1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương

107 964 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 895,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2012, Ban chỉ đạo Nhà nước về thực hiện đổi mới cơ chế hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập là một trong những bước đi khá toàn diện nhằm thay đổi tư duy, nhận thức

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ

rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi (ngoài phần đã trích dẫn)

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Thị Tuyết

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp

đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Viện Đào tạo sau Đại học, Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS-TS Bùi Bằng Đoàn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Y tế Hải Dương, Sở Tài Chính Hải Dương, Ban giám đốc và cán bộ Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Miện, các phòng ban của Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Miện đã tạo điều kiện, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện của bạn bè, đồng nghiệp

và người thân trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thanh Miện, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Thị Tuyết

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC VIẾT TẮT

I MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

2.1 Quy chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu 5

2.1.1 Một số vấn đề chung về đơn vị sự nghiệp có thu 5

2.1.2 Quy chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp 12

2.1.3 Các nội dung chủ yếu trong quy chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập 14

2.1.4 Quy trình quản lý NSNN ở các ĐVSN công lập 21

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu 26

2.2 Quy chế quản lý tài chính trong các Bệnh viện công 31

2.2.1 Đặc điểm hoạt động của Bệnh viện công 31

2.2.2 Đặc điểm quản lý tài chính của Bệnh viện công 33

2.2.3 Quy chế quản lý tài chính trong Bệnh viện công 37

2.2.4 Xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ trong Bệnh viện công 39

Trang 5

2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 42

2.3.1 Bài học kinh nghiệm về quản lý tài chính trong Bệnh viện công của các nước trên thế giới 42

2.3.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính của một số Bệnh viện ở Việt Nam 45

2.3.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan 46

III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48

3.1 Giới thiệu về Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương 48

3.1.1 Quá trình phát triển của Bệnh viện 48

3.1.2 Đặc điểm chức năng hoạt động của Bệnh viện 49

3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Bệnh viện 50

3.1.4 Tình hình cơ sở vật chất, kỹ thuật của Bệnh viện 51

3.2 Phương pháp nghiên cứu 53

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 53

3.2.2 Phương pháp phân tích 54

3.2.3 Phương pháp chuyên gia (phỏng vấn sâu) 54

IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55

4.1 Thực trạng tình hình tài chính của Bệnh viện 55

4.1.1 Tình hình khai thác các nguồn thu 55

4.1.2 Công tác xây dựng dự toán và tinh hình tài chính tại Bệnh viện 58

4.2 Thực trạng quy chế quản lý tài chính của Bệnh viện 60

4.2.1 Tình hình xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của Bệnh viện 60

4.2.2 Kết quả khảo sát, đánh giá về quản lý tài chính tại Bệnh viện công lập 69

4.3 Kết quả triển khai quy chế quản lý tài chính của Bệnh viện 71

4.3.1 Công tác thu tại Bệnh viện 71

4.3.2 Tình hình chi trả các khoản thanh toán cho cán bộ viên chức 73

4.3.3 Công tác quản lý nhập xuất thuốc 75

4.3.4 Công tác quản lý, mua sắm tài sản 76

4.3.5 Công tác xã hội hóa y tế 76

4.3.6 Thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình thực hiện quy chế 77

4.3.7 Tổ chức lấy ý kiến các bộ phận về việc ban hành và thực hiện quy chế 77

Trang 6

4.4 Đánh giá kết quả thực hiện quy chế quản lý tài chính tại Bệnh viện 78

4.4.1 Những kết quả đạt được 78

4.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 79

4.5 Giải pháp hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại Bệnh viện 81

4.5.1 Mục tiêu và định hướng phát triển của Bệnh viện 81

4.5.2 Giải pháp hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại Bệnh viện 83

V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

5.1 Kết luận 89

5.2 Kiến nghị 91

5.2.1 Một số kiến nghị với Sở Y Tế, Sở Tài Chính và cơ quan BHXH tỉnh Hải Dương 91

5.2.2 Kiến nghị với Bệnh viện 92

5.2.3 Kiến nghị với chính quyền địa phương 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 : Tình hình thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn 49

Bảng 3.2: Cơ sở vật chất của BVTM từ năm 2011-2013 52

Bảng 4.1: Nguồn kinh phí Bệnh viện từ năm 2011-2013 56

Bảng 4.2: Bảng quyết toán kinh phí thường xuyên năm 2011-2013 59

Bảng 4.3: Bảng giá thu viện phí Bệnh viện Thanh Miện 61

Bảng 4.4: Định mức tiền ngoài giờ 64

Bảng 4.5: Định mức phụ cấp phẫu thuật, thủ thuật 64

Bảng 4.6: Định mức tiền bồi dưỡng bằng hiện vật 65

Bảng 4.7: Định mức khoán điện thoại và công tác phí 66

Bảng 4.8: Tổng hợp kết quả khảo sát đánh giá tình hình quản lý tài chính tại Bệnh viện công lập 70

Bảng 4.9: Bảng phân phối nguồn kinh phí tiết kiệm 2011-2013 74

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Sơ đồ 2.1: Ảnh hưởng của các đối tượng lên quản lý tài chính của Bệnh viện 39

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Bệnh viện 50

Trang 9

DANH MỤC VIẾT TẮT

Bảo hiểm y tế BHYT

Bảo hiểm xã hội BHXH

Bệnh viện Thanh Miện BVTM

Cải cách tiền lương CCTL

Trang 10

I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là khâu quản lý mang tính tổng hợp Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó được xây dựng một hệ thống quy chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các đơn vị trong nền kinh tế quốc dân, trong đó có các đơn vị sự nghiệp có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế xã hội do đó phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính

Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng; Chính phủ đã có quyết định phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 với bốn nội dung lớn là: Cải cách thể chế, cải cách bộ máy, đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, cải cách tài chính công; trong đó cải cách cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp là bước đột phá

Năm 2012, Ban chỉ đạo Nhà nước về thực hiện đổi mới cơ chế hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập là một trong những bước đi khá toàn diện nhằm thay đổi tư duy, nhận thức của nhiều đơn vị khi thực hiện chủ trương của Nhà nước và Chính phủ, nhất là trong thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với các đơn

vị sự nghiệp công Mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp là trao quyền tự chủ thật sự cho cơ quan, đơn vị trong việc

tổ chức công việc, sử dụng lao động, tăng cường huy động và quản lý thống nhất các nguồn thu, đồng thời sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn tài chính nhằm

mở rộng và nâng cao chất lượng công tác quản lý hành chính, hoạt động sự nghiệp, khuyến khích tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp đảm bảo trang trải kinh phí hoạt động và nâng cao thu nhập của cán bộ viên chức

Trang 11

Hòa nhập với xu hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ trương xã hội hóa dịch vụ công, các đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam không còn đơn thuần thực hiện chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao mà còn tự tổ chức cung ứng dịch vụ cho xã hội Nguồn tài chính của các đơn vị này không chỉ do ngân sách nhà nước cấp mà từng đơn vị đều khai thác thêm các nguồn thu từ hoạt động dịch vụ cho xã hội Trong những năm gần đây, số thu từ hoạt động cung ứng dịch vụ không chỉ là nguồn thu bổ sung mà còn chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng nguồn kinh phí của đơn vị Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tài chính là việc nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp có thu nhằm giúp các đơn vị chủ động hơn trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội, tăng nguồn thu nhằm từng bước nâng cao thu nhập cho cán bộ viên chức Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu, chuyển đổi cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp theo hướng tự chủ, lấy nguồn thu sự nghiệp để bù đắp chi phí cho đơn vị, tăng thu nhập cho người lao động, giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách nhà nước

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của các cơ sở hoạt động sự nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục và hoàn thiện, những hạn chế đó có thể bắt nguồn từ cơ chế chính sách của Nhà nước hoặc từ bản thân các đơn vị được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính

Phát triển sự nghiệp y tế luôn là ưu tiên hàng đầu của mọi Chính phủ Trong vài năm trở lại đây, sự nghiệp y tế luôn được Nhà nước ta quan tâm bằng việc trang bị cho các cơ sở y tế công lập các trang thiết bị y tế thiết yếu nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ

y tế Sự nghiệp y tế không phải chỉ của Nhà nước còn có cả sự đóng góp của nhân dân, của xã hội Do vậy, để phát triển sự nghiệp y tế cần phải đa dạng hóa nguồn kinh phí để

Trang 12

duy trì hoạt động và phát triển, trong đó dựa chủ yếu vào các nguồn từ NSNN, nguồn xã hội hóa và nguồn thu viện phí của nhân dân trên tinh thần Nhà nước và nhân dân cùng làm nhằm bảo vệ sức khoẻ của nhân dân được tốt hơn

Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương là đơn vị sự nghiệp có thu, sau hơn 6 năm thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ đến nay Bệnh viện rất tích cực đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói chung và công tác kế toán nói riêng,

đã chủ động khai thác tối đa các khoản thu, nâng cao hiệu quả các khoản chi phí, tích cực cân đối thu chi đảm bảo tự chủ về tài chính phục vụ tốt sự nghiệp y tế Tiến tới thực hiện Nghị định số 85/2012/NĐ-CP của Chính phủ về việc tự bảo đảm kinh phí hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu, Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Miện đã không ngừng phát triển bằng việc mở rộng thực hiện công tác xã hội hoá y tế, các dịch vụ chăm sóc và phục

vụ bệnh nhân trong và ngoài huyện Nhờ sự đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong các bệnh viện công nên công tác tài chính ở các đơn vị này đã có nhiều chuyển biến, đáp ứng dần nhu cầu kinh phí cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe của người dân Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi toàn diện quy chế quản lý tài chính nói chung, các đơn vị sự nghiệp công nói riêng đòi hỏi các đơn vị này thường xuyên phải thay đổi quy chế tài chính của mình cho phù hợp với điều kiện thực tế đang diễn ra

Xuất phát từ các nội dung trên, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện quy chế quản

lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa huyệnThanh Miện, tỉnh Hải Dương” mong muốn

tìm hiểu thực trạng quản lý tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Miện và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại đơn vị này, đồng thời hướng tới tự chủ về tài chính hợp với xu thế phát triển của đất nước

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý tài chính trong các bệnh viện công hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu công tác này tại Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Miện, sẽ đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện quy chế quản lý tài chính cho đơn vị, đáp ứng yêu cầu phát triển bệnh viện những năm tới

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về quy chế quản lý tài chính

Trang 13

trong các Bệnh viện công;

- Phân tích thực trạng công tác quản lý tài chính, quy chế quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương trong những năm qua và những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện các quy chế tài chính của Bệnh viện;

- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại Bệnh viện

đa khoa huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương trong thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy chế quản lý tài chính tại Bệnh viện công và giải pháp hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong các Bệnh viện công hiện nay

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu quy chế quản lý tài chính

của các bệnh viện công và đề xuất giải pháp hoàn thiện nội dung này cho một Bệnh viện cụ thể

- Phạm vị thời gian: Đề tài nghiên cứu sử dụng các số liệu liên quan từ năm

2011-2013; Số liệu điều tra năm 2014

- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh

Miện, tỉnh Hải Dương

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

- Quản lý và quy chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu, cụ thể là tại các Bệnh viện công?

- Thực trạng việc xây dựng và thực hiện quy chế quản lý tài chính tại đơn vị nghiên cứu? Nguyên nhân và các vấn đề liên quan?

- Giải pháp nào để hoàn thiện quy chế quản lý tài chính trong những năm tới nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong các Bệnh viện công hiện nay? Có đề xuất gì liên quan đến cơ chế quản lý tài chính trong các Bệnh viện

công hiện nay?

Trang 14

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Quy chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu

2.1.1 Một số vấn đề chung về đơn vị sự nghiệp có thu

2.1.1.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp có thu

Đơn vị sự nghiệp có thu là những đơn vị sự nghiệp do Nhà nước thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động cung cấp dịch vụ công cho xã hội nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của

xã hội Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng nó tác động trực tiếp tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội Những hoạt động sự nghiệp mang tính chất phục vụ là chủ yếu

và không nhằm mục tiêu lợi nhuận Trong quá trình hoạt động được ngân sách Nhà nước cấp hoặc hỗ trợ kinh phí để thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao, nhưng vẫn có chức năng sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhằm tận dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có để tạo thêm thu nhập, nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống cán bộ công chức, viên chức và bổ sung kinh phí hoạt động thường xuyên

Theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp có thu được xác định dựa trên những tiêu chuẩn sau :

- Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương

- Được Nhà nước cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu phí, lệ phí theo chế

Trang 15

2.1.1.2 Đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu

Đơn vị sự nghiệp công lập là những tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục

vụ xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận

Khác với hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động sự nghiệp cung ứng dịch

vụ cho nền kinh tế nhưng mục đích chính không phải vì mục tiêu lợi nhuận Nhà nước duy trì, tổ chức, tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường Nhờ đó, nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo và phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt

Đặc điểm của các đơn vị sự nghiệp là rất đa dạng, bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp là phục vụ lợi ích cộng đồng xã hội, đất nước Trong quá trình cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cho xã hội, các đơn vị sự nghiệp được phép tạo nguồn thu nhập nhất định thông qua các khoản thu phí và các khoản thu từ cung ứng dịch vụ do Nhà nước quy định để trang trải các khoản chi tiêu Quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp phải tuân thủ theo những quy định pháp lý của Nhà nước Tuỳ theo đặc điểm tạo lập nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp, Nhà nước áp dụng cơ chế quản lý tài chính thích hợp để các đơn vị sự nghiệp thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình phù hợp với xu hướng cải cách khu vực công trong bối cảnh hội nhập Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp theo hướng nâng cao quyền tự chủ tài chính nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công phục vụ xã hội

Đơn vị sự nghiệp có những đặc điểm khác với cơ quan hành chính Cơ quan hành chính là những tổ chức cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho người dân khi thực hiện chức năng qiản lý Nhà nước của mình Các dịch vụ hành chính công được cung cấp theo luật định, với chất lượng đồng nhất cho mọi người tiêu dùng và được chi trả trực tiếp bằng ngân sách nhà nước Dịch vụ hành chính công là chức năng của cơ quan hành chính Nhà nước, là trách nhiệm và nghĩa vụ

Trang 16

của Bộ máy Nhà nước với nhân dân và chỉ có Nhà nước (chứ không có một tổ chức

tư nhân nào khác) có đủ thẩm quyền thực hiện chức năng đó Nhà nước với tư cách

là một tổ chức công quyền phải có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ này cho nhân dân, còn người dân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước dưới hình thức thuế

Như vậy, quan hệ trao đổi các dịch vụ hành chính công không phản ánh quan

hệ thị trường, mà phản ánh quan hệ nghĩa vụ của Nhà nước và phương tiện thực hiện nghĩa vụ do xã hội công dân cung cấp Người sử dụng có thể trả một phần hoặc không phải trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ đó, nhưng phải đóng thuế để chi trả cho chúng Chính vì vậy, cơ quan hành chính chỉ được tự chủ tài chính trong phần kinh phí ngân sách nhà nước cấp (cơ chế khoán chi), không được tự do mở rộng dịch vụ và nguồn thu, dịch vụ và nguồn thu là cố định theo Luật Trong khi đó, dịch

vụ của đơn vị sự nghiệp cung ứng có thể cạnh tranh với khu vực tư nhân và cung ứng theo nhu cầu nên các đơn vị này được phép khai thác và mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của mình Đặc điểm khác biệt này cho phép đơn vị sự nghiệp có thể hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính

Đơn vị sự nghiệp có những điểm khác với loại hình doanh nghiệp trong kinh

tế thị trường Các doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc hạch toán kinh doanh, hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận bằng cách tự bù đắp đủ chi phí và có lãi Doanh nghiệp phải hoạt động theo quy luật thị trường Đơn vị sự nghiệp không hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường và không coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mình

Lĩnh vực sự nghiệp tạo ra những sản phẩm đặc biệt vừa mang tính phục vụ chính trị xã hội, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp không thể chỉ đo bằng giá trị tiền tệ hữu hình Những đơn vị tạo ra sản phẩm đó không thể và càng không hạch toán được lỗ lãi đơn thuần bởi sản phẩm của nó thuộc chức năng phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội Mặt khác, mỗi sản phẩm này đều mang trong nó giá trị đã hao phí

để tạo ra nó Để tái sản xuất giản đơn, các đơn vị sự nghiệp phải thu lại từ ngân sách nhà nước và từ chi trả của người hưởng thụ

Trang 17

Hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp không đơn thuần đo đếm bằng tiền

mà thường được tính bằng các giá trị phi tiền tệ Chính vì thế, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp thường khó khăn

2.1.1.3 Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp có thu

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước là toàn bộ các chính sách, chế độ tài chính thống nhất trong các cơ quan Nhà nước mà các ĐVSN phải tuân thủ Trong cơ chế quản lý của Nhà nước, các công cụ về định mức chi tiêu, danh mục được phép chi tiêu, quy trình xét duyệt và cấp ngân sách, phân cấp quản lý chi tài chính công

có vai trò quan trọng Thông qua cơ chế quản lý tài chính, Nhà nước kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng các nguồn lực tài chính trong các đơn vị sự nghiệp Chính vì thế, cơ quan quản lý tài chính của Nhà nước là cơ sở, nền tảng của quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp Tính chất tiến bộ hay lạc hậu của cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý tài chính trong các ĐVSN

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước tạo ra môi trường pháp lý cho việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động của đơn vị Nó được xây dựng dựa trên quan điểm định hướng về chính sách quản lý ĐVSN trong từng giai đoạn cụ thể của Nhà nước nhằm cụ thể hoá các chính sách

đó Cơ chế này sẽ vạch ra những khung pháp lý về mô hình quản lý tài chính của ĐVSN, từ việc xây dựng các tiêu chuẩn, định mức, các quy định về lập dự toán, điều chỉnh dự toán, cấp phát kinh phí, kiểm tra, kiểm soát đến quyết toán kinh phí, nhằm phát huy tối đa hiệu quả quản lý vĩ mô của Nhà nước có tính đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị Do đó, nếu cơ chế tài chính phù hợp sẽ tạo điều kiện tăng cường và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự linh hoạt, năng động

và hữu hiệu của các nguồn lực tài chính, giúp cho đơn vị sự nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn được giao Ngược lại, nếu các định mức quá lạc hậu, quy trình cấp phát và kiểm tra quá rắc rối, phức tạp thì không chỉ chi phí quản lý tăng,

mà còn gây tình trạng che dấu, biến báo các khoản chi cho hợp lệ hoặc quản lý tài chính không theo hoạt động chuyên môn trong các đơn vị sự nghiệp

Các đổi mới cơ bản trong quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu theo

cơ chế tự chủ tài chính so với cơ chế cũ gồm:

Trang 18

a Về mở rộng quyền cho đơn vị sự nghiệp có thu

- Đơn vị sự nghiệp có thu là

đơn vị hành chính sự nghiệp, chỉ

được phép sử dụng nguồn kinh phí

nhà nước hoặc được coi là kinh phí

nhà nước

- Cơ chế cấp phát tài chính

theo kiểu “xin- cho” Tức là không

có nguồn thu nào khác ngoài NSNN

và được cấp theo chỉ tiêu do cấp trên

quyết định

- Đơn vị sự nghiệp có thu là các đơn vi

sự nghiệp có thu, thực hiện chế độ tự chủ tài chính trên cơ sở xác định nhiệm vụ phải thực hiện, mức hỗ trợ tài chính từ NSNN và phần còn lại do đơn vị tự trang trải

- ĐVSN được phép huy động và sử dụng các nguồn tài chính ngoài nhà nước để đầu tư phát triển

- Ngoài nguồn kinh phí Nhà nước cấp còn được phép vay tín dụng ngân hàng hoặc quỹ hỗ trợ phát triển để mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động, cung ứng dich vụ và

tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật

b Về các nguồn tài chính

Nguồn thu của các ĐVSN có thu gồm:

1).Nguồn Ngân sách nhà nước cấp :

Đây là nguồn tài chính quan trọng nhất cho hoạt động của đơn vị, được Nhà nước cấp căn cứ kế hoạch, nhiệm vụ được giao Số kinh phí này thường đáp ứng được từ 30 đến 50% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của đơn vị

Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, gồm:

- Kinh phí cho hoạt động thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ Điểm mới ở đây là: Nhà nước chỉ cấp kinh phí hoạt động thường xuyên đối với các đơn vị không tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, các đơn vị tự bảo đảm chi phí sẽ không nhận khoản kinh phí này;

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ);

- Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;

Trang 19

- Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác);

- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

- Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có);

- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;

- Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

- Kinh phí khác (nếu có)

2).Nguồn tự thu của đơn vị:

Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, gồm:

- Phần được để lại từ số thu viện phí, lệ phí theo quy định của pháp luật;

- Thu từ hoạt động sản xuất và dịch vụ;

- Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);

- Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng Mức thu, tỷ lệ nguồn thu để lại đơn vị sử dụng và nội dung chi phải theo quy định của Nhà nước Riêng với các khoản thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch

vụ thì thủ trưởng đơn vị quyết định mức thu theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích luỹ

Trang 20

c Đổi mới về chi

Những đổi mới về chi gồm:

Thứ nhất; đổi mới phương thức và định mức chi Đó là:

- Nhà nước không cấp kinh phí theo số lượng biên chế như trước đây mà sẽ tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động của ĐVSN;

- Quản lý tài chính không quá chú trọng đến đầu vào mà hướng chủ yếu vào kiểm soát đầu ra và chất lượng chi tiêu theo mục tiêu một cách đơn giản hơn

- Định mức chi quản lý hành chính cũng thay đổi theo hướng hợp lý và tiết kiệm hơn Theo quy định cũ, định mức chi quản lý hành chính (công tác phí, hội nghị phí, điện thoại…) và chi nghiệp vụ thường xuyên phải tuân thủ nghiêm ngặt định mức do Nhà nước quy định bất kể tính thực tế cũng như hiệu quả của công việc Điều này đã không khuyến khích người thực hiện, đồng thời còn gây lãng phí, kém hiệu quả Theo cơ chế mới, định mức chi này do chính thủ trưởng đơn vị quyết định căn cứ vào nội dung và hiệu quả công việc Định mức này có thể cao hơn nhưng cũng có thể thấp hơn mức chi do Nhà nước quy định

Thứ hai; đổi mới trong việc chi trả lương cho người lao động: Nhà nước

khuyến khích đơn vị tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tinh giản biên chế tạo điều kiện tăng thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với NSNN Căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính của đơn vị mà thủ trưởng đơn vị xác định quỹ lương, tiền công của đơn vị Trong phạm vi quỹ lương này, sau khi thống nhất với tổ chức Công đoàn và công khai trong đơn vị, thủ trưởng đơn vị quyết định việc chi trả lương theo nguyên tắc chất lượng và hiệu quả công việc; người nào, bộ phận nào có thành tích, có đóng góp làm tăng thu, tiết kiệm chi, có hiệu suất công tác cao thì được hưởng cao hơn Tiền lương cho mỗi cá nhân ngoài mức lương tối thiểu, hệ số lương cấp bậc, hệ số phụ cấp như hiện nay còn được hưởng mức điều chỉnh tăng thêm cho mỗi cá nhân từ 1-

3,5 lần mức lương tối thiểu

Thứ ba; đổi mới về trích lập các quỹ Gồm:

- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp dùng để đầu tư, phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị,

Trang 21

phương tiện làm việc, chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, trợ giúp thêm đào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề năng lực công tác cho cán bộ, viên chức đơn vị; được sử dụng góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và khả năng của đơn vị và theo quy định của pháp luật Việc sử dụng Quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

- Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để bảo đảm thu nhập cho người lao động

- Quỹ khen thưởng dùng để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội

bộ của đơn vị

- Quỹ phúc lợi dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động trong biên chế thực hiện tinh giản biên chế Thủ trưởng đơn vị quyết định việc sử dụng quỹ phúc lợi theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

2.1.2 Quy chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp

2.1.2.1 Khái niệm về quy chế quản lý tài chính

Tài chính có thể được xem như là một khoa học và nghệ thuật về quản lý tiền Tài chính có liên quan đến quy trình, thể chế, tình hình thị trường và các công

cụ chuyển đổi tiền giữa các cá nhân, doanh nghiệp và Chính phủ Mặc dù chỉ là một nhánh riêng biệt trong quan hệ phân phối xã hội, nhưng tài chính có tác động mạnh

và có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế xã hội Những hiểu biết về tài chính sẽ giúp cho nhà quản lý ra quyết định tài chính đúng đắn, để ra được các thủ tục, quy trình và giải quyết vấn đề tài chính hiệu quả

Để thực hiện quản lý nền kinh tế, Nhà nước ban hành các Luật, các quy định quản lý tài chính cho mỗi loại hình, lĩnh vực hoạt động và cho từng đơn vị cụ thể

Về nguyên tắc, tất cả các doanh nghiệp, đơn vị đều phải tuân thủ các quy định, nguyên tắc, chuẩn mực về tài chính do Nhà nước quy định Nhà nước sẽ thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát quá trình tuân thủ chế độ quản lý tài chính đối với tất

Trang 22

cả các đơn vị, trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân

Căn cứ vào Luật, chế độ quản lý tài chính do Nhà nước ban hành, các đơn vị tùy thuộc vào lĩnh vực, chức năng hoạt động cần phải xây dựng cho mình các quy định riêng trong quản lý tài chính để điều hành các hoạt động để đạt được mục tiêu cao nhất Các quy định quản lý tài chính của đơn vị phải tuân thủ các quy định của Luật và chế độ quản lý tài chính do Nhà nước ban hành

Như vậy, Quy chế quản lý tài chính trong các đơn vị, doanh nghiệp là các

quy định về tài chính trong nội bộ đơn vị được ban hành bởi ban lãnh đạo, nhằm thống nhất quản lý các hoạt động, trong đó quan trọng nhất là hoạt động tài chính trong nội bộ đơn vị Quy chế quản lý tài chính của các đơn vị thực chất là các quy

định được đưa ra bởi một cơ quan tổ chức có thẩm quyền ban hành bằng văn bản và

có hiệu lực thi hành tại cơ quan, đơn vị, tổ chức đó

Quy chế tài chính trong các đơn vị sự nghiệp quy định cụ thể quy chế quản

lý nguồn thu, quy chế quản lý các khoản chi, quy chế quản lý tài sản, quy chế quản

lý kho quỹ

2.1.2.2 Nội dung và nguyên tắc quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp

- Nguyên tắc hiệu quả: Là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản lý tài

chính nói chung và trong quản lý các đơn vị sự nghiệp nói riêng Hiệu quả trong quản lý tài chính thể hiện sự so sánh giữa kết quả đạt được trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội với chi phí bỏ ra Tuân thủ nguyên tắc này là khi tiến hành quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp cần quan tâm cả về hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế Mặc dù rất khó khăn về định lượng hiệu quả về xã hội, song những lợi ích đem lại về xã hội luôn được đề cập, cân nhắc thận trọng trong quá trình quản

lý tài chính công Nhà nước phải cân đối giữa việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu trên cơ sở lợi ích của toàn thể cộng đồng, những mục tiêu chính quan trọng cần phải đạt được trong từng giai đoạn nhất định với định mức chi hợp lý Hiệu quả kinh tế

là tiêu thức quan trọng để các cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền cân nhắc khi xem xét các phương án, dự án hoạt động sự nghiệp khác nhau Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế là hai nội dung quan trọng phải được xem xét đồng thời khi hình

Trang 23

thành một quyết định hay một chính sách chi tiêu ngân sách liên quan đến hoạt động sự nghiệp

- Nguyên tắc thống nhất: Là thống nhất quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp

bằng những văn bản luật pháp thống nhất trong cả nước Thống nhất quản lý tài chính là việc tuân theo một khuôn khổ chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán, xử lý những vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện quản lý thu, chi tài chính ở các đơn vị sự nghiệp Thực hiện nguyên tắc quản lý này sẽ đảm bảo tính công bằng, bình đẳng trong đối xử với các đơn vị sự nghiệp khác nhau, hạn chế những tiêu cực và rủi ro trong hoạt động tài chính, nhất là những rủi ro có tính chất chủ quan khi quyết định các khoản thu, chi

- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Là nguyên tắc quan trọng trong quản lý tài

chính đối với các đơn vị sự nghiệp thụ hưởng ngân sách Nhà nước Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp đảm bảo cho các nguồn lực của xã hội được sử dụng hợp lý cả ở quy mô nền kinh tế quốc dân lẫn quy mô đơn

vị sự nghiệp

- Nguyên tắc công khai, minh bạch: Đơn vị sự nghiệp là tổ chức công nên

việc quản lý tài chính các đơn vị này phải đáp ứng yêu cầu chung trong quản lý tài chính công, đó là công khai, minh bạch trong động viên, phân phối các nguồn lực

xã hội, nhất là nguồn lực về tài chính Bởi vì tài chính công là đóng góp của xã hội Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định về thu, chi tài chính công, hạn chế những thất thoát và đảm bảo tính hợp lý trong chi tiêu của bộ máy nhà nước

2.1.3 Các nội dung chủ yếu trong quy chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập

2.1.3.1 Quy chế về quản lý nguồn thu

Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 43/2006 và khoản 1 mục VIII Thông

tư số 71/2006/TT-BTC thì nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm các khoản sau: kinh phí do nhà nước cấp, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, nguồn viện trợ tài trợ, quà biếu, tặng Ngoài ra, ĐVSN được quyền huy động vốn từ các tổ chức tín dụng, từ cán bộ viên chức trong đơn vị, sử dụng

Trang 24

- Nguồn thu từ NSNN

Đặc điểm của nguồn ngân sách là Nhà nước cấp phát theo dự toán xác định cho những nhiệm vụ, chương tình mục tiêu đã được duyệt Để có được nguồn kinh phí ngân sách cấp, các đơn vị phải thực hiện tốt công tác lập kế hoạch, dự toán theo quy định của Luật NSNN, các văn bản đặc thù của từng ngành, từng lĩnh vực, quy chế được duyệt của đơn vị

- Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp

Các khoản thu sự nghiệp: Thông qua các hoạt động sự nghiệp, các đơn vị ứng dụng sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ văn hoá, thông tin, khoa học, thể thao,

y tế tạo ra nguồn thu Thu sự nghiệp gồm các khoản trong lĩnh vực sau:

+ Thu sự nghiệp giáo dục, đào tạo: Tiền học phí, thu hợp đồng giảng dạy nghiệp vụ chuyên môn khoa học kỹ thuật, thu từ kết quả hoạt động sản xuất và ứng dụng khoa học của các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, các trường cao đẳng, đại học

+ Sự nghiệp y tế, dân số, kế hoạch hoá gia đình: Thu viện phí, thu dịch vụ khám chữa bệnh, thực hiện các biện pháp tránh thai, thu bán các sản phẩm đơn vị ứng dụng khoa học sản xuất đề phòng bệnh (như các loại vác xin phòng bệnh ) + Sự nghiệp văn hoá thông tin: Thu dịch vụ quảng cáo, thu bán sản phẩm văn hoá như: bản tin, tạp chí, thu từ hoạt động biểu diễn của các đoàn nghệ thuật;

+ Thể dục - thể thao: Thu tiền bán vé từ hoạt động thi đấu, biểu diễn thể dục thể thao, thu hợp đồng dịch vụ thể thao như thuê sân bãi, dụng cụ

+ Sự nghiệp nghiên cứu khoa học, công nghệ, môi trường: Thu bán các sản phẩm từ kết quả hoạt động sản xuất, nghiên cứu, thử nghiệm, thu dịch vụ khoa học, bảo vệ môi trường, thu hợp đồng nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước

+ Sự nghiệp kinh tế: Thu từ dịch vụ đo đạc bản đồ, điều tra khoả sát, quy hoạch nông lâm, thiết kế trồng rừng, thu dịch vụ khí tượng thuỷ văn, dịch vụ kiến trúc, quy hoạch đô thị

- Nguồn tài trợ, viện trợ và các nguồn thu khác

Nguồn tài trợ, viện trợ và các nguồn thu khác được quy định là một phần ngân sách của Nhà nước giao cho đơn vị quản lý và sử dụng

Trang 25

Yêu cầu đối với việc quản lý nguồn thu:

- Quản lý toàn diện từ hình thức, quy mô đến các yếu tố quyết định số thu Bởi vì, tất cả các hình thức, quy mô và các yếu tố ảnh hưởng đến số thu đều quyết định số thu tài chính làm cơ sở cho mọi hoạt động của đơn vị sự nghiệp Nếu không quản lý toàn diện sẽ dẫn đến thất thoát khoản thu, làm ảnh hưởng không chỉ đến hiệu quả quản lý tài chính, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của đơn

vị sự nghiệp

- Coi trọng công bằng xã hội, những người có điều kiện, hoàn cảnh và mức thu nhập như nhau phải đóng góp như nhau Đây là thể hiện yêu cầu công bằng chung cho mọi hoạt động của Nhà nước

- Thực hiện nghiêm túc, đúng đắn các chính sách, chế độ thu do cơ quan có thẩm quyền ban hành, đơn vị sự nghiệp không được tự ý đặt ra các khoản thu cũng như mức thu

- Quản lý các nguồn thu theo kế hoạch, đảm bảo thu sát, thu đủ, tổ chức tốt quá trình quản lý thu, đồng thời đề ra các biện pháp tổ chức thu thích hợp

- Đối với các đơn vị được sử dụng nhiều nguồn thu phải có biện pháp quản lý thu thống nhất nhằm thực hiện thu đúng mục đích, thu đủ và thu đúng kỳ hạn

Về quy trình quản lý nguồn thu

Quy trình quản lý thu ở các đơn vị sự nghiệp được tiến hành theo từng năm,

kế hoạch qua các bước sau:

- Xây dựng kế hoạch dự toán thu

- Thực hiện kế hoạch thu theo dự toán

- Quyết toán các khoản thu

Khi xây dựng các khoản thu phải dựa vào các căn cứ sau:

+ Phải dựa vào nhiệm vụ chính trị, xã hội được giao cho đơn vị cũng như các chỉ tiêu cụ thể, từng mặt hoạt động do cơ quan có thẩm quyền thông báo;

+ Các văn bản pháp lý quy định thu như các chế độ thu do Nhà nước quy định; + Số kiểm tra về dự toán thu do cơ quan có thẩm quyền thông báo;

+ Kết quả phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán thu của các năm trước (chủ yếu là năm báo cáo) và triển vọng của các năm tiếp theo

Trang 26

Thực hiện kế hoạch thu theo dự toán: Dự toán thu là căn cứ quan trọng để tổ chức thực hiện thu Trong quá trình thu, đơn vị phải thực hiện thu đúng đối tượng, thu đủ, tuân thủ các quy định của Nhà nước để đảm bảo hoạt động của đơn vị mình Quyết toán các khoản thu: Cuối năm, đơn vị phải giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong khâu tổ chức thu nộp, sau đó tổng hợp, đánh giá tình hình chấp hành dự toán thu đã được giao, rút ra những kinh nghiệm cho việc khai thác nguồn thu, công tác xây dựng dự toán và tổ chức thu nộp trong thời gian tới, nộp báo cáo cho cơ quan quản lý cấp trênm

2.1.3.2 Quy chế về quản lý các khoản chi

Nội dung quản lý các khoản chi gồm: Quản lý chi phí hoạt động thường xuyên; quản lý chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học; quản lý chi đầu tư phát triển; chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất và chi khác (nếu có), cụ thể:

- Chi hoạt động thường xuyên của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ được cấp

có thẩm quyền giao:

+ Chi cho người lao động: Chi tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn theo quy định

+ Chi quản lý hành chính: Vật tư văn phòng, dịch vụ công cộng, thông tin liên lạc, công tác phí, hội nghị, thuê mướn

+ Chi hoạt động nghiệp vụ chuyên môn;

+ Chi mua sắm tài sản, sửa chữa thường xuyên tài sản: khoản kinh phí này được sử dụng để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi lại giá trị sử dụng cho những tài sản cố định đã bị xuống cấp;

+ Chi khác: Chi tiếp khách, mua bảo hiểm phương tiện tài sản

- Chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành, Chương trình mục tiêu quốc gia, chi nhiệm vụ đặt hàng của Nhà nước, chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có vốn nước ngoài theo quy định

- Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định

- Chi đầu tư phát triển: chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết

bị, sửa chữa lớn tài sản, chi thực hiện các dự án đầu tư theo quy định

Trang 27

- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao

- Các khoản chi khác: các đơn vị sự nghiệp có thu còn có các khoản chi hoạt động tổ chức thu phí, chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ (kể cả chi nộp thuế, trích khấu hao tài sản cố định)

Yêu cầu đối với quản lý các khoản chi:

- Đảm bảo nguồn tài chính cần thiết để các đơn vị sự nghiệp hoàn thành các nhiệm vụ được giao theo đúng đường lối, chính sách, chế độ của Nhà nước Để thực hiện yêu cầu này đòi hỏi các đơn vị cần xác lập thứ tự ưu tiên cho các khoản chi để

bố trí kinh phí cho phù hợp

- Quản lý các khoản chi phải đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả Tiết kiệm

là một nguyên tắc hàng đầu của quản lý tài chính Nguồn lực luôn có giới hạn nhưng nhu cầu không có giới hạn Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm phải tính toán sao cho chi phí thấp nhất, kết quả cao nhất Hoạt động sự nghiệp diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp Nhu cầu chi của ĐVSN luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu có giới hạn nên cần phải tiết kiệm, thực hiện hiệu quả trong quản lý tài chính của các ĐVSN

Để đạt được tiêu chuẩn tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý các khoản chi của ĐVSN phải quản lý chặt chẽ từ khâu xây dựng kế hoạch, dự toán, xây dựng định mức, thường xuyên phân tích, đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chi tiêu, trên cơ sở đề ra các biện pháp tăng cường quản lý chi đối với các ĐVSN

Các biện pháp quản lý chi tài chính ở ĐVSN:

Trong thực hiện, các ĐVSN có nhiều biện pháp quản lý các khoản chi tài chính khác nhau, nhưng các biện pháp quản lý chung nhất là:

- Thiết lập các định mức chi: Định mức chi vừa là cơ sở để xây dựng kế hoạch chi, vừa là căn cứ để thực hiện kiểm soát chi của các ĐVSN Các định mức chi phải xây dựng một cách khoa học Từ việc phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến hành một cách chặt chẽ và có cơ sở khoa học Các định mức chi phải bảo đảm phù hợp với loại hình hoạt động của từng đơn vị

Trang 28

Các định mức chi phải có tính thực tiễn tức là phải phản ánh mức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động Chỉ có như vậy, định

mức chi mới trở thành chuẩn mực cho quản lý kinh phí (Nguyễn Thị Thu 2010)

- Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động hoặc theo nhóm mục chi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoản thành và đạt chất lượng cao Để đạt được điều này phải có phương án phân phối và sử dụng kinh phí khác nhau Trên cơ sở đó lựa chọn phương án tối ưu cho cả quá trình lập dự toán phân bổ và sử dụng kinh phí

- Xây dựng quy trình cấp phát các khoản chi chặt chẽ, hợp lý nhằm hạn chế tối

đa những tiêu cực nảy sinh trong quá trình cấp phát, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát chi của các cơ quan có thẩm quyền

- Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm toán nhằm ngăn chặn những biều hiện tiêu cực trong việc sử dụng nguồn kinh phí của Nhà nước, đồng thời qua công tác này phát hiện những bất hợp lý trong chế độ, chính sách nhằm bổ sung hoàn thiện chúng

2.1.3.3 Xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ

Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Đây chính là cơ sở pháp lý của hoàn thiện quản lý tài chính ở các đơn vị

sự nghiệp có thu hiện nay

Dựa trên các quy định tại Nghị định này, các ĐVSN công lập xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của mình để hoạt động, làm căn cứ để cán bộ, viên chức thực hiện và Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát chi

Nguyên tắc, nội dung và phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ:

a) Quy chế chi tiêu nội bộ thảo luận rộng rãi dân chủ, công khai trong đơn vị

và có ý kiến thống nhất của tổ chức công đoàn đơn vị

b) Quy chế chi tiêu nội bộ phải gửi cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan tài chính cùng cấp để theo dõi, giám sát thực hiện; gửi Kho bạc Nhà nước nơi đơn vị

mở tài khoản giao dịch để làm căn cứ kiểm soát chi

Trang 29

c) Nội dung quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức, mức chi thống nhất trong đơn vị, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh phí tiết kiệm có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý

d) Đối với nội dung chi thuộc phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ (chi quản lý, chi nghiệp vụ thường xuyên) đã có chế độ tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định (trừ một số tiêu chuẩn, định mức và nội dung chi quy định tại tiết e), thủ trưởng đơn vị sự nghiệp được:

- Đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động và đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi quản lý và chi nghiệp vụ cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

- Đối với đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: Thủ trưởng đơn vị quyết định mức chi không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

đ) Đối với những nội dung chi, mức chi cần thiết cho hoạt động của đơn vị, trong phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa ban hành, thì thủ trưởng đơn vị có thể xây dựng mức chi cho từng nhiệm vụ, nội dung công việc trong phạm vi nguồn tài chính của đơn vị

e) Đối với một số tiêu chuẩn, định mức và mức chi đơn vị sự nghiệp phải thực hiện đúng các quy định của nhà nước:

- Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô

- Tiêu chuẩn, định mức về nhà làm việc

- Tiêu chuẩn, định mức trang bị điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại

di động

- Chế độ công tác phí nước ngoài

- Chế độ tiếp khách nước ngoài và hội thảo quốc tế ở Việt Nam

- Chế độ quản lý, sử dụng kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia

- Chế độ sử dụng kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được giao

- Chế độ chính sách thực hiện tinh giản biên chế (nếu có)

Trang 30

- Chế độ quản lý, sử dụng vốn đối ứng dự án, vốn viện trợ thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước

- Chế độ quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt

g) Thủ trưởng đơn vị căn cứ tính chất công việc, khối lượng sử dụng, tình hình thực hiện năm trước, quyết định phương thức khoán chi phí cho từng cá nhân,

bộ phận, đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc sử dụng như: sử dụng văn phòng phẩm, điện thoại, xăng xe, điện, nước, công tác phí; kinh phí tiết kiệm do thực hiện khoán được xác định chênh lệch thu, chi và được phân phối, sử dụng theo chế độ quy định

h) Thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ, đơn vị phải bảo đảm có chứng từ, hoá đơn hợp pháp, hợp lệ theo quy định, trừ các khoản thanh toán văn phòng phẩm, công tác phí được thực hiện chế độ khoán theo quy chế chi tiêu nội bộ, khoản thanh toán tiền cước sử dụng điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động hàng tháng theo hướng dẫn tại Thông tư số 29/2003/TT-BTC ngày 14/4/2003 của Bộ Tài chính

2.1.4 Quy trình quản lý NSNN ở các ĐVSN công lập

Lập dự toán thu chi:

Lập dự toán chi là khâu khởi đầu và quan trọng trong quản lý chi NSNN, nó

có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả của khâu chấp hành, kế toán và quyết toán chi NSNN Khi lập dự toán cần dựa trên những căn cứ sau:

- Chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển các hoạt động sự nghiệp trong từng giai đoạn nhất định Dựa vào căn cứ này sẽ giúp cho việc xây dựng dự toán chi tài chính ở ĐVSN có một cái nhìn tổng quát về những mục tiêu, nhiệm vụ

mà đơn vị phải hướng tới trong năm, từ đó xác lập được các hình thức, phương pháp phân phối nguồn vốn vừa tiết kiệm, vừa đạt hiệu quả cao

- Dựa vào các chỉ tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí chi NSNN kỳ kế hoạch cho các ĐVSN Đây chính là việc cụ thể hoá các chủ trường của Nhà Nước trong từng giai đoạn thành các chỉ tiêu cho kỳ kế hoạch Khi dựa trên căn cứ này để xây dựng

Trang 31

dự toán chi phải thẩm tra, phân tích đúng đắn, hiện thực, tính hiệu quả của các chỉ tiêu thuộc kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Trên cơ sở đó kiến nghị điều chỉnh lại các chỉ tiêu kế hoạch cho phù hợp

- Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên kỳ kế hoạch Muốn dự toán được khả năng này, ĐVSN phải dựa vào

cơ cấu thu NSNN kỳ báo cáo và mức tăng trưởng của các nguồn thu kỳ kế hoạch, từ

đó thiết lập mức cân đối tổng quát giữa khả năng nguồn kinh phí và nhu cầu chi NSNN

- Kết quả phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí chi NSNN

kỳ báo cáo sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc lập dự toán

Quá trình lập dự toán chi NSNN được tiến hành theo các bước cơ bản sau:

Thứ nhất: căn cứ vào dự toán sơ bộ về thu, chi NSNN kỳ kế hoạch để xác

định các định mức chi tiêu tổng hợp dự kiến ngân sách sẽ phân bổ cho mỗi đối tượng Trên cơ sở đó hướng dẫn các đơn vị tiến hành lập dự toán kinh phí Bước này còn được gọi là xác định và giao số kiểm tra từ cơ quan tài chính hoặc cơ quan chủ quản cho ĐVSN

Thứ hai: dựa vào số kiểm tra và văn bản hướng dẫn lập dự toán kinh phí, các

đơn vị dự toán tiến hành lập dự toán kinh phí của mình để gửi đơn vị dự toán cấp trên hoặc cơ quan tài chính Căn cứ vào mức độ phân cấp về chi NSNN, cơ quan tài chính ở mỗi cấp có nhiệm vụ xét duyệt, tổng hợp dự toán kinh phí các đơn vị trực thuộc để hình thành dự toán chi ngân sách trình cơ quan có thẩm quyền xét duyệt

Thứ ba: căn cứ vào dự toán chi NSNN đã được cơ quan có thẩm quyền thông

qua, cơ quan tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp sẽ chính thức phân bổ dự toán chi NSNN cho mỗi đơn vị

Chấp hành dự toán thu chi NSNN:

Tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính (chấp hành dự toán) là quá trình vận dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi tài chính trong dự toán của đơn vị thành hiện thực Các đơn vị căn cứ vào

dự toán được giao, triển khai thực hiện, đưa ra các biện pháp cần thiết để đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi được giao; đồng thời có kế hoạch sử dụng kinh phí

Trang 32

ngân sách theo đúng mục đích, chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả

Chấp hành dự toán chi NSNN là khâu thứ hai trong chu trình quản lý NSNN Trong quá trình sử dụng tài chính theo dự toán cần dựa trên những căn cứ sau:

- Dựa vào định mức chi được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán Đây là căn cứ mang tính quyết định nhất trong chấp hành dự toán chi NSNN

- Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thề dành cho nhu cầu chi NSNN trong mỗi kỳ báo cáo Chi thường xuyên của NSNN luôn bị giới hạn bởi khả năng huy động của các nguồn thu Mặc dù các khoản chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán nhưng khi số thu không đảm bảo vẫn phải cắt giảm một phần nhu cầu chi tiêu Đây là một trong những giải pháp thiết lập lại sự cân đối giữa thu và chi NSNN trong quá trình chấp hành dự toán

- Dựa vào các chế độ, chính sách chi NSNN hiện hành Đây là căn cứ căn cứ

mang tính pháp lý của các khoản chi sẽ được xem xét dựa trên cơ sở các chính sách, chế độ của Nhà nước đang có hiệu lực thi hành Để làm được điều đó, các chính sách, chế độ phải phù hợp với thực tiễn

Để đạt được mục tiêu cơ bản của việc tổ chức chấp hành dự toán chi NSNN, ĐVSN phải đảm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng nguồn vốn hợp lý, tiêt kiệm, thông qua áp dụng các biện pháp sau:

- Trên cơ sở dự toán chi ngân sách đã được duyệt và các chế độ, chính sách hiện hành, cơ quan chức năng phái hướng dẫn cụ thể, rõ ràng cho các đơn vị thi hành

- Tổ chức các hình thức cấp phát vốn thích hợp với mỗi loại hình đơn vị, mỗi loại hoạt động và nguồn kinh phí hoạt động, trên cơ sở đó quy định rõ trình tự cấp phát nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thống nhất thực hiện

- Hướng dẫn các đơn vị thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán áp dụng cho các đơn vị, sao cho sự hình thành nguồn kinh phí và sử dụng kinh phí phải được hạch toán đúng, đủ, chính xác và kịp thời Trên cơ sở đó đảm bảo việc quyết toán kinh phí được nhanh, chính xác, đồng thời cung cấp các tài liệu có tính chuẩn mực cao cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt

- Cơ quan tài chính phải thưởng xuyên xem xét khả năng đảm bảo kinh phí

Trang 33

cho nhu cầu chi NSNN để có biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm thiết lập lại thể cân đối mới trong quá trình chấp hành dự toán

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình nhận và sử dụng kinh phí tại mỗi đơn vị sao cho mỗi khoản chi tiêu đảm bảo theo dự toán, đúng định mức tiêu chuẩn của Nhà nước, góp phần nâng cao tính tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý chi ngân sách

Quyết toán thu chi ngân sách nhà nước:

Quyết toán chi NSNN là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý chi tài chính

Đó là quá trình kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại các số liệu đã được phản ánh sau một

kỳ chấp hành dự toán để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán, rút ra những kinh nghiệm, bài học cần thiết cho kỳ chấp hành dự toán tiếp theo Bởi vậy, trong quá trình quyết toán các khoản chi ngân sách phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo chế độ quy định

- Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực Nội dung các báo cáo tài chính phải theo đúng nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục NSNN quy định

- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán các cấp trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải có xác nhận của Kho bạc nhà nước đồng cấp và phải do cơ quan Kiểm toán nhà nước kiểm toán

- Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu

Công tác quyết toán, kiểm toán các khoản chi thường xuyên phải đảm bảo các yêu cầu: Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo cáo

đó cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo đúng chế độ quy định; Số liệu trong các báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực Nội dung các báo cáo tài chính phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục NSNN đã quy định; Báo cáo quyết toán năm của đơn vị dự toán phải có xác nhận của Kho bạc nhà nước đồng cấp; Thủ trưởng các đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm kiểm tra và duyệt quyết toán thu, chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc, chịu trách nhiệm theo dõi các khoản chi thường xuyên của NSNN

Trang 34

Hồ sơ quyết toán của các đơn vị dự toán bao gồm các loại báo cáo quyết toán sau:

- Bảng cân đối tài khoản;

- Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng;

- Báo cáo chi tiết kinh phí hoạt động;

- Báo cáo chi tiết kinh phí dự án;

- Bảng đối chiếu dự toán kinh phí ngân sách tại Kho bạc nhà nước;

- Bảng đối chiếu tình hình tạm ứng và thanh toán tạm ứng kinh phí ngân sách tại Kho bạc nhà nước;

- Báo cáo thu – chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh;

- Báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản cố định;

- Báo cáo số kinh phí chưa sử dụng đã quyết toán năm trước chuyển sang;

- Thuyết minh báo cáo tài chính

Thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện quản lý thu chi NSNN

Kiểm tra tài chính là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá việc thực hiện và kết quả thực hiện các hoạt động tài chính, từ đó đưa ra các biện pháp điều chỉnh nếu thấy

cần thiết, nhằm bảo đảm cho kế hoạch tài chính được thực hiện đúng như dự kiến

Kiểm tra tài chính là nội dung tất yếu của quản lý tài chính, bởi vì quá trình thực hiện kế hoạch nhất là kế hoạch thu chi không phải bao giờ cũng đúng như dự kiến (do các lý do khách quan và chủ quan)

Mục đích của công tác kiểm tra tài chính nhằm:

- Kịp thời phát hiện sai sót và điều chỉnh, bảo đảm thực hiện được các kế hoạch đã đề ra

- Giúp đơn vị nắm được tình hình quản lý tài chính, đảm bảo hiệu quả trong đầu tư và sử dụng các nguồn lực

- Đưa công tác quản lý tài chính đi vào nề nếp và nâng cao chất lượng của các hoạt động tài chính

- Tận dụng được các cơ hội và giảm thiểu được các rủi ro tài chính

Các nhiệm vụ của kiểm tra tài chính gồm:

- Giám sát và đo lường các hoạt động tài chính

Trang 35

- Đánh giá các hoạt động, các quyết định, các kế hoạch tài chính

- Điều chính nhằm khắc phục hoặc hạn chế sai sót

- Đưa ra những kiến nghị đổi mới

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu

Các đơn vị sự nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, thúc đẩy các xu hướng phát triển chung của đời sống xã hội Song, hoạt động của các ĐVSN lại chịu sự chi phối của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Nằm trong tổng thể hoạt động của đơn vị sự nghiệp, hoạt động quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp cũng chịu sự tác động của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội đó Ngoài ra, những đặc điểm hoạt động của bản thân đơn vị sự nghiệp cũng ảnh hưởng đến các quyết định, cách thức và cơ chế quản lý của đơn vị sự nghiệp Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý của các đơn vị sự nghiệp được chia làm 2 nhóm: nhóm các nhân tố chủ quan và nhóm các nhân tố khách quan

Nhóm nhân tố chủ quan

- Quy mô của đơn vị sự nghiệp

Các đơn vị sự nghiệp có quy mô khác nhau về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ viên chức và người lao động sẽ có những điểm khác biệt về cách thức quản lý tài chính Những đơn vị có quy mô lớn, khả năng đa dạng hoá loại hình hoạt động, số lượng khách hàng theo các hoạt động dịch vụ lớn thì nguồn lực tài chính huy động được lớn, do đó, các đơn vị sẽ có khả năng tự đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên Hay nói cách khác, các đơn vị này sẽ có mức độ tự chủ tài chính cao hơn Bên cạnh đó, do quy mô hoạt động lớn, các đơn vị đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ, viên chức và người lao động đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng Điều này cũng đòi hỏi các đơn vị phải xây dựng một cơ chế quản lý nói chung và cơ chế tài chính nói riêng phù hợp nhằm thu hút, duy trì và phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức và người lao động của đơn vị

Đối với các đơn vị sự nghiệp có quy mô hoạt động nhỏ, cũng cần xây dựng một cơ chế tài chính thích hợp để thu hút được đội ngũ cán bộ, viên chức và người

Trang 36

lao động có trình độ cao Tuy nhiên, đối với các đơn vị sự nghiệp này, nguồn tài chính có hạn nhưng nhiệm vụ chi lớn do phải thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và duy trì hoạt động thường xuyên của đơn vị Chính vì thế, đối với các đơn vị

sự nghiệp có quy mô hoạt động nhỏ khả năng tự chủ tài chính không cao mà thông thường cần phải có sự đảm bảo kinh phí từ NSNN

- Nhiệm vụ, mục tiêu và phương hướng phát triển của đơn vị sự nghiệp

Đối với các ĐVSN nói chung, nhiệm vụ, mục tiêu và phương hướng phát triển của các đơn vị trong từng thời kỳ cụ thể có ảnh hưởng trực tiếp tới công tác quản lý tài chính tại đơn vị Mục tiêu chiến lược hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập được xác định khác nhau tùy từng xã hội ở mỗi thời kỳ Do đó, mục tiêu quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập có đặc điểm chính là không nhằm vào lợi nhuận, mà để phục vụ lợi ích cộng đồng và xã hội

Bên cạnh đó, mục tiêu về chất lượng và hiệu quả hoạt động được đặt lên hàng đầu Trước mục tiêu chung đó của các đơn vị sự nghiệp, mỗi đơn vị phải xây dựng nhiệm vụ, mục tiêu và phương hướng phát triển phù hợp và xác định nguồn tài chính đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ đó Trong từng thời kỳ cụ thể, khi nhiệm vụ, mục tiêu và phương hướng phát triển của các đơn vị thay đổi, cơ chế tài chính nói chung và nguồn tài chính nói riêng của đơn vị cũng thay đổi theo cho phù hợp Do

đó, ảnh hưởng đến các giải pháp quản lý tài chính của đơn vị đến trật tự ưu tiên các khoản chi của đơn vị trong từng thời kỳ

- Trình độ cán bộ quản lý tài chính của ĐVSN

Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, là khâu trọng yếu trong việc xử lý các thông tin để đề ra các quyết định quản lý Trình độ cán bộ quản lý là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời chính xác của các quyết định quản lý, do

đó nó có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý, quyết định sự thành bại của công tác quản lý nói chung cũng như công tác quản lý tài chính nói riêng Đối với các cơ quan quản lý cấp trên, nếu cán bộ quản lý tài chính có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sẽ đưa ra được những biện pháp quản lý phù hợp, xử lý thông tin quản lý kịp thời, chính xác làm cho hoạt động quản lý ngày càng đạt hiệu quả cao Ngược lại, nếu cán bộ cấp trên yếu kém, không dám chịu

Trang 37

trách nhiệm thì cơ chế quản lý tài chính sẽ trì trệ, lạc hậu, kém hiệu quả

Đối với đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tài chính kế toán, nếu có năng lực, trình độ chuyên môn tốt, có kinh nghiệm công tác sẽ đưa công tác quản lý tài chính kế toán đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ về tài chính kế toán của Nhà nước, góp phần vào hiệu quả của công tác quản lý tài chính ĐVSN nếu không có cán bộ quản lý tài chính chuyên nghiệp và thành thạo thì nguy cơ thất thoát, sai chế độ chính sách và chậm trễ là rất lớn

- Hệ thống kiểm soát nội bộ của ĐVSN

Hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định

để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót, nhằm bảo vệ, quản

lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị Hệ thống kiểm soát nội bộ là chìa khoá

để quản lý tài chính ở ĐVSN thực hiện hiệu quả, đúng chế độ, chính sách của Nhà nước

Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát

Môi trường kiểm soát là những nhận, thức, quan điểm, sự quan tâm và hoạt

động lãnh đạo đơn vị đối với hệ thống kiểm soat nội bộ và vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị Môi trường kiểm soát được đề cao sẽ giúp đơn vị sự nghiệp giảm thiểu nguy cơ sai lầm

Hệ thống kế toán là các quy định về kế toán và các thủ tục kế toán mà đơn vị

áp dụng để thực hiện ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính Hệ thống kế toán là công nghệ mà quản lý tài chính ĐVSN phải tuân thủ Công nghệ này có tính pháp lý quốc gia

Thủ tục kiểm soát là các quy chế và thủ tục do Ban lãnh đạo đơn vị thiết lập

và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể Thủ tục kiểm soát được tuân thủ sẽ giúp cán bộ quản lý tài chính phát hiện kịp thời sai lầm

để sửa chữa

Nếu ĐVSN có hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ, hữu hiệu, thì công tác quản lý tài chính sẽ được tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều Hệ thống kiểm soát nội

Trang 38

bộ bảo đảm cho công tác tài chính được đặt đúng vị trí, được quan tâm đúng mức;

hệ thống kế toán được vận hành có hiệu quả, đúng chế độ quy định, các thủ tục kiểm tra, kiểm soát được thiết lập đầy đủ, đồng bộ, chặt chẽ; giúp đơn vị phát hiện kịp thời mọi sai sót, ngăn chặn hữu hiệu các hành vi gian lận trong công tác tài

chính (Dương Thị Ngân, 2013)

Nhóm nhân t ố khách quan:

- Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội

Đây là nhân tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động của các đơn

vị sự nghiệp Trong từng thời kỳ cụ thể, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội sẽ có những thay đổi nhất định cho phù hợp với thực tiễn nền kinh tế - xã hội, nhất là đối với sự nghiệp y tế Do đó, cơ chế quản lý đối với các đơn vị cũng có những thay đổi theo cho phù hợp

- Để quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng NSNN, củng cố Luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và tài sản của Nhà nước, tăng tích luỹ nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng an ninh, đối ngoại cần quản lý NSNN theo luật Phù hợp với yêu cầu đó, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 1997 Sau đó, tại Khoá họp XI, kỳ họp thứ hai năm 2002 Quốc hội đã tiếp tục bổ sung và tiếp tục hoàn thiện Luật Ngân sách nhà nước

Từ khi có Luật Ngân sách nhà nước mọi khoản chi NSNN, trong đó có chi cho ĐVSN, đều phải tuân theo Luật NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gán chuyên môn với trách nhiệm

Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán NSNN

Theo Luật NSNN, các đơn vị sử dụng NSNN phải lập, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quyết toán NSNN theo các quy định thống nhất trong cả

Trang 39

nước Ngoài ra, việc sử dụng NSNN phải đúng mục đích và theo mục lục mà Luật đã quy định

Nhờ có Luật NSNN, quản lý tài chính trong các ĐVSN trở nên minh bạch hơn, ổn định trong thời gian đủ dài để các đơn vị thụ hưởng ngân sách có điều kiện tìm phương án sử dụng ngân sách có hiệu quả, kích thích tự chủ của đơn ĐVSN nhiều hơn trong việc tìm kiếm lợi ích từ tiết kiệm chi NSNN, tạo cơ chế kiểm tra, giám sát của Nhà nước và cơ quan ngôn luận đối với việc sử dụng NSNN Tuy nhiên, do Luật NSNN của nước ta còn chưa thực sự hoàn thiện, nhiều quy định còn cứng nhắc, ví dụ như quy định phải sử dụng ngân sách theo mục lục ngân sách, quy định ngân sách cấp dưới thuộc ngân sách cấp trên, đã hạn chế quyền tự chủ của đơn

vị cơ sở trong việc sử dụng ngân sách có hiệu quả Ngoài ra, muốn cải tiến quản lý tài chính ở các ĐVSN phải chờ sự thay đổi của Luật Ngân sách nhà nước nên thường chậm chạp

- Cơ chế quản lý tài chính:

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với ĐVSN có tác động đến chương trình chi tiêu ngân sách quốc gia, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia về hoạt động sự nghiệp Vì vậy, cơ chế tài chính đó nếu được thiết lập phù hợp, hiệu quả sẽ đảm bảo cung ứng đủ nguồn kinh phí cho hoạt động chuyên môn, tránh được thất thoát, lãng phí các nguồn lực tài chính, đảm boả phát huy tối đa hiệu quả, tạo tiền đề vật chất cho việc thực hiện tốt các chương trình quốc gia về hoạt động sự nghiệp Ngược lại, nếu cơ chế tài chính của Nhà nước không phù hợp sẽ làm cho các chương trình được thực hiện không như mong muốn, thậm chí làm cho chương trình phá sản,

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đóng vai trò như một cán cân công lý đảm bảo sự công bằng, hợp lý trong việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính giữa các lĩnh vực hoạt động sự nghiệp khác nhay, cũng như giữa các ĐVSN trong cùng một lĩnh vực Nhờ đó, các ĐVSN dù hoạt động ở đâu, lĩnh vực nào cũng được quan tâm, tạo điều kiện phát triển tương xứng với yêu cầu của xã hội đối với lĩnh vực đó và tiềm lực kinh tế của quốc gia đó

Mặt khác, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước vạch ra hành lang pháp lý

Trang 40

cho ĐVSN nhưng nếu các cơ chế này không phù hợp sẽ trở thành hàng rào trói buộc, cản trờ đến qú trình tạo lập và sử dụng nguồn lực tài chính của ĐVSN, ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt động chuyên môn của đơn vị Nếu cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước sơ hở, lỏng lẻo có thể làm hao tổn NSNN, thất thoát lãng phí các nguồn lực tài chính khác mà không đạt được mục tiều chính trị, xã hội đã định

- Chính sách của Nhà nước

Mọi hoạt động tài chính của ĐVSN có thu đều phải tuân theo Luật NSNN, Luật

kế toán, các văn bản hướng dẫn của Nhà nưcớ có liên quan Để từ đó có thể quản

lý, sử dụng nguồn thu một cách chặt chẽ và hiệu quả, đảm bảo tốt nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao và thực hiện tốt vai trò của ĐVSN có thu đối với đời sống xã hội

Với đặc điểm cơ bản như trên thì chế độ tài chính áp dụng đối với ĐVSN là các văn bản pháp quy dưới hình thức luật, nghị định, thông tư do Nhà nước ban hành quy định về quản lý nguồn kinh phí từ NSNN cấp, các nguồn thu được tạo ra trong quá trình hoạt động sự nghiệp

2.2 Quy chế quản lý tài chính trong các Bệnh viện công

2.2.1 Đặc điểm hoạt động của Bệnh viện công

Công cuộc đổi mới đất nước đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng trong tất

cả các các lĩnh vực hoạt động của xã hội Quá trình đổi mới này đã tạo thuận lợi cho

sự phát triển của hệ thống y tế nói chung và bệnh viện nói riêng

Từ trước đến nay, có rất nhiều quan điểm về bệnh viện công Theo quan điểm hiện đại, bệnh viện công là một tổ chức y tế của Nhà nước với các đặc trưng sau:

- Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm rất nhiều yếu tố và nhiều khâu liên quan chặt chẽ nhau từ khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc

- Bệnh viện là một tổ chức y tế có chức năng hoạt động chính là khám chữa bệnh, bao gồm các yếu tố đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, nguồn tài chính, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán và điều trị Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe; hoặc người bệnh tử vong

- Ngoài chức năng chủ yếu là khám chữa bệnh cho nhân dân, bệnh viện công còn có chức năng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1). Báo cáo tài chính và kế hoạch hoạt động của BVĐK huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương năm 2011,2012,2013 Khác
2). Dương Thị Ngân (2013), Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật trung ương. Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh , Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
3). GS. Đỗ Hoàng Toàn (2007)- Giáo trình Quản lý Nhà nước về kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
6). Luật quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước 09/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008 Khác
7). Nghị định 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/01/2002 quy định chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu trong đó có bệnh viện Khác
8). Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/04/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Khác
9). Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2012 về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập Khác
10). Nguyễn Thị Thu (2010), Hoàn thiện quản lý tài chính tại Bệnh viện đa khoa khu vực Long Thành theo cơ chế tự chủ tài chính. Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân Khác
11). Nhóm tác giả (2001) - Những quy định về chính sách xã hội hoá các hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao. Nhà xuất bản Lao động Khác
12). Nhóm tác giả (2005)- Những vấn đề cơ bản của kinh tế y tế, Nhà xuất bản, Đại học Y Hà Nội Khác
13). PGS.TS. Đoàn Thị Thu Hà, PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2007)- Giáo trình Khoa học quản lý, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Ảnh hưởng của các đối tượng lên quản lý tài chính của Bệnh viện - Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương
Sơ đồ 2.1 Ảnh hưởng của các đối tượng lên quản lý tài chính của Bệnh viện (Trang 48)
Bảng 3.1 : Tình hình thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn - Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 3.1 Tình hình thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn (Trang 58)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Bệnh viện Giám đốc - Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức của Bệnh viện Giám đốc (Trang 59)
Bảng 3.2: Cơ sở vật chất của BVTM từ năm 2011-2013 - Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 3.2 Cơ sở vật chất của BVTM từ năm 2011-2013 (Trang 61)
Bảng 4.1: Nguồn kinh phí Bệnh viện từ năm 2011-2013 - Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.1 Nguồn kinh phí Bệnh viện từ năm 2011-2013 (Trang 65)
Bảng 4.2: Bảng quyết toán kinh phí thường xuyên năm 2011-2013 - Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.2 Bảng quyết toán kinh phí thường xuyên năm 2011-2013 (Trang 68)
Bảng 4.3: Bảng giá thu viện phí Bệnh viện Thanh Miện - Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.3 Bảng giá thu viện phí Bệnh viện Thanh Miện (Trang 70)
Bảng 4.5: Định mức phụ cấp phẫu thuật, thủ thuật - Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.5 Định mức phụ cấp phẫu thuật, thủ thuật (Trang 73)
Bảng 4.6: Định mức tiền bồi dưỡng bằng hiện vật - Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.6 Định mức tiền bồi dưỡng bằng hiện vật (Trang 74)
Bảng 4.7: Định mức khoán điện thoại và công tác phí - Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.7 Định mức khoán điện thoại và công tác phí (Trang 75)
Bảng 4.8: Tổng hợp kết quả khảo sát đánh giá tình hình quản lý tài chính tại  Bệnh viện công lập - Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.8 Tổng hợp kết quả khảo sát đánh giá tình hình quản lý tài chính tại Bệnh viện công lập (Trang 79)
Bảng 4.9: Bảng phân phối nguồn kinh phí tiết kiệm 2011-2013 - Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính tại bệnh viện đa khoa huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.9 Bảng phân phối nguồn kinh phí tiết kiệm 2011-2013 (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w