1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, Tỉnh Đăk Lăk (full)

90 759 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 740,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tình hình hiện nay để quản lý tốt hơn nữa, góp phần cân đối vững chắc thu, chi ngân sách, cần phải hoàn thiện công tác quản lý thu thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân, loại thu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGÔ TRUNG BIÊN

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH DAKLAK

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGÔ TRUNG BIÊN

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH DAKLAK

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH

Đà Nẵng - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Ngô Trung Biên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 9

1 Tính cấp thiết của đề tài 9 2 Mục tiêu nghiên cứu 9 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10 4 Phương pháp nghiên cứu 10 5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 11 6 Bố cục đề tài 11 7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 12 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 16

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 16 1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân 16

1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 20

1.1.4 Mục tiêu của quản lý thuế thu nhập cá nhân 23

1.2 NỘI DUNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 24 1.2.1 Công tác lập dự toán thu thuế thu nhập cá nhân 24

1.2.2 Công tác tổ chức thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân 25

1.2.3 Công tác chỉ đạo điều hành quản lý thuế thu nhập cá nhân 26

1.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý thuế thu nhập cá nhân 27

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 28 1.3.1 Các nhân tố từ cơ chế chính sách 28

1.3.2 Các nhân tố từ cơ quan Thuế 29

1.3.3 Các nhân tố từ phía người nộp thuế 30

Trang 5

1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THUẾ TNCN TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM PHÙ HỢP VỚI VIỆT NAM 31

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý thuế thu nhập cá nhân trên thế giới 31

1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 46

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH DAKLAK 47

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI CỤC THUẾ THỊ XÃ BUÔN HỒ 47 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 47

2.1.2 Cơ cấu tổ chức 47

2.1.3 Kết quả thu ngân sách nhà nước của Chi cục thuế thị xã Buôn Hồ giai đoạn 2011- 2013 48

2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH DAKLAK 53 2.2.1 Công tác lập dự toán thu thuế thu nhập cá nhân 53

2.2.2 Công tác tổ chức thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân 55

2.2.3 Công tác chỉ đạo điều hành quản lý thuế thu nhập cá nhân 64

2.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý thuế thu nhập cá nhân 65

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 68 2.3.1 Những kết quả đạt được 68

2.3.2 Những mặt hạn chế 69

2.3.3 Nguyên nhân 71

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73

Trang 6

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP

CÁ NHÂN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN

HỒ, TỈNH DAKLAK 74

3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH DAKLAK TRONG THỜI GIAN TỚI 74 3.1.1 Mục tiêu chung 74

3.1.2 Định hướng quản lý thuế TNCN trên địa bàn thị xã Buôn Hồ 74

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ 75 3.2.1 Hoàn thiện công tác lập dự toán trong thời gian tới 75

3.2.2 Kiện toàn bộ máy quản lý và tăng cường công tác phối hợp giữa các ban ngành trong công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 77

3.2.3 Tăng cường công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT 81

3.2.4 Hoàn thiện về cơ sở thông tin dữ liệu, ứng dụng tin học 83

3.2.5 Hoàn thiện về công tác thanh tra, kiểm tra 84

3.3 KIẾN NGHỊ 85 3.3.1 Kiến nghị với Tổng cục thuế 85

3.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 86

3.3.3 Kiến nghị với Thị ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷn ban nhân dân 86

3.3.4 Kiến nghị với các cơ quan liên quan 86

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87

KẾT LUẬN 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CCT : Chi Cục Thuế

DN : Doanh nghiệp

DTPL : Dự toán pháp lệnh ĐTNT : Đối tượng nộp thuế HCSN : Hành chính sự nghiệp HĐND : Hội đồng nhân dân

NH : Ngân hàng

NNT : Người nộp thuế

NSNN : Ngân sách Nhà nước MST : Mã số thuế

Trang 8

2.2: Tình hình thực hiện thu thuế TNCN so với dự toán tại

Chi cục Thuế Buôn Hồ giai đoạn 2011 đến 2013 53

2.3 Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế theo chức năng của

2.4 Tình hình thực hiện công tác quyết toán thuế tại chi cục

thuếBuôn Hồ giai đoạn 2011 - 2013 58

2.5 Tình hình quản lý công tác hoàn thuế TNCN tại chi cục

thuế Buôn Hồ giai đoạn 2011-2013 60 2.6 Kết quả thực hiện công tác kiểm tra tại trụ sở NNT của

Chi cục Thuế Buôn Hồ trong giai đoạn 2011 – 2013 65

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mỗi một quốc gia đều nhận thức được tầm quan trọng của thuế, thuế không chỉ là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước mà còn là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Quản lý thuế nói chung, thuế thu nhập cá nhân nói riêng, nhất là thu nhập từ tiền lương, tiền công là một trong những giải pháp góp phần cân đối thu, chi ngân sách Trong tình hình hiện nay để quản lý tốt hơn nữa, góp phần cân đối vững chắc thu, chi ngân sách, cần phải hoàn thiện công tác quản lý thu thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân, loại thuế tác động sâu, rộng đến lợi ích của từng cá nhân nộp thuế cũng như lợi ích của Nhà nước

Từ khi thành lập thị xã Buôn Hồ cho đến nay các doanh nghiệp tại thị xã Buôn Hồ phát triển rất nhanh cả về số lượng và quy mô sản xuất, kinh doanh Nhưng công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân ở khu vực này còn hạn chế

Vì vậy, việc nâng cao hiểu biết về công tác quản lý thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng là một đòi hỏi cấp thiết, là một nhiệm vụ trọng tâm của ngành thuế Việt Nam hiện nay Việc đi sâu nghiên cứu công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân sẽ góp phần làm lành mạnh hóa hoạt động tài chính, đầu tư

và tăng cường tính hiệu lực, tính hiệu quả chính chính sách thuế Xuất phát từ

thực tế trên, tác giả quyết định chọn đề tài: Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklaklàm luận văn tốt nghiệp Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác

quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn

Hồ, tỉnh Daklak Từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quản quản lý thuế TNCN tại Chi cục thuế thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak trong thời gian đến

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích giải quyết ba vấn đề cơ bản sau:

Trang 10

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thu thế thu nhập cá nhân

Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak

Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn hiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak trong thời gian đến

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan

đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak

Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý thuế thu

nhập cá nhân

+ Về không gian và thời gian: Những vấn đề liên quan đến công tác

quản lý thuế thu nhập cá nhân tại doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak trong thời gian 03 năm từ năm 2011 đến 2013

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận là Chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp luận nghiên cứu duy vật lịch sử nhằm đánh giá vấn đề trên cơ sở khoa học, khách quan

- Phương pháp so sánh theo trình tự thời gian để đánh giá quá trình vận động của vấn đề thật toàn diện

- Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu qua các năm tạo cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak

Trang 11

- Phân tích theo phương pháp quy nạp hay diễn dịch nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu, giúp đánh giá được thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập các nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak, từ đó tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các Doanh nghiệp trên địa bàn

- Đồng thời dựa vào các lý luận, quan điểm kinh tế, tài chính và định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, xuất phát từ thực tiễn để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Với mục tiêu và phương pháp nghiên cứu như trên, tác giả hy vọng đề tài có thể đạt được một số ý nghĩa sau:

 Về lý thuyết: Luận văn hướng đến việc khái quát các vấn đề lý

thuyết cơ bản về quản lý thuế thu nhập cá nhân

 Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng, đánh giá những

mặt được và hạn chế từ công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak trong thời gian qua, luận văn hướng đến việc đề ra các giải pháp, cũng như kiến nghị giúp hoàn thiện công tác quản

lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn trong thời gian tới

 Hy vọng những giải pháp này sẽ thiết thực và có thể ứng dụng trong thực tế hoạt động tại đơn vị nghiên cứu, từ đó giúp Chi cục thuế thị xã Buôn

Hồ quản lý tốt hơn việc thu thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào sự thành công của luận văn trong thực tế khẳng định hơn ý nghĩa và đóng góp của đề tài

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu, sơ đồ và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương

như sau:

Trang 12

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thuế thu nhập cá nhân Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập các nhân tại các

doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân

tại các Doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu và đạt được những ý nghĩa đã nêu trên, cần

có nguồn thông tin thiết thực liên quan và sự tiến hành nghiên cứu một cách khoa học Do đó tác giả đã tích cực tìm hiểu, tiến hành thu thập thông tin, tham khảo các công trình, luận văn khoa học có nội dung tương tự đã được công nhận để tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn:

[5] Dương Thị Nguyên (2011), Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế

thu nhập cá nhân trên địa bàn Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại

học Kinh tế Quốc dân

Đối với đề tài này, trong chương 1 tác giả đã hệ thống hóa được các vấn

đề lý thuyết cơ bản về công tác quản lý thuế TNCN, nêu ra được các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN Đề tài đã đánh giá thực trạng của công tác quản lý thuế TNCN của nước ta trong việc ban hành chính sách thuế, Công tác tổ chức thực hiện chính sách thuế, xử lý các trường hợp vi phạm về kê khai nộp thuế và tổ chức bộ máy quản lý thuế Từ thực trạng trên

đề tài đã cho thấy được những thành tựu, hạn chế trong công tác quản lý thuế TNCN ở Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2010 và chỉ ra năm nguyên nhân cơ bản là: hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện; nhân lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ thuế còn thiếu, hạn chế; quá trình thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt nên khó kiểm soát nguồn thu nhập thực tế; bất cập trong chế độ kê khai thuế,nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế và cấp mã số

Trang 13

thuế; ý thức của người dân về thuế TNCN còn thấp Đề tài cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế trên địa bàn như: đầu tư cơ sở hạ tầng, tin học hoá công tác quản lý thu thuế Cục Thuế Hà Nội cần phải được hiện đại hóa cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý thu thuế TNCN, trang bị máy tính nối mạng toàn quốc; xác định mức khởi điểm chịu thuế và nới rộng bậc thuế Vấn đề tính toán và xác định lại mức khởi điểm chịu thuế TNCN cần phải dựa trên mức lương tối thiểu; nâng cao hiệu quả tổ chức bộ máy quản lý; nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ ngành thuế

Để công tác quản lý thu thuế được thực hiện tốt thì con người luôn là trung tâm, là yếu tố quan trọng nhất Nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ cán

bộ thuế sẽ có tác động tích cực tới toàn bộ công tác quản lý thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân Cục Thuế Hà Nội phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc kê khai, nộp thuế của các đối tượng nộp thuế để phát hiện kịp thời xử lý nghiêm minh những hành vi gian lận, trốn thuế, tăng cường đôn đốc thu nợ và cưỡng chế

nợ thuế

[6] Đỗ Thị Hồng Phương (2012), Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Trong phần cơ sở lý luận tác giả đã hệ thống một cách đầy đủ các vấn đề

cơ bản như đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân; nội dung cơ bản của thuế thu nhập cá nhân về đối tượng nộp thuế, đối tượng tính thuế, kỳ tính thuế, căn cứ tính thuế, giảm thuế Tiếp đó, tác giả đi tìm hiểu về mục tiêu và nội dung quản lý thuế thu nhập cá nhân, đưa ra những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân Tác giả cũng nêu lên được kinh nghiệm quản lý thuế thu nhập cá nhân ở một số nước trên thế giới và bài học

Trang 14

kinh nghiệm phù hợp với Việt Nam Trên cơ sở lý luận đó, tác giả đã đi sâu vào phân tích thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong thời gian từ 2009 đến năm 2011 Qua việc phân tích thực trạng, tác giả đã đánh giá được những thành công cũng như tìm ra được nguyên nhân của các hạn chế trong công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn Từ đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng với bốn nhóm giải pháp chính là: giải pháp về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực; giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ, giải pháp về mặt pháp lý Đây là đề tài có nội dung khá sát với các vấn đề mà học viên sẽ nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp

Do đó, một số nội dung về cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân và công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân là rất hữu ích để học viên tham khảo nhằm xây dựng nên cơ sở lý luận phù hợp với thực trạng của địa bàn được nghiên cứu

[8] Trần Công Thành (2013), Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu

nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh

doanh, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng

Trong luận văn này, tác giả cũng trình bày những vấn đề lý luận cơ bản nhất về thuế thu nhập cá nhân và công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân Trên

cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Trà Vinh trong giai đoạn từ 2009 đến 2012, tác giả cũng đã chỉ ra được những hạn chế còn tồn tại ở địa phương, có thể kể đến như: một số quy định chính sách chưa thực sự rõ ràng, một số thủ tục còn phức tạp, nhưng việc sửa đổi không kịp thời gây khó khăn trong thực hiện; khó kiểm soát được thu nhập tính thuế của

cá nhân để đưa vào diện thu thuế do tình trạng thanh toán bằng tiền mặt còn rất phổ biến; đội ngũ cán bộ quản lý thuế của tỉnh còn hạn chế cả về số lượng lẫn trình độ chuyên môn, không thường xuyên cập nhật thông tin mới về về

Trang 15

sự thay đổi chính sách thuế, Qua việc phân tích thực trạng thì tác giả cũng

đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập

cá nhân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, những giải pháp này có ý nghĩa trong thời gian 5 năm tính từ năm 2012 Các giải pháp này có tính thực tiễn và có khả năng áp dụng vào thực tế phù hợp với chiến lược phát triển của tỉnh trong thời gian tới

[9] Nguyễn Thị Thanh Thủy (2010), “Thuế thu nhập cá nhân: Kinh

nghiệm trên thế giới và việc triển khai thực hiện tại Việt Nam”, Tạp chí Kinh

tế phát triển, số 07/2010, trang 10-13 Bài báo này nêu lên những kinh

nghiệm về công tác triển khai thuế thu nhập cá nhân ở một số nước như Nhật Bản, Đài Loan, Anh Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị cho công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Viêt Nam, bao gồm: tiếp tục công tác tuyên truyền và giải thích pháp luật cá nhân đến từng người dân - đối tượng nộp thuế; nâng cao vai trò của ủy ban nhân dân cấp xã, phường trong hoạt động quản lý thuế thu nhập cá nhân; xây dựng hệ thống thông tin về đối tượng nộp thuế; thiết kế mẫu tờ khai thuế thu nhập cá nhân thống nhất; phối hợp giữa cơ quan thuế và công an – tạo sức mạnh tổng hợp phòng chống tội phạm gian lận thuế

Trang 16

1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

Thuế TNCN đã có lịch sử hàng trăm năm và hiện nay đã trở thành loại thuế phổ biến trên thế giới Có thể nói đối với hầu hết các quốc gia Thuế TNCN được xem như là "vua" của các loại thuế Không chỉ bởi nguồn thu khổng lồ của nó trong tổng ngân sách để phục vụ cho việc vận hành bộ máy hành chính nhà nước, đảm bảo an ninh quốc gia, chính sách xã hội mà sự rađời của sắc thuế TNCN còn góp phần quan trọng trong việc điều tiết phân phối lại thu nhập trong xã hội trên cơ sở xem xét đến hoàn cảnh cụ thể của NNT

Cho đến nay trên khắp thế giới đã có khoảng 180 nước áp dụng Thuế TNCN Trong đó, quốc gia đầu tiên áp dụng Thuế TNCN là Hà Lan năm

1797, sau đó là Anh vào năm 1799, Phổ vào năm 1808 Mỹ bắt đầu áp dụng thuế TNCN vào năm 1864 Các nước Châu Âu như Úc, Niu Dilân, và NhậtBản áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên vào nửa cuốiThế kỷ

19 Tại các nước Châu Á: Thái Lan bắt đầu áp dụng năm 1939, Philippine năm1945, Hàn Quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung Quốc năm 1984; các nước Đông Âu mới áp dụng như Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992 Ở Việt Nam thuế TNCN chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009

Thời gian đầu khi mới ban hành Luật thuế TNCN, các Chính phủ ở một sốnước áp dụng luật thuế TNCN thường chọn đánh thuế vào những đối tượng

dễ đo lường được như đất đai, tài sản, hàng hóa hữu hình Tuy nhiên cho đếnnay sau nhiềulần sửa đổi, bổ sung, thay thế những chế định quan trọng

Trang 17

trong Luật thuế TNCN đã có nhiềubiếnđổi Có thể nói khác với các loại thuếkhác, thuế TNCN có diện điều chỉnh rộng với tất cả các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tư gián tiếp như mua, bán cổ phần, trái phiếu, cổ phiếu Thuế TNCN điều chỉnh không chỉ cá nhân trong nước mà cả cá nhân nước ngoài nếu làm việc có thu nhập tại nước

sở tại Các khoản thu nhập chịu thuế cũng có diện rộng bao gồmtất cả các khoản thu nhập của cá nhân Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội và mục tiêu công bằng của thuế TNCN, luật thuế cũng qui định cụ thể một số khoản thu nhập không chịu thuế, miễn thuế, giảm thuế

Ở Việt Nam, cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nền kinh tế mở, sản xuất kinh doanh trong nước và đầu tư nước ngoài đều tăng mạnh, đời sống kinh tế xã hội có những bước chuyến biến đáng kế Tuy nhiên, kèm theo đó là sự phát sinh chênh lệch về mức sống ngày càng rõ rệt, tiền lương, tiền công của người lao động giữa các đơn vị, nhất là khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có sự khác biệt ngày càng lớn Trong bối cảnh đó, hệthống chính sách thuế được cải cách bước 1 (năm 1990), bên cạnh Luật Thuế lợi tức

áp dụng đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, Quốc hội ủy quyền cho Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày 27/12/1990 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/04/1991, nhằm động viên sự đóng góp của những cá nhân có thu nhập cao Trong quátrình thực hiện đến nay Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã có năm lần sửa đổi, bổ sung vào tháng 6/1994, tháng 2/1997, tháng 7/1999, tháng 5/2001 và tháng 3/2004 Các lần sửa đổi Pháp lệnh thuế TNCN nêu trên

đã mở rộng phạm vi thu Thuế TNCN sang các khu vực hưởng lương khác tại các doanh nghiệp trong nước và một số cơ quan của nhà nước, cánhân có thu nhập cao, tăng cường công tác quản lý thu nộp thuế, nhưng chủ yếu các lần

Trang 18

sửa đổi vẫn là sửa mức khởi điểm tính thuế, thuế suất, giãn cáchthu nhập chịu thuế giữa các bậc thuế của biểuthuế Thuế TNCN nước ta cóđóng góp ngày càng tăng vào tổng số thu từ thuế cho NSNN

Ngày 21/11/2007, Quốc hội ban hành Luật Thuế TNCN và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho Thuế thu nhập vớingười có thu nhập cao trước đây Luật thuế TNCN mới quy định NNT là cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài có thu nhập chịu thuế bao gồm cả cá nhân tự kinh doanh và chủ hộ gia đình hoặc người đại diện hộ gia đình Việc chuyển

cá nhân, hộ kinh doanh hiện đang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và mở rộng thêm các đối tượng có thu nhập từđầu tư vốn và tài sản vào nộp Thuế TNCN sẽ đảm bảo công bằng trong điềutiết thu nhập của cá nhân và phù hợp với thông lệ quốc tế

Thuế TNCN của Việt Nam dần được hoàn hiện theo thời gian Từ năm

1991 đến trước năm 2009, để phù hợp hơn với tình thình thực tế, thuế TNCN

ở Việt Nam được quy định dưới hình thức Thuế thu nhập với người có thunhập cao Từ 01/01/2009, Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước phát triển quan trọng của sắc thuế này và trong 04 năm thực hiện luật thuế TNCN đã được điều chỉnh sửa đổibổ sung một sốđiều của Luật thuế TNCN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013 Theo đó, khái niệm thuế TNCN ở Việt Nam cũng dần được bổ sung đầy đủ hơn:

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập

Thuế TNCN là một loại thuế trực thu vì nó đánh trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, cá nhân khó có thể chuyển được gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác

Thu nhập cá nhân là tổng số tiền, hàng hóa, dịch vụ mà một cá nhân

Trang 19

nhận được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)

Thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế là thu nhập sau khi đã giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác

Nguyên nhân ra đời và tồn tại của Thuế TNCN:

Thứ nhất, Thuế TNCN ra đời xuất phát từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong tiêu dùng hàng hóa công cộng và phân phối thu nhập Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trường vì sự phân hóa giàu nghèo là điều khó tránh khỏi Trong hoàn cảnh đó, thuế thu nhập cá nhân sẽ là một biện pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội mà vẫn đảm bảo tính công bằng trong đóng góp của các cá nhân cho xã hội

Thuế TNCN đánh vào thu nhập của cá nhân dựa trên nguyên tắc "lợi ích",

"công bằng" và "khả năng nộp thuế" Theo nguyên tắc "lợi ích" của kinh tế học công cộng, công dân phải có nghĩa vụ nộp thuế để được hưởng những lợi ích do Nhà nước mang lại, chẳng hạn như hệ thống luật pháp, quốc phòng, an ninh, trật

tự, dịch vụ, hàng hóa công .Thuế TNCN đảm bảo nguyên tắc "công bằng" Trong đó, những người có thu nhập như nhau phải nộp thuế như nhau (công bằng theo chiều ngang), những người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp (công bằng theo chiều dọc) Bên cạnh đó, cần phải xem xét "khả năng nộp thuế" của đối tượng nộp để đảm bảo tính khả thi của chính sách thuế vì người dân không thể nộp thuế khi không đảm bảo thu nhập để duy trì cuộc sống tối thiểu Trên ý nghĩa đó, thuế TNCN là sắc thuế đảm bảo tính công bằng, hợp lý và hiệu quả trong phân phối thu nhập quốc dân

Thứ hai, do nhu cầu chi tiêu của nhà nước ngày càng tăng trong điều kiện chức năng của nhà nước ngày càng mở rộng Hơn nữa, tiến trình tự hóa thương mại khu vực và thế giới trong những thập kỷ gần đây đã làm cho nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu bị sụt giảm đáng kể Điều đó đặt ra nhu

Trang 20

cầu tăng cường các nguồn thu nội địa để bù đắp thiếu hụt ngân sách Thuế TNCN được coi là nguồn thu quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước Thứ ba, thuế thu nhập cá nhân được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ

mô, kích thích tiết kiệm và đầu tư theo hướng nâng cao năng lực hiệu quả xã hội Một trong những lý thuyết căn bản của Kenyes là Lý thuyết về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập (mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp) Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập củanhững đối tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp hơn Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm,

hỗ trợ, ưu đãi thuế thu nhập cá nhân có thể có tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của nhà nước

Thứ tư, thuế thu nhập cá nhân lũy tiến còn có tác dụng bù lại sự lũy thoái của các loại thuế tiêu dùng Tính chất lũy thoái của thuế tiêu dùng được thể hiện: người giàu và người nghèo nếu cùng mua một sản phẩm sẽ đều chịu thuế tiêu dùng như nhau Vì vậy, thuế thu nhập cá nhân được coi là sắc thuế cóvai trò rất lớn trong việc đảm bảo tính công bằng của hệ thống thuế

1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định Phân phối khoản thu nhập qua Thuế TNCN gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước

Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp

Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà NNT phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp

Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe

Thuế TNCN là thuế trực thu Do vậy, NNT cũng là người chịu thuế

Trang 21

Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu cho ngân sách của Thuế TNCN rất cao

Việc đánh Thuế TNCN thường áp dụng theo tắc thuế suất lũy tiến từng phần Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu từ Thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao

Xét về góc độ kinh tế, Thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác nhau vì việc tăng hay giảm Thuế TNCN hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế

1.1.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân

Là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch

về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội; đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho ngân sách nhà nước; giúp Nhà nước điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm

Đối với nền kinh tế

Tạo lập nguồn tài chính cho NSNN: Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, trong đó Thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước Thuế TNCN được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn, giúp đẩy mạnh khai thác tăng thu nguồn thu “nội địa” giảm vay từ bên ngoài

và xác định thu nội địa có ý nghĩa quan trọng mang tính quyết định sống còn đối với một nước đang phát triển như Việt Nam

Bên cạnh đó, Thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà

Trang 22

người dân của bất kỳ một quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần Thuế TNCN luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người

Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Thực hiện công bằng xã hội là một trong những vai trò quan trọng của thuế nói chung, ngoài ra với Thuế TNCN cùng với việc thực hiện biểu thuế lũy tiền từng phần, Thuế TNCN đã thực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội

Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm Thuế TNCN cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập

cá nhân nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm Từ đó cầu hàng hóa, dịch vụ giảm

sẽ tác động đến sản xuất

Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp: Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẻ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó phải kể đến vai trò của Thuế TNCN

Đối với hệ thống thuế

Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược điểm là có tính lũy thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hóa mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu

Trang 23

thuế như nhau

Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp: Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và Thuế TNCN Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau

Thuế TNCN còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm Thuế TNCN đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó

1.1.4 Mục tiêu của quản lý thuế thu nhập cá nhân

Công tác quản lý Thuế TNCN nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:

- Thứ nhất, tăng cường tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho NSNN trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Thuế TNCN chiếm tỷ trọng chủ yếu trong số thu NSNN ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế thu nhập nói chung và Thuế TNCN nói riêng sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho NSNN

Bên cạnh đó, Thuế TNCN tác động trực tiếp đến thu nhập của các cá nhân, có thể làm giảm nỗ lực làm việc và gây nên các phản ứng ngay lập tức

từ người chịu thuế như hành vi trốn thuế Để tăng cường và ổn định số thu NSNN trong tương lại, công tác quản lý Thuế TNCN cũng cần được chú ý để duy trì và phát triển cơ sở tạo nguồn thu thuế thu nhập của các cá nhân

- Thứ hai, góp phần tăng cường nâng cao ý thức chấp hành luật cho các

tổ chức kinh tế và dân cư

Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước thông qua công cụ luật pháp để

Trang 24

tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô Ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động này Qua công tác tổ chức thực hiện và thanh tra việc chấp hành các luật thuế nói chung và Thuế TNCN nói riêng, cùng với việc tăng cường tính pháp chế của chính sách thuế này, ý thức chấp hành chính sách thuế sẽ được nâng cao, từ đó tạo thói quen “sống và làm việc theo pháp luật”

Ở các nước phát triển, thu nhập trung bình của người dân cao nên Thuế TNCN đã trở nên vô cùng quen thuộc Do là thuế trực thu nên tác động của Thuế TNCN mang tính trực tiếp, đối tượng chịu thuế có thể cảm nhận được ngày Họ biết mình phải nộp thuế và dần trở nên quen thuộc với việc này Từ

đó, người dân sẽ nhận thức được rõ hơn về nghĩa vụ nộp thuế của mình Chính vì vậy, họ sẽ có ý thức rõ ràng hơn về tính pháp chế của chính sách thuế, từ đó nâng cao ý thức chấp hành chính sách này Còn ở các nước đang phát triển, do thu nhập dân cư còn thấp nên Thuế TNCN là vấn đề còn mới

mẻ với khá nhiều người Người dân vẫn phải nộp thuế nhưng có cảm nhận ít hơn về tác động của thuế, thậm chí không biết gì đến thuế vì chủ yếu là thuế gián thu Người dân mua hàng hóa, dịch vụ với giá cả đã có thuế trong đó Do

đó, ý thức về nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước nhìn chung là thấp hơn

- Thứ ba, phát huy tốt nhất vai trò của Thuế TNCN trong nền kinh tế Tuy nhiên việc phát huy những vai trò đó không thể tự nó đạt được mà để có kết quả thì việc thực hiện đó phải thông qua những nội dung công tác quản lý Thuế TNCN

1.2 NỘI DUNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.2.1 Công tác lập dự toán thu thuế thu nhập cá nhân

Công tác lập dự toán thu Ngân sách, trong đó có thu thuế TNCN là công việc làm thường kỳ hàng năm theo số liệu giao kiểm tra của Bộ Tài chính, Cục Thuế phải căn cứ vào dự báo tình hình phát triển kinh tế xã hội, tình hình

Trang 25

đầu tư, SXKD, cơ chế chính sách, tiến độ thu thuế TNCN trong kỳ làm kế hoạch; tác động ảnh hưởng đến nguồn thu tác động đến số thu ngân sách trên địa bàn Từ đó phân tích:

- Đánh giá dự báo số lượng người nộp thuế thu nhập cá nhân và khả năng số thuế nộp ngân sách tăng hay giảm ngay trong năm làm kế hoạch để tiên lượng tăng, giảm khoản thu

- Đánh giá nhận định, dự báo khả năng thu và đánh giá tăng, giảm, phân chia cụ thể theo khoản thu nhập, trong đó tập trung vào các khoản thu nhập: tiền lương, tiền công; hoạt động SXKD; đầu tư vốn; chuyển nhượng vốn; chuyển nhượng bất động sản; trúng thưởng theo tiến độ thu hàng tháng trong năm

- Dự kiến số thu thuế TNCN ngay trong năm lập kế hoạch từ đó xây dựng

kế hoạch thu cho năm sau đảm bảo con số giao kiểm tra

Do chính sách của thuế TNCN liên tục được thay đổi nên việc lập dự toán phải luôn bám sát các quy định tại các Thông tư hướng dẫn, sửa đổi bổ sung để loại trừ một số khoản dự kiến sẽ không thu trong tương lai do có các chính sách Quốc hội,Chính phủ đưa ra để thúc đẩy nền kinh tế, kích thích tiêu dùng

1.2.2 Công tác tổ chức thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân

Để tổ chức tốt công tác thu thuế, trước hết phải thực hiện tốt việc tổ chức

bộ máy thu thuế Cơ quan thuế các cấp thực hiện sắp xếp, bố trí công chức thuế vào các vị trí quản lý phù hợp khả năng, sở trường của cán bộ thuế và để thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân, cần phải xây dựng một đội ngũ công chức thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu trong công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân

Ở từng cấp, bộ máy cơ quan thuế có thể được tổ chức theo các mô hình sau: Mô hình tổ chức theo sắc thuế, mô hình tổ chức theo chức năng, mô hình

tổ chức theo đối tượng nộp thuế

Quản lý thuế TNCN là quản lý theo chức năng Do vậy bộ máy quản lý

Trang 26

thuế TNCN tại các tỉnh thành trên toàn quốc chính là đội ngũ cán bộ thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu trong công tác quản lý thu thuế TNCN Đội ngũ này được tổ chức một cách thống nhất, đồng bộ và có khoa học gồm các phòng:

Phòng thuế TNCN: tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện thống nhất chính sách thuế TNCN; kiểm tra giám sát việc thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các chi cục thuế; tổ chức thực hiện dự toán thu thuế TNCN theo kế hoạch cục thuế giao đối với các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập; cá nhân khai nộp thuế trực tiếp tại Cục thuế theo Quyết định số 502/QĐ-TCT ngày 29/03/2010 của Tổng cục thuế

Phòng kê khai kế toán thuế: tổ chức thực hiện công tác đăng ký thuế, xử

lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế, cấp MST

Phòng quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: tổ chức thực hiện công tác quản

lý nợ thuế, đôn đốc thu tiền thuế nợ và cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt

Công tác Xử lý tờ khai và kế toán thuế thu nhập cá nhân

Để làm tốt công tác xử lý tờ khai và kê khai thuế thì cơ quan thuế phải làm tốt công tác quản lý đối tượng nộp thuế, nhất là thuế TNCN với nhiều loại thu nhập chịu thuế khác nhau, càng đòi hỏi phải cấp mã số cá nhân để quản lý chặt chẽ đến từng đối tượng nộp thuế

Công tác xử lý tờ khai và kế toán thuế phải đảm bảo tiếp nhận kịp thời

và xử lý các sai sót về kê khai thuế, về hạch toán số thu từ đó xác định số phải nộp, đã nộp số còn nợ thuế của cá nhân để phục vụ công tác đôn đốc thu cũng như công tác cưỡng chế nợ thuế

1.2.3 Công tác chỉ đạo điều hành quản lý thuế thu nhập cá nhân

Việc chỉ đạo, điều hành trong quản lý thuế TNCN được thể hiện ở việc thành lập các ban chỉ đạo, tổ giúp việc từ Trung ương đến địa phương Để triển khai tốt luật thuế TNCN nhất thiết phải có các chỉ thị, quyết định, nghị

Trang 27

quyết, chương trình hành động cụ thể…để làm cơ sở cho cấp trên rà soát, đánh giá tình hình thu

Để luật thuế đi vào lòng người, dễ hiểu và chấp hành đúng thì việc tuyên truyền, giải đáp thắc mắc trong quá trình triển khai của các đơn vị và áp dụng thực hiện của người nộp thuế có vai trò hết sức quan trọng

Ngoài ra sự phối hợp của các cơ quan đơn vị có liên quan trong việc triển khai luật thuế TNCN cũng là yếu tố quyết định sự thành bại của luật thuế

1.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý thuế thu nhập cá nhân

Đây là một nội dung quan trọng của công tác quản lý thu thuế TNCN Thanh, kiểm tra thuế TNCN được thực hiện bởi bộ phận cán bộ thuế chuyên ngành Đối tượng thanh, kiểm tra thuế là các tổ chức kinh tế và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế TNCN cho Nhà nước và bao gồm cả các đơn vị thuộc ngành thuế Mục tiêu thanh, kiểm tra thuế TNCN là phát hiện và xử lý các trường hợp sai phạm nhằm giảm bớt những tổn thất cho Nhà nước và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Đồng thời cũng qua quá trình thanh, kiểm tra, cơ quan thuế có thể phát hiện những thiếu sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và quá trình tổ chức thực hiện, từ đó tìm ra những hướng giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN Thanh, kiểm tra thuế TNCN được thực hiện dưới các hình thức và phương pháp khác nhau

Các hình thức thanh, kiểm tra xét theo thời gian tiến hành thanh tra:

+ Hình thức thanh, kiểm tra thường xuyên được thực hiện mang tính định kỳ, không phụ thuộc vào việc có xảy ra vụ việc hay không trong các ĐTNT và các cơ quan quản lý thuế

+ Thanh, kiểm tra đột xuất là hình thức thanh, kiểm tra mang tính bất thường và đối tượng thanh tra không được biết trước Hình thức này được tiến hành khi có những vụ việc xảy ra từ phía đối tượng nộp thuế hoặc trong các

cơ quan thuế để có biện pháp xử lý

Trang 28

Các hình thức thanh, kiểm tra xét theo phạm vi và nội dung:

+ Thanh, kiểm tra toàn diện: Được tiến hành với tất cả các nội dung thanh, kiểm tra thuế, hoặc với tất cả đối tượng thanh, kiểm tra Hình thức này thường được áp dụng để phục vụ cho những nghiên cứu cải tiến lớn về hệ thống thuế + Thanh, kiểm tra có trọng điểm: Được tiến hành chỉ với một số nội dung, một số đối tượng Người ta thường chọn ra các đối tượng điển hình và

tổ chức thanh tra, kiểm tra từ đó rút ra các kết luận chung cho toàn hệ thống Trên thực tế, người ta cũng có thể kết hợp cả hai hình thức này trong trường hợp cần thiết

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.3.1 Các nhân tố từ cơ chế chính sách

Luật Thuế TNCN là một sắc thuế được đưa vào thực hiện từ năm 2009 Qua hơn 4 năm thực hiện có rất nhiều Thông tư hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện thực tế Chính điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý thu thuế TNCN

Theo thống kê trong 4 năm triển khai thực hiện, Bộ Tài chính đã ban hành hơn 20 Thông tư điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn riêng cho từng lĩnh vực chuyên ngành; 1 lần Quốc hội điều chỉnh bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN áp dụng hiệu lực từ ngày 01/07/2013 và đến ngày 15/08/2013, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 111/2013/TT-BTC để hướng dẫn thi hành Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/06/2013 của Chính phủ về thực hiện luật Thuế TNCN và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN Gần đây nhất, vào 01/10/2014, Chính phủ đã Ban hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP để sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế

Cơ quan quản lý thuế TNCN theo hệ thống ngành dọc và chính sách thuế

Trang 29

TNCN còn quá mới đối với Việt Nam chúng ta nên những vướng mắc nghiệp

vụ phát sinh chưa kịp thời gian xử lý còn chậm trễ, có lúc bế tắc

1.3.2 Các nhân tố từ cơ quan Thuế

Công tác tổ chức bộ máy thu thuế TNCN

Để thực hiện đúng quy định của Luật thuế thì buộc bộ máy thu thuế phải được tổ chức khoa học và chất lượng Sự phối kết hợp giữa các nhân viên trực tiếp thực hiện quy trình và giữa các phòng ban, cơ quan có liên quan là yếu tố quyết định hàng đầu trong việc triển khai Luật thuế có hiệu quả Bộ máy tổ chức tốt bao hàm công tác tuyên truyền triển khai, thực hiện, kiểm tra giám sát việc thực hiện Luật thuế nếu được đầu tư và chú trọng thì sẽ đảm bảo việc thu đúng, thu đủ

Cơ sở vật chất của ngành thuế

Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý Thuế TNCN Những quy định trong chính sách về diện thu thuế (rộng hay hẹp), phương thức kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành thuế Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế Cũng như vậy, một hệ thống thu thuế được kết nối bằng mạng nội

bộ sẽ là một nhân tố rất hữu ích cho cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác, kịp thời và tiết kiệm chi phí Việc xây dựng mạng thông tin nội bộ để quản lý cơ sở dữ liệu sẽ đòi hỏi những chi phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về dài hạn thì điều này sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với việc quản lý dữ liệu theo kiểu thủ công

Bên cạnh đó ứng dụng công nghệ thông tin đã hỗ trợ rất nhiều cho công tác quản lý thuế bởi: đối tượng quản lý nhiều, phạm vi rộng, nhiều khoản thu nhập cần được kiểm soát trên phạm vi toàn quốc Qua 4 năm ứng dụng công nghệ thông tin đã giúp cho cơ quan thuế: Ứng dụng hỗ trợ trong quyết toán Thuế TNCN hàng năm (2009-2011) trên Website https://tncnonline.com; Ứng

Trang 30

dụng việc kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, quản lý nợ thuế qua mạng trên hệ thống QLT Từ năm 2012 ứng dụng trong việc kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, quản lý nợ thuế qua mạng trên hệ thống quản lý thuế TNCN

Trình độ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo cán bộ thuế

Trình độ đội ngũ cán bộ thuế đóng vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế, đặc biệt là thuế TNCN Nhân tố này tác động vào tất cả các nội dung của công tác quản lý Thuế TNCN: từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách, công tác thanh tra, kiểm tra thuế, tổ chức bộ máy quản lý thuế

Để có thể ban hành những chính sách thuế đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của những thay đổi kinh tế xã hội và đảm bảo được những mục tiêu của công tác quản lý Thuế TNCN thì đội ngũ cán bộ thuế cấp cao ở tầm hoạch định chính sách cần phải có trình độ cao về vấn đề thực tế cũng như cơ bản liên quan đến thuế

1.3.3 Các nhân tố từ phía người nộp thuế

Tình hình kinh tế và mức sống của người dân

Hiệu quả của công tác quản lý thu Thuế TNCN phụ thuộc không nhỏ vào mức độ phát triển kinh tế và đời sống của dân cư Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu vực, số đối tượng nộp thuế thu nhập nhiều sẽ giảm bớt chi phí trên một đồng thuế thu được, ngược lại có ít đối tượng nộp thuế và số thuế thu được ít thì chi phí cho một đồng thuế thu được sẽ cao Sự phát triển kinh tế sẽ đồng hành với sự phát triển của cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý thuế nói riêng, khi cơ sở hạ tầng tốt thì khả năng quản lý thuế cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả hơn

Ý thức chấp hành pháp luât thuế của đối tượng nộp thuế

Ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng tỷ lệ thuận với ý thức và trách nhiệm nộp thuế Khi người dân có ý thức chấp hành luật thuế tốt, họ sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế Hành vi trốn thuế sẽ ít xảy ra

Trang 31

Chính vì vậy, công tác quản lý thu thuế và thanh tra thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi

và đạt kết quả tốt hơn Tóm lại ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế cũng ảnh hưởng một phần tới công tác quản lý Thuế TNCN

Bên cạnh đó tính nghiêm minh của pháp luật cũng ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức của người quản lý cũng như người nộp thuế Cơ quan luật pháp làm việc có hiệu quả, luật pháp được thực hiện nghiêm minh sẽ đảm bảo việc

vi phạm pháp luật giảm đi Các đối tượng nộp thuế cũng như cơ quan thu thuế cũng sẽ thực hiện nghiêm túc hơn các quy định trong luật thuế bởi họ biết rằng khi vi phạm họ sẽ không tránh khỏi những hình phạt nếu bị phát hiện Như vậy, công tác quản lý Thuế TNCN sẽ đạt được hiệu quả

Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư

Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư ảnh hưởng lớn tới khâu quản lý thu thuế và thanh tra, kiểm tra thuế Quản lý Thuế TNCN khó khăn và phức tạp chủ yếu ở khâu quản lý thu nhập của các đối tượng Nếu như các khoản thu nhập được thanh toán qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tài khoản séc cá nhân thì sẽ rất thuận tiện cho cơ quan thuế trong việc giám sát Bên cạnh đó, nếu phương thức thanh toán trong dân cư chủ yếu thông qua ngân hàng thì Nhà nước có thể áp dụng phương pháp thu Thuế TNCN thông qua hệ thống ngân hàng Điều này vừa giúp giảm bớt công việc và chi phí cho cơ quan thuế, vừa kiểm soát chặt chẽ hơn thu nhập của đối tượng nộp thuế Chính vì vậy, sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với việc phát triển hình thức thanh toán qua tài khoản sẽ là một điều kiện tất yếu để có thể thực hiện tốt công tác quản lý Thuế TNCN

1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THUẾ TNCN TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM PHÙ HỢP VỚI VIỆT NAM

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý thuế thu nhập cá nhân trên thế giới

Thuế TNCN là loại thuế phổ biến trên thế giới và có lịch sử hàng trăm

Trang 32

năm nay Đến nay đã có hơn 180 nước áp dụng Thuế TNCN Trong đó, quốc gia đầu tiên áp dụng thuế thu nhập cá nhân là Hà Lan năm 1797, sau đó

là Anh vào năm 1799, Phổ vào năm 1808 Mỹ bắt đầu áp dụng thuế TNCN vào năm trong thời kỳ nội chiến nhưng bị gián đoạn vào năm 1872 Các nước Châu Âu khác, cũng như Úc, Newzealand và Nhật Bản áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên vào nửa cuối Thế kỷ 19 Các nước Châu Á áp dụng muộn hơn: Thái Lan bắt đầu áp dụng năm 1939, Philippines năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung Quốc năm 1984; Các nước Đông Âu sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường mới áp dụng lại như Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992

Thời kỳ mới ban hành, các Chính phủ thường đánh thuế vào đối tượng

dễ đo lường được như đánh trên đất đai, tài sản, hàng hoá hữu hình, các hàng hoá và tàu biển, hoặc số lượng cửa sổ hoặc lò sưởi trong một toà nhà Tuy nhiên cho đến nay sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay thế, những chế định quan trọng trong Luật thuế TNCN đã có nhiều biến đổi

Thuế TNCN có diện điều chỉnh tất cả các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tư gián tiếp như mua, bán

cổ phần, trái phiếu, cổ phiếu Thuế TNCN điều chỉnh không chỉ cá nhân trong nước mà cả cá nhân người nước ngoài nếu đến nước sở tại làm việc

và có thu nhập Các khoản thu nhập chịu thuế cũng có diện rộng bao gồm tất cả các khoản thu nhập của cá nhân Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội và mục tiêu công bằng, luật thuế TNCN của nhiều nước quy định cụ thể một số khoản thu nhập không chịu thuế, miễn thuế Cụ thể kinh nghiệm quản lý Thuế TNCN của một số nước như sau:

 Về chính sách Thuế Thu nhập cá nhân

- Xây dựng mô hình đánh Thuế TNCN

Về lý thuyết, có ba mô hình đánh Thuế TNCN chủ yếu: đánh trên từng

Trang 33

loại thu nhập, đánh trên tổng thu nhập và đánh thuế hỗn hợp Trong thực tế, đại đa số các nước đều lựa chọn mô hình đánh Thuế TNCN hỗn hợp nhưng có

sự vận dụng cho phù hợp với điều kiện từng nước Điều đó có nghĩa là, trong

hệ thống thuế, ngoài các loại thu nhập được đánh theo cơ chế chung còn một

số loại thu nhập do bản chất được chọn đánh thuế theo cơ chế riêng Một số nước tuy vẫn chọn mô hình đánh thuế trên tổng thu nhập nhưng cách xác định thu nhập ròng chịu thuế của từng loại thu nhập lại áp dụng theo quy tắc riêng

- Xác định đối tượng nộp Thuế TNCN

Hiện nay, Thuế TNCN của hầu hết các nước trên thế giới chủ yếu dựa trên hai nguyên tắc đánh thuế, đó là: nguyên tắc đánh thuế theo cư trú (sau đây gọi tắt là nguyên tắc cư trú) và nguyên tắc đánh thuế theo nguồn phát sinh thu nhập (sau đây gọi tắt là nguyên tắc nguồn)

Theo nguyên tắc cư trú, một cá nhân được coi là đối tượng cư trú tại một nước sẽ phải chịu Thuế TNCN đối với toàn bộ thu nhập nhận được, không phân biệt nguồn thu nhập phát sinh là ở trong nước hay nước ngoài Còn một

cá nhân được coi là đối tượng không cư trú chỉ phải chịu nghĩa vụ thuế đối với phần thu nhập có nguồn gốc tại nước đó Nguyên tắc đánh thuế theo tiêu thức cư trú được hầu hết các nước áp dụng để đánh thuế đối với các đối tượng được coi là cư trú tại nước đó Đa số các nước quy định, đối tượng cư trú là những người có thời gian sinh sống ở nước sở tại trên 182 hoặc trên 183 ngày trong năm tính thuế (có thể là năm dương lịch hoặc năm tài chính) hoặc trong khoảng 12 tháng liên tục Nếu không thỏa mãn điều kiện trên thì được coi là đối tượng không cư trú Các nước áp dụng nguyên tắc này là Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Nga, Thụy Điển Ví dụ cụ thể của một

số nước quy định về đối tượng nộp thuế TNCN theo nguyên tắc cư trú như:

Nhật Bản: Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là những cá nhân cư trú

và không cư trú tại Nhật Bản Trong đó, cá nhân cư trú tại Nhật Bản là những

Trang 34

người đã sống từ lâu hay đã và đang định cư tại Nhật trong một thời gian dài liên tục từ một năm trở lên Cá nhân không cư trú tại Nhật Bản là người có thời gian cư trú tại Nhật dưới một năm

Philippin: Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân tại Philippin bao gồm

cả các cá nhân cư trú và không cư trú Trong đó công dân cư trú là đối tượng chịu thuế thu nhập trên thu nhập toàn cầu (bao gồm cả thu nhập có nguồn gốc tại Philippin và thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài) Công dân không cư trú, người nước ngoài cư trú hoặc người nước ngoài không cư trú là đối tượng chịu thuế đối với phần thu nhập phát sinh tại Philippin

Trung Quốc: đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là các cá nhân có chỗ ở

hoặc không có chỗ ở trong nước Trung Quốc, mà cư trú tại Trung Quốc đủ 1 năm, thì phải nộp thuế đối với toàn bộ thu nhập của người đó nhận được từ trong

và ngoài nước Trung Quốc Cá nhân không có chỗ ở tại Trung Quốc mà cư trú dưới 1 năm, thì phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh từ Trung Quốc

Mỹ: Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là những cá nhân cư trú và

không cư trú Người nước ngoài được coi là cư trú tại Mỹ nếu họ cư trú thường xuyên hợp pháp tại Mỹ (được cấp thẻ xanh) hoặc nếu họ có mặt ở Mỹ trong một khoảng thời gian dài đủ để được cấp một thẻ lưu trú

Nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập được hầu hết các nước áp dụng để đánh thuế đối với các khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của các đối tượng không cư trú Cách đánh thuế này cũng phù hợp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc, đầu tư và công dân nước đó ít ra nước ngoài làm việc hoặc đầu tư Chẳng hạn Hồng Kông quy định mọi cá nhân, không phân biệt cư trú hay không cư trú, chỉ phải nộp thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập phát sinh tại Hồng Kông

- Xác định thu nhập chịu Thuế TNCN

Hiện có hai cách xác định thu nhập chịu thuế khác nhau trong lĩnh vực

Trang 35

này: đó là thu nhập đã nhận (thu nhập gộp) hay thu nhập đã nhận được trừ một số khoản chi phí để tạo ra thu nhập

Đối với các nước có quan điểm đánh thuế trên số thu nhập đã nhận thì thu nhập tính thuế được xác định là toàn bộ số tiền mà NNT đã nhận, không phân biệt đã phải bỏ ra ít hay nhiều chi phí để tạo ra thu nhập tính thuế Cách tính thuế này đơn giản nhưng thường không đảm bảo được sự công bằng trong chính sách động viên đối với từng cá nhân, từng gia đình Đây là cách xác định thu nhập chịu thuế mà chúng ta đã áp dụng trong Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

Hầu hết các nước hiện nay (như: Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, ) đều xác định thu nhập chịu thuế là tổng thu nhập trừ đi tổng các khoản được giảm trừ của đối tượng đó trong kỳ tính thuế Tổng thu nhập của một đối tượng trong kỳ tính thuế là tổng thu nhập chịu thuế mà đối tượng đó kiếm được trong kỳ tính thuế không bao gồm các khoản được miễn thuế Tổng các khoản được giảm trừ là tổng chi phí phát sinh trong kỳ tính thuế và các khoản được phép trừ khác theo quy định như giảm trừ gia cảnh cho đối tượng nộp thuế

Về cơ bản, đa số các nước đều xác định thu nhập chịu thuế và phân loại chúng dựa theo nguồn hình thành và thường bao gồm các loại chủ yếu sau: + Thu nhập từ công việc lao động;

+ Thu nhập từ sản xuất kinh doanh;

+ Thu nhập từ tài sản như thu nhập từ cho thuê tài sản, chuyển nhượng tài sản, thừa kế, quà tặng, quà biếu;

+ Thu nhập từ đầu tư gián tiếp như thu nhập từ tiền lãi, cổ tức, thu nhập được chia từ các hoạt động góp vốn;

+ Thu nhập khác

Riêng cơ quan thuế Nhật Bản quy định thu nhập từ tiền hưu trí cũng được coi là một khoản thu nhập chịu Thuế TNCN

Trang 36

- Xác định thu nhập không chịu Thuế TNCN

Qua nghiên cứu Luật Thuế TNCN của các nước trên thế giới nói chung như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia có thể thấy, hầu hết các nước phân biệt thu nhập không chịu thuế dựa vào các tiêu thức chủ yếu sau:

+ Thứ nhất, không chịu thuế vì lý do xã hội như: các khoản phúc lợi xã

hội, học bổng, tiền bồi thường

+ Thứ hai, không chịu thuế theo quy định của các Hiệp định, hiệp ước,

thoả thuận quốc tế đã ký kết giữa các nước

+Thứ ba, không chịu thuế có thể vì lý do chính trị hoặc lý do quản lý

như: các khoản thu nhập bất thường,

+ Thứ tư, miễn thuế vì lý do muốn khuyến khích một hoạt động cụ thể

nào đó như: thu nhập từ quỹ lương hưu nhằm khuyến khích đóng góp lương hưu, hoặc thu nhập từ cổ phiếu trái phiếu không chịu thuế nhằm khuyến khích các hoạt động đầu tư gián tiếp

- Xác định khoản miễn, giảm Thuế TNCN

Quy định về miễn, giảm thuế có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau nhằm đạt được hiệu quả tối ưu của Luật thuế, nhất là yếu tố chính trị luôn được các nhà lập pháp và hoạch định chính sách cân nhắc kỹ lưỡng Trên thế giới hiện nay có các phương pháp miễn, giảm chủ yếu sau:

Phương án 1: Trong luật thuế có quy định rõ những trường hợp miễn,

giảm thuế cụ thể bằng mức tiền hoặc khung tỷ lệ phần trăm (%) trên số thuế phải nộp, thí dụ: NNT gặp rủi ro bất khả kháng do thiên tai, hoàn cảnh đặc biệt, Ưu điểm của phương án này là sự rõ ràng, minh bạch, NNT thấy được ngay kết quả cụ thể của chính sách Vì vậy trên thế giới có rất nhiều nước áp dụng, nhất là các nước phát triển

Phương án 2: Quy định miễn giảm thuế dưới hình thức tạm thời chưa

thu thuế đối với một số khoản thu nhập Ưu điểm là thu hút nhiều hơn được

Trang 37

sự quan tâm của xã hội mà vẫn đạt được mục tiêu lâu dài của chính sách đồng thời mang ý nghĩa chính trị lớn

Phương án 3: Dựa trên cơ sở kết hợp ưu điểm của 2 phương pháp trên

Theo đó vừa quy định miễn giảm thuế cho một số loại thu nhập vừa cho phép miễn giảm một số tiền thuế nhất định đối với một số đối tượng trong những hoàn cảnh nhất định

- Xác định khoản giảm trừ gia cảnh

Luật Thuế TNCN của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định các khoản giảm trừ gia cảnh cho đối tượng nộp thuế Đây chính là biểu hiện rõ nét nhất của tính công bằng theo chiều ngang trong điều tiết thu nhập Tuy có cùng một mức thu nhập như nhau nhưng người có hoàn cảnh khó khăn hơn (ví dụ có nhiều người phải nuôi dưỡng, bị tàn tật ) sẽ gặp khó khăn nhiều hơn khi phải nộp cùng một mức thuế với những người có điều kiện thuận lợi Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy các khoản được giảm trừ có thể thực hiện theo 2 loại: giảm trừ cá nhân và giảm trừ tiêu chuẩn

Giảm trừ cá nhân được thực hiện theo phương pháp kê khai chi phí thực

tế phát sinh đối với các khoản được phép giảm trừ Các khoản chi phí được giảm trừ này được cá nhân kê khai và phải có chứng từ chứng minh Hình thức này đảm bảo công bằng hơn nhưng phức tạp và tốn kém chi phí hành thu, cho nên thường chỉ được áp dụng ở những nước có trình độ kinh tế phát triển, trình độ dân trí cao và hệ thống lưu giữ thông tin tốt Có nước quy định các chế độ miễn trừ cho bản thân NNT (vợ hoặc chồng, bố mẹ hoặc con cái phải nuôi dưỡng) như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, nhưng có nước lại áp dụng biểu tính thuế từ đồng thu nhập đầu tiên để NNT thấy rõ nghĩa vụ và trách nhiệm công dân của mình (Pháp, Mỹ, Anh )

Để đơn giản hoá chính sách và giảm nhẹ công tác quản lý, các nước

Trang 38

chậm phát triển thường áp dụng hình thức giảm trừ tiêu chuẩn vì không có đủ

tiêu chuẩn để áp dụng hình thức giảm trừ cá nhân Theo đó, mức khởi điểm chịu thuế là mức thu nhập trung bình xã hội đảm bảo trang trải đủ những chi phí cần thiết về kinh tế và xã hội theo quan điểm và tập quán của mỗi nước

- Xác định thuế suất và biểu thuế

Mức thuế suất cao hay thấp, được thiết kế theo một mức cố định hay theo biểu luỹ tiến thể hiện chính sách động viên phù hợp với khả năng đóng góp và trình độ quản lý của mỗi nước Hầu hết các nước đều chia ra làm hai loại thuế suất: thuế suất toàn phần và thuế suất luỹ tiến Trong đó thuế suất toàn phần thường áp dụng cho loại thu nhập từ vốn, thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ bản quyền Thuế suất luỹ tiến chủ yếu áp dụng cho thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công

Để đảm bảo nguyên tắc công bằng thì cần phải xây dựng được biểu thuế

và các mức thuế suất cụ thể trên cơ sở đạt sự cân bằng tối ưu giữa các mục tiêu được đặt ra Biểu thuế cần rút gọn các mức thuế suất, giảm bớt mức luỹ tiến thông qua việc mở rộng biên độ chịu thuế giữa các bậc Từ kinh nghiệm thực tiễn và xu hướng cải cách Thuế TNCN trên thế giới, biểu thuế nên thiết

kế khoảng 5 -7 bậc với các mức thuế suất từ 5% đến 45% là hợp lý Một biểu thuế với ít bậc thuế và khoảng cách giữa các bậc thuế xa sẽ đảm bảo đơn giản cho việc quản lý, mang lại hiệu quả nhiều hơn cho công tác quản lý thuế Trái lại lựa chọn phương án nhiều bậc thuế suất và giữ khoảng cách hợp lý giữa các bậc thu nhập cho phép thực hiện được yêu cầu công bằng hơn

Ví dụ: Ở Nhật Bản, biểu thuế suất luỹ tiến áp dụng đối với thu nhập từ các khoản tiền công và tiền lương bao gồm 4 mức thuế suất: 10%, 20%, 30%

và 37% Biểu thuế áp dụng đối với thu nhập hoạt động kinh doanh của các cơ

sở tự kinh doanh và thu nhập từ quản lý theo hợp đồng hoặc cho thuê đối với các doanh nghiệp hoặc tổ chức gồm 5%, 10%, và 13% Nhật Bản thực hiện

Trang 39

thuế suất tỷ lệ cố định 20% được áp dụng đối với thu nhập từ tiền thù lao tác giả (trừ chi phí 30% thu nhập chịu thuế)

Theo tổng hợp kinh nghiệm quốc tế cho thấy có hai cách tiếp cận đối với việc quản lý Thuế TNCN: kê khai toàn bộ và kê khai hạn chế Cụ thể:

- Kê khai toàn bộ

Tất cả cá nhân có thu nhập gộp vượt quá một mức tối thiểu nhất định (gọi là Ngưỡng kê khai) có nghĩa vụ phải nộp tờ khai thuế, nguyên tắc này cũng áp dụng cho cả các cá nhân có thu nhập từ nguồn duy nhất là tiền lương

do một chủ lao động trả Các nước yêu cầu kê khai toàn bộ bao gồm Úc, Canađa, Singapore và Mỹ

Việc thu nộp thuế áp dụng đối với phương thức kê khai toàn bộ là khấu trừ thuế tại nguồn, theo đó một số loại thu nhập được người/tổ chức chi trả thu nhập khấu trừ thuế trước khi chi trả cho NNT, bên cạnh đó NNT có thể yêu cầu thanh toán thuế định kỳ cho các loại thu nhập khác không được khấu trừ Vào cuối năm, NNT nộp tờ khai thuế tổng hợp bao gồm kê khai toàn bộ các hình thức TNCN khác nhau thu được trong năm (tiền công, thu nhập đầu

tư, thu nhập kinh doanh ) và trừ đi các khoản được giảm trừ (như giảm trừ cá nhân, các khoản chi phí được trừ ) Thu nhập ròng từ tất cả các nguồn thu sau đó bị đánh thuế theo biểu thuế suất đơn giản (thường với thuế suất luỹ tiến), sau khi được bù trừ với khoản thuế nộp thừa hay nộp thiếu đã khai trong

tờ khai thuế sẽ tính toán ra nghĩa vụ thuế còn lại trong năm

Với hình thức này, các tổ chức chi trả có trách nhiệm báo cáo định kỳ cho cơ quan thuế các thông tin về giao dịch của mình với NNT Vào cuối năm, cơ quan thuế sẽ kiểm tra các thông tin bên thứ ba với thông tin do NNT báo cáo trên tờ khai thuế Hệ thống kiểm tra này gắn chặt với mã số thuế đã cấp cho NNT và các tổ chức khác

Để hạn chế gánh nặng của phương thức kê khai toàn bộ đối với NNT và

Trang 40

đại lý thuế, nhiều nước đã sử dụng rộng rãi hệ thống kê khai thuế điện tử đối với với tờ khai thuế và báo cáo về khấu trừ tại nguồn Tại một số nước, theo quy định của luật, một số tổ chức (ví dụ như các chủ lao động lớn, các tổ chức tài chính) phải nộp các báo cáo khấu trừ (và chuyển số tiền khấu trừ của mình) dưới dạng điện tử Nhằm giảm bớt chi phí tuân thủ, một số đại lý thuế (như Chi Lê, Đan Mạch, và Thụy Điển) đã kết hợp các thông tin nhận được từ bên thứ ba (đại lý khấu trừ và các tổ chức báo cáo thông tin) với các thông tin khác do cơ quan thuế nắm giữ để lập tờ khai nhằm hỗ trợ cho NNT trước khi điền vào tờ khai (các thông tin được hỗ trợ điền vào tờ khai của NNT là các thông tin đã biết về thu nhập, các khoản chi phí được trừ, các khoản miễn thu ) và việc tính ban đầu số thuế cần phải nộp cho mỗi NNT

- Kê khai hạn chế

Theo phương thức kê khai hạn chế, nhiều cá nhân không phải nộp tờ khai thuế, nhưng thay vào đó bị đánh thuế qua việc khấu trừ tại nguồn thông qua hệ thống khấu trừ tiền lương nhằm làm giảm yêu cầu kê khai đối với các

cá nhân có những nguồn thu nhập khác Các nước như Đức, Nhật Bản, Hà Lan, Newzealand, Anh đã tiếp cận theo cách này

Đối với các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công do một chủ lao động duy nhất chi trả (thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số lượng NNT TNCN tại nhiều nước) thì chủ lao động sẽ khấu trừ trên cơ sở ước tính được sát nhất nghĩa vụ thuế hàng năm của người làm công phải thực hiện, do đó người lao động không phải nộp tờ khai thuế Các khoản miễn thu cá nhân và giảm trừ cho người phụ thuộc được quy định trong luật thuế (đôi khi, áp dụng hình thức khoảng 0% đối với những mức thu nhập thấp), hoặc ở mức độ có thể, được tính trực tiếp vào hệ thống khấu trừ lương

Trường hợp không thể khấu trừ tại nguồn, cơ quan thuế có thể ban hành quy định chỉ phải kê khai đối với những khoản thu nhập vượt quá ngưỡng tối

Ngày đăng: 06/07/2015, 09:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Giáo dục (2005), Giáo trình thuế và hệ thống thuế ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thuế và hệ thống thuế ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
[5] Dương Thị Nguyên (2011), Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Dương Thị Nguyên
Năm: 2011
[6] Đỗ Thị Hồng Phương (2012 Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
[7] Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật Quản lý Thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quản lý Thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
[8] Nguyễn Thị Thanh Thủy (2010), “Thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm trên thế giới và việc triển khai thực hiện tại Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế phát triển, số 07/2010, trang 10-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm trên thế giới và việc triển khai thực hiện tại Việt Nam”, "Tạp chí Kinh tế phát triển
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thủy
Năm: 2010
[9] Trần Công Thành (2013), Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
Tác giả: Trần Công Thành
Năm: 2013
[3] Cổng Thông tin điện tử Tổng cục Thuế, http://gdt.gov.vn [4] http://www.TNCN Online.com.vn Link
[2] Chi cục thuế thị xã Buôn Hồ (2011), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước năm 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm 2012 Khác
[3] Chi cục thuế thị xã Buôn Hồ(2012), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước năm 2012 và phương hướng nhiệm vụ năm 2013 Khác
[4] Chi cục thuế thị xã Buôn Hồ(2013), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014 Khác
[10] Tổng cục thuế (2010), Quyết định số 503 và 504/QĐ –TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục thuế về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế và chức năng, nhiệm vụ của các Đội thuế thuộc Chi cục Thuế.Website Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tên bảng  Trang - Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, Tỉnh Đăk Lăk (full)
ng Tên bảng Trang (Trang 8)
Hình 2.1:Sơ đồ cơ cấu tổ chức Chi cục Thuế Buôn Hồ - Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, Tỉnh Đăk Lăk (full)
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Chi cục Thuế Buôn Hồ (Trang 47)
Bảng 2.1. Kết quả thu NSNN của Chi cục thuế Buôn Hồ giai đoạn 2011-2013 - Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, Tỉnh Đăk Lăk (full)
Bảng 2.1. Kết quả thu NSNN của Chi cục thuế Buôn Hồ giai đoạn 2011-2013 (Trang 49)
Bảng 2.2: Tình hình thực hiện thu thuế TNCN so với dự toán tại Chi cục - Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, Tỉnh Đăk Lăk (full)
Bảng 2.2 Tình hình thực hiện thu thuế TNCN so với dự toán tại Chi cục (Trang 53)
Bảng 2.3 Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế theo chức năng của - Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, Tỉnh Đăk Lăk (full)
Bảng 2.3 Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế theo chức năng của (Trang 55)
Bảng 2.5 Tình hình quản lý công tác hoàn thuế TNCN tại chi cục thuế Buôn - Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, Tỉnh Đăk Lăk (full)
Bảng 2.5 Tình hình quản lý công tác hoàn thuế TNCN tại chi cục thuế Buôn (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm