Đánh giá trọng yếu trong quá trình kiểm toán BCTC trong các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam
Trang 1DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
BCĐKT: Bảng cân đối kế toán
BCKQKD: Báo cáo kết quả kinh doanh
BCTC: Báo cáo tài chính
BGĐ: Ban giám đốc
CMKTVN: Chuẩn mực kế toán Việt Nam
CP: Cổ phần
CSH: Chủ sở hữu
KSNB: Kiểm soát nội bộ
KTV: Kiểm toán viên
LNST: Lợi nhuận sau thuế
LNTT: Lợi nhuận trước thuế
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trên đường hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực
và trên thế giới Để khẳng định vị thế kinh tế của mình cũng như tạo niềm tincho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, Việt Nam đang cố gắng để ngày cànghoàn thiện thể chế kinh tế Một trong những yêu cầu về quản lý kinh tế là đảmbảo minh bạch hóa tình hình tài chính Xuất phát từ yêu cầu đó ngành kiểmtoán tại Việt Nam đang phát triển hết sức mạnh mẽ không chỉ về quy mô mà
cả loại hình dịch vụ cung cấp Cũng xuất phát từ hội nhập kinh tế, với sự cạnhtranh của các công ty kiểm toán lớn và có uy tín trên thế giới, các công tykiểm toán Việt Nam đang phải nỗ lực hết sức để nâng cao chất lượng cuộckiểm toán, đáp ứng yêu cầu chung của thế giới
Quy trình đánh giá tính trọng yếu là một trong những công việc quantrọng nhất của một cuộc kiểm toán Mức độ trọng yếu là một công cụ kiểmtoán hữu hiệu giúp cho KTV có thể xác định được cụ thể số bằng chứng kiểmtoán cần thu thập, từ đó có kế hoạch hoạch hợp lý về cách thức và phạm vi ápdụng các thủ tục kiểm toán đảm bảo cuộc kiểm toán vừa đạt được tính hiệuquả và kinh tế
Xuất phát từ ý nghĩa của quá trình đánh giá tính trọng yếu trong kiểmtoán BCTC, em đã chọn đề tài “ Đánh giá trọng yếu trong quá trình kiểm toánBCTC trong các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam” Mục đích của đềtài này là làm rõ hơn lý luận về khái niệm trọng yếu trong kiểm toán nóichung và kiểm toán BCTC nói riêng
Cùng với sự hướng dẫn của thạc sỹ Bùi Thị Minh Hải, em đã hoànthành được đề tài này với kết cấu gồm 3 phần chính:
Trang 3Chương 1: Lý luận chung về đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính
Chương 2: Thực trạng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính trong các công ty kiểm toán độc lập tại VN hiện nay
Chương 3: Nhận xét và các giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện quy trình đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC trong các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam.
Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên bài viết của em không thểtránh khỏi những sai sót, em mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo: Bùi Thị Minh Hải đã giúp em hoàn thành
đề tài này
Trang 4CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU
TRONG KIỂM TOÁN BCTC
1.1 Tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC
1.1.1 Khái niệm về trọng yếu
Trọng yếu là khái niệm dùng để chỉ tầm cỡ quan trọng của sự vật, hiệntượng Khi sự vật, hiện tượng đi kèm với trọng yếu sẽ mang ý nghĩa quantrọng Trong các lĩnh vực khác nhau, trọng yếu mang ý nghĩa hoàn toàn khácnhau
Trong lĩnh vực kiểm toán, trọng yếu thường xuyên được nhắc đến, đặcbiệt là trong kiểm toán BCTC
Hội đồng chuẩn mực Kế toán tài chính của Mỹ FASB đã đinh nghĩa vềtrọng yếu như sau: “trọng yếu là mức độ lớn của vấn đề bị bỏ sót hoặc saiphạm của thông tin kế toán do các tình huống xung quanh, có khả năng làmcho sự phán xét của một người hiểu biết dựa trên thông tin đó có thể bị thayđổi hoặc bị ảnh hưởng bởi điều bị bỏ sót hoặc sai phạm đó.”
Chuẩn mực KTVN số 320 cũng quy định rất rõ về tính trọng yếu trongkiểm toán Chuẩn mực nêu rõ khi tiến hành một cuộc kiểm toán, KTV phảiquan tâm đến tính trọng yếu của thông tin Theo chuẩn mực thì trọng yếu làmột thuật ngữ để chỉ tầm quan trọng của một thông tin trên BCTC và mộtthông tin được coi là trọng yếu nếu “việc bỏ sót hoặc sai sót của thông tin đó
có thể ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC Tínhtrọng yếu phụ thuộc vào mức độ quan trọng của các khoản mục hoặc các saisót được đánh giá theo bối cảnh cụ thể tạo ra việc bỏ sót hoặc sai sót đó Vìthế tính trọng yếu là một ngưỡng hoặc một điểm định tính cơ bản, là mộtthông tin hữu ích cần phải có” Chuẩn mực cũng nêu rõ, khi lập kế hoạch
Trang 5kiểm toán, KTV phải xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được để làmtiêu chuẩn phát hiện những sai sót trọng yếu về mặt định lượng và định tínhcủa sai sót trọng yếu dẫn đến việc trình bày sai các chỉ tiêu trên BCTC làmcho người sử dụng thông tin tài chính hiểu sai bản chất của vấn đề, hoặc trongBCTC không thuyết minh những vấn đề có liên quan đến hoạt động khôngliên tục của khách hàng.
Trong văn bản chỉ đạo kiểm toán Quốc tế số 25 IAG về trọng yếu vàrủi ro trong kiểm toán có nêu: “trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ và bản chấtcủa sai phạm (kể cả bỏ sót) của thông tin tài chính hoặc đơn lẻ hoặc từngnhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào thông tin này để xét đoán thì sẽkhông chính xác hoặc rút ra kết luận sai lầm”
Như vậy, nhìn chung, xét trong mối quan hệ với nội dung kiểm toán,trọng yếu là khái niệm để chỉ tầm cỡ và tính hệ trọng của phần nội dung, ảnhhưởng tới việc đánh giá tính đúng đắn của đối tượng kiểm toán và việc sửdụng thông tin đó để đưa ra quyết định quản lý Trên góc độ của người sửdụng thông tin, nói một cách giản đơn, một thông tin quan trọng và cần phảiđược trình bày nếu có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng
1.1.2 Nguyên tắc và cơ sở đánh giá trọng yếu
Khái niệm trọng yếu bao gồm hai mặt liên quan đến nhận thức đốitượng: quy mô hay tầm cỡ (mặt lượng) và vị trí hay tính hệ trọng (mặt chất)của phần nội dung thông tin Khi đánh giá trọng yếu, KTV cần xem xét cảmặt định lượng và định tính
1.1.2.1 Đánh giá trọng yếu về quy mô
Thông tin BCTC rất đa dạng, phong phú, vì thế để đưa ra một con số cụthể về quy mô cho những điểm cốt yếu trên BCTC rất khó, đặc biệt là khi trên
đó chứa đựng các yếu tố tiềm ẩn Do đó để thuận tiện trong quá trình xem xét,quy mô của các khoản mục được chia thành hai mức độ: Mức độ thứ nhất,
Trang 6khoản mục và nghiệp vụ sai phạm với quy mô nhỏ, không gây ảnh hưởng đếnviệc ra quyết định của người sử dụng thông tin thì được xem là không trọng yếu.Mức độ thứ hai, khoản mục và nghiệp vụ sai phạm với quy mô lớn, có thể gâyảnh hưởng tới việc ra quyết định của người sử dụng được xem là trọng yếu.
Tuy nhiên việc xác định mức độ, quy mô mô nào là trọng yếu lại phụthuộc vào xét đoán nghề nghiệp của KTV đối với từng khách hàng kiểm toán
cụ thể Từ đó trong quá trình xem xét quy mô của khoản mục, nghiệp vụ,kiểm toán viên phải xem xét tới quy mô tuyệt đối và quy mô tương đối
Quy mô tuyệt đối là con số thể hiện mức quan trọng của thông tin màkhông cần xem xét thêm bất cứ một yếu tố nào khác, đây là một việc rất khóthực hiện Một con số nào đó là trọng yếu đối với công ty này nhưng lại làkhông trọng yếu đối với một công ty khác Việc đưa ra một con số tuyệt đối
để làm mức trọng yếu áp dụng cho các khách hàng khác nhau là điều khôngthể thực hiện được Vì thế rất ít khi KTV sử dụng mức độ này trong quá trìnhkiểm toán
Thông thường, KTV khi xem xét vấn đề về quy mô của đối tượng kiểmtoán thì họa quan tâm đến quy mô tương đối Quy mô tương đối là mối quan
hệ tương quan giữa đối tượng cần đánh giá với con số gốc Thông thường, đó
là các chỉ tiêu trên BCKQKD, hay trên BCĐKT Chẳng hạn, số gốc là thunhập ròng hoặc bình quân thu nhập của một số năm gần đây Thông thườngcác sai phạm nhỏ hơn 5% so với thu nhập ròng thì được xem là không trọngyếu
Ngoài ra, trong quá trình xem xét quy mô của tính trọng yếu thì KTVcần phải cân nhăc sự ảnh hưởng lũy kế của đối tượng được xem xét Có nhiềusai phạm khi xem xét chúng trong trạng thái cô lập thì không mang tính trọngyếu do quy mô nhỏ Song, nếu ta cộng dồn lại sẽ thấy được mối liên hệ vàtính hệ thống trong đó Khi đó sai phạm được đánh giá là trọng yếu
Trang 7CMKTVN số 320 quy định: “ KTV phải cân nhắc tới khả năng có nhiều saisót tuy nhỏ nhưng khi tổng hợp lại có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC.”
Do những vấn đề trên nên việc xác định quy mô của tính trọng yếu cầnquán triệt những nguyên tắc cơ bản sau:
- Quy mô trọng yếu phải được xác định Khi kiểm toán BCTC, quy
mô trọng yếu phụ thuộc vào khách thể kiểm toán (đơn vị kinh doanh côngnghiệp, nông nghiệp, xây lắp, thương mại…)
- Quy mô trọng yếu các khoản mục, nghiệp vụ không chỉ xét về quy
mô bằng con số tương đối mà còn phải trong tương quan với toàn bộ đốitương kiểm toán Về định lượng, đó là các khoản mục, nghiệp vụ so với một
cơ sở để tính toán như tổng số tài sản, tổng doanh thu, lợi tức chưa tính thuế,
…Tùy thuộc vào quan hệ với đối tượng cụ thể của kiểm toán có thể tính riêngbiệt hay cộng dồn các nghiệp vụ, các khoản mục cụ thể hay những sai sót cóliên quan
- Quy mô trọng yếu còn tùy thuộc vào từng cuộc kiểm toán có đốitượng và mục tiêu khác nhau, chẳng hạn, kiểm toán tài chính hay kiểm toánhiệu quả với chức năng xác minh hay tư vấn…
- Ngoài ra cần có sự am hiểu về tài chính kế toán của khách thể kiểmtoán, các quy định pháp luật với doanh nghiệp và dựa vào kinh nghiệm nghềnghiệp của KTV
Tóm lại quy mô trọng yếu được xác định với mức độ bao nhiêu phụthuộc vào xét đoán nghề nghiệp của KTV và từng khách hàng kiểm toán cụthể Quy mô của tính trọng yếu sẽ được xem xét trên phương diện toàn bộBCTC trong mối liên hệ với mức độ sai sót của số dư tài khoản, nghiệp vụtrên BCTC Đồng thời, việc xem xét quy mô còn được thực hiện trong mốiliên hệ giữa độc lập hay lũy kế của các sai sót trên BCTC
Trang 81.1.2.2 Đánh giá trọng yếu về bản chất
Xét về mặt bản chất thì khái niệm trọng yếu gắn với tính hệ trọng củavấn đề xem xét Một yếu tố định tính quan trọng cần xem xét đó là bản chấtcủa khoản mục hoặc vấn đề đang được đánh giá
Về mặt này, các khoản mục thường được xem là trọng yếu gồm:
Các khoản mục, nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả nănggian lận như:
- Các nghiệp vụ đấu thầu, giao thầu, giao dịch không hợp pháp
- Các khoản mục có sửa chữa
Các nghiệp vụ, khoản mục có sai sót hệ trọng:
- Các khoản mục, nghiệp vụ phát hiện có sai sót ở quy mô lớn hoặc
có chênh lệch lớn với các kỳ trước hoặc giữa các nguồn thông tin có lien quan
- Các nghiệp vụ vi phạm quy tắc kế toán và pháp lý nói chung
- Các nghiệp vụ, khoản mục có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kỳ sau
- Các nghiệp vụ, khoản mục là đầu mối liên quan đến nhiều nghiệp
vụ, khoản mục khác
Ngoài ra KTV cần chú ý đến những tiêu chí khác như mục tiêu kiểmtoán cụ thể, tính không chắc chắn của vấn đề xem xét, tính chất thường xuyênhoặc ko thường xuyên của nghiệp vụ
Trang 9Nói chung khái niệm trọng yếu đặt ra yêu cầu xác đinh nội dung kiểmtoán với nguyên tắc không được bỏ sót các khoản mục, các nghiệp vụ có quy
mô lớn và có tính hệ trọng
1.2 Vị trí, vai trò của đánh giá trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.1 Vị trí của đánh giá trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.1.1 Đánh giá trọng yếu trong giai đoan chuẩn bị kiểm toán
Đánh giá trọng yếu là một bước trung gian trong giai đoạn chuẩn bịkiểm toán Có thể nói mục đích của công việc chuẩn bị kiểm toán là lập kếhoạc kiểm toán, thiết kế chương trình kiểm toán Để thiết kế chương trìnhkiểm toán phù hợp, KTV cần tiến hành đánh giá rủi ro, xác định mức trọngyếu đối với từng khách hàng cụ thể Các bước công việc như chuẩn bị kếhoạch kiểm toán, thu thập thông tin cơ sở, thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp
lý của khách hàng cũng nhằm cung cấp thông tin cho việc đánh giá tính trọngyếu trong kiểm toán
1.2.1.2 Đánh giá trọng yếu trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
Giai đoạn thực hiện kiểm toán gồm các thủ tục kiểm toán cụ thể:
- Thực hiện thử nghiệm kiểm soát
- Thực hiện thủ tục phân tích
- Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết
Khi tiến hành các thủ tục kiểm toán, KTV sẽ hiểu rõ hơn về kháchhàng, những hiểu biết đó có thể khác với những đánh giá ban đầu của KTVtrong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Khi đó KTV cần tiến hành đánh giálại trọng yếu để thay đổi chương trình kiểm toán cho phù hợp Như vậy, đánhgiá trọng yếu có thể được thực hiện bất cứ lúc nào trong giai đoạn thực hiệnkiểm toán nếu KTV xét thấy cần thiết
Trang 101.2.2 Vai trò của đánh giá trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính
KTV đánh giá trọng yếu nhằm lập kế hoạch kiểm toán, thiết kế chươngtrình kiểm toán Kế hoạch kiểm toán được lập trên cơ sở đánh giá trọng yếu.Dựa vào đánh giá trọng yếu, KTV xác định được mức độ sai sót có thể chấpnhận được đối với BCTC Trên cơ sở đó, KTV xác định được bản chất, sốlượng, thời gian các thử nghiệm kiểm toán cần thực hiện, lập ra kế hoạchkiểm toán và chương trình kiểm toán phù hợp Đây chỉ là những vấn đề chungnhất khi nói về vai trò của đánh giá trọng yếu trong kiểm toán Vai trò cụ thểhơn sẽ được trình bày ở những phần sau khi phân tích cụ thể về trọng yếutrong kiểm toán BCTC
1.3 Quy trình đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC
1.3.1 Khái quát chung về quy trình đánh giá trọng yếu trong kiểm toán BCTC
Nhìn chung không có chuẩn mực nghề nghiệp nào quy định hay hướngdẫn về việc đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán, do vậy nhiều công tykiểm toán và các tổ chức nghề nghiệp đã đưa ra những chính sách hoặc quyđịnh nhằm hỗ trợ các KTV trong việc thiết lập mức trọng yếu của từng cuộckiểm toán Tuy nhiên, các công ty thường xây dựng các quy định về đánh giátính trọng yếu dựa trên 5 bước cơ bản
Các bước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và được thể hiện cụ thểtrên sơ đồ sau:
Trang 11Bảng 1.1: Quy trình đánh giá trọng yếu
Bước 1 Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
Bước 2 Phân bổ mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các bộ
phận
Bước 3 Ước tính tổng số sai phạm trọng từng bộ phận
Bước 5 So sánh sai số tổng hợp với ước lượng ban đầu hoặc xem xét
lai ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
1.3.2 Ước lượng ban đầu về mức trọng yếu
Khái niệm về ước lượng ban đầu về mức trọng yếu:
Ước lượng ban đầu về mức trọng yếu là bước đầu tiên trong quy trìnhđánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán Sự ước lượng ban đầu về mức trọngyếu là lượng tối đa mà KTV tin rằng ở mức đó thì các báo cáo có thể bị saiphạm nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng hợp
lý Sự ước lượng này là 1 trong những quyết định quan trọng nhất mà KTVphải làm, nó đòi hỏi những phán xét đáng kể về chuyên môn Do vậy việc ướclương ban đầu về tính trọng yếu thường được thực hiện bởi các KTV cấp cao,
có nhiều kinh nghiệm cũng như kiến thức chuyên môn
Lý do để xây dựng ước lượng ban đầu về mức trọng yếu là để giúp choKTV lập kế hoạch thu thập bằng chứng thích hợp Nếu KTV xây dựng một
Trang 12mức trọng yếu với một lượng tiền thấp thì nhiều bằng chứng hơn sẽ phải đượcthu thập nhằm đảm bảo một rủi ro kiểm toán được chấp nhận so với một mứctrong yếu với số tiền cao hơn.
KTV có thể thường xuyên thay đổi mức ước lương ban đầu về mứctrọng yếu trong suốt cuộc kiểm toán, bất cứ khi nào điều này được làm, ướclượng mới được gọi là ước lượng xét lại về tính trọng yếu Các lý do khiếnKTV phải sử dụng ước lượng xét lại có thể gồm sự thay đổi của một trongnhững yếu tố được dung để xác định ước lượng ban đầu hoặc một quyết địnhcủa KTV cho rằng ước lượng ban đầu quá lớn hoặc quá nhỏ
Các yếu tố ảnh hưởng đến ước lượng ban đầu về tính trọng yếu:
KTV phải nhận thức rõ tính trọng yếu là một khái niệm tương đốihơn là khái niệm tuyệt đối Một sai sót có quy mô nhất định có thể là trọngyếu với một công ty nhỏ trong khi cũng cùng sai số đó lại không trọng yếuđối với một công ty lớn hơn Do vậy xây dựng bất lỳ một chỉ đạo hay hướngdẫn nào về giá trị bằng tiền cho sự ước lượng ban đầu về tính trọng yếu khảthi cho tất cả các kế hoạch được kiểm toán là điều không thể thực hiện được
Một yếu tố khác ảnh hưởng đến ước lượng ban đầu đó là nhu cầuđối với cơ sở đánh giá trọng yếu Nhìn chung trong việc ước lượng về tínhtrọng yếu, KTV nên thiết lập các chỉ tiêu để làm cơ sở cho việc đánh giá, các
cơ sở này được sử dụng để nhân với các hệ số phần trăm, từ đó hình thànhước lượng ban đầu về tính trọng yếu Vì tính trọng yếu là tương đối nên việc
có các cơ sở để đánh giá khi nào một sai phạm được coi là trọng yếu là điềucần thiết Tổng tài sản, tổng doanh thu và thu nhập thuần thường được sửdụng để đánh giá trọng yếu do đối với các công ty thì những nhân tố nàythường ít biến động từ năm này qua năm khác Thu nhập thuần trước đâythường là cơ sở quan trọng nhất để quyết định cái gì là trọng yếu, vì nó đượcxem như một khoản mục thông tin then chốt đối với người sử dụng
Trang 13 Các yếu tố chất lượng ảnh hưởng đến trọng yếu Một số loại saiphạm nhất định có khả năng quan trọng đối với người sử dụng này hơn người
sử dụng khác cho dù số tiền là như nhau:
Các số tiền liên quan đến sai nguyên tắc thường được xem là quantrọng hơn những sai sót vô ý có cùng số tiền như thế vì sai sót nguyên tắckhiến KTV nghĩ đến sự trung thực và độ tin cậy của ban giám đốc hoặcnhững cá nhân khác có liên quan Ví dụ: hầu hết những người sử dụng có thểcho rằng một sai sót cố ý về hàng tồn kho có bản chất quan trọng hơn nhữngsai sót khi ghi chép về hàng tồn kho mặc dù có cùng số tiền
Những sai sót mà ở nơi khác thì rất nhỏ có thể là một sai sót trọngyếu nếu có những hậu quả khả dĩ phát sinh từ nghĩa vụ theo hợp đồng ví dụ:khi vốn luân chuyển ròng ghi trên các BCTC chỉ có một vài trăm USD nhiềunhu cầu tối thiểu và số tiền vay không đủ thì sự phân loại nợ dài hạn và nợngắn hạn có thể sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Những sai sót mà ở nơi khác là không trọng yếu có thể trở thànhtrọng yếu nếu chúng ảnh hưởng đến xu hướng về thu nhập ví dụ: nếu thunhập được báo cáo tăng lên hàng năm 3% trong vòng năm năm qua nhưng thunhập trong năm hiện hành lại bị giảm xuống 1 % thì sự thay đổi xu hướng này
có thể là trọng yếu
Thực hiện ước lượng ban đầu về tính trọng yếu:
Các tổ chức nghề nghiệp hiện nay chưa cung cấp bất kỳ một hướng dẫn
cụ thể nào về tính trọng yếu cho những người thực hiện do việc đánh giá banđầu về tính trọng yếu là một quá trình phức tạp Tuy nhiên nhiều công ty kiểmtoán cũng đưa ra cho KTV của công ty mình một hướng dẫn nhằm hỗ trợ chocác KTV trong việc xác định ước lượng ban đầu về tính trọng yếu, trong đógiá trị này chủ yếu được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm trên một giá trị cơ
sở có sẵn như doanh thu, thu nhập sau thuế…
Trang 141.3.3 Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục
Khái niệm về quá trình phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếucho các khoản mục
Bước tiếp theo trong quy trình đánh giá tính trọng yếu là phân bổ ướclượng ban đầu về tính trọng yếu đã được xác định ở bước 1 cho từng khoảnmục Công việc này là cần thiết vì các bằng chứng thường được thu thập theocác khoản mục hơn là theo toàn bộ BCTC nói chung Nếu các KTV có ướclượng ban đầu về tính trọng yếu thì điều này có thể giúp họ xác định được cácbằng chứng thích hợp để thu thập Mục tiêu của việc phân bổ ước lượng banđầu là hỗ trợ cho KTV trong việc lập kế hoạch về quy mô các thủ tục kiểmtoán cho từng khoản mục hoặc từng phần hành cụ thể
Ví dụ: đối với số dư của các khoản phải thu là 1 000 000 USD khi sai
số là 50 000 USD trong các khoản mục phải thu được xem là trọng yếu thìKTV có khả năng sẽ phải thu thập nhiều bằng chứng hơn so với trường hộ sai
số là 30 000 USD được coi là trọng yếu
Hầu hết các KTV phân bổ tính trọng yếu cho các TK trên BCĐKTthay vì các TK trên BCKQKD vì kế toán thực hiện theo nguyên tắc ghi sổkép do đó phần lớn những sai sót trên BCKQKD đều có biểu hiện trên các
TK thuộc BCĐKT Vì số lượng các khoản mục trên BCĐKT ít hơn sốlượng các khoản mục trên BCKQKD trong hầu hết các cuộc kiểm toán vàhầu hết các thể thức kiểm toán tập trung vào các khoản mục trên BCĐKTnên sự phân bổ tính trọng yếu cho các khoản mục trên BCĐKT là phươngpháp thích hợp nhất
Kết quả của việc phân bổ tính trọng yếu cho từng bộ phận được thể hiệnthông qua bảng phân bổ mức trọng yếu ban đầu cho các khoản mục như sau:
Bảng 1.2: Phân bổ mức trọng yếu ban đầu cho các khoản mục
Trang 15Sai số thừa Sai số thiếu
Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phân bổ:
Qui mô của các tài khoản trên BCTC Các TK có số dư càng lớn thìmức trọng yếu hay sai số có thể chấp nhận được cần phân bổ càng lớn Ví dụ: một
số dư tài khoản là 25 000 000 USD sẽ có thể chứa những sai phạm có giá trị lớnhơn sai phạm của số dư tài khoản là 3 000 000 USD mà vẫn không ảnh hưởng đếnquyết định của người sử dụng Điều này cũng có nghĩa là hoàn toàn hợp lý nếuphân bổ mức trọng yếu cao hơn cho những khoản mục có số dư lớn hơn
Những kỳ vọng của KTV về các sai sót Do quá trình đánh giá tínhtrọng yếu phụ thuộc nhiều vào phán xét và kinh nghiệm của KTV nên nếuKTV dựa trên kết quả kiểm toán những năm trước hoặc những nhân tố khácnhư các thông tin thu thập được về công ty, về ngành nghề kinh doanh củakhách hàng…để tin rằng một khoản mục ít có khả năng sai phạm hơn cáckhoản mục khác thì một mức trọng yếu cao hơn sẽ có thể được phân bổ chotài khoản đó Điều này cũng tương tự trong trường hợp ngược lại
Chi phí kiểm toán tương ứng khi thực hiên kiểm toán đối với từngkhoản mục hay phần hành Một cuộc kiểm toán được thưng hiện trên cơ sởchi phí kiểm toán thống nhất giữa công ty kiểm toán và khách hàng, do vậynếu chi phí kiểm toán cho một khoản mục nào đó là quá lớn thì KTV có thểphân bổ một mức trọng yếu cao hơn cho khoản mục đó Từ đó số lượng bằngchứng cần thu thập cho tài khoản đó cũng sẽ giảm, số lượng công việc cần
Trang 16thực hiện giảm sẽ giúp KTV đảm bảo chi phí cuộc kiểm toán theo đúng dựkiến ban đầu Tuy nhiên, KTV cần thận trọng để đảm bảo việc phân bổ nàyvừa đáp ứng được nhu cầu về chi phí vừa không ảnh hưởng đến khả năng củaKTV trong việc phát hiện các sai phạm trọng yếu.
Bên cạnh đó, rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng do KTV đánh giáđối với từng khoản mục cũng ảnh hưởng đến việc phân bổ trọng yếu cho cáckhoản mục này KTV không thể kiểm soát được hai loại rủi ro này mà chỉ cóthể đánh giá được chúng Nếu một khoản mục có rủi ro tiềm tàng hoặc rủi rokiểm soát cao thì để đảm bảo rủi ro kiểm toán ở mức chấp nhận được, rủi rothực hiện phải ở mức thấp Muốn vậy, KTV phải phân bổ một mức trọng yếucao cho các khoản mục này, giảm bớt số lượng các bằng chứng kiểm toán cầnthu thập phục vụ cho hoạt động kiểm toán, từ đó giảm khả năng KTV đưa ra ýkiến chấp nhận toàn phần trong khi BCTC vẫn còn những sai phạm trọng yếu
Trên thực tế thì rất khó có thể đoán trước được những tài khoản nào cókhả năng sai số và liệu các sai số có khả năng là số báo cáo thừa hay số báocáo thiếu, tương tự các chi phí liên quan đến việc kiểm soát các số dư tàikhoản khác nhau thường không thể xác định được Do vậy, việc phân bổ ướclượng ban đầu về tính trọng yếu cho các tài khoản là một vấn đề thuộc vềphán xét nghiệp vụ khó
Nói tóm lại mục đích của việc phân bổ là giúp KTV xác định đượcbằng chứng thích hộ đối với từng tài khoản để thu thập Quá trình phân bổphải nhằm tối thiểu hóa các chi phí tiến hành của cuộc kiểm toán , KTV phảitin tưởng các sai sót kết hợp trong tất cả các tài khoản phải ít hơn hoặc bằngước lương ban đầu về tính trọng yếu
1.3.4 Ước lượng tổng sai số trong từng khoản mục
Mức trọng yếu phân bổ cho các bộ phận, khoản mục là mức sai sót tối
đa có thể bỏ qua đối với các bộ phận hay khoản mục đó Khi tiến hành kiểm
Trang 17toán từng khoản mục, từng bộ phận của BCTC, KTV dựa trên những sai sótphát hiện được trong mẫu để ước tính sai sót cho toàn bộ khoản mục, bộ phận.Những sai sót này được gọi là sai sót ước tính, được so sánh với các sai sót cóthể chấp nhận được nhằm quyết định có bỏ qua hay không bỏ qua các sai sót
đó, hoặc có thể KTV phải cân nhắc đến việc thực hiện thêm các thủ tục bổsung thích hợp
1.3.5 Ước tính sai số kết hợp của BCTC
Trên cơ sở sai sót ước tính, KTV phải tiến hành tổng hợp các sai sótước tính của tất cả các khoản mục trên BCTC Sở dĩ, KTV phải thực hiệncông việc này là bởi vì có những sai sót mà nếu nằm riêng rẽ thì không phải làtrọng yếu nhưng khi tổng hợp các sai sót lại thì lại có khả năng gây ra nhữngsai sót trọng yếu đối với BCTC
1.3.6 So sánh ước tính sai số kết hợp của báo cáo tài chính với ước lượng ban đầu hoặc xem xét ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
So sánh sai số ước tính tổng hợp với sai số ước lượng ban đầu thườngđược thực hiện vào thời điểm gần cuối cuộc kiểm toán, khi KTV đánh giá tất
cả các bằng chứng đã thu thập được Dựa trên cơ sở những kết quả của cácthủ tục kiểm toán đã được thực hiện, KTV tiến hành liên kết, tổng hợp các saiphạm trên từng khoản mục Những sai số ước tính tổng hợp này về toàn bộBCTC sẽ được so sánh với sai số ước lượng ban đầu về tính trọng yếu củatoàn bộ BCTC Việc so sánh này cho phép đánh giá toàn bộ các sai sót trongcác khoản mục có vượt quá giới hạn về mức trọng yếu chung cho toàn bộBCTC hay không Kết hợp với việc so sánh sai số ước tính và sai sót có thểchấp nhận được với từng khoản mục, KTV sẽ quyết định lập báo cáo kiểmtoán với ý kiến chấp nhận toàn phần, từng phần hay ý kiến khác Khi đánhgiá việc trình bày hợp lý của BCTC, KTV phải đánh giá xem liệu tổng tất cảnhững sai sót được phát hiện trong quá trình kiểm toán nhưng chưa được sửa
Trang 18chữa có hợp thành một sai sót trọng yếu hay không? Tổng cộng những sai sótchưa được sửa chữa bao gồm những sai sót cụ thể mà KTV xác định, bao gồm
cả ảnh hưởng của những sai sót đã được phát hiện trong quá trình kiểm toán
kỳ trước nhưng chưa được sửa chữa, những ước tính tối ưu của KTV vềnhững sai sót có thể đã không được xác định cụ thể
Nếu KTV kết luận rằng những sai sót có thể trọng yếu thì cần có biệnpháp giảm bớt rủi ro kiểm toán bằng cách tăng cường các thủ tục kiểm tra chitiết hoặc yêu cầu khách hàng điều chỉnh lại BCTC Nếu ban giám đốc của kháchhàng không chấp nhận điều chỉnh BCTC và các thủ tục kiểm toán thực hiệnthêm không cho phép KTV kết luận rằng tổng sai sót chưa được sửa chữa khônghợp thành sai sót trọng yếu thì KTV cần xem xét sửa đổi lại ý kiến nhận xét chophù hợp Nếu theo KTV, tổng sai sót chưa được sửa chữa đang tiến đến gần mứctrọng yếu thì KTV phải xem xét liệu những sai sót chưa được phát hiện khi kếthợp với tổng sai sót chưa được sửa chữa có vượt quá mức trọng yếu hay không
và cũng có thể thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán hoặc đề nghị các bút toánđiều chỉnh Nhìn chung, tùy thuộc vào thái đọ ban quản lý của khách hàng màKTV quyết định loại ý kiến KTV cho phù hợp
Hai bước đầu tiên của việc vận dụng tính trọng yếu liên quan đến việclập kế hoạch kiểm toán, trong khi đó ba bước sau lại sinh ra trong quá trìnhthực hiện các trắc nghiệm của cuộc kiểm toán Khi KTV tiến hành các côngviệc kiểm toán cho từng phần hành của cuộc kiểm toán, tất cả các sai số tìmđược đều phải được ghi chép vào giấy tờ làm việc
Một vấn đề nữa mà KTV cần xem xét khi thực hiện đánh giá trọng yếutrong kiểm toán đó là những rủi ro do chọn mẫu Rủi ro chọn mẫu là khả năng
mà kết luận của KTV dựa trên mẫu sai lệch so với kết luận mà KTV cũngdùng thử nghiệm tương tự áp dụng đối với toàn bộ tổng thể Khi tăng kích cỡcủa mẫu chọn sẽ làm giảm rủi ro chọn mẫu Nếu tăng kích cỡ mẫu chọn cho
Trang 19tới khi toàn bộ tổng thể được kiểm toán thì khi đó rủi ro chọn mẫu bằngkhông Tuy nhiên, khi kích cỡ mẫu tăng lên cũng đồng nghĩa với phí kiểmtoán cũng tăng lên Vậy nên yếu tố chủ chốt trong việc chọn mẫu kiểm toánmột cách hiệu quả là cần phải cân đối giữa rủi ro chọn mẫu với chi phí dochọn mẫu có kích cỡ lớn Nếu công việc chọn mẫu không được thực hiện cẩnthận thì có thể làm ảnh hưởng đến kết quả của toàn bộ quá trình vận dụngđánh giá trọng yếu vào kiểm toán.
Trang 20CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BCTC TRONG CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT
NAM HIỆN NAY
2.1 Đánh giá trọng yếu trong kiểm toán BCTC tại công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam
2.1.1 Giới thiệu khái quát về công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam
Công ty TNHH Deloitte Việt Nam từ khi hành thành đến nay trải qua bagiai đoạn phát triển:
Giai đoạn 1: từ năm 1991 đến 1994
Công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam được thành lập theo quyết định165/TC/QĐ- TCCB ngày 13/5/1991 của Bộ Tài chính và là công ty kiểm toánđộc lập đầu tiên được thành lập tại Việt Nam Công ty kiểm toán Việt Namđược chuyển đổi từ hình thức doanh nghiệp nhà nước sang hình thức công tyTNHH một thành viên theo quyết định số 129/QĐ/TC/BTC ngày 30/6/2003của Bộ Tài chính về việc chuyển đổi công ty kiểm toán Việt Nam thành công
ty TNHH kiểm toán Việt Nam Công ty có giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh công ty TNHH một thành viên số 1014000112 ngày 19/01/2004 do Sở
Kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp
Vốn điều lệ tại thời điểm thành lập công ty là 9 077 000 000 VNĐ Từnăm 1992, Deloitte Việt Nam bắt đầu hợp tác với hãng Deloitte ToucheTohmatsu và thu được nhiều thành tựu đáng kể, doanh thu của công ty tănglên một cách nhanh chóng
Trang 21 Giai đoạn 2: từ năm 1994 đến tháng 5/2007:
Với sự phát triền không ngừng của công ty kiểm toán Việt Nam, đếntháng 4/1994 liên doanh Deloittte Việt Nam – DTT được thành lập Năm
1997 công ty kiểm toán Việt Nam chính thức trở thành nhân viên của hãngDeloitte Touche Tohmatsu và là đại diện hợp pháp duy nhất của Deloitte ViệtNam, nhận được sự hỗ trợ về mọi mặt từ các văn phòng của Deloitte ToucheTohmatsu trên toàn cầu
Giai đoạn 3: Từ 2007 đến nay
Chuyển sang thời kỳ hội nhập, đặc biệt sau khi Việt Nam tham gia vào tổchức WTO, Deloitte Việt Nam đã có những thay đổi lớn Ngày 7/5/2007,công ty hoàn thành xong quá trình chuyển đổi sở hữu từ công ty TNHH mộtthành viên trực thuộc Bộ Tài chính trở thành công ty TNHH hai thành viêntheo đúng quy định của nhà nước về kiểm toán độc lập Theo giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh số 0102030181 do sở kế hoạch đầu tư thành phố HàNội cấp ngày 18/10/2007, công ty đã chính thức đổi tên từ công ty Kiểm toánViệt Nam TNHH thành công ty TNHH Deloitte Việt Nam từ ngày 01/11/2007trở thành thành viên thứ bẩy của Deloitte Southeast Asia
2.1.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Deloitte Việt Nam
2.1.1.2.1 Lĩnh vực kinh doanh của công ty TNHH Deloitte Việt Nam
Các lĩnh vực kinh doanh của công ty TNHH Deloitte Việt Nam tương đối đa dạng, bao gồm:
- Dịch vụ kế toán, kiểm toán
- Dịch vụ tư vấn thuế
- Dịch vụ tư vấn giải pháp quản lý cho doanh nghiệp
- Dịch vụ đào tạo và quản lý nguồn nhân lực
Trang 222.1.1.2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Deloitte ViệtNam
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, công ty TNHH Deloitte Việt Namngày càng có những bước tiến đáng kể, chất lượng cung cấp dịch vụ ngàycàng được nâng cao, thị trường mở rộng ra nhiều nơi trong khu vực và trênthế giới Điều này được thể hiện rõ ở các bảng chỉ tiêu sau:
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp tình hình kinh doanh của công ty
Deloitte Việt Nam
Nguồn: Bảng cáo bạch công ty TNHH Deloitte Việt Nam
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp doanh thu theo loại hình dịch vụ năm 2008
Nguồn: Bảng cáo bạch công ty TNHH Deloitte Việt Nam
Từ bảng báo cáo trên, ta thấy tình hình kinh doanh của công ty tương đốikhả quan, công ty ngày càng có nhiều hợp đồng có giá trị lớn, số lượng kháchhàng cũng không ngừng mở rộng, uy tín của công ty ngày càng được khẳngđịnh Hoạt động của công ty tương đối đa dạng và có thể đạt được thành công
Trang 23trên nhiều lĩnh vực Deloitte Việt Nam đã tiến hành kiểm toán cho nhiều công
ty nước ngoài với chất lượng dịch vụ đạt tiêu chuẩn Quốc tế Ngoài ra, công
ty cũng được tin tưởng ký hợp đồng với nhiều tổng công ty của nhà nước.Điều này làm cho doanh thu của Deloitte Việt Nam tăng nhanh trong nhữngnăm gần đây
Lĩnh vực nổi bật nhất của công ty là kiểm toán BCTC cũng mang lạidoanh thu cao nhất trong các loại hàng dịch vụ của công ty với mức doanh thu
62953 triệu đồng tương đương 63,7% tổng doanh thu, gấp 3 lần doanh thu của
tư vấn thuế và hơn nhiều lần so với dịch vụ khác
Số nộp ngân sách nhà nước cũng tăng lên không ngừng Deloitte ViệtNam đã nộp lại cho ngân sách nhà nước một nguồn vốn và tăng dần qua cácnăm theo hiệu quả kinh doanh thu được, góp phần làm giáu thêm ngân sách,giảm bớt khó khăn về nguồn kinh phí của nhà nước Không những công tyngày càng phát triển mà còn góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
2.1.1.3 Đặc điểm quy trình kiểm toán BCTC
Quy trình kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam đượcxây dựng trên cơ sở DTT Audit Approach, trong đó tùy thuốc vào đặc điểmcủa từng khách hàng cụ thể mà các chủ nhiệm kiểm toán có những thay đổisao cho thích hợp nhất với khách hàng
Dựa trên chuẩn mực kiểm toán quốc tế do IFAC đưa ra, Deloitte đã hìnhthành riêng cho mình một quy trình kiểm toán, đó là DTT Audit Approach.Kết hợp với phần mềm AS2, DTT Audit Approach đã góp phần không nhỏtạo nên một Deloitte thực sự thành công như ngày hôm nay
Theo DTT Audit Approach, quá trình kiểm toán bao gồm các bước:
- Thực hiện các hoạt động trước khi ký kết hợp động kiểm toán
- Lập kế hoạch kiểm toán sơ bộ
- Phát triển kế hoạch kiểm toán
Trang 24- Thực hiện kế hoạch kiểm toán
- Kết luận và báo cáo
- Các hoạt động sau báo cáo
2.1.2 Thực trạng đánh giá trọng yếu trong kiểm toán BCTC tại công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam
2.1.2.1 Khái quát chung về tính trọng yếu
2.1.2.1.1 Khái niệm về tính trọng yếu tại công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam
Theo Deloitte Việt Nam: thông tin được xem là trọng yếu nếu nhữngsai sót về thông tin đó ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC.Deloitte yêu cầu các KTV phải xác định mức trọng yếu như là một cơ sở choviệc xây dựng quy mô kiểm toán, mức trọng yếu sẽ giúp cho KTV có thể pháthiện ra những sai sót trên từng bộ phận của BCTC mà ảnh hưởng đến quyếtđịnh của người sử dụng Mức trọng yếu sẽ đươc sử dụng để đánh giá các ảnhhưởng của sai phạm
2.1.2.1.2 Các tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá tính trọng yếu tại công ty kiểmtoán Deloitte Việt Nam
- Mức trọng yếu ban đầu PM(planning materiality):
- Mức trọng yếu chi tiết MP(monetary precision)
- Ngưỡng sai sót có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục, số dưchi tiết - Threshold
- Ngưỡng sai sót có thể chấp nhận được trên toàn bộ BCTC - De minimisThreshold
- Các chỉ tiêu kế toán khác như doanh thu, lợi nhuận trước thuế, lợinhuận sau thuế…
2.1.2.2 Khái quát quy trình đánh giá tính trọng yếu tại công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam
Trang 25Tại Deloitte Việt Nam, quy trình đánh giá trọng yếu trong kiểm toánBCTC được thực hiện xuyên suốt từ giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tổngquát và lập kế hoạch kiểm toán chi tiết Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểmtoán tổng quát, KTV xác định mức trọng yếu ban đầu MP Giai đoạn tiếp theocủa cuộc kiểm toán là lập kế hoạch kiểm toán chi tiết, KTV sẽ tiến hành xácđịnh mức trọng yếu chi tiết MP, tính toán Threshold và De MinimisThreshold, thiết lập các thủ tục kiểm toán chi tiết cần thực hiện Điểm đặc biệttrong quy trình đánh giá trọng yếu tại Deloitte Việt Nam là mức trọng yếu cụthể được xac định và không thay đổi trong toàn bộ cuộc kiểm toán.
2.1.2.2.1 Đánh giá mức trọng yếu ban đầu PM (planning materiality)
Dựa trên cơ sở những hiểu biết về hệ thống KSNB và đánh giá về rủi rokiểm soát, KTV tiến hành đánh giá mức độ trọng yếu ban đầu PM Công việcnày phụ thuộc vào kinh nghiệm của KTV, đòi hỏi những xét đoán nghềnghiệp và trình độ chuyên môn cao, do đó tại Deloitte, công việc này thường
do các chủ nhiệm kiểm toán thực hiện
Một trong những mục tiêu chính của việc đánh giá mức độ trọng yếuban đầu là tạo cơ sở cho việc xác định phạm vi kiểm toán cũng như xác địnhbản chất, thời gian và quy mô của các quy trình kiểm toán cần được áp dụng.Ngoài ra công việc này còn giúp KTV ước lượng được mức độ sai phạm cóthể xảy ra và những tác động của những sai phạm đã được nhận biết cũng nhưnhững sai phạm có thể xảy ra
Mặc dù việc xác định PM đòi hỏi những xét đoán nghề nghiệp củaKTV nhưng Deloitte cũng có những hướng dẫn cơ bản trong việc đánh giá
PM Các hướng dẫn này bao gồm việc xác định những cơ sở thích hợp, việcước tính các số liệu cơ bản trên BCTC và việc sử dụng một tỷ lệ thích hợptrên số liệu cơ sở để tính toán mức độ trọng yếu ban đầu PM được xác định
Trang 26bằng cách nhân tỷ lệ xác định với ước tính về giá trị của số liệu cơ sở Các sốliệu để đánh giá luôn là số liệu sau thuế.
Theo các hướng dẫn, mức trọng yếu ban đầu thường được xác định làmột số liệu duy nhất làm cơ sở cho việc xác định quy mô của cuộc kiểm toán.Mức trọng yếu thường được xem xét dưới dạng mức độ liên kết nhỏ nhất củacác sai phạm có thể ảnh hưởng trọng yếu đến bất kỳ BCTC nào KTV khôngxác định mức độ trọng yếu khác nhau cho các thành phần hay báo cáo riêngbiệt trong BCTC
Để lựa chọn một tỷ lệ và một cơ sở thích hợp, KTV cần xem xét đếnnhững nhân tố sau:
- Tính thích hợp của chỉ tiêu cơ sở trên toàn bộ BCTC
- Tính ổn định hay thay đổi tương đối của chỉ tiêu cơ sở
- Các tỷ lệ được xem xét trong mối liên hệ với bản chất của doanhnghiệp, chỉ tiêu cơ sở được lựa chọn và con số cơ sở
- KTV cũng cần xem xét tất cả những sự kiện và hoàn cảnh xungquanh xảy ra trong suốt cuộc kiểm toán
2.1.2.2.2 Xác định mức trọng yếu chi tiết MP (monetary precision)
Trong quá trình đánh giá mức trọng yếu, sau khi xác định mức trọngyếu ban đầu PM, KTV sẽ tính toán giá trị của mức trọng yếu chi tiết MP Giátrị này được tính toán dựa trên cơ sở PM và mức rủi ro tiềm tàng mà KTV đãxác định trước đó
Theo IAA, KTV nên xác định MP để phục vụ cho việc thiết kế các thủtục kiểm toán MP là một chỉ tiêu cơ sở và thường thấp hơn PM MP được sửdụng như là mức độ cho phép những sai sót phát hiện được Khi tiến hành lập
và tiến hành các thủ tục kiểm toán chi tiết đối với một khoản mục và số dư cụthể, KTV phải thu thập một mức độ đảm bảo rằng số dư khoản mục đó khôngchứa những sai sót vượt quá mức MP đã được xác định
Trang 27Để xác định được MP, KTV sẽ sử dụng công thức:
MP = PM – EAMTrong đó: EAM là những sai sót năm trước không điều chỉnh và nhữngsai sót thu thập được trong lập kế hoạch đã được lượng hóa
Để xác định giá trị EAM, hay nói cách khác là xác định độ giảm từ PMđến MP, KTV có thể ước tính tổng sai sót có thể phát hiện được trong suốtcuộc kiểm toán, bao gồm những sai sót không được điều chỉnh của năm trước
MP thường được thiết lập bằng 80 – 90% PM Tuy nhiên trong những trườnghợp cụ thể, khi KTV nhận thấy rằng rủi ro kiểm toán được đánh giá cao hơnmức trung bình thì KTV có thể giảm tỷ lệ MP xuống thấp hơn mức bìnhthường Bằng việc sử dụng các phán đoán nghề nghiệp, KTV có thể đặt mức
độ MP nhỏ hơn 80% PM Khoảng chênh lệch giữa PM và MP được gọi là
“khoảng an toàn” để tổng hợp các sai sót của các khoản mục không vượt quágiá trị PM Có thể có những khó khăn trong việc ước tính một cách chính xácnhững sai sót mà KTV có thể phát hiện được trong cuộc kiểm toán , KTV cóthể tham khảo BCTC của năm trước về những sai sót khách hàng đã mắcphải, thu thập những hiểu biết về ngành nghề kinh doanh của khách hàng,những đánh giá về mức độ rủi ro và mức độ chắc chắn của nhứng nhân tốnày Tổng sai sót ước tính được xác định dựa trên mức độ rủi ro kiểm toán đãxác định ban đầu để KTV ước tính Nếu KTV nhận thấy rằng khách hàng cómức độ rủi ro kiểm toán lớn, khi đó tổng sai sót ước tính được xác định cao,mức độ giảm từ PM xuống MP lớn khiến cho MP được xác định ở mức nhỏ
Từ đó KTV phải thu thập nhiều bằng chứng hơn để đảm bảo một mức rủi rokiểm toán có thể chấp nhận được
Giá trị MP đóng một vai trò quan trọng trong cuộc kiểm toán MP là cơ
sở trực tiếp để so sánh với giá trị ghi sổ của khách hàng và làm cơ sở để tính
Trang 28toán độ sai sót có thể chấp nhận được đôi với từng khoản mục và số dư chitiết là Thresold.
2.1.2.2.3 Xác định ngưỡng sai sót có thể chấp nhận được threshold và deminimis threshold
Xác định ngưỡng sai sót có thể chấp nhận được đối với từng khoản mụcchi tiết( threshold)
Theo hướng dẫn của Deloitte, khi xác định Thresold, KTV căn cứ vàogiá trị MP đã xác định được, khả năng chia tách của tổng thể, nhân tố R vànhân tố tổng thể
Khả năng chia tách của tổng thể thường được áp dụng đối với cáckhoản mục lớn và phức tạp Đối với những tổng thể lớn chứa nhiều loại phần
tử, các phần tử có tính chất và đặc điểm khác nhau sẽ đòi hỏi mô hình ướctính Thresold khác nhau
Nhân tố R được hiểu là mức độ bảo đảm ban đầu hay giá trị độ tin cậy
về sự tồn tại của các sai sót trọng yếu trong các khoản mục, các số dư màKTV đã xác định trong giai đoạn lập kế hoạch Nhân tố R được sử dụng đểxác định Thresold và xác định quy mô của các mẫu chọn, xác định các thủ tụckiểm tra chi tiết và đánh giá kết quả của thủ tục kiểm tra chi tiết KTV sửdụng bảng giá trị độ tin cậy kiểm toán để phục vụ cho quá trình lập kế hoạchsau khi xác định đươc giá trị trọng yếu
Trang 29Bảng 2.3: Bảng giá trị độ tin cậy của DTT
Cơ sở tin cậy Rủi ro chi tiết không
phát hiện được
Rủi ro chi tiết phát hiện được
Tin cậy vào hệ thống KSNB
Không tin cậy vào hệthống KSNB
Tin cậy vào hệ thống KSNB Không tin
cậy vào hệ thống KSNB
Kiểm tra các bước kiểm soát nhằm xácđịnh các sai sót tiềm tàng
Kiểm tra các bước kiểm soát nhằm khẳng định
độ tin cậy và
hệ thống kế toán
Kiểm tra chi tiết ở mức độ cơbản
Kiểm tra chi tiết ở mức độ đại diện
Kiểm tra chi tiết ở mức độ
cơ bản
Kiểm tra chi tiết ở mức độ trung bình
Nguồn: Tài liệu Deloitte
Khi đã xác định được các yếu tố trên, KTV có thể tính toán giá trịThresold theo bảng hướng dẫn của Deloitte Touche Tohmatsu như sau:
Trang 30Bảng 2.4: Bảng hướng dẫn tính giá trị Thresold của DTT
chênhlệch cóthể chấpnhậnđược(%MP)(B)
Nếu sốdưkhoảnmụclớn hơnMPnhânvới(C)
Giá trịchênhlệch cóthểchấpnhậnđược(%MP)(B)
Nếu sốdưkhoảnmục lớnhơn MPnhânvới(C)
Giá trịchênhlệch cóthểchấpnhậnđược(%MP)(B)
Nếu sốdưkhoảnmục lớnhơn MPnhânvới(C)
Theo bảng hướng dẫn trên, với một mức độ kiểm tra chi tiết xác định:
Nếu: số dư khoản mục > MP * (C) thì giá trị Thresold = MP * (B) Nếu: số dư khoản mục < MP * (C) thì:
- Với R = 0.7 thì Thresold = MP * 20%
- Với R = 1.7 thì Thresold = MP * 16%
- Với R = 2 thì Thresold = MP * 15%
Trang 31 Xác định ngưỡng sai sót có thể chấp nhận được đối với toàn bộBCTC De minimis threshold.
Deloitte không tiến hành xác định mức trọng yếu cho tổng thể BCTCrồi phân bổ cho các khoản mục cụ thể mà xác định mức độ trọng yếu chotừng khoản mục cụ thể và toàn bộ BCTC một cách riêng biệt
Ngưỡng sai sót có thể chấp nhận được cho toàn bộ BCTC được gọi
là De minimis threshold Có nghĩa là sau khi tổng hợp tất cả các sai sót đãphát hiện được, giá trị lượng hóa các sai sót đó không được vượt quá giá trị
De minimis threshold Nếu sai sót tổng hợp vượt quá giá trị này, KTV phải cónhững biện pháp yêu cầu khách hàng điều chỉnh hoặc thực hiện các thủ tụckiểm toán mở rộng để đảm bảo chất lượng của cuộc kiểm toán
Giá trị này được xác định:
- Đánh giá mức độ trọng yếu ban đầu PM
- Đánh giá mức độ trọng yếu chi tiết MP
- Đánh giá ngưỡng sai sót có thể chấp nhận được cho tổng các câu saisót trên toàn bộ BCTC De Minimis Threshold
- Đánh giá ngưỡng sai sót có thể chấp nhận được đối với từng khoảnmục, số dư chi tiết Threshold
Việc đánh giá mức độ trọng yếu của Công ty A được thể hiện thôngqua bảng sau:
Trang 32Bảng 2.5: Bảng tính mức trọng yếu đối với Công ty A
Số dư của
khoản mục lựa
chọn để tính
PM
27.643.873 $ Số dư được lấy từ Báo cáo kết quả kinh
doanh của Công ty A
127.003 $ Để đạt được một mức đảm bảo kiểm toán
thích hợp, KTV quyết đinh lựa chọn:
EMA = 30% * PMQuyết định giá trị EAM phụ thuộc vàoviệc đánh giá rủi ro kiểm toán, với mức
độ rủi ro kiểm toán được đánh giá ở mức
độ cao hơn trung bình, KTV thường đưa
ra một tỉ lệ bằng 30%PM, từ đó giảmmức MP xuống một mức hợp lý.Mức trọng yếu
Nguồn: Tài liệu Deloitte Việt Nam
- Việc sử dụng tỷ lệ ước lượng bằng 1, 5%, KTV không dựa trên bảnghướng dẫn của Deloitte mà KTV nhận thấy rủi ro phát hiện của Công ty Ađược đánh giá ở mức thấp, do vậy KTV quyết định tăng tỉ lệ ước lượng mứctrọng yếu từ đó đảm bảo đạt được mức rủi ro phát hiện mong muốn Trong
Trang 33trường hợp doanh thu ở mức từ 500.000$ đến 10.000.000$, giá trị này thườngđược xác định bằng 2/3 tỉ lệ áp dụng cao nhất (2%); trường hợp doanh thu ởmức từ 10.000.000$ đến 50.000.000$, giá trị này thường được xác định bằng
½ tỷ lệ áp dụng cao nhất (1.5%); trường hợp từ 50.000.000$ đến300.000.000$, giá trị này được xác đinh bằng 1/3 tỉ lệ áp dụng cao nhất (1%);trường hợp trên 300.000.000$ giá trị này được xác định bằng ¼ tỉ lệ áp dụngcao nhất (0,75%) Các giá trị này hoàn toàn do kinh nghiệm nghề nghiệp củacác KTV đưa ra dựa trên từng hoàn cảnh áp dụng cụ thể
Sau khi xác định mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC, KTV tiến hành xácđinh ngưỡng sai sót có thể chấp nhận được cho từng khoản mục chi tiết dựavào 3 yếu tố: Giá trị MP đã xác định được, khả năng chia tách của tổng thể,nhân tố R và nhân tố tổng thể
Do số lượng của các khoản mục trong các Công ty khách hàng tương đốilớn nên em xin trình bày cách tính Threshold cho khoản mục tiền tại Công tykhách hàng
Khoản mục tiền của công ty A bao gồm tiền tồn tại quỹ và tiền gửi ngânhàng, với sự phân loại như vậy thì số lượng khoản mục được phân tách là 2,KTV tiến hành phân tách các khoản mục theo đặc tính của từng loại tiền
Việc tính toán giá trị của nhân tố R hay giá trị độ tin cậy chính là việc xemxét đánh giá rủi ro kiểm soát trên khoản mục tiền của Công ty, qua đó KTV mới
có thể quyết định được có thể tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội bộ hay không
và có thể sử dụng tài liệu của Hệ thống kiểm soát nội bộ hay không
Việc đánh giá rủi ro kiểm soát được thực hiện thông qua Bảng câu hỏiđánh giá rủi ro kiểm soát các khoản mục như sau:
Bảng 2.6: Bảng đánh giá rủi ro kiểm soát trên khoản mục tiền
Trang 34của Công ty A
Khoản mục tiền
1 Công ty có đảm bảo nguyên tắc bất
kiêm nhiệm giữa thủ quỹ với các kế
toán viên khác trong bộ máy kế toán
hay không
X
2 Cuối tháng thủ quỹ và kế toán tiền
mặt có thực hiện đối chiếu với nhau
không
X
3 Việc kiểm kê tiền mặt có được thực
hiện một cách thường xuyên với sự
chứng kiến của ít nhất ba người độc
lập với nhau không
X
4 Việc đối chiếu sổ tài khoản tiền gửi
ngân hàng với sổ phụ ngân hàng có
được tiến hành thường xuyên không
X
5 Các khoản tiền thu về có được gửi
ngay và trực tiếp vào ngân hàng
7 Việc quy đổi VNĐ sang USD có được
sử dụng tỉ giá giao dịch ngày hôm đó
không
X
Nguồn: Tài liệu Deloitte Việt Nam
Trên cơ sở bảng câu hỏi trên, KTV nhận thấy các khoản tiền thu vềkhông được gửi ngay và trực tiếp vào ngân hàng mà chủ yếu công ty thu bằngtiền mặt đưa vào quy, sau đó một thời gian mới gửi vào ngân hàng Độ chậmtrễ này sẽ có thể phát sinh khả năng nhân viên Công ty sử dụng trái phép một
số lượng tiền của Công ty trong một thời gian, sau khi cá nhân hoàn lại tiềnthủ quỹ mới đem tiền gửi ở ngân hàng Bên cạnh đó, việc quy đổi VNĐ sang
Trang 35USD không được sử dụng tỉ giá giao dịch của ngày hôm đó mà sử dụng tỉ giágiao dịch do tập đoàn quy định và khách hàng A là khách hàng mới Từ kếtquả kiểm tra đó, KTV quyết định mức độ rủi ro kiểm soát đối với khoản mụctiền tại Công ty là cao hơn mức trung bình.
Theo bảng giá trị độ tin cậy của Deloitte Touche Tohmatsu, đối vớikhoản mục tiền tại Công ty A, rủi ro chi tiết phát hiện được, mức độ rủi rokiểm soát được xác định cao hơn mức trung bình nên KTV không tin cậy vào
hệ thống kiểm soát nội bộ, theo đó: Độ tin cậy mặc định = 1, Độ tin cậy kiểmsoát = 0, Độ tin cậy kiểm tra chi tiết = 2
Khi xác định được những yếu tố trên, KTV có thể tính toán giá trịThreshold theo Bảng tính giá trị Thresold như sau:
MP = 296.340 $, quy đổi sang tiền VNĐ: MP = 4.774.037.400
MP * Nhân tố tổng thể = 4.774.037.400 * 2,67 = 12.746.679.858
Mức độ kiểm tra chi tiết: R = 2
Số lượng các khoản mục được phân tách: 2
- Đối với khoản mục tiền tồn tại quỹ:
Số dư khoản mục tiền tồn tại quỹ = 674.131.277
Threshold của khoản mục tiền tồn tại quỹ là: 716.105.610
- Đối với khoản mục tiền gửi ngân hàng:
Số dư khoản mục tiền gửi ngân hàng = 59.505.587.434
Nhận thấy: