiều và mạnh hơn do nhiệt lượng cung
cấp cho nó ở các vùng biển tăng lên
Đối với vùng ven biển, nước biển dâng sẽ gây ra hiện tượng ngập lụt, mất nơi ở và
diện tích đất sản xuất, gây nhiễu loạn các hệ sinh thái truyền thống Hiện tượng xâm nhập mặn sẽ gia tăng, các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển, nhất là rừng ngập mặn sẽ suy giảm nhanh chóng Nếu nhiệt độ tăng 20C, mực nước biển dâng 1m, có thể làm mất 12,2% diện tích nơi cư trú của 23% dân số (khoảng 17 triệu người) Riêng đồng bằng sông Cửu Long, nếu mực nước biển dâng như dự báo vào năm 2030 sẽ khiến khoảng 45% diện tích đất ở khu vực này có nguy cơ bị nhiễm mặn cực độ và gây thiệt hại mùa màng nghiêm trọng do lũ lụt và úng Nếu mực nước biển dâng 1 m, mà không có các hoạt động ứng phó, phần lớn đồng bằng sông Cửu Long sẽ hoàn toàn ngập trắng nhiều thời gian trong năm, và thiệt hại tài sản ước tính lên tới 17 tỷ USD
Trang 10HV thực hiện: Đặng Hoài Phú – Võ Thị Hồng Phong Trang 10
Chương 3
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN
CÁC NGUỒN NƯỚC VÀ CÁC HỆ LỤY CỦA NÓ
3.1 Nước bề mặt
Việt Nam có tổng lượng dòng chảy năm vào khoảng 847 km3, lượng nước chảy từ ngoài lãnh thổ vào là 507 km3 (chiếm đến 60%), phân bố chủ yếu trên hai hệ thống sông lớn là sông Hồng và sông Cửu Long Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này hiện phân bố không đồng đều, đặc biệt, trong điều kiện biến đổi khí hậu, lượng mưa ngày càng giảm đi rõ rệt trong mùa khô, hạn hán, lũ lụt, kèm theo sự bùng nổ dân
số khiến nguy cơ thiếu nước ngày càng trở lên gay gắt Đặc biệt, tuy lượng mưa toàn năm có tăng nhưng lượng nước tổn thất do bốc thoát hơi trên lưu vực tăng nhiều do nhiệt độ tăng, dẫn đến lượng dòng chảy không tăng mạnh, thậm chí khu vực miền Trung dòng chảy năm giảm
Lưu lượng nước của các sông ngòi cũng như mực nước trong các ao, hồ, đầm nước
có thể thay đổi phục thuộc vào cường độ, thời gian, lượng nước của các trận mưa, điều kiện xuất hiện tuyết tan,… Sự thay đổi nhiệt độ, cường độ bức xạ, độ ẩm của không khí, tốc độ gió,… sẽ làm cho hiện tượng bốc hơi và thoát hơi nước từ các thực vật bị xáo trộn và có thể làm giảm lượng mưa trung bình Nồng độ CO2 tăng lên cũng làm thay đổi các cơ chế sinh lý thực vật và ảnh hưởng đến lượng hơi nước thoát ra từ cây cối
Biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ tác động rất lớn tới tài nguyên nước nói chung và chất lượng nước nói riêng của Việt Nam Viện Kỹ thuật Tài nguyên nước
và Môi trường cũng vừa đưa ra cảnh báo tình hình hạn hán gay gắt, nước từ thượng nguồn về ít khiến tình trạng xâm nhập mặn trên hệ thống sông Đồng Nai, Sài Gòn tăng mạnh, hàng triệu người có nguy cơ thiếu nước
Trên hệ thống sông Nhà Bè - Đồng Nai, độ mặn 4 phần nghìn (trên mức cho phép sản xuất nông nghiệp là 3 phần nghìn) đã vượt qua khu vực Cát Lái Đồng bằng sông Cửu Long cũng là nơi có quá nửa số tỉnh sống trong vùng ngập mặn, thường xuyên bị đe dọa hạn hán, mặn, hiện có trên 400.000 giếng nước các loại để phục vụ
Trang 11HV thực hiện: Đặng Hoài Phú – Võ Thị Hồng Phong Trang 11
dân sinh được người dân sử dụng, khai thác tràn lan dẫn đến nguy cơ ô nhiễm và nhiễm mặn rất cao
Đối với đồng bằng sông Hồng – Thái Bình đến năm 2100 mặn xâm nhập sâu thêm vào đất liền từ 3 - 9 km Lũ thượng nguồn gia tăng, lưu lượng đỉnh lũ tăng từ 11 - 25% vào năm 2100 kết hợp với nước biển dâng sẽ dẫn đến mực nước dọc sông dâng cao hơn, uy hiếp đến an toàn hệ thống hồ chứa thượng nguồn và gần 3.000km của hệ thống đê bảo vệ cho đồng bằng
Sông Thu Bồn, sông Ba chịu sức ép của việc khai thác, sử dụng nước khá cao, hệ thống thủy điện vừa và nhỏ dày đặc theo kết quả tính toán trong tương lại sẽ diễn ra tranh chấp về nước gay gắt Bên cạnh đó, lũ sẽ lớn hơn dẫn đến diện tích ngập lụt gia tăng từ 4% năm 2050 đến 9% năm 2100 Trong mùa cạn, hạ lưu thiếu nước, xâm nhập mặn sẽ đe dọa trực tiếp vùng đồng bằng với độ xâm nhập khoảng 3km trên sông Ba và có thể lên tới 8km tại một số nhánh sông thuộc hệ thống sông Thu Bồn trong năm 2100
Cũng theo phân tích của các nhà khoa học, dưới tác động của biến đổi khí hậu khiến dòng chảy các sông thay đổi về lâu dài sẽ ảnh hưởng tới sản lượng điện của các nhà máy thủy điện Ngoại trừ lưu vực sông Hồng – Thái Bình và sông Cả, các lưu vực còn lại, điện lượng trung bình hàng năm có xu hướng giảm dần khoảng 3% vào năm 2050 và 6% vào năm 2100
Ngoài ra, biến đổi khí hậu và nước biển dâng có thể dẫn đến những thay đổi quan trọng trong các thông số của môi trường nước từ đó ảnh hưởng đến chất lượng nước Tác động đó đến từ những biến đổi phức tạp của dòng chảy ở các thủy vực
và thay đổi về thuộc tính lý hóa sinh của chúng Thay đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng đến lượng mưa mà còn làm thay đổi nhiều nhân tố khác
Nhiệt độ không khí cao hơn dẫn đến nhiệt độ nước cao hơn Trong suốt nhiều thập
kỉ qua nhiệt độ của nước của các dòng sông và hồ ở châu Âu tăng từ 1- 30C:
Trang 12HV thực hiện: Đặng Hoài Phú – Võ Thị Hồng Phong Trang 12
Hình 6: Xu hướng tăng nhiệt độ của nước trong các hồ Rhine, Lobith;
Danube, Vienna; Lake Saimaa, Finland
Nhiệt độ tăng lên do khí hậu thay đổi có thể dẫn đến giảm hàm lượng ôxy Nhiệt độ tăng làm cho các phản ứng hóa học cũng diễn ra nhanh hơn, thông thường trong ngưỡng giới hạn thì nhiệt độ tăng lên 100C thì tốc độ phản ứng tăng lên hai lần Do
đó khi nhiệt độ trong môi trường nước tăng lên làm cho các phản ứng trong chúng cũng diễn ra nhanh hơn, kể cả quá trình hô hấp của sinh vật trong môi trường nước
Vì vậy, khi nhiệt độ nước tăng lên nồng độ oxy hòa tan (DO) trong môi trường nước sẽ giảm đi đặc biệt vào mùa xuân khi nhiệt độ tăng lên cao hơn và sự phát triển mạnh mẽ của sinh vật dưới nước
Do biến đổi khí hậu đặc biệt là nhiệt độ toàn cầu tăng lên làm cho nhiệt độ nước tăng lên và những thay đổi về chu kỳ mùa trong một năm làm cho sự phân tầng theo nhiệt độ và sự xáo trộn nước trong các hồ cũng thay đổi và ảnh hưởng mạnh
mẽ đến hàm lượng các chất dinh dưỡng, khoáng chất và những hợp chất khác trong môi trường nước, điều đó làm thay đổi môi trường sống quen thuộc của sinh vật vốn đa thích nghi từ lâu, do đó ảnh hưởng đến sự thích nghi và phân bố của chúng
Trang 13HV thực hiện: Đặng Hoài Phú – Võ Thị Hồng Phong Trang 13
3.2 Nước ngầm
Bên cạnh nguy cơ nhiễm mặn, theo kết quả quan trắc tài nguyên môi trường nước dưới đất năm 2009 của Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên – Môi trường) mực nước bình quân năm 2009 của tầng chứa nước 6 tháng cuối năm 2009 có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm 2008 trung bình nhiều năm Ngoài ra, hệ thống nước ngầm cũng bị ảnh hưởng nặng nề do ô nhiễm Ước tính có khoảng 200 nghìn người đang tiếp xúc và sử dụng trực tiếp nguồn nước bị ô nhiễm Arsenic
3.3 Lũ lụt và hạn hán
Lũ lụt
Ở Việt Nam, trong vòng 10 năm gần đây, hầu như hang năm đều có lũ lụt nghiêm trọng xảy ra Nhiều trận lụt lớn xảy ra tại miền Trung và gây ra tổn thất nghiêm trọng cho sản xuất ở vùng này Ở đồng bằng sông Cửu Long, lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn, đặc biệt trận lũ kéo dài trong năm 2000 là trận lũ lớn nhất trong vòng
70 năm qua Lũ lụt cũng gây ra trượt lở đất ở vùng ven biển dẫn tới việc biển lấn sâu vào đất liền và gây ra hiện tượng nhiễm mặn ở vùng nội đồng
Hình 7: Lũ lụt tại đồng bằng sông Cửu Long