1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK

95 3,9K 38

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NĂM HỌC 2011-2012 TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK Giảng viên hướng dẫn: TS... Trên thế giới, khái

Trang 1

NĂM HỌC 2011-2012

TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM

XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA

VIỆT NAM VINAMILK

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Ngọc Thắng

Sinh viên thực hiện : Đỗ Đình Nam

Nguyễn Như Ngọc Nguyễn Thành Tư

-HÀ NỘI, 5/2012-

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

- -

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

NĂM HỌC 2011-2012

TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM

XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA

VIỆT NAM VINAMILK

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS Nguyễn Ngọc Thắng

GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN:

-HÀ NỘI, 5/2012-

Trang 3

“Trách nhiệm xã hội trong công việc kinh doanh không nên là một

sự ép buộc; đó là một quyết định tự nguyện mà các nhà lãnh đạo của mỗi công ty đều phải làm cho chính doanh nghiệp của mình”

John Mackey, doanh nhân người Mỹ, đồng sáng lập và CEO

Tập đoàn Whole Foods Market

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Nhóm nghiên cứu chúng tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tất cả những người

đã tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành bài nghiên cứu này Trong mỗi bước thực hiện bài nghiên cứu, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, những góp ý và sự khích lệ của các thầy cô giáo và bạn bè

Đầu tiên, nhóm nghiên cứu muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tiến sỹ Nguyễn Ngọc Thắng, chủ nhiệm bộ môn Quản trị chiến lược, khoa Quản trị Kinh doanh vì đã hết lòng giúp đỡ cũng như đưa ra những nhận xét và góp ý giá trị cho bài nghiên cứu Chính sự tận tụy này của thầy đã giúp chúng tôi có thể hoàn thành bài nghiên cứu này một cách tốt nhất

Bên cạnh đó, trong suốt quá trình làm việc, nhóm nghiên cứu cũng nhận được những chia sẻ, góp ý từ những người bạn thân thiết Nếu không có họ, chúng tôi đã không thể hoàn thành bài nghiên cứu này theo đúng tiến độ

Cuối cùng, chúng tôi muốn tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới trường Đại Học Kinh Tế,

ĐH Quốc Gia Hà Nội, và đặc biệt là khoa Quản trị Kinh doanh vì đã hết sức tạo điều kiện cho nhóm thực hiện bài nghiên cứu này

Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2012

Nhóm thực hiện đề tài

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục bảng biểu 5

Mở đầu 6

Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực hiện CSR 17

1.1 Một số khái niệm liên quan tới trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) 17 1.1.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 17

1.1.2 Những thành tố của CSR 18

1.2 Lợi ích của CSR với doanh nghiệp 21

1.2.1 Lợi ích về tài chính 21

1.2.2 Lợi ích phi tài chính 26

1.3 Tính cấp thiết của việc thực hiện CSR tại Việt Nam 30

1.3.1 Yếu tố môi trường kinh doanh 30

1.3.2 Yếu tố bên trong doanh nghiệp 32

1.4 Nguồn lực để thực hiện CSR của doanh nghiệp Việt Nam 33

1.4.1 Nguồn lực bên trong 33

1.4.2 Nguồn lực bên ngoài 35

1.5 Kinh nghiệm thực hiện CSR của một số doanh nghiệp nước ngoài 36

Trang 6

Chương 2: Thực trạng vấn đề thực hiện CSR của Vinamilk 41

2.1 Sơ lược về công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk 41

2.2 Thực trạng vấn đề thực hiện CSR tại công ty Vinamilk 44

2.2.1 Sự cần thiết của việc thực hiện CSR tại Vinamilk 44

2.2.2 Quan điểm thực hiện CSR của Vinamilk 45

2.2.3 Tình hình thực hiện CSR của Vinamilk 46

2.2.4 Ngân sách thực hiện CSR của Vinamilk 63

2.2.5 Đánh giá việc thực hiện CSR của Vinamilk 64

Chương 3: Giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả CSR đối với Vinamilk 76

3.1 Nguyên tắc hình thành các nhóm giải pháp 77

3.1.1 Khung khổ lý thuyết 77

3.1.2 Mục đích hình thành 77

3.2 Nhóm giải pháp mang tính kỹ thuật 78

3.2. Nhóm giải pháp về con người 79

3.3 Nhóm giải pháp về tài chính 80

3.4 Tăng cường vai trò của lãnh đạo với CSR tại Vinamilk 82

Kết luận 83

Danh mục tài liệu tham khảo 89

Trang 7

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nguyên nghĩa

CBNV Cán Bộ Nhân Viên

CNH-HĐH Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa

CDM Clean Development Mechanism

CoCs Code of Conducts

CSR Corporate Social Responsibility

ĐHQGHN Đại Học Quốc Gia Hà Nội

MBA Master of Business Administration

NPP Nhà Phân Phối

PRI Principles of Responsible Investment

ROA Return on Assets

ROE Return on Equity

TMC Toyota Motor Corporation

WTO World Trade Organization

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Biểu đồ 1: Mô hình kim tự tháp CSR 19

Biểu đồ 2: Động lượng CSR 22

Biểu đồ 3: Đường giá trị CSR 23

Biểu đồ 4: Cảm nhận về hình ảnh của công ty trong cộng đồng 28

Biểu đồ 5: Đánh giá mức độ quan trọng của CSR 29

Biểu đồ 6: Mối quan hệ giữa các yếu tố CSR cốt lõi của TMC 37

Biểu đồ 7: Sơ đồ “Phương thức Toyota” 37

Biểu đồ 8: Sơ đồ các cơ quan thực thi chính sách CSR của TMC 38

Biểu đồ 9: Sơ đồ so sánh lượng tiêu thụ năng lượng giữa năm 2007 và 2010 40

Biểu đồ 10: Sơ đồ tổ chức và cơ cấu quản lý công ty Vinamilk 42

Biểu đồ 11: Mô hình quan điểm CSR của Vinamilk với các bên liên quan 46

Biểu đồ 12: Mối quan hệ giữa nguồn tài nguyên sử dụng và nước thải của Vinamilk 61

Biểu đồ 13: Ngân sách giành cho hoạt động CSR của Vinamilk 64

Biểu đồ 14: Sơ đồ tăng trưởng doanh thu của Vinamilk qua các năm 66

Biểu đồ 15: Sơ đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng ROA của Vinamilk qua các năm 66

Biểu đồ 16: Sơ đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng ROE của Vinamilk qua các năm 67

Biểu đồ 17: Mô hình các nhóm giải pháp thúc đẩy CSR cho doanh nghiệp 76

Biểu đồ 18: Mô hình khung giải pháp thúc đẩy CSR tại Việt Nam 84

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trách nhiệm xã hội (CSR) là một yêu cầu đối với doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không thực hiện được CSR thì rất khó để tiếp cận được với thị trường thế giới Kinh nghiệm cho thấy, những công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới, những người khổng lồ rất thành công trong việc kinh doanh cũng đồng thời là những công

ty thực hiện trách nhiệm xã hội cực kỳ tốt Bên cạnh đó, cũng có không ít bài học cay đắng xuất phát từ việc thực hiện CSR không tốt như trường hợp của Coca Cola, Nike hay Mac Donald’s những năm trước đây

Trên thế giới, khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) không

hề mới; đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về CSR cũng như các công ty nước ngoài từ lâu đã thực hiện CSR một cách nghiêm túc và bài bản Tuy nhiên, ở Việt Nam, CSR vẫn còn là một vấn đề khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, với người tiêu dùng và toàn xã hội nói chung

Đặc biệt, sau khi Việt nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào năm

2007, việc thực hiện CSR đối với các doanh nghiệp Việt Nam trở nên đặc biệt quan trọng Mặc dù vậy, việc thực hiện CSR ở Việt Nam còn tương đối khó khăn Điều này có nguyên nhân bởi chính bản thân doanh nghiệp cũng chưa có hiểu biết đúng đắn về CSR Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam cho rằng CSR đơn thuần là làm từ thiện trong khi thực hiện CSR cũng gồm các yếu tố ngay bên trong doanh nghiệp Một trở ngại nữa với doanh nghiệp Việt Nam là thiếu nguồn nhân lực, tài chính cũng như kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực CSR Điều này lại là đặc biệt khó khăn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khi nếu xét theo quy định của

Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ thì khoảng 95%

doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 10

Quan trọng và cấp thiết như vậy nhưng tại Việt Nam, CSR vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ phía nhà nước, xã hội và giới doanh nghiệp; đồng thời, hiện chưa có nhiều công trình nghiên cứu về CSR tại Việt Nam Đó chính là lý

do nhóm nghiên cứu lựa chọn CSR làm đối tượng nghiên cứu cho đề tài này Với việc lấy công ty cổ phần sữa Việt Nam làm khách thể nghiên cứu chính, đề tài dĩ nhiên chưa thể thể hiện hết bức tranh toàn cảnh về CSR tại Việt Nam nhưng nhóm tác giả hy vọng có thể đóng góp một góc nhìn mới và cụ thể hơn về CSR tại Việt Nam, đặc biệt là CSR trong một công ty lớn và có uy tín như Vinamilk

2 Tình hình nghiên cứu về CSR trên thế giới

Lịch sử phát triển của CSR

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đã trở thành một chủ đề gây nhiều tranh luận cho tất cả các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế học, và

cả các chính trị gia trên toàn thế giới trong nhiều năm qua

Trong cuốn sách Kinh Doanh có trách nhiêm: Làm thế nào để quản trị thành công một chiến lược CSR, tác giả Manfred Pohl và Nick Tolhurst đã dẫn ra nghiên cứu của Weyne Visser về cuộc cách mạng của CSR Ông chỉ ra rằng khái niệm về CSR đã được tranh luận và thực hành từ dạng này sang dạng khác khoảng 4,000 năm trước Trong đạo Hinđu và đạo Phật đã có những lời răn dạy đạo đức xoay quanh việc cho vay nặng lãi, và đạo Hồi thì ủng hộ cho chính sách “Zakat” (Zakat là khoản tiền mà mỗi người khỏe mạnh đóng góp để giúp đỡ cho một số đối tượng nhất định)

Quan điểm hiện đại về “Trách nhiệm xã hội” của doanh nghiệp – CSR có thể nói được đánh dấu từ giữa những năm 1800s với tên tuổi của John H Patterson1

Trang 11

ông làm dấy lên làn sóng về phúc lợi xã hội trong ngành công nghiệp và John D Rockefeller2 lập nên một quỹ từ thiện, là hình mẫu của quỹ từ thiện Bill Gates hơn một trăm năm sau (Carroll, 2008) Mặc dù vậy, thuật ngữ “CSR” chỉ được dùng phổ biến từ những năm 1950, với sự đánh dấu cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của người làm kinh doanh” (Bowen 1953) Học thuyết càng được củng cố mạnh mẽ bởi làn sóng về vấn đề môi trường những năm 1962 và làn sóng quyền lợi người tiêu dùng những năm 1965

Thập niên 70 của thế kỷ XX đã chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của các định nghĩa và học thuyết xoay quanh thuật ngữ “CSR” Archie Carroll đã lồng ghép vào

đó bốn khái niệm là Kinh tế, Đạo đức, Luật pháp và Từ thiện Sau đó ông phát triển thành mô hình Kim tự tháp về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR Pyramid) (Carroll, 1979), cũng như đưa ra những điều luật về CSR đầu tiên trên thế giới (Sullivan Code) Năm 1980, điều luật về đảm bảo sức khỏe và an toàn lao động được giới thiệu tới công chúng (Responsible Care)

Vào những năm 1990, CSR đã được tổ chức hóa thành các tiêu chuẩn như ISO

14001 và SA 8000, những bản hướng dẫn như Hướng dẫn chủ động báo cáo toàn cầu (Global Reporting Initiative – GRI), hay những điều lệ quản trị công ty như Cadbury và King

Sang thế kỷ XXI, một loạt các hướng dẫn, quy định, điều lệ, tiêu chuẩn về CSR được ban hành, hơn 100 trong số đó có thể tìm thấy trong cuốn: “Từ A đến Z những điều cần biết về CSR” (The A to Z of corporate social responsibilities)

Thậm chí hiện nay trên thế giới đã bắt đầu xuất hiện khái niệm CSR mới - CSR 2.0 (Corporate Sustainability Responsibility) trên cơ sở kế thừa và phát triển khái niệm CSR 1.0

2

John D Rockefeller: sáng lập tập đoàn dầu lửa Standard Oil, sáng lập trường ĐH Chicago và Rockefeller, sáng lập quỹ từ thiện Rockefeller

Trang 12

Như vậy có thể xem CSR như một làn sóng mạnh mẽ đang trỗi dậy trên thế giới trong suốt nhiều thập kỷ qua Nó đã trở thành một trong những đề tài nghiên cứu gây nhiều chú ý và tranh luận nhất cho các học giả Chúng ta hãy thử nhìn nhận những hướng nghiên cứu chính về CSR của các học giả nước ngoài và trong nước sau đây

Những hướng nghiên cứu chính

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được công bố trên thế giới Các đề tài liên quan trực tiếp đến các học giả nước ngoài

có thể được chia thành 4 nhóm như sau:

Nhóm 1: Nhóm chủ yếu nghiên cứu, đưa ra những lý luận cơ bản về trách nhiệm xã

hội của doanh nghiệp Tuy nhiên những lý luận này là khác nhau, tùy thuộc vào từng góc độ đánh giá của các học giả Nhưng nhìn chung, các bài lý luận thuộc nhóm này có sự kế thừa và phát triển từ những bài nghiên cứu trước đó Nhóm này

là một trong hai nhóm có số lượng bài nghiên cứu nhiều nhất Một số bài tiêu biểu của nhóm này gồm có:

- “The social responsibility of business is to increase its profit”, Fredman Milton (1970), đăng trên tạp chí the New York Times, ngày 13 tháng 9, năm 1970 Bài báo cho rằng doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm xã hội là làm sao để tối đa hóa lợi nhuận, tăng giá trị cổ đông trong khuôn khổ luật chơi của thị trường là cạnh tranh trung thực và công bằng Ông cho rằng trách nhiệm xã hội là của nhà nước, nên người chủ doanh nghiệp, đại diện cho các cổ đông, chỉ thực hiện các trách nhiệm xã hội mà anh ta mong muốn, đã có sự thông qua của cổ đông

- “Corporate Social Responsibility – Evolution of a definitional construct”, của tác giả Carroll Archie (1999), đăng trên Business Society Ông cho rằng CSR có một phạm vi lớn hơn, “là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định”

Trang 13

- “Corporate Social Responsibility: Three Key Approaches”, Duane Windsor (2006) đăng trên Journal of Management Studies Ông đã kế thừa và phát triển những lý luận của các học giả trước đó để đúc kết ra ba phương pháp chính tiếp cận với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Ông định nghĩa khái niệm “công dân doanh nghiệp” là sự giao thoa của 2 lợi ích: sự giàu có của cá nhân và lợi ích cộng đồng Từ đó ông cho rằng một “công dân doanh nghiệp” cần có một quyền lực linh hoạt, danh tiếng của công ty, ảnh hưởng của chính trị và làm từ thiện một cách chiến lược

Nói tóm lại tuy các bài nghiên cứu thuộc nhóm này có sự khác nhau qua từng thời kỳ, nhưng hầu hết là sự kế thừa và phát triển ra các lý luận mới mẻ Tất cả đều cho thấy rõ mức độ gắn kết của CSR với doanh nghiệp

Nhóm 2: Nhóm chủ yếu nghiên cứu về tác động của CSR đối với doanh nghiệp và

các bên liên quan

Những bài nghiên cứu thuộc nhóm này tập trung làm sự rõ tác động của một yếu tố hoặc một vài yếu tố trong 6 yếu tố chính của CSR đến doanh nghiệp và các bên liên quan 6 yếu tố đó là thực hành kinh doanh trung thực, môi trường, lao động, người tiêu dùng, hòa hợp và phát triển cộng đồng, điều hành doanh nghiệp và quyền con người

Trong nhóm này nổi bật lên một số bài nghiên cứu sau:

- “Innovative CSR: From Risk Management to Value Creation” của các tác giả

Celine Louche, Samuel O Idogu, Walter Leal Filho Cuốn sách là tập hợp những bài nghiên cứu hay có những điểm tương đồng Nội dung chủ yếu nêu ra những quan điểm của các tác giả về mối quan hệ giữa CSR và sự đổi mới giá trị và sáng tạo trong doanh nghiệp

Sau đó tác giả áp dụng lý luận vào phân tích các trường hợp cụ thể như ngành

y dược, giáo dục hay thậm chí là một doanh nghiệp cụ thể ở Ireland Qua đó, thấy rõ được vai trò của CSR đối với hoạt động đổi mới và sáng tạo của doanh nghiệp

Trang 14

- Corporate Social Responsibility: CSR Communication as an Instrument to Consumer-Relationship Marketing, của tác giả Elena Bueble (2009) Cuốn sách nêu lên mối quan hệ giữa CSR và sự thể hiện của công ty, và đặc biệt là coi giao tiếp CSR như một kênh quản trị quan hệ khách hàng Tác giả còn có những đóng góp quan trọng trong việc định hình phương pháp tính toán mức độ giao tiếp CSR với khách hàng Thông qua đó, tác giả cũng đưa ra những chiến lược để các doanh nghiệp có thể áp dụng việc thực hiện CSR vào quản trị quan hệ khách hàng

- “Corporate Social Responsibility: The key role of human resource management”, của các tác giả Surpan Sarma, Joity Sarma, và Arti Devi (2009) Nhóm các tác giả

đã chỉ ra mối quan hệ hai chiều giữa CSR và hoạt động quản trị nhân sự trong công

ty CSR có thể làm nền tảng cho việc quản trị nhân sự được hiệu quả, và quản trị nhân sự được gợi ý mang ý nghĩa quan trọng nhất trong việc thúc đẩy các hoạt động CSR ở mọi cấp độ trong công ty

Nhìn chung nhóm này là nhóm có số lượng bài nghiên cứu đông đảo nhất và cũng đa dạng nhất Mỗi bài nghiên cứu lại bao gồm một chủ đề nhỏ trong bức tranh toàn cảnh CSR Vì vậy muốn hiểu được hầu hết các quan điểm, cần phải có một hệ thống kết nối cũng như phân loại cụ thể, rõ ràng

Nhóm 3: Nhóm chủ yếu đi tìm các phương pháp để đánh giá vai trò, ý nghĩa, mức

độ hiệu quả của các chương trình CSR đối với doanh nghiệp

Một số đại diện của nhóm này gồm có:

- “The business case for corporate social responsibility: A company-level measurement approach for CSR”, Manuela Weber (2008) Ông cho rằng, mặc dù có nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn đã chỉ ra mối quan hệ đồng biến giữa CSR

và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, những cách tiếp cận để tính toán sự ảnh hưởng của CSR vẫn còn thiếu trong các tài liệu hiện thời Bài nghiên cứu tập trung vào câu hỏi làm thế nào để tính toán được ảnh hưởng của các hoạt động CSR đến

Trang 15

doanh nghiệp Sử dụng mô hình các bước đánh giá có thể giúp các nhà quản trị trong công việc này

- "An empirical Examination of the Relationship between Corporate Social Responsibility Disclosure and Financial Performance in an Emerging Market", Mustaruddin Saleh, Norhayah Zulkifli, Rusnah Muhamad (2008) Nhóm tác giả đã dùng phương pháp khảo sát và lượng hóa các số liệu thu thập tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Malaysia Kết quả đã chỉ ra mối quan hệ đồng biến giữa CSR và các lợi ích tài chính

Nhóm 4: Nhóm những gợi ý, chính sách liên quan đến việc phát triển hoạt động

CSR cho từng khu vực, từng quốc gia, hay từng ngành cụ thể

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu thuộc nhóm này đó là:

- “Priorities for Corporate Social Responsibility: a Survey of Businesses and their stakeholders”, của nhóm tác giả Richard Welford, Clifford Chan, và Michelle Man Bài báo đã phát phiếu điều tra tới 491 tổ chức ở Hồng Kong với bảng hỏi và các thang điểm đánh giá để so sánh Sau khi xử lý số liệu, các tác giả này đã tìm ra các nhóm nhân tố của CSR mà các doanh nghiệp Hồng Kong cho là quan trọng và đặt

ưu tiên lên hàng đầu Tuy nhiên sự đánh giá này là khác nhau dưới các góc nhìn của chính phủ, nhà đầu tư, cổ đông, ban giám đốc và nhân viên trong công ty

- “Corporate Social Responsibility: Strategic Implications”, McWilliams, Abagail; Siegel Donald S; Wright Patrick, M (2005), đăng trên tạp chí Journal Management Studies Nhóm các tác giả đã phát triển một khuôn mẫu cho việc nhận định các hàm

ý chiến lược về CSR trong doanh nghiệp Sau đó các tác giả nghiệm thu những kết quả nghiên cứu trước đó, phân loại và đưa vào áp dụng cho phù hợp với những khuôn mẫu sẵn có Nhờ vậy mà, nhóm các tác giả đã đưa ra được một bộ các chiến lược về việc thực hiện CSR dựa trên kế thừa quan điểm của khá nhiều học giả khác

Trang 16

Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nhắc đến CSR là nhắc đến một khái niệm còn rất mới mẻ và mơ

hồ đối với một số không ít các doanh nghiệp CSR được giới thiệu tới Việt Nam bởi các công ty đa quốc gia có nhà máy tại Việt Nam, thông qua các quy tắc ứng xử Các công ty may mặc và da giầy, điển hình là May 10 là những công ty đầu tiên ở Việt Nam thực hiện chính sách về CSR Chính vì lẽ đó mà số lượng các bài nghiên cứu về CSR ở Việt Nam là chưa nhiều Những công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến:

- Báo cáo về CSR ở Việt Nam”, Nigel Twose và Tara Rao (2003) tổng kết tình hình thực hiện CSR trong ngành dệt may và da giầy của Việt Nam, đã chỉ ra những động lực thúc đẩy thực hiện CSR trong 2 ngành và này nhấn mạnh vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy thực hiện CSR trong cộng đồng doanh nghiệp Theo các tác giả, chính phủ Việt Nam nên quan niệm rằng thực hiện CSR chính

là cơ chế quan trọng để đạt được lợi thế cạnh tranh quốc gia trên thị trường thế giới

- “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – CSR: một vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nước đối với CSR ở Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức, đăng trên viện khoa học xã hội Việt Nam Bài viết

đã tóm tắt một số vấn đề lý luận về CSR, các vấn đề tranh cãi xoay quanh chủ đề này, cũng như đã nêu ra được thực trạng hoạt động CSR ở Việt Nam Nhóm tác giả đồng thời cũng nêu ra khuyến nghị sự cần thiết của việc đổi mới chính sách quản lý của nhà nước, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam trong việc thực hiện CSR

- Phạm Văn Đức (2010) đã chỉ ra rằng việc các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội không chỉ giúp bản thân doanh nghiệp phát triển bền vững, mà còn

Trang 17

góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đây chưa làm rõ được việc thực hiện CSR tại công ty cụ thể tại Việt Nam Chính điều này đã cho chúng tôi thấy được khoảng trống trong nghiên cứu tình huống việc thực hiện CSR trong một doanh nghiệp cụ thể

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu là tìm ra những vấn đề cơ bản trong thực trạng và giải pháp cho vấn đề thực hiện CSR tại công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk Qua

đó, đưa ra một một số khuyến nghị về giải pháp cho vấn đề thúc đẩy việc thực hiện

và nâng cao chất lượng CSR tại doanh nghiệp Việt Nam

Để đạt được mục tiêu đó, đề tài phải giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu trọng tâm sau:

- Thực trạng của việc thực hiện CSR tại Vinamilk có những đặc điểm cụ thể, chi tiết như thế nào?

- Giải pháp nào cho việc thúc đẩy và nâng cao hiệu quả thực hiện CSR của Vinamilk?

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Vấn đề thực hiện CSR tại công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk

- Phạm vi:

Không gian: Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk

Thời gian: từ năm 2000 trở lại đây

Trang 18

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở các tài liệu thứ cấp, đề tài sử dụng phương pháp tổng hợp – phân tích, phương pháp toán để phân tích, nhận định để đưa có được những đánh giá về vấn đề và đưa ra các gói giải pháp

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu để có được nguồn tài liệu sơ cấp phục vụ cho bài nghiên cứu và tăng tính khách quan cho công trình

6 Đóng góp mới của đề tài

- Làm rõ toàn diện tính cấp thiết, nguồn lực cũng như lợi ích của việc thực hiện CSR đối với doanh nghiệp Việt Nam

- Cung cấp những luận chứng khoa học về thực trạng và một khung giải pháp toàn diện cho việc thực hiện CSR tại Vinamilk

- Khuyến nghị một khung giải pháp toàn diện từ phía “Nhà nước – Xã hội –

Doanh nghiệp”, phục vụ cho việc thúc đẩy sự phát triển của CSR tại các doanh

nghiệp Việt Nam

7 Kết cấu của đề tài

Nội dung của đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Chương 1 đưa ra những lý luận cơ bản liên quan tới CSR, những yếu tố cơ bản cấu thành CSR và lợi ích của CSR đối với doanh nghiệp Bên cạnh đó, chương 1 cung cấp thông tin về tính cấp thiết và nguồn lực để thực hiện CSR tại doanh nghiệp Việt

Trang 19

Nam Đồng thời, chương này cũng phân tích kinh nghiệm thực hiện CSR của một số doanh nghiệp nước ngoài như tập đoàn Toyota và công ty KPMG Trung Quốc

Chương 2: Thực trạng vấn đề thực hiện CSR của công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk

Chương 2 đưa ra cái nhìn cụ thể, rõ ràng về thực trạng của vấn đề thực hiện CSR của công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk Những vấn đề được phân tích trong chương này là hệ thống quan điểm, chính sách, chương trình và ngân sách dành cho CSR Thêm vào đó các đánh giá về việc thực hiện CSR (thành quả, hạn chế, thuận lợi, khó khăn) sẽ làm rõ hơn bức tranh về CSR tại Vinamilk

Chương 3: Giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả CSR đối với công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk

Chương 3 dựa trên phân tích ở chương 2 để đưa ra các nhóm giải pháp cho việc mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng thực hiện CSR trong trường hợp Vinamilk Các nhóm giải pháp bao gồm: nhóm giải pháp mang tính kỹ thuật (1), nhóm giải pháp về con người (2), nhóm giải pháp về tài chính (3) và nâng cao vai trò của lãnh đạo (4)

Trang 20

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC HIỆN

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được biết đến như một trong những yếu

tố làm nên rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như tăng doanh số, lợi nhuận, giảm tỉ lệ thôi việc hay mở rộng cơ hội phát triển thị trường Trên thực tế kinh doanh, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một khái niệm không mới và ở trên bình diện thế giới thì từ những năm của thập niên 1980, CSR đã trở thành một chiến lược quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi công ty Từ đó tới nay, CSR đã dần chứng tỏ được vai trò lớn lao của mình đối với sự phát triển chung của doanh nghiệp cũng như

sự hài hòa với lợi ích của xã hội Chính vì thế, khái niệm CSR đang ngày một được sự quan tâm, cũng như được đầu tư nhiều hơn từ phía các doanh nghiệp

1.1 Một số khái niệm liên quan tới trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

(CSR)

1.1.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Thời gian gần đây, có một số vụ việc gây xôn xao dư luận như công ty Vedan Việt Nam bức tử sông Thị Vải, nước tương nhiễm 3-MCPD hay sữa nhiễm độc chất melamine Kể từ đó, dư luận ngày một quan tâm và bàn bạc nhiều hơn về cụm từ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc kinh doanh đối với môi trường cũng như người tiêu dùng Để nói tới vấn đề liên quan tới trách nhiệm trong kinh doanh của doanh nghiệp, cộng đồng thế giới cùng thống nhất một cụm từ chung, đó là

“Corporate Social Responsibility – trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”

Trang 21

Trên thực tế, có rất nhiều khái nhiệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) Điều này phụ thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi công ty, chính phủ dựa trên điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mỗi đối tượng Keith Davies (1973) đưa ra một khái niệm khá rộng: ”CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu, pháp lý, công nghệ” Còn A Carroll (1999) cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hơn “là tất cả những vấn đề pháp lý, kinh tế, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong những thời điểm nhất định” Trong khi đó, theo Matten và Moon (2004): “CSR là một khái niệm bao trùm các khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”

Như vậy, chúng ta phần nào thấy được bản chất của CSR và trong bài nghiên cứu, nhóm tác giả quyết định lấy quan điểm chính thức của Hội đồng doanh nghiệp

vì sự phát triển bền vững – World Business Council for Sustainable Development

(WBCSD) làm để làm bật lên bản chất của CSR, đó là: “CSR là cam kết liên tục

của doanh nghiệp đối với đạo đức kinh doanh và đóng góp vào tăng trưởng kinh

tế, trong khi đó cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình họ cũng như của cộng đồng và xã hội” Lý do nhóm nghiên cứu chọn quan điểm này

để minh họa cho khái niệm CSR vì WBCSD là một tổ chức nghiêm túc trong thúc đẩy CSR trong các doanh nghiệp thành viên và quan điểm này cũng được giới khoa học đánh giá cao

1.1.2 Những thành tố của CSR

Mặc dù CSR đã trở nên phổ biến, hiện vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung, và phạm vi của CSR Trong số những lý thuyết liên quan tới vấn đề này, mô hình “kim tự tháp” của A Carroll có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi nhất

Trang 22

Biểu đồ 1: Mô hình kim tự tháp CSR

(Nguồn: Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức (2008, p8))

Dựa theo mô hình này, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức

và từ thiện Cụ thể như sau:

- Trách nhiệm kinh tế: tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao tính cạnh tranh, hiệu quả

kinh doanh và tăng trưởng là những điều kiện tiên quyết Điều này là đương nhiên bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận của doanh nhân Bên cạnh đó, doanh nghiệp là một thành tố cấu tạo nên xã hội, do vậy chức năng kinh doanh cần được ưu tiên và đặt lên hàng đầu Cũng có thể nói rằng trách nhiệm kinh tế là yếu tố nền tảng và các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp

là một phần của bản cam kết giữa doanh nghiệp và xã hội Nhà nước có trách nhiệm

mã hóa những quy tắc, chuẩn mực đạo đức, xã hội vào các văn bản pháp luật Doanh nghiệp, dựa trên cơ sở đó, sẽ theo đuổi các mục tiêu về kinh tế của mình dựa trên những chuẩn mực, quy tắc trong các bộ luật được ban hành Cùng với trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý là hai bộ phận nền tảng, cơ bản nhất và không thể thiếu đối với CSR

Trang 23

- Trách nhiệm đạo đức: đây là những chuẩn mực, quy tắc được xã hội thừa nhận

nhưng chưa có mặt trong các văn bản luật Trên thực tế, những chuẩn mực xã hội luôn biến đổi và vì thế những chính sách pháp luật chỉ có thể theo sau trong quá trình biến đổi này Do đó, pháp luật không thể phản ánh hết những đòi hỏi về những quy tắc ứng xử của xã hôi Vì vậy, trách nhiệm thực hiện đúng luật pháp là đòi hỏi tối thiểu với doanh nghiệp Ngoài ra, doanh nghiệp còn cần phải thực hiện những nghĩa vụ, quy tắc ngoài luật hay chính là trách nhiệm đạo đức Việc thực hiện trách nhiệm đạo đức là tự nguyện đối với mọi doanh nghiệp nhưng lại có vai trò trung tâm đối với CSR (ví dụ như việc thực hiện ngày nghỉ cuối tuần, tiền cho nhân công làm thêm ca, uy tín đối với đối tác, quan hệ tốt với khách hàng…)

vọng của xã hội Một số ví dụ như trao quà cho trẻ mồ côi, tài trợ học bổng cho học sinh sinh viên,… Trách nhiệm từ thiện khác trách nhiệm đạo đức ở chỗ, doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm này “hoàn toàn tự nguyện” Nếu doanh nghiệp không thực hiện CSR tới mức độ này thì họ vẫn được coi là đã hoàn thiện đầy đủ trách nhiệm với xã hội

Bên cạnh những phân tích về nội dung của mô hình trên, nó cũng được đông đảo học giả đưa ra rất nhiều đánh giá tích cực:

- Có tính toàn diện và khả thi cao Mô hình này có thể được áp dụng trong việc xây dựng khuôn khổ chính sách về CSR của nhà nước

- Việc đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng đã làm thỏa mãn nhu cầu về lý thuyết đại diện trong quản trị doanh nghiệp Đồng thời, việc làm này còn giúp xóa đi những hoài nghi về tính trung thực trong những chương trình CSR của doanh nghiệp Cũng

vì vậy, nó xóa đi ranh giới của việc thực hiện CSR là “vì mình” hay “vì người”, khiến hai mục đích này là không thể tách rời

Trang 24

- Ranh giới giữa các tầng của kim tự tháp luôn chồng lấn lên nhau, không thể tách rời và tác động lần nhau

- Làm rõ mối quan hệ giữa công việc từ thiện và trách nhiệm xã hội Một cách hình tượng, có thể nói rằng từ thiện chỉ là bề nổi của tảng bang chìm CSR mà thôi

- Việc cân bằng lợi ích giữa các bên tham gia trong việc thực hiện các chuẩn mực CSR được đề cập tới như một nội dụng then chốt của quản trị doanh nghiệp

1.2 Lợi ích của CSR với doanh nghiệp

Theo thống kê của Trung tâm nghiên cứu về quản lý Ashridge, cứ 10 nhà quản

lý điều hành cấp cao thì có đến 9 người tin rằng CSR là rất quan trọng với các hoạt động kinh doanh của công ty Hơn 3/4 các nhà quản lý cho rằng công ty cần hoạt động theo những phương thức có trách nhiệm với xã hội và cộng đồng 3

Nhóm tác giả chia lợi ích của CSR với doanh nghiệp theo hai tiêu chí chính Đó

là lợi ích tài chính và lợi ích phi tài chính Sau đây là những phân tích kỹ hơn về lợi ích của CSR đối với doanh nghiệp

1.2.1 Lợi ích về tài chính

Với việc áp dụng CSR, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng các công ty có thể tiết kiệm đáng kể chi phí Thông thường những công nghệ hiện đại hơn, sạch hơn luôn

đi kèm với đó là giá thành đầu vào cũng rất thấp Công ty sản xuất gốm sứ Giang tây, Trung quốc, khi lắp đặt công nghệ mới thân thiện với môi trường đã tiết kiệm gần 10 triệu USD mỗi năm, với kết quả giảm 6% lượng nước sử dụng, 65% lượng chất thải nước và 74% chất thải khí 4

3 http://www.bwportal.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=31%3A&Itemid=25

4

http://www.bwportal.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=31%3A&Itemid=25

Trang 25

Một ví dụ khác đến từ tập đoàn PepsiCo với dự án hỗ trợ và thu mua ngô ở San Gabriel, Mexico Khoảng hơn 300 hộ nông dân nghèo ở đây không còn phải bán ngô thông qua trung gian nữa mà bán trực tiếp sản phẩm cho tập đoàn Pepsi Pepsi đảm bảo thu mua với cùng một giá mà họ chi trả cho nông dân ở vụ mùa trước Ngoài ra

họ còn hỗ trợ nông dân về tài chính để mua hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu và các thiết bị phục vụ mùa màng Dự án ngô này đã giúp Pepsi tiết kiệm được chi phí vận chuyển vì các trang trại gần 2 nhà máy của họ Hơn nữa việc sử dụng các trang trại địa phương là sự đảm bảo tốt nhất cho chất lượng sản phẩm của Pepsi “Điều này đã mang đến cho chúng tôi tác động đòn bẩy tuyệt vời bởi vì giá ngô không biến động nhiều nhưng giá vận chuyển thì tăng lên liên tục”, Ông Pedro Padierna, Chủ tịch của PepsiCo ở Mexico, Trung Mỹ và vùng Caribbean cho biết Rõ ràng khi thực hiện các chiến lược CSR, PepsiCo không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người nông dân ở San Gabriel mà đã giúp chính mình cắt giảm chi phí sản xuất

Biểu đồ 2: Động lƣợng CSR

(Nguồn: IBM Institute for Business Valuve)

Trang 26

Biểu đồ trên được lấy từ khảo sát của viện IBM về giá trị doanh nghiệp Chúng

ta có thể thấy số liệu ở cột thứ 4 từ trái sang chỉ ra rằng các công ty tập trung vào hoạt động CSR mang lại hiệu quả cắt giảm chi phí (Cost savings), với 38% số công

ty được khảo sát đang hoạt động rất tốt trong lĩnh vực này, và 47% đang bắt đầu thực hiện các chiến lược CSR nhằm cắt giảm chi phí Điều này góp phần chứng minh hiệu quả trong việc cắt giảm chi phí khi thực hiện các hoạt động CSR là hoàn toàn đúng đắn

 Tăng doanh số bán hàng:

Biểu đồ 3: Đường giá trị CSR

(Nguồn: IBM Institute for Business Value)

Trang 27

Nhìn vào biểu đồ trên, ta có thể thấy ở phía bên phải của đường giá trị CSR là khả năng có được những thị trường mới, những đối tác mới, sự đổi mới sản phẩm và dịch vụ Nhờ vậy mà doanh số bán hàng tăng lên, dẫn đến lợi nhuận tăng

Một loạt các công ty đang áp dụng các chiến lược tương tự nhằm nâng cao lợi ích xã hội cho người nghèo, mà vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cao Một trong những

ví dụ đi đầu là sự phát triển một sản phẩm sữa chua vi-ta-min tăng cường của Danone, bán với giá là 11 cents ở Bangladesh Tuy sản phẩm không này không đem

về lợi nhuận ngay lập tức nhưng nó đã giúp công ty có một sự hiểu biết vô giá về 2.5 triệu khách hàng tiềm năng với mức sống dưới $2.5 một ngày 5

Tập đoàn Philips cũng là một ví dụ tuyệt vời trong trường hợp này Philips bắt đầu bán các thiết bị thắp sáng bằng năng lượng mặt trời với chi phí thấp ở châu Phi, nơi mà người dân không có cơ hội được tiếp cận với hệ thống mạng lưới điện Ông Harry Verhaar, giám đốc bộ phận phát triển bền vững nói: “Đây là thị trường của chúng tôi Chúng tôi muốn chỉ cho khách hàng thấy rằng sản phẩm của chúng tôi không những mang lại lợi ích kinh tế cho công ty mà còn tốt cho khách hàng và hệ sinh thái”

 Tăng tỉ lệ các hợp đồng quốc tế

Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, các công ty Việt Nam muốn tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, thì CSR thực sự chính là một giải pháp Các tập đoàn đa quốc gia thường yêu cầu rất khắt khe về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, vì họ đứng trước sức ép rất lớn từ phía khách hàng ở các nước phát triển, hoặc do chính điều luật của công ty họ quy định như vậy Vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam cần phải thực sự lao vào cuộc cách mạng CSR thì mới có thể tham gia cuộc chơi toàn cầu này Hơn nữa, năm 2014, Việt Nam sẽ xóa bỏ toàn bộ rào cản

5

http://www.nytimes.com/2011/02/22/business/global/22pepsi.html?pagewanted=all

Trang 28

thuế quan thương mại theo hiệp định của WTO Liệu doanh nghiệp của chúng ta có thể cạnh tranh được hay không? Hay có thể dành được những hợp đồng quốc tế được hay không? CSR chính là một phần của câu trả lời! Việc thực hiện tốt CSR sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có được lợi thế hay ít nhất là không bị đánh bật ra

vì không đủ tiêu chuẩn khi tham gia ký kết các hợp đồng quốc tế

 Tăng tỉ lệ các nhà đầu tư quốc tế

Phương pháp đánh giá CSR phổ biến nhất hiện nay là dựa vào các chỉ số KLD

- Kinder, Lydenberg, Domini Research & Analytics Chỉ số này được đưa ra vào

năm 1990, để bao hàm các chỉ số CSR vào các quyết định đầu tư Các nhà đầu tư sẽ thường đưa ra các quyết định đầu tư vào những công ty được KLD đánh giá có chỉ

số về CSR dương, tức là thực hiện tốt và có hiệu quả các chiến lược CSR

Theo bản báo cáo hàng năm của PRI – Principles of Responsible Investment cho năm 2011, có trên 900 chữ ký phê chuẩn từ 48 quốc gia đồng ý với quy định của Liên hợp quốc về đầu tư có trách nhiệm, với tổng giá trị tài sản đầu tư là 30 nghìn tỉ đô-la Năm 2011, 545 nhà đầu tư bắt đầu hoàn thành cuộc khảo sát đánh giá báo cáo PRI hàng năm để chỉ ra cách họ thực hành sáu quy tắc đầu tư có trách nhiệm như thế nào Trong số đó, 94% chủ tài sản và 93% giám đốc đầu tư ngày nay có luật đầu

tư có trách nhiệm một cách nghiêm túc Báo cáo cũng chỉ ra rằng trên 50% các nhà đầu tư bên ngoài gắn kết chặt chẽ với các chỉ số CSR của KLD 71% các công ty đầu tư yêu cầu các công ty công khai các hoạt động CSR vào báo cáo tài chính của mình 6 Có thể nói CSR đang là xu hướng của các nhà đầu tư quốc tế Rõ ràng, thực hiện tốt trách nhiệm CSR sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng hơn trong việc thu hút được các nguồn vốn FDI từ nhà đầu tư quốc tế

6

Kld.com/research

Trang 29

1.2.2 Lợi ích phi tài chính

Mặc dù các lợi ích phi tài chính suy cho cùng vẫn có thể quy về lợi ích tài chính, song nhóm nghiên cứu vẫn chia thành hai loại nói trên để thuận lợi cho việc phân tích chuyên sâu

 Nâng cao giá trị thương hiệu của công ty

Khi một công ty thực hiện các hoạt động CSR, dù là đối nội hay đối ngoại thì đều được cộng đồng đánh giá rất cao Điều này được thể hiện qua các bảng xếp hạng những công ty có trách nhiệm nhất thế giới của tạp chí Forbes Danh sách này cũng chính là những công ty được yêu thích nhất thế giới Như vậy chính CSR đã góp phần làm nên hình ảnh của công ty trong lòng xã hội

Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới cuối năm 2008 - đầu năm 2009 đã kéo cổ phiếu của Intel sụt giảm 42%, thu nhập ròng giảm 90% so với năm trước đó 7 Trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn như vậy, Intel vẫn quyết tâm theo đuổi chương trình CSR của mình trên toàn thế giới qua những đóng góp vào giáo dục ở Afghanistan, Cam-pu-chia, Haiti, và Uganda,… cùng với những chương trình nỗ lực bảo vệ nguồn năng lượng Chủ tịch của Intel, ông Craig Barrett Fortune nói: “Bạn không thể tiết kiệm theo cách của bạn để thoát khỏi suy thoái, mà bạn phải đầu tư theo cách của bạn” Rõ ràng Craig Barrett Fortune đã coi CSR như một sự đầu tư hiệu quả và lâu dài “Chúng tôi nhìn vào các hoạt động CSR trong những thời khắc khác nhau với cùng một đôi mắt Bạn đừng bao giờ hy vọng có thể gặt hái được kết quả nếu bạn chỉ làm CSR những khi bạn kinh doanh tốt còn quên mất chúng khi bạn gặp khó khăn” Cùng chung quan điểm đó, những người khổng lồ như General Electric, Starbuck hay Toyota cắt giảm tài chính của họ cho các dự án thay vì cắt giảm các hoạt động CSR khi phải cắt giảm chi phí Đây chính là những tấm gương sáng cho việc cam kết thực

7

http://money.cnn.com/2009/01/19/magazines/fortune/do_gooder.fortune/index.htm

Trang 30

hiện CSR trên toàn thế giới Và chắc chắn rằng, chính những điều này đã góp phần nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín cho các doanh nghiệp

 Thu hút nhân tài

Nhân viên là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm Việc thu hút nhân tài luôn được các công ty quan tâm hàng đầu Có được những nhân viên tốt đã khó nhưng việc níu chân các nhân viên này còn khó khăn hơn nhiều Điều này là cả một thách thức đối với các công ty Những công ty trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, bảo hiểm y tế và môi trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút và giữ được nhân viên tốt hơn

Cuộc khảo sát của Mont- gomery và Ramus (2003) chỉ ra rằng các MBAs tốt nghiệp các trường châu Âu và Mỹ rất quan tâm đến các khía cạnh của CSR như quan

hệ lao động, môi trường làm việc bền vững, hay đạo đức, văn hóa doanh nghiệp Hơn 90% sinh viên được phỏng vấn trả lời họ sẵn sàng từ bỏ yếu tố tài chính để làm việc cho những công ty có danh tiếng về CSR

Turban và Greening (1997) cung cấp bằng chứng rằng một công ty thực hiện tốt CSR có thể có lợi thế hơn trong việc thu hút các nhà quản lý cấp cao

Trang 31

Nhóm tác giả cũng đã có một cuộc điều tra nhỏ trong cộng đồng sinh viên nhiệm vụ chiến lược và chất lượng cao trường đại học Kinh

tế, ĐHQGHN Kết quả cũng chỉ ra rằng sinh viên sẽ cảm thấy rất tự hào khi làm việc cho các doanh nghiệp có hình ảnh tốt trong xã hội

Biểu đồ 4: Cảm nhận về hình ảnh của công ty trong cộng đồng

Cũng giống như những người Nhật Bản rất tự hào khi họ nói rằng họ làm việc cho Toyota hay Sony hay Honda, thì 97% tức 54 trong số 55 sinh viên được hỏi cũng tự hào (và rất tự hào) khi họ là một phần trong công ty có hình ảnh tốt trong mắt cộng đồng

Trang 32

Còn sau đây là kết quả khảo sát lấy ý kiến của sinh viên (được coi

là nguồn nhân lực chất lượng cao) khi đánh giá mức độ quan trọng của CSR đối với một công ty

Biểu đồ 5: Đánh giá mức độ quan trọng của CSR

Kết quả khảo sát ở trên cho thấy 97% tức 54/55 số sinh viên được hỏi cho rằng CSR quan trọng và rất quan trọng đối với một công ty Như vậy có thể thấy rằng, những doanh nghiệp thực hiện tốt CSR sẽ có khả năng tuyển dụng được nhiều nhân tài hơn Từ đó hiệu quả công việc và sự sáng tạo kéo theo lợi nhuận của công ty sẽ cao hơn

Trang 33

Ngoài ra, doanh nghiệp thực hiện tốt CSR còn có được những lợi ích phi tài chính sau:

 Nâng cao uy tín với xã hội:

Việc thực hiện tốt CSR giúp cho các doanh nghiệp tạo được niềm tin đối với các thành phần trong xã hội:

- Nhân viên công ty

 Giảm mối quan tâm của các nhà hoạt động, tổ chức hoạt động xã hội

 Góp phần vào công tác bảo vệ Trái Đất

1.3 Tính cấp thiết của việc thực hiện CSR tại Việt Nam

Nói về tính cấp thiết của việc thực hiện CSR, nhóm nghiên cứu đưa ra quan điểm về tác động từ bên ngoài (các yếu tố trong môi trường kinh doanh) và tác động từ bên trong (nội tại của doanh nghiệp) sẽ là hai nhân tố chính tạo cho doanh nghiệp Việt Nam thấy việc thực hiện CSR đối với họ là quan trọng như thế nào

1.3.1 Yếu tố môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh những năm gần đây có sự thay đổi mạnh mẽ do những nguyên nhân chính sau:

 Việt Nam gia nhập WTO năm 2007

 Làn sóng tự do hóa thương mại

 Dòng vốn FDI chảy mạnh vào Việt Nam

Trang 34

Việc gia nhập WTO và làn sóng tự do hóa thương mại giúp cho doanh nghiệp Việt Nam có một môi trường kinh doanh rộng mở và thông thoáng hơn rất nhiều so với trước kia Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội thì cũng luôn có những thách thức không nhỏ Khi tham gia sân chơi toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam mà hầu hết chưa

có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh quốc tế sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn khi phải đáp ứng nhiều văn bản luật, các quy định, đòi hỏi khắt khe từ phía các đối tác nước ngoài và xã hội các nước đó Thậm chí các đối tác thương mại, người tiêu dùng sẽ tẩy chay sản phẩm hàng hoá của nước thành viên nào mà DN sản xuất

ra sản phẩm đó không thực hiện đúng chuẩn mực về các trách nhiệm xã hội

Thêm vào đó, nhờ vào sự có mặt của các công ty FDI mà doanh nghiệp Việt Nam được tiếp xúc nhiều hơn với các công ty đa quốc gia của nước ngoài và được học hỏi rất nhiều từ bài học thành công của họ Có thể lấy một ví dụ trường hợp này

đó là công ty gang thép Thái Nguyên (TISCO) và công ty thép của Hàn Quốc – POSCO Công ty gang thép Thái Nguyên được thành lập năm 1959 8 tức là sớm hơn

9 năm so với công ty thép POSCO (1968)9

, cả hai công ty ở thời điểm thanh lập đều

có xuất phát điểm thấp nhưng nhìn chung là nhận được sự quan tâm của nhà nước

Ấy vậy mà giờ đây khi POSCO đã là một công ty đa quốc gia hùng mạnh thì TISCO mới chỉ có sản phẩm xuất đi nước ngoài vài năm trở lại đây Tạm bỏ qua những yếu

tố khách quan liên quan tới tình hình mỗi đất nước thì có thể thấy một trong số những điểm làm nên sự khác biệt cho TISCO là sự thành công các chương trình CSR của họ

Nói như vậy để thấy được CSR cần thiết với doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh môi trường kinh doanh hiện nay như thế nào CSR giờ đây không phải là thứ

“nên làm” mà còn là thứ “cần làm” để tồn tại và “phải làm” nếu muốn thành công

8 http://www.tisco.com.vn/?f=About&op=2&p=2

9

http://www.posco.co.kr/homepage/docs/eng2/html/company/posco/s91a1010010m.jsp

Trang 35

vượt trội Đó chính là tính cấp thiết mà môi trường kinh doanh tạo ra cho việc thực hiện CSR của doanh nghiệp Việt Nam

1.3.2 Yếu tố bên trong doanh nghiệp

Không dễ nhận ra như tác động của môi trường kinh doanh tới yêu cầu phải thực hiện CSR của doanh nghiệp nhưng những yếu tố bên trong mỗi doanh nghiệp cũng đóng vai trò không nhỏ trong vấn đề này

Xét về nội bộ doanh nghiệp, CSR xuất hiện khi doanh nghiệp đang có nhu cầu

về chiến lược kinh doanh trung thực lành mạnh, đang có kế hoạch cho một số dự án liên quan tới cải tạo môi trường làm việc hay cũng có thể là khi doanh nghiệp muốn cải thiện, nâng cao quan hệ lao động của mình Đó là những ví dụ đơn giản chứng minh cho việc CSR cũng chịu tác động từ những yêu cầu xuất phát từ bên trong doanh nghiệp

Ở mức độ tổng thể, có thể nói CSR hiện nay được cân nhắc tới khi bản thân doanh nghiệp cần thực hiện một bước phát triển mới hay thậm chí là vượt bậc trong chu kỳ hoạt động của mình Và để đáp ứng cho nhu cầu từ bên trong của doanh nghiệp, CSR chính là một phương án rất hữu hiệu và ngày càng thể hiện được vai trò cấp thiết của nó trong các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam

Từ các phân tích trên, có thể thấy rõ ràng sự cần thiết phải thực hiện CSR trong doanh nghiệp Việt Nam là không thể bàn cãi Cũng cần khẳng định luôn, nhu cầu cho việc thực hiện CSR được hình thành từ cả nguyên nhân khách quan (môi trường kinh doanh) và nguyên nhân chủ quan (bên trong doanh nghiệp) Dù vậy, không phải ngẫu nhiên mà CSR lại chưa phát triển ở Việt Nam, vậy nguyên nhân của thực trạng đó là gì?

Và để hiểu hơn về sự hạn chế đó, nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích nguồn lực để thực hiện CSR của doanh nghiệp Việt Nam

Trang 36

1.4 Nguồn lực để thực hiện CSR của doanh nghiệp Việt Nam

Tính cấp thiết của CSR đối với các doanh nghiệp Việt Nam đã được phân tích

và chứng minh là không phải bàn cãi Nhưng để thực hiện CSR thì bất kể doanh nghiệp nào cũng cần có một nguồn lực nhất định Một số nghiên cứu trước đây chỉ

ra những nguồn lực về vật chất và con người; tuy nhiên, nhóm nghiên cứu tiếp cận theo một hướng mở hơn, bao quát hơn về nguồn lực để thực hiện CSR của doanh nghiệp Việt Nam

Nhóm nghiên cứu chia các dạng nguồn lực ở đây thành 2 dạng: nguồn lực bên trong (1) và nguồn lực bên ngoài doanh nghiệp (2)

1.4.1 Nguồn lực bên trong

Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm khoảng 95%) Thế nên, có thể thấy ngay rằng nguồn lực xuất phát từ nội tại doanh nghiệp là không lớn Nhưng cơ bản vẫn có thể chia các dạng nguồn lực này như sau:

Nguồn lực này cơ bản gồm có 2 loại chính đó là hệ thống văn bản, quy định có liên quan tới CSR đã có trong doanh nghiệp (1) và hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục

vụ cho CSR (2)

 Hệ thống văn bản, quy định liên quan tới CSR: còn thiếu và yếu

Người ta dễ thấy được nổi bật nhất số này là “Bộ quy tắc ứng xử - Code of Conduct” của doanh nghiệp Theo ý kiến của tiến sĩ Cao Thu Hằng10, hiện Việt Nam chưa có bộ quy tắc ửng xử riêng cho cả tầm quốc gia lẫn doanh nghiệp Hiện nay, việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử của các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là các

bộ quy tắc ứng xử của các doanh nghiệp hay các tổ chức nước ngoài khi các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thị trường xuất khẩu Với khoảng 1000 bộ quy tắc

10

http://www.vietnamplus.vn/Home/Xay-dung-bo-quy-tac-ung-xu-cho-doanh-nghiep-Viet/20123/130328.vnplus

Trang 37

ứng xử trên thế giới11, doanh nghiệp Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực thi và hay gặp phải kiện tụng từ đối thủ cạnh tranh về vấn đề này Hiện có rất ít doanh nghiệp Việt Nam xây dựng được cho mình bộ quy tắc ứng xử như Vinamilk

 Hạ tầng kỹ thuật cho CSR: còn yếu và chưa được quan tâm

Tuy nhiên, mỗi loại hình doanh nghiệp, khả năng về hạ tầng kỹ thuật là khác nhau và đòi hỏi về CSR cũng không giống nhau Do đó, mỗi doanh nghiệp sẽ tùy biến theo khả năng về hạ tầng kỹ thuật cũng như chiến lược của mình để xây dựng chiến lược CSR phù hợp

Nhìn chung, nhận thức về CSR đối với doanh nghiệp và xã hội Việt Nam là chưa cao Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể đào tạo được những đội ngũ dẫn dắt CSR như của Toyota, sau đó là nâng cao nhận thức của người lao động về CSR Từ đó, có thể tin rằng doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có đủ nguồn lực về con người để hiện thực hóa những chính sách CSR

Một điểm đáng chú ý trong nguồn lực con người và CSR đó là “Người lãnh đạo” của doanh nghiệp Thật thú vị khi thấy rằng, các doanh nghiệp Việt Nam khá thành công với CSR như Vinamilk, Mai Linh, FPT đều có những người lãnh đạo có

uy tín và tầm ảnh hưởng sâu rộng trong tổ chức Dĩ nhiên, các vị lãnh đạo này đều là những con người có quan điểm nhất quán và quyết tâm thực hiện CSR Nhưng những vị lãnh đạo như thế này trong giới doanh nghiệp Việt Nam là chưa nhiều, cho nên đây sẽ là một khó khăn cho việc thực hiện CSR tại Việt Nam

11

http://www.vietnamplus.vn/Home/Xay-dung-bo-quy-tac-ung-xu-cho-doanh-nghiep-Viet/20123/130328.vnplus

Trang 38

- Nguồn lực về tài chính: Hạn chế

Như đã nói, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam ở quy mô nhỏ và vừa Vì thế tài chính không phải là điểm mạnh của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình thực hiện CSR Vẫn biết không phải chỉ thực hiện CSR khi doanh nghiệp đã “giàu” nhưng một doanh nghiệp “nghèo” sẽ gặp vô vàn khó khăn nếu thực hiện CSR đúng nghĩa Và trên thực tế, khó khăn về nguồn tài chính vẫn là rào cản lớn nhất ngăn cản doanh nghiệp Việt Nam đến với CSR một cách rầm rộ

1.4.2 Nguồn lực bên ngoài

Bên cạnh nguồn lực chính từ bên trong doanh nghiệp, các công ty Việt Nam cũng cần nhận ra và tận dụng được các lực đẩy từ bên ngoài để phục vụ cho các chính sách CSR của mình

Dù không phải là những người trực tiếp thực hiện CSR, tuy nhiên những người làm chính sách hay các tổ chức chính trị đang có sự quan tâm ngày một lớn tới CSR Một ví dụ là Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã thông qua giải thưởng “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” nhằm tôn vinh những doanh nghiệp làm tốt công tác này Đồng thời, chính phủ và các bộ ngành cũng đang có rất nhiều hoạt động thúc đẩy việc nghiên cứu, xây dựng và thực hiện CSR trong cộng đồng các doanh nghiệp Việt Nam

Sau rất nhiều những sự cố liên quan tới môi trường (công ty Vedan Việt Nam) hay vệ sinh an toàn thực phẩm (nước tương có 3-MCPD, sữa nhiễm melamine), ắt hẳn xã hội hơn lúc nào hết đang rất mong chờ vào một sự đổi mới trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Người dân đang mong chờ những doanh nghiệp

“thật” hơn, “sạch” hơn, “bền vững” hơn

Trang 39

- Kinh nghiệm của các doanh nghiệp nước ngoài:

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH), Việt Nam có

“lợi thế” rằng có thể phát triển nhanh hơn vì là nước đi sau, hay còn gọi là nước công nghiệp mới (dù trên thực tế thì Việt Nam chưa được ông nhận là nước công nghiệp) Đó là vì chúng ta được thừa hưởng những thành tựu mà các nước công nghiệp cũ phải mất hàng trăm năm để sáng tạo ra

Điều tương tự cũng xảy ra với việc thực hiện CSR, đó là các doanh nghiệp Việt Nam có thể học hỏi và áp dụng những kinh nghiệm từ các doanh nghiệp nước ngoài Đồng thời, làm cho những thứ đó phù hợp hơn với hoàn cảnh của riêng mình, như vậy doanh nghiệp Việt Nam không cần quá nhiều công sức nghiên cứu và phát triển mà đã có thể có ngay các chuẩn mực hay thành tựu CSR để làm của riêng mình Rõ ràng đây là một nguồn lực rất quý báu nhưng nếu doanh nghiệp Việt Nam không biết cách tận dụng thì họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn

Qua những phân tích trên, có thể thấy dù có nhiều khó khăn nhưng doanh nghiệp Việt Nam có một nguồn lực đáng để tin rằng chúng ta có thể xây dựng và thực hiện tốt các hoạt động về CSR Từ đó nâng cao hình ảnh cũng như tính cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam cả trong nước và trên thế giới

1.5 Kinh nghiệm thực hiện CSR của một số doanh nghiệp nước ngoài

Kinh nghiệm thực hiện CSR của tập đoàn Toyota:

Tập đoàn Toyota có quan điểm cốt lõi về CSR là: “Đóng góp hướng tới sự

phát triển bền vững” Đó chính là quan điểm chủ đạo của Toyota Và đề hiện thực

hóa quan điểm này Toyota có một số phương tiện thực hiện CSR tiêu biểu là: “The

Toyota Code of Conduct – Bộ quy tắc ứng xử Toyota” , “The Toyota Way 2011 –

Trang 40

Phương thức Toyota 2011” và “Nguyên tắc hướng dẫn – Guiding Principles at

Ngày đăng: 06/07/2015, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức (2008), "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp-CSR: Một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới nhà nước với CSR ở Việt Nam", Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp-CSR: Một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới nhà nước với CSR ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức
Năm: 2008
2. Chính phủ (2009), “Nghị định về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
3. Phạm Văn Đức (2010), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách, Tạp chí Triết học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách
Tác giả: Phạm Văn Đức
Nhà XB: Tạp chí Triết học
Năm: 2010
4. Nguyễn Ngọc Thắng (2010), “Gắn quản trị nhân sự với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”, Tạp chí ĐH QGHN, Kinh tế và Kinh doanh số [26], pp. 232- 238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gắn quản trị nhân sự với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thắng
Năm: 2010
5. Nguyễn Quang Vinh (2009), Thực trạng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam, Báo cáo tại hội thảo “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và Chiến lược truyền thông, kinh nghiệm quốc gia và quốc tế” do VCCI hợp tác với Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và Chiến lược truyền thông, kinh nghiệm quốc gia và quốc tế
Tác giả: Nguyễn Quang Vinh
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu đồ 7: Sơ đồ “Phương thức Toyota” - đề tài NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK
i ểu đồ 7: Sơ đồ “Phương thức Toyota” (Trang 40)
Biểu đồ 8: Sơ đồ các cơ quan thực thi chính sách CSR của TMC - đề tài NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK
i ểu đồ 8: Sơ đồ các cơ quan thực thi chính sách CSR của TMC (Trang 41)
Biểu đồ 9: Sơ đồ so sánh lƣợng tiêu thụ năng lƣợng giữa năm 2007 và 2010 - đề tài NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK
i ểu đồ 9: Sơ đồ so sánh lƣợng tiêu thụ năng lƣợng giữa năm 2007 và 2010 (Trang 43)
Sơ đồ tổ chức của công ty: - đề tài NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK
Sơ đồ t ổ chức của công ty: (Trang 45)
Biểu đồ 14: Sơ đồ tăng trưởng doanh thu của Vinamilk - đề tài NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK
i ểu đồ 14: Sơ đồ tăng trưởng doanh thu của Vinamilk (Trang 69)
Biểu đồ 15: Sơ đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng ROA của Vinamilk - đề tài NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK
i ểu đồ 15: Sơ đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng ROA của Vinamilk (Trang 69)
Biểu đồ 16: Sơ đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng ROE của Vinamilk - đề tài NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK
i ểu đồ 16: Sơ đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng ROE của Vinamilk (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w