1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên

133 642 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tìm hiểu kỹ hơn về những mặt đã đạt được, những tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân của tồn tại hạn chế, qua đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho sự

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ TRÚC MAI

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Trúc Mai

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể

Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa Kế toán

và Quản trị kinh doanh, Bộ môn Kế toán Quản trị– Kiểm toán Học viện nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Bùi Bằng Đoàn đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các cơ quan, ban ngành của huyện Mỹ Hào đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Trúc Mai

Trang 4

2.1 Một số vấn đề về Ngân sách nhà nước và chi Ngân sách nhà nước 4

2.2.1 Một số vấn đề chung về quản lý chi NSNNN cho sự nghiệp GD-ĐT 17

2.2.4 Nguyên tắc và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách cho sự

2.2.1 Kinh nghiệm quản lý chi NS cho GD-ĐT ở một số nước trên thế giới 35 2.2.2 Kinh nghiệm quản lý chi NSNNcho GD-ĐT ở một số địa phương tại

Trang 5

2.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 40

4.2 Thực trạng quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT huyện Mỹ Hào 64 4.2.1 Mô hình và tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT

4.3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý chi NSNN cho sự

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Mỹ Hào trong giai đoạn 2011 -

3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Mỹ Hào giai đoạn 2011 - 2013 47

3.3 Quy mô phát triển các ngành học sự nghiệp giáo dục huyện Mỹ Hào 51

4.2 Cơ sở vật chất tại các trường học huyện Mỹ Hào quản lý tính tới thời

4.3 Đánh giá của phụ huynh học sinh về chất lượng cơ sở vật chất các

4.4 Kết quả thực hiện chi NSNN huyện Mỹ Hào giai đoạn 2011-2013 63 4.5 Số lượng cán bộ quản lý tài chính các cơ sở GD trên địa bàn huyện

4.6 Phân bổ định mức chi cho các cơ sở Đào tạo tỉnh Hưng Yên năm

4.7 Tổng hợp ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý huyện Mỹ Hào về định

4.9 Dự toán chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT phân bổ chi cho con người

4.10 Dự toán chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT huyện Mỹ Hào phân bổ

4.11 Tổng hợp ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về công tác lập dự toán

Trang 8

4.12 Kết quả thực hiện chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT huyện Mỹ Hào

4.13 Tổng hợp chi tết kết quả thực hiện chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT

4.14 Quá trình thực hiện chi ngân sách được phân bổ tại các trường học

4.15 Đánh giá của phụ huynh học sinh về quản lý sử dụng ngân sách tại

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 4.2 Tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT huyện

Sơ đồ 4.3 Mô hình cấp phát vốn NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT huyện Mỹ Hào 67

Biểu đồ 4.1 Tỷ trọng dự toán chi NSNN cho GD-ĐT trong cơ cấu chi NSNN

Biểu đồ 4.2 Tỷ trọng chi con người và chi cho công việc trong tổng chi cho

Biểu đồ 4.3 Tỷ trọng chi cho các ngành học Mầm non, tiều học và THCS

trong tổng chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT huyện Mỹ Hào 75 Biểu đồ 4.4 Cơ cấu cán bộ làm quản lý tài chính ở các cơ sở GD-ĐT huyện

Trang 10

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong mọi chế độ xã hội, giáo dục và đào tạo luôn là hoạt động quan trọng của con người đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Bỡi lẽ giáo dục là nền tảng văn hóa, là cơ sở hình thành nhân cách và nâng cao năng lực chinh phục thế giới

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự nghiệp GD& ĐT, luôn có những chính sách ưu tiên, đầu tư cho phát triển sự nghiệp GD&ĐT Nghị quyết đại hội Đảng khóa IX nêu rõ “Giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu” Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân đòi hỏi các cấp, các ngành, các đoàn thể, các tổ chức xã hội, mỗi cá nhân phải có trách nhiệm, tạo điều kiện giúp đỡ cho sự nghiệp giáo dục phát triển

Giáo dục, đào tạo là hoạt động trực tiếp tác động nâng cao trí tuệ, hiểu biết

và khả năng vận dụng những tri thức khoa học, kỹ thuật vào sản xuất của con người Tri thức là nguồn lực mạnh nhất so với tài nguyên thiên nhiên, tiền bạc của cải và sức mạnh cơ bắp trong việc tạo ra sản phẩm hàng hoá Giáo dục - đào tạo giúp chúng ta tạo ra đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia công nghệ, những nhà quản lý giỏi, nói chung là tạo ra những con người lao động với hàm lượng trí tuệ ngày càng cao

Để đảm bảo phát triển sự nghiệp GD&ĐT bền vững, NSNN được coi là công cụ đặc biệt hữu hiệu, mà cụ thể thông qua việc thu-chi ngân sách Trong đó chi NSNN, đầu

tư phát triển sự nghiệp GD&ĐT đã đóng góp một phần lớn vào việc hoàn chỉnh cơ sở vật chất của các trường, lớp học, tạo điều kiện nâng cao chất lượng dân trí xã hội

Chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo là quá trình phân phối sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ Ngân sách nhà nước để duy trì, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp

Vai trò của chi ngân sách không chỉ đơn thuần là cung cấp nguồn lực tài chính để duy trì, củng cố các hoạt động giáo dục - đào tạo mà còn có tác dụng định hướng, điều chỉnh các hoạt động giáo dục phát triển theo đường lối chủ trương của

Trang 11

đảng và Nhà nước

Ngân sách nhà nước luôn là nguồn chủ yếu cung cấp tài chính để duy trì, định hướng sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước

Trong những năm gần đây, công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT huyện Mỹ Hào đã đạt được những bước tiến bộ đáng kể nhưng bên cạnh đó cũng còn nhiều vấn đề nảy sinh chưa giải quyết triệt để Có nhiều nguyên nhân dẫn tới những bất cập trong quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT huyện Mỹ Hào Để tìm hiểu kỹ hơn về những mặt đã đạt được, những tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân của tồn tại hạn chế, qua đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT là một điều quan trọng và cần thiết, do đó tôi thực hiện tiến

hành nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện quản lý chi Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp

Giáo dục và Đào Tạo trên địa bàn huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giái pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi Ngân sách nhà nước cho

sự nghiệp giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục và đào tạo của huyện trong thời gian tới

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu

− Các chính sách của Đảng và Nhà nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo?

− Nội dung và các nguyên tắc quản lý chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục

và đào tạo tại các địa phương hiện này?

Trang 12

− Thực trạng quản lý và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo tại địa bàn nghiên cứu?

− Giải pháp nào để hoàn thiện quản lý chi Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện Mỹ Hào?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động chi Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và quản lý hoạt động này trên phạm vi một huyện Trên cơ sở phân tích thực trạng sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý này cho phù hợp với điều kiện của địa phương và tuân thủ các quy định của Luật ngân sách

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung:

Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý chi Ngân sách nhà nước cho

sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện nội dung này ở các địa phương hiện nay

- Phạm vi về không gian:

Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên

- Phạm vi về thời gian:

Đề tài sử dụng các thông tin, số liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu từ

năm 2011 đến 2013 và được tiến hành nghiên cứu trong thời gian từ 2013 đến 2014

Trang 13

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Một số vấn đề về Ngân sách nhà nước và chi Ngân sách nhà nước

2.1.1 Ngân sách nhà nước

2.1.1.1 Khái niệm

Ngân sách nhà nước là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử Sự hình thành

và phát triển của Ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa

Thuật ngữ "NSNN " có từ lâu và ngày nay được dùng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội và được diễn đạt dưới nhiều góc độ khác nhau Song quan niệm NSNN được bao quát nhất cả về lý luận và thực tiễn của nước ta hiện nay là: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức

năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Luật Ngân sách nhà nước, 2002)

Trong thực tế nhìn bề ngoài, hoạt động NSNN là hoạt động thu chi tài chính của Nhà nước Hoạt động đó đa dạng, phong phú, được tiến hành hầu hết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội Tuy đa dạng, phong phú như vậy, nhưng chúng có những đặc điểm chung:

- Các hoạt động thu chi của NSNN luôn luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định Đằng sau những hoạt động thu chi tài chính đó chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia, lợi ích chung bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác trong thu, chi ngân sách Nhà nước

- Quá trình thực hiện các chỉ tiêu thu, chi NSNN nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và là quá trình phân phối và phối lại giá trị tổng sản phẩm

xã hội phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trên các lĩnh vực, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

2.1.1.2 Vai trò, chức năng của NSNN

Trong nền kinh tế thị trường vai trò của Ngân sách nhà nước được thay đổi

Trang 14

và trở nên hết sức quan trọng Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc gia Ngân sách nhà nước có các vai trò như sau :

- Vai trò huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước, để đảm bảo cho hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải

có những nguồn tài chính nhất định Những nguồn tài chính này được hình thành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế Đây là vai trò lịch sử của Ngân sách nhà nước mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào Ngân sách nhà nước đều phải thực hiện

- Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp từ ngành này sang ngành khác, từ địa phương này sang địa phương khác Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến

cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát triển không cân đối Do đó, để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng, Nhà nước phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ Ngân sách nhà nước dưới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự trữ tài chính Đồng thời, trong quá trình điều tiết thị trường Ngân sách nhà nước còn tác động đến thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính như: phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường vốn… qua đó góp phần kiểm soát lạm phát

- Ngân sách nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất Để định hướng

và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi ngân sách Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác nhà nước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phần kích thích sản xuất phát

Trang 15

triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những vùng, những lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định Đồng thời, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào các ngành kinh tế mũi nhọn… nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý

- Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân

cư Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập luỹ tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt … một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi của Ngân sách nhà nước như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình… là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp

Các vai trò trên của Ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của Ngân sách nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế

Như vậy bản chất của NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động

và sử dụng các nguồn lực tài chính, nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý

và điều hành nền kinh tế, xã hội của Nhà nước

Chức năng đầu tiên của NSNN là chức năng phân phối Bất kỳ một Nhà nước nào, muốn tồn tại và duy trì được các chức năng của mình, trước hết phải có nguồn lực tài chính Đó là các khoản chi cho bộ máy quản lý Nhà nước, cho lực lượng quân đội, cảnh sát, cho nhu cầu văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, chi cho đầu tư phát triển v.v Nhưng muốn tạo lập được NSNN, trước hết phải tập hợp các khoản thu theo luật định, cân đối chi tiêu theo tiêu chuẩn định mức đúng với chính sách hiện hành Đó chính là sự huy động các nguồn lực tài chính và đảm bảo

Trang 16

nhu cầu chi tiêu theo kế hoạch của Nhà nước, thực hiện việc cân đối thu chi bằng tiền của Nhà nước

Chức năng thứ hai của NSNN là giám đốc quá trình huy động các khoản thu

và thực hiện các khoản chi Thông qua chức năng này, NSNN kiểm tra, giám sát quá trình động viên các nguồn thu, tránh tình trạng trốn lậu thuế, chây ỳ nộp thuế của các đối tượng thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN hoặc bị lạm dụng, làm trái pháp luật, coi thường pháp luật và các chính sách động viên khác Trong khâu cấp phát nếu buông lỏng việc kiểm tra, kiểm soát chi thì dễ dẫn đến tình trạng làm sai luật định và các chế

độ chi quy định Đồng thời thông qua kiểm tra, kiểm soát hoạt động thu chi NSNN giúp ta giám sát việc chấp hành các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước Thông qua đó đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của vốn NSNN, hiệu quả của các chủ trương, chính sách, chế độ do Đảng và Nhà nước đề ra

Như vậy, hai chức năng phân phối và giám đốc luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, có vị trí và tầm quan trọng như nhau, không thể coi chức năng này hơn chức năng kia, mà phải coi trọng cả hai chức năng ở mọi lúc, mọi nới trong tạo lập và sử dụng vốn NSNN

2.1.2 Chi NSNN và chi NSNN cho giáo dục và đào tạo

2.1.2.1 Khái niệm về chi Ngân sách Nhà nước

Chi NSNN là một trong hai nội dung cơ bản của hoạt động NSNN, Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN do quá trình thu tạo lập lên nhằm duy trì sự tồn tại, hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước

Chi Ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ

của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật (Luật Ngân sách nhà nước, 2002)

Chi NSNN phản ảnh mục tiêu hoạt động của ngân sách, đó là đảm bảo về mặt vật chất (tài chính) cho hoạt động của Nhà nước, với tư cách là chủ thể của NSNN trên hai phương diện: i) Duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước, và ii) Thực hiện các chức năng nhiệm vụ mà Nhà nước phải gánh vác

Trang 17

Chi NSNN bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau Giai đoạn thứ nhất là phân phối (phân bổ) quỹ NSNN cho các đối tượng, mục tiêu khác nhau Quá trình phân phối được thực hiện trên dự toán và trên thực tế (chấp hành Ngân sách Nhà nước), dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động, đặc điểm tự nhiên, xã hội thể hiện cụ thể dưới dạng định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi ngân sách Giai đoạn tiếp theo là việc sử dụng phần quỹ ngân sách đã được phân phối của các đối tượng được hưởng thụ, hay còn gọi là quá trình thực hiện chi tiêu trực tiếp các khoản tiền của NSNN NSNN được sử dụng ở các khâu tài chính Nhà nước trực tiếp, gián tiếp và các khâu tài chính khác phi Nhà nước Chi ngân sách kết thúc khi tiền đã thực sự được sử dụng cho các mục tiêu đã định

Các khoản chi Ngân sách nhà nước rất đa dạng và phong phú nên có nhiều cách phân loại chi NSNN khác nhau:

- Theo tính chất phát sinh các khoản chi, chi NSNN bao gồm chi thường xuyên và chi không thường xuyên

Chi thường xuyên: là những khoản chi phát sinh tương đối đều đặn cả về mặt thời gian và quy mô các khoản chi Nói cách khác là những khoản chi được lặp đi lặp lại tương đối ổn định theo những chu kỳ thời gian cho những đối tượng nhất định

Chi không thường xuyên: là những khoản chi ngân sách phát sinh không đều đặn, bất thường như chi đầu tư phát triển, viện trợ, trợ cấp thiên tai, địch hoạ, trong

đó, chi đầu tư phát triển được coi là phần chủ yếu của chi không thường xuyên

- Theo mục đích sử dụng cuối cùng, chi NSNN được chia thành chi tích luỹ

và chi tiêu dùng

Chi tích luỹ là các khoản chi mà hiệu quả của nó có tác dụng lâu dài các khoản chi này chủ yếu được sử dụng trong tương lai như: Chi đầu tư hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, chi nghiên cứu khoa học công nghệ, công trình công cộng, bảo

vệ môi trường,

Chi tiêu dùng là những khoản chi nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu trước mắt và hầu như được sử dụng hết sau khi đã chi như: chi cho bộ máy Nhà nước, an ninh, quốc phòng, văn hoá, xã hội, Cụ thể, đó là các khoản chi lương, các khoản có tính chất lương và chi hoạt động Nhìn chung, chi tiêu dùng là những khoản chi có

Trang 18

tính chất thường xuyên

- Theo mục tiêu, chi NSNN được phân loại thành chi cho bộ máy Nhà nước

và chi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Chi cho bộ máy nhà nước: bao gồm chi đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm các trang thiết bị cần thiết, chi trực tiếp cho đội ngũ cán bộ, công chức, chi phí thường xuyên để duy trì hoạt động của các cơ quan Nhà nước (văn phòng phí, hội nghị, công tác phí )

Chi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước: bao gồm chi cho an ninh - quốc phòng (những khoản chi duy trì hoạt động bình thường của các lực lượng an ninh, quốc phòng như chi đầu tư, chi mua sắm, chi hoạt động), chi phát triển văn hoá, y tế, giáo dục, đảm bảo xã hội, chi phát triển kinh tế là những khoản đầu tư cơ sở hạ tầng quan trọng cho nền kinh tế (giao thông, điện và chuyển tải điện, thông tin liên lạc, thuỷ lợi và cấp thoát nước, sự nghiệp nhà ở) và một số nhiệm vụ khác như: Hỗ trợ các đoàn thể chính trị - xã hội, đối ngoại

- Với tư cách là quỹ tiền tệ để thanh toán cho các nhu cầu của nhà nước và tài trợ cho các đối tượng khác nhau trong xã hội (Nhà nước với tư cách là người mua của thị trường), chi NSNN bao gồm:

Chi thanh toán: là chi trả cho việc Nhà nước được hưởng những hàng hoá, dịch vụ mà xã hội cung cấp cho Nhà nước Chi thanh toán gắn với hai luồng đi lại: tiền và hàng hoá, dịch vụ

Chi chuyển giao: là những khoản chi mang tích chất một chiều từ phía nhà nước như tài trợ, trợ cấp, cứu trợ

- Theo quan điểm của kinh tế học công cộng, Ngân sách nhà nước được xem

là công cụ cung cấp nguồn lực để Nhà nước thực hiện việc sản xuất và cung cấp những hàng hoá, dịch vụ cho xã hội Theo quan điểm này, hàng hoá, dịch vụ được phân thành những hàng hoá, dịch vụ cá nhân (dùng cho những cá nhân) và hàng hoá, dịch vụ công cộng (nhiều người cùng sử dụng một lúc, khó hoặc không thể loại trừ được một người nào đó muốn sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó)

Từ đây, chi ngân sách có thể khái quát lại bao gồm:

- Chi đầu tư để cung cấp những hàng hoá, dịch vụ công cộng vô hình cần thiết

Trang 19

cho xã hội như an ninh - quốc phòng, đảm bảo môi trường, phòng chống thiên tai,

- Chi đầu tư cung cấp các dịch vụ công cộng hữu hình cần thiết mà tư nhân không thể làm được hoặc không muốn làm (giao thông, điện và chuyển tải điện, y

tế, giáo dục, )

- Chi đầu tư để cung cấp một số hàng hoá, dịch vụ cá nhân thuộc các ngành kinh tế then chốt, mũi nhọn, huyết mạch, có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế quốc dân

2.1.2.2 Chi Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo

Chi Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ Ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhi cầu chi của toàn bộ ngành giáo dục nhằm đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ đã đặt ra

Theo mục 2 chương VII Luật Giáo dục năm 2005 của Quốc hội có quy định Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục như sau:

1 Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, bảo đảm tỷ lệ tăng chi ngân sách giáo dục hằng năm cao hơn tỷ lệ tăng chi ngân sách nhà nước

2 Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục phải được phân bổ theo nguyên tắc công khai, tập trung dân chủ; căn cứ vào quy mô giáo dục, điều kiện phát triển kinh

tế - xã hội của từng vùng; thể hiện được chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với giáo dục phổ cập, phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

3 Cơ quan tài chính có trách nhiệm bố trí kinh phí giáo dục đầy đủ, kịp thời, phù hợp với tiến độ của năm học Cơ quan quản lý giáo dục có trách nhiệm quản lý,

sử dụng có hiệu quả phần ngân sách giáo dục được giao và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật

Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của ngành giáo dục đào tạo, nội dung chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo gồm:

- Chi ngân sách cho hệ thống các trường học, có:

+ Chi ngân sách cho hệ thống các trường mầm non và các trường phổ thông

+ Chi ngân sách cho các trường đại học, các học viện, các trường cao đẳng,

Trang 20

các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề

+ Chi cho các trường Đảng, đoàn thể

- Chi ngân sách cho các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo như:

Bộ giáo dục đào tạo, Sở giáo dục, phòng giáo dục

Như vậy, chi Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện quản lý bao gồm các khoản chi ngân sách cho các hệ thồng trường mầm non, trường tiểu học, phổ thông cơ sở, và các khoản chi cho các trường Đảng, đoàn thể

Nếu phân chia nội dung chi theo các nhóm mục chi thì chi cho sự nghiệp giáo dục bao gồm:

Chi cho con người: Bao gồm những khoản chi nhằm để duy trì những hoạt

động bình thường của toàn ngành giáo dục Khoản chi này gồm chi lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn… chủ yếu là các khoản chi để đảm

bảo đời sống sinh hoạt của cán bộ, giáo viên giảng dạy trong ngành giáo dục

Chi công tác giảng dạy: Bao gồm những khoản chi để đảm bảo cho công tác giảng dạy, học tập như mua trang thiết bị, sách giáo khoa, các đồ vật thí nghiệm, in ấn tài liệu, những khoản chi để nhằm đào tạo, nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên

Chi cho quản lý hành chính: Các khoản chi này nhằm duy trì sự hoạt động

bình thường của bộ máy quản lý tại mỗi cơ quan, đơn vị và toàn ngành giáo dục Thuộc khoản chi này bao gồm: Chi tiền chè, nước tại cơ quan, chi trả tiền điện, tiền nước đã sử dụng tại văn phòng cơ quan, chi trả các dịch vụ về thông tin liên lạc, chi phí giao dịch, tiếp khách, chi hội nghị sơ kết, tổng kết, lễ tân, khánh tiết…

Chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ: Hàng năm do

nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của các tài sản dùng cho hoạt động hành chính, giảng dạy tại các cơ quan, đơn vị thuộc ngành giáo dục nên thường phát sinh nhu cầu kinh phí cần có để mua sắm thêm trang thiết bị hoặc phục hồi lại giá trị sử dụng cho những tài sản đã bị xuống cấp tại các đơn vị Vì vậy cần phải xác định nhu cầu kinh phí đáp ứng cho mua sắm, sửa chữa lớn hay xây dựng nhỏ trong dự toán kinh phí hàng năm của mỗi đơn vị để làm cơ sở lập dự toán chi Ngân sách nhà nước

cho sự nghiệp giáo dục

Trang 21

Chi cho mua sắm, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ được xác định bằng tỷ lệ phần trăm trên nguyên giá tài sản cố định hiện tại của ngành

Ngoài ra từ năm 1991 Ngân sách nhà nước còn thể hiện ở chi tiêu cho các đơn vị thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục như chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ, chương trình tăng cường cơ sở vật chất trường học, chương trình công nghệ giáo dục Hầu hết các khoản chi trên là những khoản chi phát sinh thường xuyên, tương đối ổn định và có thể định mức được Do vậy trong quản lý các khoản chi này phải lấy định mức làm cơ sở, riêng các khoản mua sắm sửa chữa nhỏ không phát sinh thường xuyên nên phải căn cứ vào thực trạng nhà cửa trang thiết bị, chế độ chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ và đặc biệt là khả năng nguồn vốn của NSNN để cấp phát và chi tiêu

Đối với chi đầu tư XDCB tập trung cho GD&ĐT, tuỳ theo yêu cầu quản lý nội dung chi đầu tư XDCB được phân loại theo những tiêu thức khác nhau Xét theo hình thức tái sản xuất TSCĐ, chi đầu tư XDCB cho giáo dục đào tạo được phân thành:

- Chi đầu tư xây dựng mới các TSCĐ phục vụ cho giáo dục đào tạo như các trường học, thư viện, phòng thí nghiệm…

- Chi cải tạo, nâng cấp mở rộng các TSCĐ hiện có nhằm tăng thêm công suất

và hiện đại hoá TSCĐ như nâng cấp trường học, thư viện, xây thêm các lớp học…

2.1.2.3 Vai trò của Chi NSNS cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Chi NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT luôn đóng vai trò quan trọng và chiểm tỷ trọng cao trong cơ cấu chi NSNN của nước ta Trong năm 2013, trong dự toán chi NSNN, chi NSTW, chi NSĐP theo cơ cấu chi năm 2013 thì chi NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT, dạy nghề là 30.015 tỷ đồng, chiếm 3,07% tổng chi cân đối NSNN

năm 2013 (QĐ 3299/QĐ-BTC ngày 27/12/2012)

Giáo dục - đào tạo là hoạt động trực tiếp tác động nâng cao trí tuệ, hiểu biết

và khả năng vận dụng những tri thức khoa học, kỹ thuật vào sản xuất của con người Tri thức là nguồn lực mạnh nhất so với tài nguyên thiên nhiên, tiền bạc của cải và sức mạnh cơ bắp trong việc tạo ra sản phẩm hàng hoá Giáo dục - đào tạo giúp chúng ta tạo ra đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia công nghệ, những nhà quản lý giỏi, nói chung là tạo ra những con người lao động với hàm lượng trí tuệ ngày càng cao

Trang 22

Giáo dục - đào tạo cũng có tác dụng tích cực trong việc giúp cho người lao động có năng lực tự giải quyết công ăn việc làm Khả năng giải quyết việc làm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trí tuệ, hiểu biết có vai trò quan trọng nhất hình thành năng lực tự giải quyết việc làm của người lao động Thông thường, những người được đào tạo tốt, có trình độ học vấn, có hiểu biết khoa học, kỹ thuật, kinh tế, có trình độ chuyên môn và tay nghề cao đễ tìm được việc làm cho mình hơn những người không được đào tạo hay đào tạo kém, thậm chí những người được đào tạo tốt còn có thể tạo ra việc làm cho nhiều người khác nữa

Nhận thức rõ sứ mạng của giáo dục- đào tạo đối với sự phát triển kinh tế xã hội, Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo Hồ Chủ Tịch đã từng nói "muốn có chủ nghĩa xã hội, thì phải có những con người xã hội chủ nghĩa” Bác Hồ coi giáo dục và đào tạo là công việc xây dựng con người lao động mới và là một chiến lược lâu dài "Vì hạnh phúc mười năm trồng cây, vì hạnh phúc trăm năm trồng người”

Có thể nói giáo dục và đào tạo là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của toàn Đảng, toàn dân trong thời gian qua Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục - đào tạo được coi là khâu đột phá cho những định hướng chiến lược về mục tiêu, giải pháp chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2020

Chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo là quá trình phân phối sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ Ngân sách nhà nước để duy trì, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp

Vai trò của chi ngân sách không chỉ đơn thuần là cung cấp nguồn lực tài chính để duy trì, cũng cố các hoạt động giáo dục - đào tạo mà còn có tác dụng định hướng, điều chỉnh các hoạt động giáo dục phát triển theo đường lối chủ trương của đảng và Nhà nước

Trong thời kỳ phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, toàn bộ vốn đầu

tư cho giáo dục - đào tạo do NSNN đài thọ Nguồn kinh phí này đã đóng vai trò quyết định trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, góp phần phát triển nâng cao trình độ dân trí, đào tạo ra những lớp người có đủ năng lực, trí tuệ đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 23

Ngày nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế tri thức với quan điểm “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”, Đảng và Nhà nuớc ta đã có chủ trương “Xã hội hoá giáo dục và đào tạo” Gắn liền với chủ trương đó, Nhà nước thực hiện mở rộng đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục kể cả trong nước và nước ngoài "Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt nam định cư ở nước ngoài, các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục”

Trong điều kiện có nhiều nguồn vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo như vậy những nguồn vốn đầu tư từ NSNN vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Vai trò chủ đạo của chi NSNN cho giáo dục đào tạo được thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất: Ngân sách nhà nước luôn là nguồn chủ yếu cung cấp tài chính để

duy trì, định hướng sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước

Giáo dục, đào tạo là một lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn mà Nhà nước luôn phải quan tâm và có sự đầu tư thích đáng " Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục đào tạo ” Chính vì vậy mà nguồn vốn đầu tư của Ngân sách nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư cho giáo dục và đào tạo

Mặc dù thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách để huy động nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư cho giáo dục như chính sách về đóng góp học phí, lệ phí tuyển sinh, đóng góp xây dựng trường, đóng góp phí đào tạo từ phía các cơ sở sử dụng lao động, các chính sách ưu đãi về thuế, huy động các nguồn tài trợ khác cho giáo dục đào tạo Tuy nhiên do việc xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục đào tạo thực hiện chậm, các thành phần kinh tế phi Nhà nước phát triển chưa mạnh nên sự đóng góp cho giáo dục còn hạn chế Vì vậy, cho dù đối tượng chi có giảm đi nhưng kinh phí đầu tư của NSNN cho giáo dục đào tạo hàng năm không giảm mà ngày một tăng lên, tỷ trọng chi NSNN cho giáo dục đào tạo

trong tổng chi NSNN tăng từ 10,4% năm 1991 lên 14,04% năm 1999 (Báo cáo đánh giá tác động của Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009 –

2014 của Bộ GD-ĐT) và năm 2013 đạt 20% (Báo cáo quyết toán chi NSNN năm

2013 của BTC)

Trang 24

Nếu xem xét dưới giác độ tổng số vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo thì vốn NSNN cũng chiếm tỷ trọng chủ yếu Trong xu hướng chung cả nước, ở các địa phương các cấp chính quyền cũng đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục và đầu tư tài chính cho sự nghiệp giáo dục đào tạo ở địa phương mình Ngân sách địa phương trong những năm qua đã đầu tư một khoản kinh phí lớn cho công tác này, thường chiếm trên 80% trong tổng vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo

Thứ hai: Chi Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc củng

cố, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy Hai yếu

tố này lại ảnh hưởng có tính chất quyết định đến chất lượng hoạt động giáo dục - đào tạo

Có thể nói, ngân sách giáo dục chủ yếu dành cho những chi phí liên quan đến con người Trong đó, chi lương và phụ cấp cho giáo viên luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo Hiện nay, trừ một phần nhỏ các trường dân lập, bán công thì lương và phụ cấp cho giáo viên đều do NSNN đảm bảo Phải thấy rằng, lương của giáo viên là một vấn đề có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của giáo viên Một chính sách lương hợp lý cho phép giáo viên không cần kiếm việc làm thêm, ngược lại nếu mức lương giáo viên không đủ để trang trải những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống và không khuyến khích giáo viên toàn tâm toàn ý cho việc dạy học thì họ sẽ tìm mọi cách để có thêm thu nhập Ví dụ như dạy

tư (thường là dạy chính những học sinh ở trường công) hoặc bằng nhiều hoạt động kinh doanh khác Hậu quả là nó tác động tiêu cực đến chất lượng giáo dục được cung cấp qua hệ thống của Nhà nước

Trong xu hướng xã hội hoá giáo dục và đào tạo hiện nay, mặc dù một số gánh nặng về chi phí cho giáo dục đào tạo được chia sẻ với khu vực tư nhân, song chi tiêu của tư nhân không tự nó dẫn đến chất lượng giáo dục tốt hơn, vì vậy vẫn cần nguồn kinh phí lớn và tăng nhanh từ NSNN để đáp ứng sự gia tăng về số học sinh, do sức ép dân số và chi phí để nâng cao chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

Thứ ba: nguồn vốn Ngân sách nhà nước là nguồn duy nhất đảm bảo kinh phí

để thực hiện các chương trình - mục tiêu quốc gia về giáo dục như: Chương trình

Trang 25

phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ, chương trình tăng cường cơ sở vật chất trường học, chương trình đầu tư cho giáo dục vùng cao Đây là những chương trình mục tiêu lớn, cấp bách cần phải thực hiện và đòi hỏi phải có sự đầu tư kinh phí khá lớn Vì vậy Nhà nước phải tập trung ngân sách đầu tư thực hiện cho được các chương trình này

Thứ tư: Thông qua cơ cấu, định mức ngân sách cho giáo dục có tác dụng

điều chỉnh cơ cấu, quy mô giáo dục trong toàn ngành Trong điều kiện đa dạng hoá giáo dục - đào tạo như hiện nay thì vai trò định hướng của Nhà nước thông qua chi ngân sách để điều phối quy mô, cơ cấu giữa các cấp học, ngành học, giữa các vùng

là hết sức quan trọng, đảm bảo cho giáo dục - đào tạo phát triển cân đối, theo đúng định hướng đường lối của đảng và Nhà nước

Thứ năm: Sự đầu tư của Ngân sách nhà nước có tác dụng hướng dẫn, kích

thích thu hút các nguồn vốn khác đầu tư cho giáo dục - đào tạo Nhà nước đầu tư hình thành nên các trung tâm giáo dục có tác dụng thu hút sự đầu tư của các tổ chức, cá nhân phát triển các loại dịch vụ phục vụ cho trung tâm giáo dục đó Mặt khác trong điều kiện các tổ chức, cá nhân chưa có đủ tiềm lực đầu tư độc lập cho các dự án giáo dục thì sự đầu tư vốn của Ngân sách nhà nước là số vốn đối ứng quan trọng để thu hút các nguồn lực khác cùng đầu tư cho giáo dục Thông qua sự đầu tư của Nhà nước vào cơ sở vật chất và một phần kinh phí hỗ trợ đối với các trường bán công, tư thục, dân lập có tác dụng thúc đầy mạnh mẽ phong trào xã hội hoá giáo dục về mặt tài chính

Qua phân tích các vấn đề trên cho thấy, mức độ đầu tư của Ngân sách nhà nước được coi như một trong các yếu tố tác động có tính chất quyết định đối với việc hình thành, mở rộng và phát triển hệ thống giáo dục quốc gia Từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đến giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, giáo dục đại học và sau đại học

Sự tăng cường đầu tư ngân sách cho giáo dục sẽ dẫn đến kết quả là nguồn nhân lực phát triển, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, trên cơ sở đó Ngân sách nhà nước tăng thu và có điều kiện để đầu tư trở lại cho giáo dục đào tạo cao hơn nữa Đó là mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư cho giáo dục - đào tạo với tăng trưởng

Trang 26

kinh tế và tiến bộ xã hội, đó cũng chính là con đường nhanh nhất, ngắn nhất để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra

Giáo dục, đào tạo là hoạt động trực tiếp tác động nâng cao trí tuệ, hiểu biết

và khả năng vận dụng những tri thức khoa học, kỹ thuật vào sản xuất của con người Tri thức là nguồn lực mạnh nhất so với tài nguyên thiên nhiên, tiền bạc của cải và sức mạnh cơ bắp trong việc tạo ra sản phẩm hàng hoá Giáo dục -đào tạo giúp chúng ta tạo ra đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia công nghệ, những nhà quản lý giỏi, nói chung là tạo ra những con người lao động với hàm lượng trí tuệ ngày càng cao

Giáo dục, đào tạo cũng có tác dụng tích cực trong việc giúp cho người lao động có năng lực tự giải quyết công ăn việc làm Khả năng giải quyết việc làm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trí tuệ, hiểu biết có vai trò quan trọng nhất hình thành năng lực tự giải quyết việc làm của người lao động Thông thường, những người được đào tạo tốt, có trình độ học vấn, có hiểu biết khoa học, kỹ thuật, kinh tế, có trình độ chuyên môn và tay nghề cao đễ tìm được việc làm cho mình hơn những người không được đào tạo hay đào tạo kém thậm chí những người được đào tạo tốt còn có thể tạo ra việc làm cho nhiều người khác nữa

2.2 Quản lý chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo

2.2.1 Một số vấn đề chung về quản lý chi NSNNN cho sự nghiệp GD-ĐT

2.2.1.1 Một số vấn đề về quản lý

Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì

sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt

Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:

Trang 27

- Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm "

- Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh

và kiểm soát ấy”

- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"

- Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"

Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ là một vài ý kiến mang tính đại diện trên cơ sở phân tích tổng hợp những quan điểm không giống nhau Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ ràng, đúng đắn nhưng chưa đầy đủ Chúng chỉ chú trọng đến quản lý như là một hiện tượng chứ chưa làm bộc lộ rõ bản chất của nó Vậy, làm thế nào để khái quát khái niệm quản lý một cách đơn giản và tương đối toàn diện?

Như chúng ta đều biết, quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì?

Với những phân tích trên mọi hoạt động quản lý đều phải do 4 yếu tố cơ bản sau cấu thành: Chủ thể quản lý, Khách thể quản lý, Mục đích quản lý, Môi trường

và điều kiện tổ chức

2.2.1.2 Quản lý chi NSNS cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Thực chất quản lý chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo là các hoạt động và tổ chức các hoạt động phân phối NSNN, kiểm tra giám sát việc phân phối và sử dụng NSNN cho giáo dục - đào tạo theo đúng quy định của pháp luật

Trang 28

Nội dung quản lý chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo gồm các bước cơ bản sau: quản lý định mức chi, lập dự toán chi, chấp hành dự toán chi và quyết toán chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo

1 Quản lý định mức chi

Trong quản lý các khoản chi thường xuyên của NSNN, nhất thiết phải có định mức cho từng nhóm mục chi hay cho mỗi đối tượng cụ thể Nhờ đó mà các ngành, các cấp, các đơn vị mới có căn cứ pháp lý để triển khai các công việc cụ thể thuộc quá trình quản lý chi thường xuyên của NSNN

Định mức chi là cơ sở quan trọng để lập dự toán chi, cấp phát và quyết toán các khoản chi, đồng thời là chuẩn mực để phân bổ và kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng kinh phí của NSNN Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan trực tiếp quản lý định mức chi đối với NSNN của huyện

Định mức chi phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Thứ nhất: Các định mức chi phải được xây dựng một cách khoa học, từ việc

phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến hành một cách chặt chẽ có cơ sở khoa học xác đáng Nhờ đó mà các định mức chi đảm bảo được tính phù hợp với mỗi loại hình hoạt động, phù hợp với từng đơn vị

Thứ hai: Các định mức chi phải có tính thực tiễn cao Tức là nó phải phản

ánh mức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động Chỉ

có như vậy định mức chi mới trở thành chuẩn mực cho cả quá trình quản lý kinh phí chi thường xuyên

Thứ ba: Định mức chi phải đảm bảo thống nhất đối với từng khoản chi, với

từng đối tượng thụ hưởng ngân sách cùng loại

Thứ tư: Định mức chi phải đảm bảo tính pháp lý cao

Định mức chi thường xuyên của NSNN thường bao gồm hai loại:

- Định mức chi tiết: Là loại định mức xác định dựa trên cơ cấu chi của NSNN cho mỗi đơn vị được hình thành từ các mục chi nào, người ta tiến hành xây dựng định mức chi cho từng mục đó, ví dụ như: chi công tác phí, hội nghị, chi lương, học bổng…

- Định mức chi tổng hợp: Là loại định mức dùng để xác định nhu cầu chi từ

Trang 29

NSNN cho mỗi loại hình đơn vị thụ hưởng Do vậy, với mỗi loại hình đơn vị khác nhau sẽ có đối tượng để tính định mức chi tổng hợp khác nhau

Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, định mức chi tiết thường được áp dụng theo hệ thống định mức chi NSNN áp dụng chung cho lĩnh vực hành chính sự nghiệp, còn định mức chi tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong khâu phân bổ ngân sách giáo dục - đào tạo cho các địa phương, các đơn vị Định mức chi tổng hợp cho giáo dục - đào tạo có thể xác định theo đầu dân số hoặc đầu học sinh và theo từng thời kỳ có thay đổi cho phù hợp

2 Lập dự toán chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo

Dự toán là một trong những công cụ quan trọng được sử dụng trong quản lý điều hành NSNN Đối với quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT của huyện, đây

là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách, nhằm mục đích để phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính của nhà nước nhằm xác lập các chỉ tiêu thu chi Ngân sách nhà nước hàng năm một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học

- Căn cứ vào các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nói chung và kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục- đào tạo nói riêng của Nhà nước

- Chế độ tiêu chuẩn, định mức chi Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và khă năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng được

-Tình hình thực hiện dự toán năm trước

Quy trình lập dự toán: Theo phương pháp lập từ cơ sở lên, các trường học (đơn vị dự toán cấp ba) là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách có trách nhiệm tổng hợp, xác định nhu cầu chi để lập dự toán chi năm kế hoạch cho đơn vị mình gửi lên

cơ quan tài chính cùng cấp xét duyệt theo những căn cứ đã nêu ở trên Trong quá

Trang 30

trình tổng hợp, lập dự toán ngân sách, cơ quan tài chính có trách nhiệm làm việc với các đơn vị trực thuộc để điều chỉnh dự toán kinh phí mà các đơn vị lập

Cơ quan tài chính xem xét tính hợp lệ, đúng đắn của dự toán cho các đơn vị trực thuộc và trình Uỷ ban nhân dân đồng cấp phê duyệt, sau đó trình lên cơ quan tài chính cấp trên Cơ quan tài chính địa phương có trách nhiệm xem xét dự toán kinh phí cho các cơ quan cùng cấp, Bộ tài chính có trách nhiệm lập dự toán ngân sách trung ương, tổng hợp Ngân sách nhà nước trình Chính phủ xem xét sau đó trình Quốc hội phê duyệt

Dự toán sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền duyệt và thông qua, Phòng tài chính đề nghị Hội đồng nhân dân huyện phân bổ, giao dự toán cho các trường,

các đơn vị sử dụng kinh phí giáo dục

3 Chấp hành dự toán chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo

Chấp hành chi NSNN là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp về kinh tế - tài chính và hành chính nhằm biến các khoản chi đã được ghi trong kế hoạch (dự toán NSNN) trở thành hiện thực Chấp hành dự toán chi NSNN bao gồm phân bổ và giao dự toán, kiểm soát chi theo quy định của Luật Như vậy, có thể nói chấp hành NSNN là khâu quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến một chu trình quản lý NSNN

Giai đoạn chấp hành dự toán chi NSNN ở các quốc gia đều quy định thời gian là 12 tháng (thời hạn năm ngân sách) Tuy nhiên, thời hạn bắt đầu và kết thúc của năm ngân sách ở các quốc gia có thể khác nhau Ở nước ta, năm ngân sách được pháp luật quy định tính theo năm dương lịch, bắt đầu từ ngày 01/ 01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm

Chấp hành dự toán chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo cần chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:

- Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, trên cơ sở dự toán chi đã xác định

- Tiến hành cấp phát vốn, kinh phí một cách đầy đủ, kịp thời, tránh mọi sơ hở gây lãng phí, thất thoát vốn của NSNN

- Trong quá trình sử dụng các khoản chi ngân sách phải hết sức tiết kiệm, đúng chính sách chế độ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội của mỗi khoản chi

Trang 31

Quá trình tổ chức điều hành cấp phát và sử dụng khoản chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo cần dựa trên những căn cứ sau:

- Dựa vào định mức chi đã được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán Đây là căn cứ tác động có tính chất bao trùm đến việc cấp phát và sử dụng các khoản chi bởi vì mức chi của từng chỉ tiêu là cụ thể hoá mức chi tổng hợp đã được cơ quan quyền lực Nhà nước phê duyệt

- Dựa vào khả năng nguồn kinh phí NSNN có thể đáp ứng chi cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo Mức chi trong dự toán mới chỉ là con số dự kiến, khi thực hiện phải căn cứ vào điều kiện thực tế của năm kế hoạch mới chuyển hóa được chỉ tiêu

dự kiến thành hiện thực

- Dựa vào định mức, chế độ chỉ tiêu sử dụng kinh phí NSNN hiện hành Đây

là những căn cứ pháp lý có tính bắt buộc quá trình cấp phát và sử dụng kinh phí phải tuân thủ, là căn cứ để đánh giá tính hợp lệ, hợp pháp của việc cấp phát và sử dụng các khoản chi

Các biện pháp cơ bản để tổ chức tốt công tác cấp phát và sử dụng các khoản chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo bao gồm:

- Cụ thể hóa dự toán chi tổng hợp cả năm thành nhu cầu chi hàng quý (có chia tháng) để làm căn cứ quản lý, cấp phát

- Quy định rõ ràng trình tự cấp phát, trách nhiệm và quyền hạn của mỗi cơ quan (Tài chính, Kho bạc, Giáo dục và đào tạo) trong quá trình cấp phát, sử dụng các khoản chi NSNN

Cơ quan Tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đảm bảo kinh phí cho giáo dục - đào tạo, bàn bạc với cơ quan giáo dục điều chỉnh kịp thời dự toán chi trong phạm vi cho phép

- Hướng dẫn các đơn vị cơ sở trong ngành giáo dục thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp, hạch toán đầy đủ rõ ràng các khoản chi cho từng loại hoạt động

- Thường xuyên kiểm tra tình hình nhận và sử dụng kinh phí NSNN ở các đơn vị giáo dục, đảm bảo đúng dự toán, phù hợp với định mức chế độ chi NSNN hiện hành

Trang 32

Cùng với việc cấp phát các nguồn kinh phí thì Sở tài chính phối hợp với Phòng tài chính- vật giá ở các Quận, Huyện kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu và sử dụng ngân sách tại các trường Trường hợp phát hiện các khoản chi vượt quá nguồn cho phép, sai chính sách, chế độ hoặc đơn vị không chấp hành chế độ báo cáo thì có quyền yêu cầu Kho bạc nhà nước tạm dừng thanh toán

4 Quyết toán chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo

Quyết toán là khâu cuối cùng của một chu trình ngân sách Đó là việc tổng kết lại quá trình thực hiện dự toán ngân sách năm, sau khi năm ngân sách kết thúc nhằm đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của một năm ngân sách, từ đó rút ra các

ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm cho những chu trình ngân sách tiếp theo Việc xét duyệt quyết toán năm đối với những khoản chi cho sự nghiệp giáo dục phải được thực hiện theo nguyên tắc sau:

- Xét duyệt từng khoản phát sinh tại đơn vị

- Các khoản chi phải đảm bảo đủ các điều kiện chi

- Các khoản chi phải hạch toán theo đúng chế độ kế toán, đúng mục lục Ngân sách nhà nước và đúng niên độ ngân sách

- Các chứng từ chi phải hợp pháp Sổ sách và báo cáo quyết toán phải khớp với chứng từ và khớp với số liệu của Kho bạc nhà nước

Trình tự lập, gửi, xét duyệt báo cáo quyết toán như sau:

Đối với các đơn vị dự toán (các trường học), sau khi thực hiện xong công tác khoá sổ cuối ngày 31 tháng 12 hàng năm, số liệu trên sổ sách của mỗi đơn vị phải đảm bảo cân đối và khớp đúng với số liệu của Kho bạc cả về tổng số và chi tiết Khi

đó đơn vị mới được tiến hành lập báo cáo quyết toán năm để gửi xét duyệt

Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện có trách nhiệm thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã, lập quyết toán thu chi ngân sách huyện bao gồm quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện và quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã trình uỷ ban nhân dân huyện xem xét gửi Sở tài chính, đồng thời trình hội đồng nhân dân huyện phê chuẩn Trường hợp báo cáo quyết toán năm của huyện do hội đồng nhân dân phê chuẩn có thay đổi so với quyết toán năm do uỷ ban nhân dân huyện đã gửi Sở tài chính thì Uỷ ban nhân dân huyện báo cáo bổ sung gửi Sở tài chính Sau khi hội

Trang 33

đồng nhân dân phê chuẩn, trong phạm vi 5 ngày Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện gửi báo cáo quyết toán đến cáo cơ quan sau:

- 01 bản gửi Hội đồng nhân dân huyện

- 01 bản gửi Uỷ ban nhân dân huyện

- 01 bản gửi Sở tài chính

- 01 bản lưu lại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện

Đồng thời gửi Kho bạc nhà nước huyện nghị quyết phê chuẩn quyết toán của Hội đồng nhân dân cấp Huyện

Trình tự lập, gửi, xét duyệt các báo cáo tài chính đã được quy định như trên vừa phản ánh một quy trình bắt buộc phải tuân thủ, vừa phản ánh yêu cầu cân phải tôn trọng về thời gian tại mỗi cấp, mỗi đơn vị Chỉ có như vậy thì công tác quyết toán mới đảm bảo được tính kịp thời, chính xác, trung thực, khách quan

2.2.3 Phân cấp quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT

2.2.3.1 Phân cấp quản lý nhà nước về GD-ĐT cấp huyện

Theo điều 100 chương VII của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục năm 2009 của Quốc Hội quy định:

1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục

Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương về cải cách nội dung chương trình của một cấp học; hằng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản

vi quản lý, đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương

Trang 34

Các cơ quan quản lý ĐT cấp huyện bao gồm UBND huyện, Phòng

GD-ĐT huyện, UBND xã

Uỷ ban nhân dân huyện

UBND huyện có trách nhiệm thực hiện chức năng QLNN về giáo dục trên địa bàn huyện; chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về phát triển giáo dục MN, TH, THCS

và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn huyện, các nhiệm vụ gồm:

- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án phát triển giáo dục trên địa bàn huyện trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; chỉ đạo, kiểm tra, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án giáo dục đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền trong việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục

- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra Phòng GD & ĐT, các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của UBND huyện trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục trên địa bản huyện

- Thực hiện phổ cập giáo dục, chống mù chữ và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn huyện

- Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo theo định kỳ và hàng năm

về tổ chức và hoạt động giáo dục theo hướng dẫn của UBND tỉnh và Sở GD & ĐT

- Quyết định thành lập các trường công lập, cho phép thành lập các trường ngoài công lập, sát nhập, chia, tách, đình chỉ, giải thể đối với các cơ sở giáo dục

MN, TH, THCS, Trung tâm học tập cộng đồng và các cơ sở giáo dục khác thuộc thẩm quyền quản lý của UBND huyện

- Đảm bảo đủ biên chế công chức cho phòng GD&ĐT, biên chế sự nghiệp cho các cơ sở giáo dục; chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD; thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách của Nhà nước, ban hành chủ trương, biện pháp để chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD thuộc thẩm quyền quản lý trên địa bàn

- Đảm bảo các điều kiện về tài chính, tài sản, cơ sở vật chất để phát triển giáo dục trên địa bản; thực hiện xã hội hoá giáo dục, huy động các nguồn lực xã hội để

Trang 35

phát triển giáo dục; ban hành, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các quy định để đảm bảo quyền tự chủ, nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý

- Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các phong trào thi đua; quyết định khen thưởng các tổ chức, cá nhân có nhiều công lao đối với sự nghiệp phát triển giáo dục

- Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại,

tố cáo, kiến nghị và xử lý vi phạm về giáo dục theo quy định của pháp luật; kiểm tra, giám sát việc thực hiện công khai chất lượng giáo dục, điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục, tài chính của các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của UBND huyện

Phòng Giáo dục và Đào tạo

Phòng GD&ĐT có trách nhiệm tham mưu giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện

- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan:

+ Trình UBND huyện dự thảo các văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách, pháp luật, các quy định của UBND tỉnh về hoạt động giáo dục trên địa bàn; dự thảo các quyết định, chỉ thị, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục, chương trình cải cách hành chính về giáo dục và các văn bản khác về giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của UBND huyện

+ Trình Chủ tịch UBND huyện dự thảo thành lập, cho phép thành lập, sát nhập, chia, tách, giải thể các cơ sở giáo dục trực thuộc Phòng GD&ĐT và các văn bản khác về giáo dục thuộc thẩm quyền của UBND huyện

- Hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ, tuyển sinh, thi cử, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, công tác phổ cập giáo dục, chống mù chữ, xây dựng xã hội học tập; cho phép các cơ sở giáo dục khác hoạt động theo quy định

- Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo theo định kỳ và hàng năm về

tổ chức và hoạt động giáo dục theo hướng dẫn của UBND huyện và Sở GD & ĐT

- Chủ trì xây dựng, tổng hợp kế hoạch biên chế sự nghiệp giáo dục của các

Trang 36

cơ sở giáo dục trực thuộc theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT và UBND huyện; quyết định phân bổ biên chế sự nghiệp các cơ sở giáo dục sau khi được cấp có thẩm quyền phê duỵệt; hướng dẫn, tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc luân chuyển, biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chính sách đối với nhà giáo và cán bộ QLGD trên địa bàn huyện

`- Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, luân chuyển, cách chức, giáng chức người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu; công nhận hội đồng trường các cơ sở giáo dục trực thuộc; công nhận, không công nhận hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các cơ sở giáo dục ngoài công lập thuộc quyền quản lý của UBND huyện.- Chủ trì xây dựng, lập dự toán ngân sách giáo dục hàng năm đối với các cơ sở giáo dục trực thuộc; quyết định phân bổ, giao dự toán chi ngân sách giáo dục cho các cơ sở giáo dục trực thuộc sau khi cấp

có thẩm quyền phê duyệt; phối hợp với cơ quan tài chính, kế hoạch cùng cấp xác định, cân đối Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục hàng năm ở địa phương, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc sử dụng Ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác cho giáo dục trên địa bàn

- Thực hiện cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về giáo dục theo quy định của pháp luật; công khai điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục, công khai tài chính của các cơ sở giáo dục trực thuộc

- Giúp UBND huyện quản lý các cơ sở giáo dục MN, TH, THCS, THPT nhiều cấp học và các cơ sở giáo dục khác thuộc thẩm quyền quản lý của UBND huyện

Uỷ ban nhân dân xã

Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý Nhà nước

về giáo dục trên địa bàn xã, cụ thể:

- Xây dựng và trình Hội đồng nhân dân xã kế hoạch phát triển giáo dục ở địa phương và tổ chức thực hiện khi được phê duyệt, xây dựng quy hoạch về đất đai cho các cơ sở giáo dục trên địa bàn theo tiêu chuẩn quy định trường chuẩn Quốc gia

do Bộ GD&ĐT ban hành

- Cho phép thành lập nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục theo tiêu chuẩn

Trang 37

của Bộ GD&ĐT quy định; đảm bảo và chịu trách nhiệm kiểm tra các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục trên địa bàn hoạt động đúng quy định của pháp luật

- Thực hiện xã hội hoá giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, vận động nhân dân tham gia chăm lo cho giáo dục, phối hợp với các nhà trường chăm lo con em thực hiện nếp sống văn hoá mới, tham gia bảo vệ của công, bảo vệ

và tôn tạo các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, công trình văn hoá, công trình giành cho các hoạt động học tập, vui chơi của học sinh; huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục của xã

- Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo định kỳ và hàng năm về tổ chức và hoạt động giáo dục trên địa bàn theo hướng dẫn của UBND huyện và Phòng GD&ĐT

- Phối hợp với các cơ sở giáo dục trên địa bàn tổ chức đăng ký, huy động tối

đa người trong độ tuổi đi học để phổ cập giáo dục, chống mù chữ, tạo điều kiện cho mọi người được học tập thường xuyên, học tập suốt đời

- Quản lý Trung tâm học tập cộng đồng, phối hợp với Phòng GD&ĐT quản

lý cơ sở giáo dục MN, TH, THCS trên địa bàn

2.2.3.2 Phân cấp quản lý NSNN cho GD-ĐT

Phân cấp quản lý NSNN có thể hiểu là việc phân định phạm vi trách nhiệm

và quyền hạn của mỗi cơ quan Nhà nước ở mỗi cấp trong quá trình quản lý, điều hành NSNN

Mục đích phân cấp quản lý NSNN là: i) Tăng cường hiệu quả sử dụng NSNN, ii) phát huy tính chủ động của địa phương, iii) khuyến khích cung cấp hiệu quả hàng hóa công cộng, iv) tăng cường năng lực quản lý của các cấp chính quyền địa phương, v)tạo điều kiện cho việc giám sát NSNN

Về cơ bản, phân cấp quản lý NSNN phải đồng bộ với phân cấp quản lý Nhà nước, đảm bảo tính hiệu quả và công bằng, phát huy vai trò và nâng cao năng lực quản lý, giải trình của địa phương

Về nguyên tắc, Luật NSNN qui định các hạng mục chi phân cấp cho NSTW

và NSĐP Tổng chi trong Dự toán NSNN hàng năm của mỗi cấp ngân sách được Quốc hội quyết định cùng với khoản bổ sung cân đối cho NSĐP

Trang 38

- Về chi cho đầu tư phát triển

Luật NSNN qui định nhiệm vụ chi đầu tư phát triển cho đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội không có khả năng thu hồi vốn do cấp trung ương hoặc địa phương quản lý

Luật NSNN qui định thẩm quyền của Quốc hội trong quyết định các dự án,

các công trình quan trọng quốc gia được đầu tư từ NSNN (Điều 15 khoản 5 Luật NSNN năm 2002) còn Chính phủ thực hiện tổ chức và điều hành NSNN được Quốc

hội quyết định, kiểm tra việc thực hiện NSNN trong đó có các dự án và công trình quan trọng quốc gia, các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, các dự án và công

trình xây dựng cơ bản khác (Điều 20, Khoản 5, Luật NSNN năm 2002) Chính phủ

với tư cách là cơ quan điều hành NSNN có quyền phân cấp việc quản lý đầu tư xây dựng các công trình, dự án có sử dụng NSNN

- Về chi thường xuyên

Các khoản chi thường xuyên là các khoản chi không thể thiếu được để duy trì các mặt hoạt động của bộ máy nhà nước Các khoản chi được lập phải căn cứ vào nguồn thu từ thuế, phí và lệ phí và theo các chế độ, tiêu chuẩn định mức do cơ quan

có thẩm quyền ban hành (Điều 37, Luật NSNN năm 2002) Luật NSNN qui định

nghĩa vụ hỗ trợ của NS cấp trên cho NS cấp dưới khi phát sinh các nhiệm vụ quan trọng cần thiết mà sau khi bố trí lại NSNN, sử dụng dự phòng, dự trữ tài chính vẫn

chưa đáp ứng được (Điều 36, Khoản 3, Luật NSNN năm 2002)

Hiện nay, chi cho giáo dục là nhiệm vụ chi quan trọng trong đó nhà nước đóng vai trò chính trong việc cung cấp dịch vụ Việc phân cấp cụ thể cho các địa phương căn cứ vào mức chi cho giáo dục trên đầu người, trừ một số địa phương như

Bà Rịa, Vũng Tầu, thành phố HCM, nơi thu nhập bình quân chi cho đầu người cao nhất nên trên thực tế, các tỉnh có thu nhập bình quân đầu người thấp nhận được mức đầu tư cho giáo dục trên đầu người cao hơn so với các tỉnh khác

Như vậy, theo phân cấp quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT của huyện

do UBND huyện trực tiếp quản lý, các khoản chi bao gồm các khoản chi cho con người, chi cho công tác giảng dạy, chi cho quản lý hành chính, chi cho mua sắm tài sản, sửa chữa lớn tài sản cố định hoặc xây dựng nhỏ của các trường mầm non, tiểu học, phổ thông cơ sở và các trường Đảng, đoàn thể trên địa bàn huyện quản lý

Trang 39

2.2.4 Nguyên tắc và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo

2.2.4.1 Nguyên tắc trong quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT

Nếu xét về thời gian chi thì chi Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục được coi là một khoản chi thường xuyên Vì vậy quản lý chi Ngân sách nhà nước cho sự ngiệp giáo dục phải đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc của quản lý chi thường xuyên của ngân sách nhà nước

Nguyên tắc quản lý chi theo dự toán

Quản lý chi theo dự toán được coi là rất quan trọng đối với việc quản lý chi thường xuyên của Ngân sách nhà nước nói chung và chi cho giáo dục nói riêng Ngân sách nhà nước hàng năm được sử dụng để đầu tư cho nhiều lĩnh vực khác nhau, mức chi cho mỗi loại hoạt động được xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng sẽ dẫn đến các mức chi từ Ngân sách nhà nước cho các hoạt động đó cũng có

sự khác nhau Mặt khác quản lý theo dự toán thì mới đảm bảo được cân đối ngân sách, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành ngân sách, hạn chế tính tuỳ tiện trong quản lý và sử dụng kinh phí ở các đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước

Sự tôn trọng nguyên tắc quản lý chi theo dự toán đối với các khoản chi thường xuyên của Ngân sách nhà nước nói chung và chi cho sự nghiệp giáo dục nói riêng được nhìn nhận qua những giác độ sau:

Mọi nhu cầu chi thường xuyên dự kiến trong năm kế hoạch nhất thiết phải được xác định trong dự toán kinh phí từ cơ sở, thông qua các bước xét duyệt của các cơ quan thẩm quyền từ thấp đến cao Đối với Phòng Giáo dục huyện thì dự toán cho năm kế hoạch phải được lập từ các trường là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách sau đó gửi lên các cấp có thẩm quyền xét duyệt như là Phòng tài chính huyện và UBND huyện

Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên, mỗi ngành, mỗi cấp phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt mà phân bổ và sử dụng cho các khoản chi và phải hạch toán theo đúng mục lục ngân sách

Định kỳ theo chế độ quyết toán kinh phí đã quy định, các ngành, các cấp, các đơn vị khi phân tích đánh giá kết quả thực hiện của kỳ báo cáo phải lấy dự toán làm căn cứ đối chiếu, so sánh

Trang 40

Nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả

Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế tài chính vì nguồn lực thì luôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì không có mức giới hạn nào cả Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm đó luôn phải tính sao cho chi phí ít nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả một cách tốt nhất Hàng năm nguồn thu cho Ngân sách nhà nước thì có hạn nhưng nhu cầu chi Ngân sách nhà nước luôn tăng nhanh so với khả năng huy động được Vì vậy tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm hiệu qủa là cần thiết trong quản lý chi ngân sách nhà nước

Chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc này chỉ khi xây dựng được các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với tình hình thực

tế của sự phát triển kinh tế nói chung và định hướng phát triển của ngành giáo dục nói riêng Đồng thời phải thiết lập được các hình thức cấp phát phù hợp với đặc thù

và yêu cầu quản lý đối với ngành giáo dục

Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc nhà nước

Một trong những chức năng quan trọng của Kho bạc nhà nước là quản lý qũy ngân sách nhà nước, vì vậy Kho bạc nhà nước vừa có quyền, vừa có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi thường xuyên Do đó tăng cường vai trò của Kho bạc nhà nước trong kiểm soát chi thường xuyên của ngân sách nhà nước, hiện nay ở nước ta đã

và đang thực hiện” Chi trực tiếp qua Kho bạc nhà nước”

Chi trực tiếp qua Kho bạc bạc nhà nước là phương thức thanh toán chi trả có

sự tham gia của ba bên: Đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, Kho bạc nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân được nhận các khoản tiền do đơn vị sử dụng Ngân sách nhà nước

uỷ quyền Kho kho bạc nhà nước trích tiền tài khoản của mình để chuyển trả vào tài khoản cho người được hưởng ở một trung gian tài chính nào đó, nơi người hưởng tiền mở tài khoản giao dịch

Đối với các khoản chi cho sự nghiệp giáo dục để đảm bảo nguyên tắc này thì:

- Tất cả các khoản chi cho sự nghiệp giáo dục phải được kiểm tra trước, trong và sau quá trình cấp phát thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán Ngân sách nhà nước được duyệt, đúng tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Mỹ Hào trong giai đoạn 2011 - 2013 - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Mỹ Hào trong giai đoạn 2011 - 2013 (Trang 54)
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Mỹ Hào giai đoạn 2011 - 2013 - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Mỹ Hào giai đoạn 2011 - 2013 (Trang 56)
Bảng 3.3 Tình hình kinh tế của huyện Mỹ Hào giai đoạn 2011 - 2013 - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Bảng 3.3 Tình hình kinh tế của huyện Mỹ Hào giai đoạn 2011 - 2013 (Trang 59)
Bảng 3.3 Quy mô phát triển các ngành học sự nghiệp giáo dục - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Bảng 3.3 Quy mô phát triển các ngành học sự nghiệp giáo dục (Trang 60)
Sơ đồ 4.1 Hệ thống quản lý sự nghiệp GD - ĐT huyện Mỹ Hào - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Sơ đồ 4.1 Hệ thống quản lý sự nghiệp GD - ĐT huyện Mỹ Hào (Trang 65)
Bảng 4.1 Kết quả thực hiện nhiệm vụ GD – ĐT huyện Mỹ Hào - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Bảng 4.1 Kết quả thực hiện nhiệm vụ GD – ĐT huyện Mỹ Hào (Trang 66)
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện chi NSNN huyện Mỹ Hào giai đoạn 2011-2013 - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện chi NSNN huyện Mỹ Hào giai đoạn 2011-2013 (Trang 72)
Sơ đồ 4.2 Tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Sơ đồ 4.2 Tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT (Trang 73)
Sơ đồ 4.3 Mô hình cấp phát vốn NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Sơ đồ 4.3 Mô hình cấp phát vốn NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT (Trang 76)
Bảng 4.7 Tổng hợp ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý huyện Mỹ Hào - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Bảng 4.7 Tổng hợp ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý huyện Mỹ Hào (Trang 79)
Bảng 4.9 Dự toán chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT phân bổ - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Bảng 4.9 Dự toán chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT phân bổ (Trang 82)
Bảng 4.10 Dự toán chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT huyện Mỹ Hào - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Bảng 4.10 Dự toán chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT huyện Mỹ Hào (Trang 83)
Bảng 4.13 Tổng hợp chi tết kết quả thực hiện chi NSNN cho sự nghiệp - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Bảng 4.13 Tổng hợp chi tết kết quả thực hiện chi NSNN cho sự nghiệp (Trang 88)
Bảng 4.15 Đánh giá của phụ huynh học sinh về quản lý sử dụng - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Bảng 4.15 Đánh giá của phụ huynh học sinh về quản lý sử dụng (Trang 91)
Bảng 4.16 Kết quả thực hiện quyết toán chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT huyện Mỹ Hào - Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện mỹ hào, tỉnh hưng yên
Bảng 4.16 Kết quả thực hiện quyết toán chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT huyện Mỹ Hào (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w