1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam có liên quan đến sản xuất nông nghiệp nói chung và sản 3.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến chỉ tiêu s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
LÊ THỊ THANH HẰNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
CỦA GIỐNG LÚA BẮC THƠM SỐ 7 VỤ MÙA 2013
TẠI HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
LÊ THỊ THANH HẰNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA BẮC THƠM SỐ 7 VỤ MÙA 2013 TẠI HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN ÍCH TÂN
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tác giả xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tác giả xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nam, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Lê Thị Thanh Hằng
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Ích Tân
- Trưởng Bộ môn Canh tác học - Trưởng phòng Hành chính tổng hợp - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, người đã tận tình hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ tôi
về chuyên môn trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Canh tác học - Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện hướng dẫn giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi thực hiện tốt đề tài này
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình người thân, anh
em, bạn bè những người luôn ủng hộ, động viên tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn
Luận văn này khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp của các thầy cô, đồng nghiệp và bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nam, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Thị Thanh Hằng
Trang 53 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam 4
1.2 Vai trò của phân đạm và những kết quả nghiên cứu về lượng đạm
1.3 Những kết quả nghiên cứu về mật độ và số dảnh cấy 19
1.4 Những kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ và liều
Trang 61.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà
Nam có liên quan đến sản xuất nông nghiệp nói chung và sản
3.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến chỉ tiêu sinh
3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến thời gian sinh
3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến động thái tăng
trưởng chiều cao cây của giống lúa Bắc thơm số 7 40 3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến động thái đẻ
nhánh, hệ số đẻ nhánh và hệ số đẻ nhánh hữu hiệu của giống lúa
3.1.4 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến động thái thái tăng
3.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các chỉ tiêu sinh lý
Trang 73.2.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá
3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khối lượng tích lũy
chất khô và tốc độ tích lũy chất khô của giống lúa Bắc thơm số 7 56 3.3 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khả năng chống
3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và hệ số kinh tế của
3.4.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của giống lúa Bắc thơm số 7 64 3.4.2 Năng suất sinh vật học và hệ số kinh tế của giống lúa Bắc thơm số 7 73 3.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu suất bón đạm
và hiệu quả kinh tế của giống lúa Bắc thơm số 7 76 3.5.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu suất bón đạm
3.5.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu quả kinh tế
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CCCC
CS
CT HSBĐ HSĐN HSĐNHH HSKT KLTLCK NSLT NSSVH NSTT SLCC SNHH STT TBNN TGST TLHC TSC
Chiều cao cây cuối cùng Cộng sự
Công thức Hiệu suất bón đạm
Hệ số đẻ nhánh
Hệ số đẻ nhánh hữu hiệu
Hệ số kinh tế Khối lượng tích lũy chất khô Năng suất lý thuyết
Năng suất sinh vật học Năng suất thực thu
Số lá cuối cùng
Số nhánh hữu hiệu
Số thứ tự Trung bình nhiều năm Thời gian sinh trưởng
Tỷ lệ hạt chắc Tuần sau cấy
Trang 91.7 Diện tích một số loại cây trồng chính của huyện Kim Bảng 28 1.8 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Kim Bảng 29 2.1 Một số đặc điểm nông hóa thổ nhưỡng đất làm thí nghiệm 31 3.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến thời gian sinh
3.2.a Ảnh hưởng của mật độ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây 40 3.2.b Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều
3.2.c Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến động thái tăng
3.3.a Ảnh hưởng của mật độ đến động thái tăng trưởng số nhánh 44 3.3.b Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng số
Trang 103.4.b Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng số lá 49 3.4.c Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến động thái tăng
3.5.a Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chỉ số diện tích lá 52 3.5.b Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá 53 3.5.c Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến chỉ số diện
3.6.c Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khối lượng tích lũy
3.7 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khả năng chống
3.8.a Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất và
3.8.b Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng
3.8.c Ảnh hưởng tương tác của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu
3.9.a Ảnh hưởng của mật độ cấy đến năng suất sinh vật học và hệ số
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực chính của nước
ta và nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước Châu Á, nó có vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Khoảng 40 % dân số trên thế giới sống bằng lúa gạo, sử dụng lúa gạo làm nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần thức ăn hằng ngày Với việc có ảnh hưởng tới ít nhất 65% dân số thế giới tập trung tại các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh Lúa gạo có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội
So với nghề trồng lúa ở các nước châu Á, nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch
sử lâu đời nhất Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam Cây lúa đã có mặt từ 3000 - 2000 năm trước công nguyên Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như những chính sách đổi mới trong quản lý nông nghiệp, nghề trồng lúa nước ở nước ta cũng có nhiều thay đổi tích cực Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh, đến nay nền nông nghiệp của nước ta đã không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Thái Lan
Tuy nhiên, do dân số tăng nhanh, quá trình đô thị hoá phát triển mạnh, thêm vào đó là sự biến đổi khí hậu, diện tích đất bị sa mạc hóa, đất nhiễm mặn tăng… đã làm diện tích đất trồng lúa ngày càng thu hẹp nên vấn đề lương thực vẫn là yêu cầu cấp bách phải quan tâm trong những năm trước mắt và lâu dài Để đảm bảo nhu cầu lương thực trong nước và xuất khẩu cần nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật như: giống, mật độ, bón phân, thuốc bảo vệ thực vật… nhằm tăng năng suất, hiệu quả trồng lúa trên đơn vị diện tích
Kim Bảng là huyện sản xuất nông nghiệp còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của huyện Trong sản xuất nông nghiệp cây lúa là cây trồng chính có ảnh hưởng đến đời sống của hầu hết người dân trong huyện Hiện nay diện
Trang 12tích lúa chất lượng toàn huyện đang có xu hướng tăng đặc biệt là giống Bắc thơm 7 chiếm 25- 30% diện tích, tuy nhiên mức độ gây hại của bệnh bạc lá, đặc biệt trong vụ mùa là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc mở rộng diện tích cũng như làm giảm năng suất của lúa Bắc thơm 7 Do vậy Viện Nghiên cứu lúa Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã chọn tạo giống Bắc thơm 7 kháng bạc lá bằng phương pháp lai chuyển gen kháng bệnh bạc lá
Để phát huy hết tiềm năng năng suất của giống lúa Bắc thơm 7, việc nghiên cứu, thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật thâm canh là rất cần thiết Đạm là một trong các yếu tố dinh dưỡng thiết yếu nhất và ảnh hưởng rõ nhất đến sinh trưởng và năng suất cây trồng Cường độ quang hợp có tương quan thuận và chặt với hàm lượng đạm trong lá… Vì vậy việc xác định lượng đạm bón phù hợp cho mỗi giống lúa và mỗi vùng sản xuất là cần thiết nhằm tăng hiệu suất sử dụng đạm và góp phần giảm ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó việc xác định mật độ cấy hợp lý cũng là một biện pháp kỹ thuật quan trọng đối với mỗi giống lúa, mỗi chân đất cũng như chế độ thâm canh…Mật độ cấy hợp lý sẽ tạo nên cấu trúc quần thể tốt nhất, góp phần nâng cao hiệu suất quang hợp, khai thác tối ưu lượng bức xạ mặt trời và dinh dưỡng trong đất
Do vậy, mật độ cấy và lượng đạm bón là hai chỉ tiêu quan trọng cần kết hợp hài hòa,
xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Ảnh hưởng của mật độ và
lượng đạm bón đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của giống lúa Bắc thơm
số 7 vụ mùa 2013 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Xác định được mật độ và lượng đạm bón phù hợp nhằm nâng cao năng suất
và hiệu quả kinh tế cho giống lúa Bắc thơm số 7 trong vụ mùa tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý, mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống lúa Bắc thơm số 7 vụ mùa
2013 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Trang 13- Phân tích, đánh giá ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và hệ số kinh tế của giống lúa Bắc thơm số 7 vụ mùa
2013 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
- Đánh giá hiệu suất bón đạm, hiệu quả kinh tế của giống lúa Bắc thơm số 7
vụ mùa 2013 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo góp phần định hướng cho việc nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh cũng như đề xuất xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh cho giống lúa Bắc thơm số 7
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần tích cực trong việc chỉ đạo, hướng dẫn sản xuất nhằm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế cũng như mở rộng sản xuất giống lúa Bắc thơm số 7 tại huyện Kim Bảng – tỉnh Hà Nam
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, và có khả năng thích nghi rộng với các vùng khí hậu Trên thế giới vùng trồng lúa có thể kéo dài từ 53o vĩ Bắc đến 10o
vĩ Nam, song phân bố chủ yếu ở châu Á từ 30o vĩ Bắc đến 10o vĩ Nam Hiện nay thế giới có 114 quốc gia trồng lúa nhưng tập trung chủ yếu ở châu Á (chiếm 90%) với nhiều nước sản xuất lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan (Nguyễn Hữu Tề, 1997)
Về diện tích trồng lúa, trong khoảng 25 năm từ năm 1955 đến năm 1980 diện tích trồng lúa trên thế giới tăng nhanh, bình quân 1,36 triệu ha/năm Từ năm 1980 đến năm 1999, diện tích trồng lúa tăng chậm và đạt cao nhất vào năm 1999 (156,77 triệu ha) với tốc độ tăng trưởng bình quân 630.000 ha/năm Trong những năm gần đây diện tích trồng lúa trên thế giới đạt hơn 160 triệu ha và có xu hướng giảm dần
Về năng suất, từ năm 1955 đến năm 1985 năng suất bình quân trên thế giới tăng khoảng 1,3 tấn/ha Đặc biệt là sau cuộc cách mạng xanh của thế giới vào những năm 1965 - 1970, với sự ra đời của các giống lúa thấp cây, ngắn ngày, không cảm quang, mà tiêu biểu là giống lúa IR5, IR8 Các giống lúa này có yêu cầu kỹ thuật cao hơn, tạo điều kiện cho các nước tăng nhanh sản lượng lúa bằng con đường tăng năng suất nhờ có hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh và đầu tư phân bón, kỹ thuật cao
Theo số liệu thống kê của Fao hện nay năng suất lúa trung bình thế giới đạt xấp
xỉ 4,5 tấn/ha trong đó Ai Cập, Úc, Mỹ, Hi Lạp, Uruguay, Tây Ban Nha là những nước
có năng suất cao đạt trên 7 tấn/ha đứng đầu về năng suất lúa trên thế giới Trong 10 quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới, Trung Quốc, Việt Nam, Indonexia là những
nước có năng suất lúa cao đạt 5,1 đến 6,7 tấn/ha (FAOSTAT.FAO - 2013)
Trang 15Bảng 1.1 Sản xuất lúa gạo của thế giới từ năm 2005 – 2012 Chỉ tiêu
Năm (triệu ha) Diện tích Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (triệu tấn)
2012 Hiện nay diện tích gieo trồng lúa trên thế giới đạt khoảng hơn 163 triệu ha và sản lượng đạt hơn 718 triệu tấn
Các nước sản xuất lúa gạo chính trên thế giới hiện nay phải kể đến là Ấn Độ,
Trung Quốc, Inđônêxia, Thái Lan, Banglades, Myanmar, Việt Nam…
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo của các nước sản xuất chính
trên thế giới năm 2012 Tên nước (triệu ha) Diện tích Năng suất (tấn/ha) (triệu tấn) Sản lượng Toàn cầu 163,463 4,39 718,456
Trang 16Qua bảng số liệu cho thấy, chỉ riêng sản lượng lúa của Ấn Độ và Trung Quốc
đã chiếm gần 50 % sản lượng lúa toàn cầu Tuy Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất trên thế giới Trung Quốc lại là quốc gia có sản lượng lớn nhất thế giới
và cũng là nước có năng suất trung bình lớn nhất trong 10 quốc gia sản xuất chính Bên cạnh đó Inđônêxia, Việt Nam cũng là một trong những nước có năng suất trung bình và sản lượng lúa đạt cao trên thế giới
Là một trong những quốc gia chính về sản xuất lúa gạo, Thái Lan, Việt Nam,
Ấn Độ cũng là những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới Đặc biệt, năm 2012 sản lượng gạo xuất khẩu của Ấn Độ đạt 9,5 triệu tấn, vượt Thái Lan trở thành nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới (Phúc Duy, 2013)
Tuy nhiên theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Thái Lan sẽ sớm giành lại và duy trì được danh hiệu nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới trong vòng ít nhất 10 năm tới
Trong báo cáo mới nhất của mình, OECD nhận định lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan sẽ bật tăng trở lại lên mức 8,8 triệu tấn trong năm 2013 và sau đó duy trì khoảng 12 triệu tấn cho đến năm 2022
Cũng theo OECD, Việt Nam - nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới trong năm 2012 - sẽ vẫn duy trì ngôi vị này trong giai đoạn 2013 - 2022 Lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ vượt qua ngưỡng 8 triệu tấn vào năm 2015 và tăng lên 9,7 triệu tấn vào năm 2022
Đối với Ấn Độ, lượng gạo xuất khẩu của nước này có thể sẽ giảm còn khoảng 6,3 triệu tấn trong năm 2013 và tăng trở lại lên 7,2 triệu tấn trong năm 2015 và sau
đó, giảm xuống khoảng 5,3 triệu tấn vào năm 2022 (Linh Đào, 2013)
Trang 17Bảng 1.3 10 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới năm 2011
Nguồn: USDA (trích dẫn bởi Bộ Công thương, 2012)
Với Trung Quốc, tuy là nước có sản lượng gạo lớn nhất thế giới, song bên cạnh xuất khẩu gạo chất lượng cao, Trung Quốc đang phải nhập thêm từ những nguồn cung có chi phí thấp, trong đó có Việt Nam và Myanmar, với lượng nhập những năm gần đây tăng khá mạnh Nhập khẩu gạo vào Trung Quốc năm 2012 đã tăng gấp 4 lần so với năm trước đó, lên 2,4 triệu tấn Trong 9 tháng đầu 2013, họ đã nhập khẩu tới 3,2 triệu tấn, vượt cả Nigeria để trở thành nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới, và Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo năm 2014 nước này sẽ nhập khẩu kỷ lục mới 3,4 triệu tấn (T.H – Kyodo, 2013)
Trong 10 nước nhập khẩu lớn nhất thế giới (bảng 1.4), Indonesia, Nigeria, Iran, EU-27, Philippin là những nước có lượng gạo nhập khẩu cao và ổn định qua
các năm
Trang 18Bảng 1.4 10 nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới năm 2011
Nguồn: Bộ Nông nghiệp Mỹ, 2012 (Trích bởi Trần Huỳnh Thúy Phượng, 2013)
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và đặc biệt là lượng bức xạ mặt trời cao nên rất thích hợp với sự phát triển của cây lúa Với địa bàn trải dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, màu mỡ (đồng bằng châu thổ Sông Hồng
và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long…) Vì thế, Việt Nam được coi là cái nôi hình thành lúa nước
Nông nghiệp trồng lúa không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, mà còn là
cơ sở kinh tế sống còn của đất nước với 72% lực lượng lao động
Bên cạnh đó, ưu thế lớn của nghề trồng lúa còn thể hiện rõ ở diện tích canh tác trong tổng diện tích đất nông nghiệp cũng như tổng diện tích trồng cây lương thực Ngành trồng trọt chiếm 4/5 diện tích đất canh tác trong khi đó lúa giữ vị trí độc tôn, gần 85% diện tích lương thực (Khuyết danh, 2013)
Như vậy bên cạnh sự thu hút về nguồn lực con người thì sự thu hút nguồn lực đất đai cũng lại khẳng định rõ vị trí của lúa gạo trong nền kinh tế quốc dân Cây lúa,
Trang 19hạt gạo đã trở nên thân thuộc gần gũi đến mức từ bao đời nay người dân Việt Nam coi đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống Từ những bữa cơm đơn giản đến các bữa tiệc sang trọng, không thể thiếu sự góp mặt của hạt gạo ở dạng này hay dạng khác
Không chỉ giữ vai trò to lớn trong đời sống kinh tế, xã hội Hình ảnh cây lúa
đã trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần của người Việt Nam và có giá trị lịch sử to lớn, bởi lịch sử phát triển của cây lúa gắn liền với lịch sử phát triển của cả dân tộc Việt Nam, in dấu ấn trong từng thời kỳ thăng trầm của đất nước Trước năm 1945, diện tích đất trồng lúa của Việt Nam là 4,5 triệu ha, năng suất trung bình đạt 1,3 tấn/ha, sản lượng đạt 5,4 triệu tấn Trong thời gian này chủ yếu là các giống lúa cũ, ở Miền Bắc sử dụng các giống lúa cao cây, ít chịu thâm canh, dễ đổ ngã, năng suất thấp
Từ năm 1963 - 1965, ở những vùng chuyên canh lúa do diện tích nhiều, thường có một số diện tích cấy chậm, bị muộn thời vụ Nhờ tiến bộ kỹ thuật đã đưa vào một số giống lúa xuân thấp cây, ngắn ngày để đảm bảo được thời vụ Vì vậy chúng ta đã chuyển thành công vụ lúa chiêm thành vụ lúa xuân, chuyển từ xuân sớm thành xuân chính vụ với 80-90% diện tích và thời kỳ 1985-1990 sang xuân sớm (5-10%) và 70-80% là xuân muộn Một số giống lúa xuân đã có năng suất cao hơn hẳn lúa chiêm, có thể cấy được cả hai vụ chiêm xuân và vụ mùa Do thay đổi cơ cấu sản xuất lúa, kết hợp với áp dụng hàng loạt các tiến bộ kỹ thuật mới nên sản xuất lúa ở Việt Nam ngày càng phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể
Từ năm 1979 đến 1985, sản lượng lúa cả nước tăng từ 11,8 lên 15,9 triệu tấn, nguyên nhân là do ứng dụng giống mới, tăng diện tích và năng suất
Từ khi thực hiện đổi mới (năm 1986) đến nay, Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất lúa Tính riêng 2 năm 1988 và 1989 sản lượng lương thực tăng thêm 2 triệu tấn/năm và Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo với sản lượng năm sau cao hơn năm trước (Nguyễn Thị Nghiên Thuận, 2012)
Hiện nay, với những tiến bộ kỹ thuật vượt bậc trong nông nghiệp, người dân
đã được tiếp cận với những phương thức sản xuất tiên tiến, biết áp dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, dùng các giống lúa mới, các giống lúa ưu thế lai, các giống
Trang 20lúa cao sản, các giống lúa thích nghi với điều kiện đặc biệt của từng vùng, các giống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu… kết hợp đầu tư thâm canh cao, hợp lý Nhờ vậy, ngành trồng lúa nước ta đã có những bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng
và giá trị kinh tế
Tổng kết về các giai đoạn tăng năng suất thêm 1 tấn, theo Nguyễn Văn Luật và
cs (2013), ông cha ta đã phải trải qua trên 80 năm trong giai đoạn từ năm 1868 đến năm 1955 Thời gian trên còn khoảng 30 năm trong giai đoạn từ năm 1965 đến năm
1985 Và còn khoảng 15 năm trong giai đoạn năm 1985 đến năm 1999 Đến nay, năng suất lúa bình quân đạt 5-6 tấn/ha và sản lượng đạt khoảng trên 40 triệu tấn Nước ta đã vươn lên trở thành quốc gia xuất khẩu gạo và khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế với tư cách quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 thế giới trong nhiều năm qua
Bảng 1.5 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam từ năm 2005 - 2012
Năm Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 21Hiện nay, diện tích canh tác lúa của nước ta đang bị giảm dần Theo báo cáo năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mỗi năm có bình quân khoảng 73.000 héc ta đất nông nghiệp bị thu hồi để làm khu công nghiệp, khu đô thị, sân golf Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, cán bộ Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội, đa số diện tích bị quy hoạch, thu hồi đều là đất tốt, thuộc đất ven lộ Hiện nay, diện tích đất trồng lúa trên phạm vi cả nước chỉ còn khoảng 4,2 triệu héc ta Những năm qua, nhờ năng suất lúa tăng chúng ta đã bù đắp phần sản lượng lúa bị mất do giảm diện tích Tuy nhiên, theo nhiều nhà khoa học, việc tiếp tục tăng năng suất trong những năm tới là rất khó Do vậy, an ninh lương thực của chúng ta có thể bị ảnh hưởng do diện tích trồng lúa giảm (Hồ Hùng, 2013)
1.2 Vai trò của phân đạm và những kết quả nghiên cứu về lượng đạm bón cho lúa
Phân bón có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, nó cần suốt trong quá trình phát triển, từ giai đoạn mạ cho đến lúc thu hoạch Cùng với các yếu tố năng lượng khác, phân bón cung cấp cho cây là nguồn nguyên liệu để tái tạo ra các chất dinh dưỡng như tinh bột, chất đường, chất béo, protein Theo Yoshida (1981) và Trần Thúc Sơn (1996), các giống lúa có thời gian sinh trưởng khác nhau thì yêu cầu phân bón cũng khác nhau Trong các yếu tố dinh dưỡng thì đạm là yếu tố quan trọng nhất với cây lúa, đạm có phản ứng rõ hơn lân và kali Hơn 2/3 lượng phân đạm ở Việt Nam được sử dụng cho lúa
Đối với thực vật nói chung và cây lúa nói riêng thì đạm có vai trò sinh lý đặc biệt quan trọng vì nó là thành phần của các protein - chất cơ bản biểu hiện của sự sống Đạm cũng là thành phần của nhiều chất hữu cơ quan trọng tham gia mọi quá trình trao đổi chất của cây trồng như các enzim, coenzim (NAD, NADP, FAD, CoA), là thành phần của các hợp chất cao năng như ATP, GTP, UTP… cung cấp năng lượng cho các hoạt động sống của cây Đạm tham xây dựng vòng Mg-porphirin – nhân của diệp lục tố, là chất đóng vai trò quan trọng cho quá trình quang hợp Ngoài ra đạm còn là thành phần chủ yếu của một số phytohoocmon tác nhân điều tiết quá trình sinh trưởng phát triển của cây Do vậy đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hoá cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hút các yếu tố dinh dưỡng khác (Vũ Hữu Yêm, 1995)
Trang 22Theo Yoshida (1981), đối với lúa, nếu như không bón đạm thì ở đâu cũng thiếu đạm Theo Nguyễn Văn Bộ (2003), mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấn đạm, 456.000 tấn lân và 402.000 tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62%
Theo Nguyễn Như Hà (2006), đạm có vai trò quan trọng trong phát triển bộ
rễ, thân, lá, chiều cao và đẻ nhánh của cây lúa Tuy nhiên theo Sarker (2002), lượng đạm càng cao thì lúa đẻ nhánh càng nhiều nhưng lụi đi cũng nhiều Việc cung cấp đạm đủ và đúng lúc làm cho lúa vừa đẻ nhánh nhanh lại tập trung, tạo được nhiều dảnh hữu hiệu, là yếu tố cấu thành năng suất có vai trò quan trọng nhất đối với lúa Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và Đỗ Thị Hường (2009) khi xác định liều lượng đạm viên nén bón cho lúa tẻ thuần chất lượng cao N46 cũng chỉ ra rằng khi tăng lượng đạm bón từ 0 - 120 kg N/ha thì chiều cao cây, tổng số nhánh, số nhánh hữu hiệu/khóm, LAI giai đoạn đẻ nhánh rộ và trước trỗ cũng tăng Bên cạnh
đó đạm ảnh hưởng đến quang hợp thông qua hàm lượng diệp lục có trong lá, nếu bón lượng đạm cao thì cường độ quang hợp ít bị ảnh hưởng mặc dù điều kiện ánh sáng yếu
Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994), khi tăng lượng đạm cường độ quang hợp, cường độ hô hấp và hàm lượng diệp lục của cây lúa tăng lên, nhịp độ quang hợp, hô hấp không khác nhau nhiều nhưng cường độ quang hợp tăng mạnh hơn cường độ hô hấp gấp 10 lần do vậy làm tăng tích luỹ chất khô của cây
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Cường và cs (2005), khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất chất khô ở các giai đoạn sinh trưởng và năng suất hạt của một số giống lúa lai và lúa thuần cho thấy khi tăng lượng đạm bón
từ 0 đến 120 kg N/ha thì chỉ số diện tích lá (LAI), trọng lượng chất khô (DM) và tốc
độ tích luỹ chất khô (Crop growth rate – CGR) của lúa lai (Việt lai 20, Bắc Ưu 903)
và lúa thuần (CR 203) đều tăng, song tốc độ tích lũy chất khô của hai giống lúa lai vượt trội so với giống lúa thuần khi tăng mức bón đạm từ 60-180 kg N/ha
Bên cạnh vai trò làm tăng tích lũy chất khô, đạm có tác dụng làm tăng số hoa phân hoá, tăng số hạt trên bông, cùng với kali xúc tiến các sản phẩm tích luỹ trong cây về hạt làm tăng tỷ lệ hạt chắc và hàm lượng protein trong hạt
Trang 23Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Cường và Trần Thị Vân Anh (2006) chỉ ra rằng khi tăng lượng đạm bón thì năng suất hạt của các giống lúa thuộc cả nhóm lúa lai, lúa cải tiến và lúa địa phương đều tăng, đặc biệt tăng mạnh ở các giống lúa lai
do tăng chủ yếu số bông/khóm, số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc
Tuy nhiên theo quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và cs (2009) tại Thái Bình và Hưng Yên trên giống lúa N46, với các yếu tố cấu thành năng suất, khi tăng lượng đạm bón 0-120 kg N/ha thí số bông/m2 tăng nhưng tổng số hạt trên bông lại khác nhau không có ý nghĩa ở các mức đạm, còn tỷ lệ hạt chắc trên bông có chiều hướng tăng khi tăng lượng đạm bón đến 90 kg N/ha, nhưng nếu bón 120 kg N/ha thì
tỷ lệ hạt chắc bắt đầu giảm thấp hơn thậm trí còn kém cả công thức đối chứng Như vậy, đạm ảnh hưởng đến tất cả các đặc tính của cây góp phần tăng năng suất và chất lượng của các giống lúa Thiếu đạm, sinh trưởng phát triển của cây bị
ức chế, rễ kém phát triển, lá có màu lục nhạt do quá trình tổng hợp diệp lục bị kìm hãm Thiếu đạm lâu ngày diệp lục bị phân huỷ, lá bị úa vàng sau đó cây bị chết Đủ đạm cây phát triển tốt, quang hợp mạnh, năng suất cao Để cung cấp hợp lý nhu cầu phân bón nói chung cũng như đạm nói riêng cần căn cứ vào vào lượng dinh dưỡng cây hút để tạo ra 1 tấn thóc cũng như điều kiện khí hậu đất đai nơi trồng trọt Theo Bùi Huy Đáp (1980), lượng đạm cần thiết để tạo ra 1 tấn thóc từ 17-25
kg N trung bình cần 20,5 kg Thông thường các giống có tiềm năng năng suất cao bao giờ cũng cần một lượng đạm cao
Ở các nước nhiệt đới, theo Yoshida (1985), lượng các chất dinh dưỡng (N,P,K) cần để tạo ra 1 tấn thóc trung bình là: 20,5 kg N; 5,1 kg P2O5; 44 kg K2O Trên nền phối hợp 90 P2O5 - 60 K2O hiệu suất phân đạm và năng suất lúa tăng nhanh ở các mức phân bón từ 40 - 120 kg N/ha
Tổng kết kinh nghiệm trên 60 thí nghiệm khác nhau thực tiễn ở 40 nước có khí hậu khác nhau, theo Mai Văn Quyền (2002), nếu đạt năng suất 3 tấn thóc/ha, lúa lấy đi hết 50 kg N; 26 kg P2O5; 80 kg K2O; 10 kg Ca; 6 kg Mg; 5 kg S Và nếu ruộng lúa đạt năng suất 6 tấn/ha thì dinh dưỡng cây lấy đi là 100 kg N; 50 kg P2O5;
160 kg K2O; 19 kg Ca; 12 kg Mg; 10 kg S Cứ trung bình tạo ra một tấn thóc thì cây lúa lấy đi hết 17 kg N; 8 kg P2O5; 27 kg K2O; 2 kg Mg; 3 kg CaO và 1,7 kg S
Trang 24Còn theo Nguyễn Văn Bộ và cs (2003), trung bình 1 tấn thóc kèm cả rơm rạ cây lấy đi lượng dinh dưỡng từ đất là: 22,2 kg N; 7,1 kg P205; 31,6 kg K20 và nhiều yếu tố trung, vi lượng khác
Theo Trần Thúc Sơn và Đặng Văn Hiến (1995), trên đất phù sa sông Hồng, điều kiện tưới tiêu thuận lợi, nếu không bón phân năng suất lúa chỉ có thể đạt 3,5 tấn/ha song Để đạt được năng suất lúa 5 tấn/ha cần bón 90 - 120 kg N/ha
Tuy nhiên không phải cứ bón nhiều đạm thì tỷ lệ đạm của cây lúa sử dụng nhiều Theo kết quả nghiên cứu sử dụng phân đạm trên đất phù sa sông Hồng của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam từ năm 1992 đến 1994: Phản ứng của phân đạm đối với lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại đất và giống lúa
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của đất, mùa vụ và liều lượng phân đạm bón đến tỷ lệ cây lúa hút của Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng chỉ ra rằng: Ở mức phân đạm
80 kg N/ha, tỷ lệ sử dụng đạm là 46,6%, so với mức đạm này có phối hợp với phân chuồng tỷ lệ hút được là 47,4% Nếu tiếp tục tăng liều lượng đạm đến 160N và 240N, có bón phân chuồng thì tỷ lệ đạm mà cây lúa sử dụng cũng giảm xuống Trên đất bạc màu so với đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụng đạm của cây lúa thấp hơn Khi bón liều lượng đạm từ 40N - 120N thì hiệu suất sử dụng đạm giảm xuống, tuy lượng đạm tuyệt đối do lúa sử dụng có tăng lên
Còn theo kết quả nghiên cứu trung bình nhiều năm, từ năm 1985-1994 của Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, trên đất phù sa được bồi hàng năm có bón 60
kg P2O5 và 30 kg K2O làm nền thì khi có bón đạm đã làm tăng năng suất lúa từ 15%
- 48,5% trong vụ Đông xuân và vụ Hè thu tăng từ 8,5% - 35,6% Hướng chung của hai vụ đều bón đến mức 90 kg N/ha có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức 90 kg N/ha năng suất lúa tăng không đáng kể
Trên đất phù sa sông Hồng, theo Quách Ngọc Ân (1995), bón 180 kg N/ha trong vụ Xuân và 150 kg N/ha trong vụ Mùa vẫn chưa thấy lúa lai giảm năng suất trong khi lúa thường chỉ bón 90 - 110 kg N/ha, quá ngưỡng này năng suất có chiều hướng giảm
Tuy nhiên theo Nguyễn Như Hà (1999), với trình độ thâm canh như hiện nay thì lượng phân đạm bón tối thích cho lúa là 120 kg N/ha Kết quả nghiên cứu của
Trang 25Nguyễn Thị Lan và Nguyễn Văn Duy (2009) trên giống lúa Xi23 trong vụ Xuân năm 2008 tại Thạch Hà - Hà Tĩnh cũng cho thấy lượng đạm 120 Kg N/ha phối hợp với 80-100 kg K2O/ha cho hiệu quả kinh tế của lúa đạt cao nhất
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ích Tân và Nguyễn Thị Thu (2012), khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Japonica J02 trong vụ mùa năm 2010 tại Hưng Yên, cũng cho thấy năng suất lúa Japonica J02 đạt cao nhất 55,3 tạ/ha ở lượng đạm bón 120
Kg N/ha kết hợp với mật độ 45 khóm/m2 Ở cùng mật độ cấy, khi tăng lượng đạm bón năng suất lý thuyết, năng suất thực thu tăng và cao hơn đối chứng với sự sai khác có ý nghĩa ở mức 0,05 Khi tăng lượng đạm bón vượt 120 kg N/ha (140 kg N/ha; 160 kg N/ha) năng suất lúa không tăng lên mà còn giảm ở cả 3 mật độ 40, 45
và 50 khóm/m2
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và cộng sự (2007) lại cho thấy, năng suất thực thu khi bón vãi đạm cho lúa thuần N18 tại Phúc Thọ, Hà Tây vụ mùa 2005 đạt cao nhất 5,58 tấn/ha ở lượng bón 150 kg N/ha
Tuy nhiên lượng đạm viên nén bón cho lúa tẻ thuần chất lượng cao N46 tại Thái Bình và Hưng Yên lại cho năng suất cao nhất ở mức 90 kg N/ha (Nguyễn Thị Lan và Đỗ Thị Hường, 2009)
Đối với giống lúa lai, theo Nguyễn Ích Tân và Nguyễn Thị Toàn (2012), khi nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi mạ và lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống VL75 tại Gia Lâm Hà Nội, nhóm tác giả nhận thấy năng suất thực thu của lúa đạt cao nhất với mức đạm bón 120 kg N/ha ở cả 2 tuổi mạ, nếu tăng lượng đạm bón lên 150 kg N/ha thì năng suất không tăng mà còn giảm ở cả 2 tuối mạ Tuy nhiên với tuổi mạ T1 (mạ 3-3,5 lá), mức bón 90 và 120 Kg N/ha cho năng suất khác nhau không có ý nghĩa
Đối với lúa cạn, khi nghiên cứu về bón phân đạm, Nguyễn Thị Lẫm (1994)
đã kết luận: Liều lượng đạm bón thích hợp cho các giống có nguồn gốc địa phương
là 60 kg N/ha Đối với những giống thâm canh cao như (CK136) thì lượng đạm thích hợp từ 90 - 120kg N/ha
Trang 26Đối với giống lúa chịu hạn CH5, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Như Hà (2006), tại Bắc Quang - Hà Giang, lượng phân đạm thích hợp cho lúa CH5 sinh trưởng tốt và cho năng suất cao cũng từ 90- 120 kg N/ha, tùy thuộc vào mật độ cấy Như vậy đạm là một trong những yếu tố dinh dưỡng quan trọng đối với cây lúa Yêu cầu về đạm cho các giống lúa, ở các vùng, mùa vụ khác nhau là không giống nhau Để đạt được năng suất, hiệu quả kinh tế cao bên cạnh việc cung cấp đủ, cân đối các chất dinh dưỡng cho lúa, cần phải bón đúng cách, đúng thời điểm Đối với lúa, nhu cầu đạm có tính chất liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch Nhưng chủ yếu bón vào 3 thời kỳ: Bón lót trước khi cấy, bón thúc khi đẻ nhánh và bón khi lúa bước vào thời kỳ phân hóa đòng trong đó cần tập trung đạm vào thời kỳ đẻ nhánh vì đây là thời kỳ cây lúa cần nhiều đạm nhất và cũng là thời kỳ khủng hoảng đạm lớn nhất của cây lúa De Datta (1978) cho rằng, cung cấp đủ đạm cho lúa khi cấy và làm đòng sẽ làm tăng số nhánh và số bông Khi cây lúa hút đạm ở thời kỳ hình thành bông sẽ làm tăng tỷ lệ hạt chắc trên bông Theo các tác giả Bùi Huy Đáp (1980), Đào Thế Tuấn (1980) và Nguyễn Hữu
Tề (1997), thông thường cây lúa hút 70% tổng lượng đạm trong giai đoạn đẻ nhánh.Khi chuyển từ giai đoạn đẻ nhánh sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực nhu cầu đạm của cây ít đi Lúc này cây chỉ cần lượng đạm vừa phải chủ yếu nuôi các cơ quan sinh sản và duy trì diện tích quang hợp
Cũng theo Đào Thế Tuấn (1980), cây lúa được bón thoả đáng vào thời kỳ đẻ nhánh rộ thúc đẩy cây lúa đẻ nhánh khoẻ và hạn chế số nhánh bị lụi đi Ở thời kỳ đẻ nhánh của cây lúa, đạm có vai trò thúc đẩy tốc độ ra lá, tăng tỷ lệ đạm trong lá, tăng hàm lượng diệp lục, tích luỹ chất khô và cuối cùng là tăng số nhánh đẻ
Theo Yoshida (1985), lượng đạm cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết định tới 74% năng suất Bón nhiều đạm làm cho cây lúa đẻ nhánh khoẻ và tập trung, tăng số bông/m2; số hạt/bông, nhưng khối lượng nghìn hạt (P1000) ít thay đổi
Nếu giai đoạn đẻ nhánh mà thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh
ít, dẫn đến số bông ít Nếu bón không đủ đạm cây lúa sinh trưởng chậm, thấp cây,
đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá sớm chuyển thành màu vàng, đòng nhỏ, từ đó làm cho năng suất giảm Nếu bón thừa đạm lại làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá
Trang 27mỏng, dễ bị sâu bệnh, dễ lốp đổ, đẻ nhánh vô hiệu nhiều, ngoài ra chiều cao cây phát triển mạnh, trỗ muộn, năng suất giảm
Bên cạnh nhu cầu đạm cao ở thời kỳ đẻ nhánh, Bùi Đình Dinh (1993) cho rằng, cây lúa cũng cần nhiều đạm trong thời kỳ phân hoá đòng và phát triển đòng thành bông, tạo ra các bộ phận sinh sản Thời kỳ này quyết định cơ cấu sản lượng như số hạt/bông, khối lượng nghìn hạt (P1000) Pham Van Cuong (2003) cũng nhấn mạnh thêm về vấn đề này đó là: Việc cung cấp đạm lúc cây trưởng thành là điều kiện cần thiết để làm chậm quá trình già hoá của lá, duy trì cường độ quang hợp khi hình thành hạt chắc và tăng Protein tích luỹ vào hạt
Về hiệu suất bón đạm:
Hiệu suất bón đạm được tính theo công thức sau:
Ef = Kth * Ku
Trong đó: Ef : Hiệu suất bón đạm
Kth: Tỷ lệ đạm thu hồi Nó được tính bằng tỷ số giữa lượng đạm cây hút được và lượng đạm bón vào đất
Ku: Hiệu suất sử dụng đạm Được tính bằng số kg thóc được tạo ra do
Theo Trần Thúc Sơn (1996), trên đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất 1 kg N là
10 – 15 kg thóc ở vụ Xuân và 6 – 9 kg thóc vụ Mùa Nếu bón trên 160 kg N/ha thì hiệu suất của phân đạm giảm rõ rệt
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và cs (2007), khi xác định lượng đạm bón vãi cho dòng lúa thuần N18 tại Phúc Thọ - Hà Tây vụ mùa năm
2005, nhóm tác giả nhận thấy hiệu suất bón đạm đạt cao nhất là 9,2 kg thóc/1 kg N khi bón 100 kg N/ha trên nền 5 tấn phân chuồng + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O trên đất
Trang 282 vụ lúa Tuy nhiên khi bón đạm viên nén cho lúa tẻ thuần chất lượng cao N46, thì hiệu suất cao đạt cao nhất ở mức đạm bón 60 kg /ha Trong đó, Vụ xuân ở Thái Bình đạt 15,7 kg thóc/1kg N; vụ mùa ở Hưng yên đạt 15,8 kg thóc/1 kg N tại Ân Thi và 15 kg thóc/1kg N tại Tiên Lữ (Nguyễn Thị Lan và Đỗ Thị Hường, 2009) Như vậy hiệu suất bón đạm cũng phụ nhiều vào dạng đạm bón, tính chất đất đai và mùa vụ…
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến ưu thế lai về hiệu suất sử dụng đạm của lúa lai F1, theo Phạm Văn Cường và cs (2007), khi tăng lượng đạm bón từ 0 -120 kg N/ha thì hiệu suất bón đạm của VL 20 cao nhất ở mức bón 120 kg N/ha Trong đó vụ xuân đạt 11,8 kg thóc/1kg N, vụ mùa đạt 3,6 kg thóc/1kg N
Về thời gian hữu hiệu để cung cấp đạm, theo Kimura và Chiba (1943), thời gian hữu hiệu để cung cấp đạm cho sự tạo hạt thay đổi tùy theo mức cung cấp đạm Theo tác giả, hiệu suất sản xuất riêng phần của cả hạt và rơm cao hơn khi sự cung cấp đạm thấp hơn; có 2 đỉnh trong hiệu suất sản xuất riêng phần đối với hạt Đỉnh thứ nhất không liên hệ với giai đoạn sinh trưởng đặc biệt nhưng liên hệ với lượng đạm hấp thu bởi cây, khi toàn bộ đạm hấp thu đến 170 mg N/cây Như vậy đỉnh thứ nhất biểu hiện ở giai đoạn II (sau cấy 23 ngày) khi nồng độ đạm trong dung dịch cao và biểu hiện ở giai đoạn sinh trưởng trễ khi nồng độ đạm thấp Đỉnh thứ 2 biểu hiện ở giai đoạn VI (từ 19 đến 9 ngày trước trỗ gié), khi nồng độ đạm vừa phải Khi nồng độ đạm cao không có đỉnh thứ 2 Như vậy nếu lượng đạm rất hạn chế, nên bón đạm vào 20 ngày trước trỗ gié Khi nguồn đạm vừa phải, có thể được phân ra hai lần vào giai đoạn sinh trưởng sớm và khoảng 20 ngày trước trổ gié Khi nguồn đạm dồi dào, bón vào giai đoạn sinh trưởng sớm hữu hiệu nhất cho sự tạo hạt (trích dẫn bởi Yoshida, 1981)
Yoshida (1981) cũng cho rằng, bón đạm vào khoảng 20 ngày trước trỗ gié cho hiệu suất sản xuất cao khi mức đạm vừa hay thấp Đạm hấp thu được lúc này được dùng hữu hiệu để tăng số gié hoa và kích thước bông Đạm hấp thu được lúc tượng bông sẽ giúp cho lá giữ màu xanh lục sau trỗ và nhờ đó sẽ góp phần vào sự quang hợp tích cực cho sản lượng hạt
Trang 29Ngoài ra theo Singh và Takahashi (1962), thời điểm bón thúc cũng ảnh hưởng đến sự kháng đổ ngã của cây Sự bón thúc vào lúc 20 ngày trước trỗ gié không chỉ cho trọng lượng bông tối đa mà còn tăng sự kháng đổ ngã do ảnh hưởng của chiều dài và đường kính lóng, sự tích lũy chất khô ở phần gốc và sự khỏe mạnh của thân (trích dẫn bởi Yoshida, 1981)
Như vậy để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong trồng lúa, chúng ta cần bón đầy đủ đạm và cân đối với các chất dinh dưỡng khác, bên cạnh việc bón lót, bón đạm vào giai đoạn đẻ nhánh và phân hóa đòng sẽ nâng cao năng suất và hiệu suất sử dụng đạm
1.3 Những kết quả nghiên cứu về mật độ và số dảnh cấy
Năng suất lúa do số bông trên đơn vị diện tích, số hạt chắc trên bông, tỷ lệ hạt chắc và khối lượng 1000 hạt quyết định
Trong các yếu tố trên, số bông/m2 là yếu tố hình thành sớm nhất và cũng là yếu tố quan trọng nhất quyết định năng suất đồng thời cũng tương đối dễ điều chỉnh hơn so với các yếu tố còn lại
Tác động kỹ thuật làm tăng số bông tới mức tối đa là vô cùng quan trọng trong thâm canh lúa Tuy nhiên nếu cấy quá dày hoặc quá nhiều dảnh trên khóm thì bông lúa sẽ nhỏ đi đáng kể, hạt có thể nhỏ hơn và cuối cùng là năng suất giảm Vì vậy muốn đạt năng suất cao người sản xuất phải điều khiển cho quần thể ruộng lúa
có số bông tối ưu mà vẫn không làm cho bông nhỏ đi, số hạt chắc và độ chắc hạt trên bông không thay đổi Các giống lúa khác nhau có khả năng cho số bông tối ưu trên một đơn vị diện tích khác nhau, việc xác định số bông cần đạt trên một đơn vị diện tích quyết định mật độ gieo cấy, khảng cách cấy và số dảnh cơ bản khi cấy Căn cứ vào tiềm năng cho năng suất của giống, tiềm năng đất đai, khả năng thâm canh của người sản xuất và vụ gieo cấy trong năm để dịnh ra số bông cần đạt một cách hợp lý Những yếu tố quyết định số bông bao gồm: mật độ cấy và số dảnh cấy/khóm
1.3.1 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy
Mật độ cấy là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích Với lúa cấy mật độ được tính bằng số khóm/m2, còn với lúa gieo thẳng thì mật độ được
Trang 30tính bằng số hạt mọc/m2 (Nguyễn Văn Hoan, 2003) Quan hệ giữa mật độ và năng suất cây lấy hạt là quan hệ parabol, tức là mật độ lúc đầu tăng thì năng suất tăng nhưng nếu tiếp tục tăng thì năng suất lại giảm
Điều chỉnh mật độ có thể làm tăng năng suất do khi điều chỉnh mật độ có thể làm tăng khả năng tiếp nhận ánh sáng, tạo số lá và chỉ số diện tích lá thích hợp cho
cá thể và quần thể ruộng lúa, tăng khả năng quang hợp của cá thể và quần thể ruộng lúa, cũng như tăng khả năng chống chịu sâu bệnh…Bên cạnh đó, theo Nguyễn Ích Tân và cs (2010), mật độ cấy liên quan chặt chẽ đến quá trình đẻ nhánh, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành số bông – yếu tố quan trọng cấu thành năng suất lúa… Do vậy, mật độ ảnh hưởng mạnh mẽ đến năng suất lúa Việc bố trí mật độ hợp lý nhằm phân bố hợp lý đơn vị diện tích lá/đơn vị diện tích đất, tận dụng nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh gây hại tạo ra cấu trúc quần thể với
số lượng bông, số hạt hợp lý, đạt được số hạt nhiều, hạt to và chắc đồng nghĩa với năng suất đạt tối đa
Cùng một đơn vị diện tích nếu mật độ gieo hoặc cấy càng cao thì số bông càng nhiều Trong một giới hạn nhất định, việc tăng số bông không làm giảm số hạt trên bông, nhưng nếu vượt quá giới hạn đó thì số hạt trên bông bắt đầu giảm đi (do dinh dưỡng và ánh sáng phải chia sẻ cho nhiều bông) Tuy nhiên, tốc độ giảm số hạt trên bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ gieo cấy Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoan (2000), khi tăng mật độ cấy giống Bắc ưu lên 2 lần thì số bông chỉ tăng được 1,25 lần nhưng số hạt trên bông lại giảm tới 1,78 lần Vì vậy cấy dày không những tốn công mà còn giảm năng suất nghiêm trọng Song nếu cấy quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì khó hoặc không đạt được số bông tối
ưu cần thiết theo dự định (Nguyễn Công Tạn và cộng sự, 2002) Nếu bố trí mật độ hợp lý, sẽ tiết kiệm được hạt giống, công lao động, và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa Do vậy, khi các khâu, kỹ thuật khác được duy trì thì chọn mật độ vừa phải là phương án tối ưu để đạt được số lượng hạt thóc nhiều nhất trên một đơn vị diện tích gieo cấy
Một trong những yếu tố cơ bản khi xác định mật độ cấy là đặc điểm của giống, điều kiện canh tác, khí hậu đất đai của vùng Trong điều kiện dễ canh tác, lúa
Trang 31mọc tốt thì nên cấy với mật độ thưa và ngược lại phải cấy dày Giống lúa nhiều bông cấy dày không có lợi bằng giống to bông Vùng lạnh nên cấy dày hơn so với vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dày hơn so với lúa gieo sớm
Bên cạnh các yếu tố trên, khi xác định mật độ cấy cần phải dựa vào điều kiện bón phân Ở điều kiện phân nhiều thì mật độ cấy phải dựa vào đẻ nhánh, trái lại ở điều kiện phân ít phải dựa vào số thân chính
Ngoài ra mùa vụ cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến mật độ cấy
(Trương Đích, 1999) Theo ông, ở vụ xuân thì hầu hết các giống cải tiến cấy mật độ
thích hợp (45 – 50) khóm/m2 nhưng vụ mùa thì cấy (55 – 60) khóm /m2
Khi nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh, theo S.Yoshida (1985), khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khoẻ và sớm thay đổi từ (20 × 20) cm đến (30 × 30) cm Thường gieo cấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều còn cấy dầy thì lúa đẻ nhánh ít Nhận xét mối quan hệ diện tích dinh dưỡng và sự đẻ nhánh, theo Phạm Văn Cường, sự đẻ nhánh của cây lúa có quan hệ chặt chẽ với diện tích dinh dưỡng Nếu diện tích dinh dưỡng càng lớn thời gian đẻ nhánh đẻ càng dài và ngược lại, diện tích dinh dưỡng càng nhỏ thì thời gian đẻ nhánh càng ngắn
Còn một số tác giả lại cho rằng cấy dày hay cấy thưa cũng ít ảnh hưởng đến năng suất, tuy mật độ có ảnh hưởng đến số bông trên đơn vị diện tích nhưng nếu số bông nhiều thì số hạt trên bông ít và ngược lại, nên cuối cùng số hạt trên đơn vị diện tích thay đổi ít hoặc không thay đổi Tuy nhiên đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả đều cho rằng gieo cấy với mật độ dày sẽ tạo môi trường thích hợp cho sâu bệnh phát triển vì quần thể ruộng lúa không được thông thoáng và che khuất lẫn nhau nên bị chết lụi nhiều
Về cách bố trí khóm lúa, theo Nguyễn Văn Hoan (1999), tuỳ từng giống để chọn mật độ thích hợp, tuy nhiên cách bố trí khóm lúa theo hình chữ nhật sẽ phù hợp hơn cả vì như thế mật độ trồng được đảm bảo mà vẫn tạo ra được sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năng quang hợp, chống bệnh tốt và sẽ cho năng suất cao hơn
Trang 32Để xác định mật độ thích hợp có thể căn cứ số bông hữu hiệu trên khóm và số bông cần đạt trên m2 Từ hai thông số trên có thể xác định mật độ cấy phù hợp theo công thức:
Mật độ (số khóm/m2 ) = số bông/m
2
số bông/khóm Theo Nguyễn Thị Trâm (2002), các giống lai có thời gian sinh trưởng trung bình có thể cấy thưa như Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2 Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi Tạp Sơn Thanh, Bồi tạp 77 cần cấy dày 40 – 45 khóm/m2 Theo những kết quả đạt được trên những ruộng thâm canh có năng suất cao (trên 300kg/sào) thì mỗi khóm lúa cần có 7 - 10 bông mật độ cần cấy khi đạt 7 bông/khóm là 43 khóm/m2, với 8 bông/khóm cần mật độ cấy là 38 khóm/m2, với 9 bông/khóm cần cấy 33 khóm/m2, với 10 bông/khóm cần cấy 30 khóm/m2
Bằng thực nghiệm của mình theo Nguyễn Như Hà (2006), để đạt được năng suất cao nhất tại Hà Giang, đối với CH5 nên cấy với mật độ 55 khóm/m2 Còn theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ích Tân và Nguyễn Thị Thu (2012), đối với giống Japonica J02 mật độ cấy thích hợp tại Hưng Yên là 40-45 khóm /m2 (ở vụ xuân) và
45 khóm /m2 (vụ mùa)
1.3.2 Những kết quả nghiên cứu về số dảnh cấy
Số dảnh cấy trên khóm cũng là một yếu tố quan trọng góp phần quyết định số bông hữu hiệu, độ lớn của bông và năng suất lúa Nếu cấy quá dầy hoặc quá nhiều dảnh trên khóm thì bông lúa sẽ nhỏ đi đáng kể, hạt có thể nhỏ hơn và năng suất giảm Trên cơ sở xác định mật độ cấy, số dảnh cấy/khóm phụ thuộc vào số bông dự định đạt được/m2 Việc xác định số dảnh cấy/khóm cần đảm bảo nguyên tắc chung là: Dù ở mật độ nào, tuổi mạ bao nhiêu, sức sinh trưởng của giống mạnh hay yếu thì vẫn phải đạt được số dảnh thành bông theo dự định, độ lớn của bông không giảm, tổng số hạt chắc/m2 cũng đạt được theo số lượng đã định
Số dảnh cấy phụ thuộc vào sức đẻ nhánh của giống, khi nghiên cứu số dảnh cấy cho vụ xuân, Bùi Huy Đáp kết luận: trong điều kiện bình thường không nên cấy nhiều dảnh Cấy 2 – 3 dảnh thường có ưu thế hơn 5 – 6 dảnh, chỉ có mạ già đặc biệt mới tăng thêm số dảnh Cũng theo Bùi Huy Đáp, khi cấy 2 – 3 dảnh/khóm lúa sẽ đẻ
Trang 33nhánh tốt hơn, có nhiều bông bằng cổ và đạt năng suất cao hơn cấy 3 - 4 dảnh/khóm Trong những điều kiện bình thường chỉ nên cấy mật độ 25 - 30 khóm/m2, ở các chân ruộng sâu trong vụ mùa nên cấy dày trên dưới 40 khóm/m2, ở ruộng tốt bón nhiều phân có thể cấy 1 – 2 dảnh
S.Yoshida (1985) cho rằng việc đẻ nhánh chỉ xảy ra khi mật độ dưới 300 cây/m2, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh chính cho bông Khi tăng 182 - 242 dảnh/m2 thì năng suất hạt tăng lên Số bông trên đơn vị diện tích cũng tăng theo mật độ nhưng lại giảm số hạt trên bông
Theo Nguyễn Hữu Tề và các cộng sự (1997) thì giống nhiều bông nên cấy
200 - 250 dảnh cơ bản/m2, giống to bông cấy 180 - 200 dảnh/m2 Số dảnh cấy/khóm
là 3 - 4 dảnh ở vụ mùa và 4 - 5 dảnh ở vụ chiêm xuân
Ngoài yếu tố về giống, mùa vụ, phân bón, theo Nguyễn Thị Trâm (2002), việc xác định số dảnh khi cấy cũng phải căn cứ vào tuổi mạ Theo tác giả khi sử dụng mạ non để cấy (mạ chưa đẻ nhánh), sau cấy lúa thường đẻ nhánh sớm hơn và nhanh Ví dụ nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu trên khóm với mật độ 40 khóm/m2, cần (3 – 4) dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh là đủ, nếu cấy dầy hơn thì số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữu hiệu giảm Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đã đẻ (2 – 5 nhánh) thì số dảnh cấy phải tính
cả nhánh đẻ trên mạ Loại mạ này già hơn 10 – 15 ngày so với mạ chưa đẻ, vì vậy số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải đạt trên 70 % số bông
dự định.Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích luỹ, ra lá, lớn lên và thành bông Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu tập trung khoảng 8 – 15 ngày sau cấy Vì vậy cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy trên khóm nhiều hơn cấy mạ non
Nguyễn Văn Hoan (1999) cũng cho rằng, mật độ cấy dày trên 40 khóm/m2thì để đạt 7 bông hữu hiệu/khóm cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non) Với loại mạ thâm canh thì số nhánh cần cấy trên khóm được định lượng theo số bông cần đạt nhân với 0,8 Ví dụ: Cần đạt 10 bông/ khóm thì chúng ta cần cấy 10 x 0,8 = 8 nhánh
Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu số dảnh cấy của Tăng Thị Hạnh (2003), trên giống lúa Việt Lai 20 khi tăng số dảnh cấy làm tăng diện tích lá và tăng khả năng tích luỹ chất khô, đặc biệt làm tăng số bông/khóm, cấy cùng mật độ khi tăng đến 3 dảnh/khóm sẽ làm tăng năng suất giống lúa Việt Lai 20
Trang 341.4 Những kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm
Một trong các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của các giống lúa là mật độ cấy và mức phân bón Không có mật độ cấy và các mức phân bón chung cho mọi giống lúa, mọi điều kiện Nói chung các giống lúa càng ngắn ngày càng cần cấy dày, như các giống lúa có thời gian sinh trưởng từ 75 – 90 ngày nên cấy mật độ 40 –
50 khóm/m2; Những giống lúa đẻ nhánh khỏe, dài ngày, cây cao trong những điều kiện thuận lợi cho lúa phát triển thì cấy mật độ thưa hơn
Trong quần thể ruộng lúa, mật độ và lượng đạm bón là hai chỉ tiêu quan trọng cần kết hợp hài hòa để đạt tối ưu về số bông/m2 - yếu tố quyết định trên 70% năng suất lúa Nguyễn Ích Tân và Nguyễn Thị Hương (2011) đã kết luận, sự kết hợp mật độ cấy và lượng đạm bón đã làm thay đổi năng suất thực thu của lúa Hương Việt 3 tại Gia Lâm – Hà Nội trong vụ mùa năm 2010
Theo T Matsuo (1997), khi bón đạm cao kết hợp với cấy mật độ dày, khoảng cách giữa các cây hẹp, sẽ dẫn đến sự che cớm lẫn nhau Sự cạnh tranh ánh sáng xảy
ra sớm hơn sự cạnh tranh đạm trong quá trình sinh trưởng Điều này chứng tỏ ánh sáng chứ không phải đạm là yếu tố hạn chế năng suất Ở khoảng cách hẹp kết hợp với bón nhiều đạm sự che cớm càng lớn, mức độ gây hại năng suất càng nhiều, có thể cấy thưa để cải thiện tình hình nhưng không thể khắc phục triệt để sự che cớm khi bón nhiều đạm
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa mật độ cấy và mức bón N cho các giống lúa ngắn ngày được tiến hành trên giống NN8, Bùi Huy Đáp (1985) kết luận: Ở mức bón N dưới 100kg/ha, mật độ cấy thích hợp là 35 – 40 khóm/m2
Theo Trần Thúc Sơn (1995), trong cùng điều kiện Vụ Xuân trên đất phù sa sông Hồng giống CR203 có khả năng chịu phân đạm dao động từ 80 - 150 kg N/ha ứng với năng suất từ 4,0 - 5,5 tấn/ha do được cấy ở các mật độ khác nhau
Khi nghiên cứu ảnh hưởng mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinh trưởng của lúa ngắn ngày thâm canh, Nguyễn Như Hà (1999) kết luận: tăng mật độ cấy làm cho việc đẻ nhánh của một khóm giảm So sánh số dảnh/khóm của mật độ cấy thưa 45 khóm/m2 với mật độ cấy dầy 85 khóm/m2 thì thấy số dảnh đẻ trong một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9 dảnh/ khóm (14,8%) ở vụ xuân, còn vụ mùa lên tới
Trang 351,9 dảnh/khóm (25%) Còn về dinh dưỡng đạm của lúa tác động đến mật độ cấy, tác giả kết luận tăng bón đạm ở mật độ cấy dầy có tác dụng tăng tỷ lệ đẻ dảnh hữu hiệu
Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật độ cho đến 65 khóm/ m2 ở vụ mùa và
75 khóm/ m2 ở vụ xuân
Tại Bắc Quang – Hà Giang nơi điều kiện trồng lúa dựa vào nước trời là chủ yếu, khi nghiên cứu mức phân bón và mật độ thích hợp cho giống lúa chịu hạn CH5trong vụ mùa của các năm từ 2002-2005, Nguyễn Như Hà (2006) kết luận, với mật
độ cấy 45 khóm/m2 để tạo điều kiện cho lúa phát triển tốt cho năng suất cao cần bón lượng phân bón trên 1 ha là 90 kg N + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O trên nền 8 tấn phân chuồng Còn trong quy trình thâm canh có thể tăng mật độ lên 55 khóm/m2 với lượng phân đạm trên 1 ha là 120 kg N
Theo Nguyễn Thị Luyến (2011), khi nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ và mức bón phân cho giống lúa LAI Syn 6 tại Bắc Giang, tác giả nhận thấy bón 110 kg
N + 70 kg P2O5 + 120 kg K2O/ha thì năng suất thực thu cao nhất ở mật độ 35 khóm/m2, nếu bón với lượng 82,5 kg N + 52,5 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha thì năng suất lúa lại cao nhất với mật độ 40 khóm/m2
.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ích Tân và Nguyễn Thị Thu (2012), trên giống lúa Japonica J02 tại Hưng Yên cho thấy với cả 2 vụ xuân và vụ mùa, năng suất lúa Japonica J02 đều đạt cao nhất ở mật độ 45 khóm/m2 kết hợp với mức bón
120 kg N/ha Không có sự khác nhau về năng suất khi ta tăng mức bón lên 140 kg N/ha ở mật độ này
Đối với dòng lúa ngắn này DCG66, khi nghiên cứu đặc tính quang hợp, chất khô tích lũy và năng suất hạt của DCG66 trên các mức đạm bón và mật độ khác nhau, Tăng Thị Hạnh và cs (2014) đã chỉ ra rằng năng suất của DCG66 đạt cao nhất tại Thái Nguyên khi cấy với mật độ 35 khóm/m2 trên nền phân bón 120 kg N + 60
kg P2O5 + 90 kg K2O/ha, tuy nhiên khi cấy tại Lào Cai cần cấy với mật độ 45 khóm/m2 trên nền phân bón 100 kg N + 60 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha để đạt năng suất hạt cao nhất
Qua các nghiên cứu trên ta thấy phân bón và mật độ gieo cấy là các biện pháp
kỹ thuật quan trọng trong việc nâng cao năng suất lúa Việc bón phân và bố trí mật
Trang 36độ cấy hợp lý nhằm phân bố hợp lý đơn vị diện tích lá/đơn vị diện tích đất, tận dụng nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh gây hại tạo tiền đề cho năng suất cao Ngoài ra việc bố trí mật độ cấy hợp lý còn tiết kiệm được hạt giống, công lao động và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa hiện nay Tuy nhiên yêu cầu về phân bón và mật độ là không giống nhau ở các giống lúa, các vùng miền, do vậy cần có các nghiên cứu tìm ra mức bón phân và mật độ cấy hợp lý cho từng giống, từng vùng cụ thể
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam có liên quan đến sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng
- Vị trí địa lý và dân số
Hà Nam nằm ở phía Tây Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, cách thành phố Hà Nội 55 km về phía Nam Phía Bắc giáp với tỉnh Hà Tây cũ, phía Đông giáp với tỉnh Hưng Yên, phía Nam giáp với tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình
Hà Nam là một tỉnh có quy mô về diện tích tương đối nhỏ, đứng thứ 60/61 tỉnh, thành phố (trên Bắc Ninh) với 86.049,4 ha đất tự nhiên Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh là 54.409,1 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 42.790,6 ha Trong sản xuất nông nghiệp, cây lúa giữ vai trò chủ đạo và là cây lương thực chính của
bà con nông dân với 34.684,7 ha, chiếm gần 90% diện tích đất trồng cây hàng năm và hơn 80% diện tích đất sản xuất nông nghiệp (Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam, 2013) Kim Bảng là một trong 6 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Hà Nam, phía bắc giáp các huyện Ứng Hoà, Mỹ Đức tỉnh Hà Tây cũ, phía tây giáp huyện Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình, phía đông giáp huyện Duy Tiên và thành phố Phủ Lý, phía nam giáp huyện Thanh Liêm Nằm trong vùng tiếp xúc giữa vùng trũng đồng bằng sông Hồng và dải đá trầm tích ở phía tây nên có địa hình đa dạng Phía bắc sông Đáy là đồng bằng thấp với các dạng địa hình ô trũng, phía nam sông Đáy là vùng đồi núi có địa hình cao, tập trung nhiều đá vôi, sét
Hiện nay dân số huyện Kim Bảng đạt hơn 126 nghìn người, trong đó khoảng
92 % dân số là nông thôn (phụ lục 1) Nhân khẩu trong độ tuổi lao động hiện nay có 70,8 nghìn người, chiếm 52,7% dân số, trong đó lao động nông nghiệp là 52,8 nghìn người, còn lại là lao động phi nông nghiệp Lực lượng lao động có trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp (Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam, 2011)
Trang 37- Điều kiện thời tiết, khí hậu
Thời tiết, khí hậu là yếu tố quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và đối với sản xuất lúa gạo nói riêng Ở Kim Bảng, khí hậu mang những đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh và mùa
hạ nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm là 230C – 240C Lượng mưa trung bình trong năm là 1.800-2.200 mm
Bảng 1.6 Diễn biến một số yếu tố khí hậu chính qua các tháng trong năm
tại huyện Kim Bảng (trung bình 6 năm 2006 – 2011)
Tháng Nhiệt độ
( O C)
Giờ nắng (h)
Lượng mưa (mm)
Ẩm độ (%)
(Nguồn Trạm khí tượng thuỷ văn tỉnh Hà Nam )
Qua bảng 1.6 cho thấy, nhiệt độ trung bình trong các tháng đều trên 15oC, trong đó thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, 3 và nhiệt độ cao nhất vào các tháng 6, 7,
8 Như vậy an toàn cho sản xuất lúa, kể cả lúa thường và lúa lai chất lượng
Độ ẩm không khí cao nhất vào tháng 2, 3, 4, 8 Độ ẩm không khí thấp vào các tháng 6, 7, 11, 12 Chú ý bố trí gieo cấy các giống lúa có khả năng kháng bệnh đạo ôn khi thời tiết âm u, ẩm độ cao Những tháng có độ ẩm không khí thấp chú ý điều tiết nước phù hợp giữa các vùng để cung cấp đủ nước cần thiết cho lúa sinh trưởng và phát triển thuận lợi
Trang 38Hà Nam có số giờ nắng khá cao Các tháng có số giờ nắng thấp từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Những tháng còn lại số giờ nắng các tháng đều cao hơn 130 giờ Lượng mưa tại khu vực Hà Nam, hàng năm phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào các tháng 5, 6, 7, 8, 9
- Điều kiện đất đai và tình hình sản xuất lúa:
Kim Bảng là một huyện nông nghiệp có diện tích đất tự nhiên lớn nhất trong
6 huyện, thành phố của tỉnh với 17.571,7 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 11.337,8 ha (niên giám thống kê tỉnh Hà Nam, 2013) Về đặc điểm của đất phân theo địa hình, vùng đồng bằng có đất phù sa được bồi, đất phù sa không được bồi và đất phù sa gley; vùng đồi có đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng trên đá phiến sét, đất nâu đỏ trên đá vôi Đất vùng gò đồi còn nhiều tiềm năng để chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng
Trong sản xuất nông nghiệp, các loại cây trồng chính của huyện là lúa, ngô, đậu tương, lạc, khoai lang Tuy nhiên một phần lớn diện tích ngô, khoai lang, đậu tương được trồng trên đất 2 lúa trong vụ đông
Bảng 1.7 Diện tích một số loại cây trồng chính của huyện Kim Bảng
Loại cây
Diện tích (ha) Năm
Sơ bộ năm 2013 Cây lượng
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam, 2013)
Qua bảng số liệu cho thấy, diện tích cây lương thực có hạt toàn huyện trước năm 2013 đạt khoảng 13 nghìn ha trong đó diện tích lúa cả năm đạt xấp xỉ
Trang 3911 nghìn ha, còn lại là ngô Năm 2013, theo điều chỉnh địa giới hành chính, 1.090,9 ha diện tích tự nhiên huyện Kim Bảng chuyển về thành phố Phủ Lý do vậy diện tích cây lương thực có hạt cũng như diện tích một số cây trồng khác bị giảm, diện tích lúa năm 2013 chỉ đạt 10.210,3 ha, tuy nhiên diện tích lúa vẫn chiếm khoảng 85 %-86 % diện tích cây lương thực có hạt (niên giám thống kê tỉnh Hà Nam năm 2013) Như vậy có thể thấy cây lúa là cây lương thực chính và chủ lực của người dân trong huyện
Về năng suất, sản lượng lúa của huyện: Theo kết quả niên giám thống kê tỉnh
Hà Nam (2013), năng suất lúa trung bình cả năm của huyện đạt từ 58,3 – 61,5 tạ/ha,
do vậy sản lượng thu được dao động 59,5 – 67,2 nghìn tấn Nhìn chung giai đoạn từ năm 2008 đến nay năng suất và sản lượng lúa tương đối ổn định
Bảng 1.8 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Kim Bảng
Năm
Diện tích toàn tỉnh (ha)
Kim Bảng Tổng diện tích
(ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam 2013)
Hiện nay, huyện Kim Bảng đang trong quá trình thực hiện chuyển địch cơ cấu kinh tế song nông nghiệp - thủy sản vẫn có vai trò quan trọng, liên quan đến đời sống kinh tế của hơn 70% dân số toàn huyện Trong sản xuất nông nghiệp, cây lúa vẫn là cây chủ đạo Tuy nhiên diện tích lúa trong những năm gần đây bị giảm do một phần chân ruộng năng suất thấp đã chuyển sang sản xuất đa canh như nuôi trồng thủy sản (cá chim trắng, tôm càng xanh), kết hợp cấy lúa và trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia cầm Do vậy để đảm bảo sản lượng lương thực, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật như mật độ, phân bón… là rất cần thiết để góp phần nâng cao
năng suất, chất lượng cũng như sản lượng lúa toàn huyện
Trang 40Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liêu, thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Giống Bắc thơm số 7
+ Nguồn gốc: Bắc thơm số 7 là giống lúa thuần chất lượng do Viện Nghiên
cứu lúa Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo bằng phương pháp lai chuyển gen kháng bệnh bạc lá
+ Đặc điểm giống:
Thời gian sinh trưởng tại các tỉnh phía Bắc vụ xuân 130-132 ngày, vụ mùa 103-105 ngày (gieo thẳng thời gian rút ngắn 3-5 ngày) Tại các tỉnh Bắc trung bộ thời gian rút ngắn 3-5 ngày so với các tỉnh Bắc bộ Tại các tỉnh Nam trung bộ vụ đông xuân 110-115 ngày, vụ hè thu 100-105 ngày
Chiều cao cây 90-95 cm, đẻ nhánh khá, hạt thon, nhỏ, màu vàng sẫm, khối lượng 1000 hạt 19-20 g, phẩm chất gạo ngon, cơm thơm, mềm
Kháng cao với bệnh bạc lá do mang gen kháng bệnh Xa21(đặc biệt trong vụ
mùa), giữ nguyên được các đặc tính tốt của giống Bắc thơm số 7
Năng suất trung bình 55-60 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 60-70 tạ/ha
- Phân bón: Phân đạm urê (46% N)
Phân supe lân (17% P2O5)
Phân kali clorua (60% K2O)
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thời gian: Vụ mùa năm 2013