Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học năm 2008 Tên đề tài: " Một số biện pháp giúp học sinh khắc phục khó khăn khi thực hiện giải các bài toán có lời văn ở học sinh lớp 1" ---phần i: Mở đầu l
Trang 1Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học năm 2008 Tên đề tài: " Một số biện pháp giúp học sinh khắc phục khó khăn khi thực hiện giải các bài toán có lời văn ở học sinh lớp 1"
-phần i: Mở đầu
lý do chọn đề tài:
Hiện nay mục tiêu giáo dục đòi hỏi ngày càng cao, cho nên nội dung chơng trình ngày càng đợc cải tiến, phù hợp với nhu cầu đó Vì thế chơng trình Tiểu học 2002 - 2003 đã chính thức thay sách giáo khoa 100% cho học sinh lớp một Một vấn đề hoàn toàn mới lạ đối với học sinh lớp một hiện nay đó là:
Ch-ơng trình Tiểu học (CTTH) 2002 - 2003 đã có thêm dạng toán có lời văn trong
hệ thống kiến thức môn toán lớp một nên việc tìm ra biện pháp giúp học sinh khắc phục khó khăn trong khi giải các bài toán có lời văn là cần thiết, cấp bách Phơng pháp học và dạy cũng từng bớc đợc đổi mới Điều kiện, phơng pháp tiện giúp cho thầy và trò chiếm lĩnh tri thức vẫn còn hạn chế Cơ sở vật chất đầu
t cho dạy và học đã có xong vẫn còn thiếu tơng đối nhiều
Đối vơis đội ngũ thầy cô giáo cha đợc đồng đều, trình độ đào tạo có khác nhau nên việc giải các bài toán có lời văn ở các khối lớp là việc làm khó khăn
Đối với học sinh lớp 1, t duy logic cha phát triển, cơ bản là t duy cụ thể, cho nên việc giải các bài toán có lời văn đối với các em là rất khó khăn, tỷ lệ đúng còn ít và cha chặt chẽ Trong thực tế ở trờng Tiểu học, việc giải các bài tập dạng bài toán có lời văn ở lớp 1, học sinh còn lúng túng là khá phổ biến Đa số các em
đọc đề là làm ngay, bỏ qua bớc giải bài toán cơ lời văn Tỷ lệ tóm tắt bài toán là thấp, cách giải nghèo nàn, thậm trí là bế tắc khi giải bài tập và còn có trờng hợp tính toán sai
Nguyên nhân chính của kết quả trên là:
- Các em cha nắm đợc đờng lối cơ bản chung để giải một bài tập, học sinh cha có ý thức rèn tính cẩn thận, kiên trì trong giải toán, t duy logic của các em còn cha phát triển
- Phơng pháp giảng dạy của giáo viên có phần cha phù hợp với trình độ và tâm lí học sinh, thầy cô trong phơng pháp còn máy móc, cứng nhắc, cha phát huy đợc óc sáng tạo của học sinh
Vậy những biện pháp khắc phục khó khăn giải bài toán có lời văn cho học sinh lớp 1 trong giai đoạn hiện nay là vấn đề rất cần thiết Khi các em chiếm lĩnh
đợc tri thức khoa học, các em sẽ có một cách nhìn, cách nghĩ một vấn đề đầy
đủ Từ đó nâng cao đợc chất lợng dạy - học ở Tiểu học
Do những tồn tại và kết quả của việc giải các bài toán có lời văn ở lớp 1 và
do yêu cầu của giáo dục Tiểu học hiện nay Tôi đã quyết định chọn đề tài nghiên
Trang 2cứu Khoa học thuộc lĩnh vực dạy học toán đó là: " Một số biện pháp giúp học
sinh khắc phục khó khăn khi thực hiện giải các bài toán có lời văn ở học sinh lớp 1"
phần ii:
nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trong nội dung chơng trình của toán lớp 1 các bài toán có lời văn với số l-ợng khoảng 2025% chơn trình, nên việc nghiên cứu phơng pháp giải các bài toán có lời văn ở các dạng bài tập khác nhau là đã giải quyết đợc phần rất lớn của chơng trình dạy học
- Dạy toán ở Tiểu học nhằm giúp các em biết vận dụng các kiến thức, rèn các kỹ năng thực hành cần thiết để đáp ứng nhu cầu bài học, môn học Qua đó phát triển năng lực t duy, rèn luyện phơng pháp suy luận và phẩm chất tốt đẹp của con ngời lao động mới, học sinh biết xác định đợc sự liên hệ lôgic giữa các dữ kiện, đại lợng, cái đã biết và cái phải tìm trong bài toán Từ đó tìm ra phép tính thích hợp, tính chính xác để trả lời đúng câu hỏi của bài toán
- Để hoàn thành đợc bài toán ta cần xác lập đợc các mức độ cụ thể, hoạt
động chuẩn bị cho việc giải toán
- Làm quen với việc giải toán và hình thành kỹ năng giải toán
Trang 3phần iii:
phơng pháp nghiên cứu
1 Phần lý luận:
- Đọc sách, đọc tài liệu để làm sáng toả nội dung
- " Phơng pháp dạy học toán ở Tiểu học " (Đỗ Đình Hoan - Đỗ Trung Hiệu
- Dơng Thuỵ - Vũ Quốc Trung)
- " Một số vấn đề môn toán bậc Tiểu Học " (Tập II) - Đào Nãi
- "Giáo dục Tiểu học" (Phó Đức Hoè)
- "Thế giới trong ta " (Tạp trí của hội tâm lí - Giáo dục Việt Nam) Số T9-2002
- Sách giáo khoa toán 1; Sách giáo viên toán 1; Vở bài tập toán 1; Bài soạn toán đã đợc lu hành
-2002
- Sách giáo khoa toán 1; Sách giáo viên toán 1; Vở bài tập toán 1; Bài soạn toán đã đợc lu hành
2 Thực tiễn:
- Điều tra khảo sát thực tiễn lớp
- Giảng dạy thực nghiệm 2 tiết
- Dự giờ rút kinh nghiệm
- Phỏng vấn học sinh bằng các câu hỏi ngắn
- Vận dụng biện pháp tính cộng, trừ từ một bài toán khi 2 thành phần đã biết để tìm ra kết quả và ngợc lại Tìm một thành phần khi biết kết quả và một thành phần đã cho
- Vận dụng về mối quan hệ giữa số: số tự nhiên liên tiếp, số chẵn, số lẻ Từ
đó giải các bài toán liên quan đến có vận dụng đặc điểm của mỗi loại toán điển
Trang 4hình từ đó tìm ra cách giải quyết phù hợp riêng biệt của loại toán đó áp dụng vào các bài tập tơng tự
Trên cơ sở đó muốn dạy tốt dạng bài: Bài toán có lời văn, giáo viên cần hiểu
đợc sự gắn bó hữu cơ giữa việc dạy toán có lời văn và số; các phép tính; khi dạy
về số kết hợp chuẩn bị và củng cố cho dạy toán và giải bài toán
Việc giải toán có lời văn luôn luôn đợc gắn vào các giờ học về số và phép tính Coi sự vận dụng bài toán vế số và phép tính đó Ngay trong các giờ riêng về giải toán có lời văn, trong mỗi bài toán đều phải vận dụng về số và các phép tính
Đối với học sinh lớp 1 việc giải toán có lời văn chỉ dừng lại ở dạng bài toán
đơn (chỉ có một phép tính)
Ví dụ: Khi học về số một chục, mời một
Trong vờn có 12 cây chuối, bố trồng thêm 3 cây chuối Hỏi trong vờn có cả bao nhiêu cây chuối ?
(Toán 1 - trang 121 BT1)
Ví dụ: Bài toán là sự vận dụng khi học phép tính trừ: 15-4
Cửa hàng có 15 búp bê, đã bán đi 2 búp bê Hỏi cửa hàng còn lại bao nhiêu búp bê?
(Toán 1- trang 150 - BT1)
* Thờng xuyên sử dụng các số đo đại lợng làm dữ kiện trong các phép tính
và bài toán
Ví dụ: Thùng thứ nhất đựng 20 gói bánh, thùng thứ hai đựng 30 gói bánh Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu gói bánh ?
(Toán 1 - Trang 129 BT13)
* Tóm tắt một số kiến thức giải bài toán lớp 1
a Các dạng toán đơn về cộng trừ:
- Học sinh phải nắm đợc các bài toán đơn về phép cộng và phép trừ sau:
1 Loại toán "Tìm tổng khi biết hai số hạng"
- Ví dụ 1: (BT4 - Trang 125 Toán 1)
Trang 5Đoạn thẳng AB dài 3cm và đoạn thẳng BC dài 16cm Hỏi đoạn thẳng AC dài mấy xăng timét?
Bớc 1: Tóm tắt bài toán:
Cả hai đoạn thẳng dài tất cả là:
3+6= 9(cm)
Đáp số: 9cm
Ví dụ 2: Một hộp bút có 12 bút xanh và 3 bút đỏ Hỏi hộp bút đó có tất cả bao nhiêu bút?
* Bớc 1: Tóm tắt bài toán
Đáp số: 15 Cái bút
2 Loại: " Tìm hiệu khi biết số bị trừ và số trừ"
Ví dụ: (BT2 - Trang 149 - Toán 1)
An có 8 qủa bóng, An thả 3 qủa bóng bay đi Hỏi An còn lại mấy quả bóng?
B
ớc 1: Tóm tắt bài toán
An có: 8 quả bóng Thả đi: 3 quả bóng Còn lại quả bóng ? B
Số bóng An còn lại là:
8 - 3 = 5 (quả bóng)
Đáp số: 5 quả bóng
* Nhận xét:
Trong chơng trình học toán của lớp 1 hiện nay, chỉ có hai loại toán bài giải
nh vừa nêu trên Thực tế đây là hai bài thuộc dạng toán đơn giản nhất của kiểu bài: Giải bài toán có lời văn Chính vì thế khi dạy, giáo viên cần khắc sâu cho học sinh biết mối quan hệ giữa các thành phần trong đề toán Từ đó để tìm ra thành phần cha biết dựa trên các thành phần đã biết, nh thế là ta đã giúp học sinh trả lời đợc câu hỏi của đề toán
? cm
Trang 6Trong thực tiễn ở các trờng tiểu học, khi dạy cho học sinh giải các bài toán
có lời văn, các em còn rất lúng túng trong việc ghi tóm tắt bài toán, cách trình bày và nhất là tìm ra đợc câu lời giải thích hợp với mỗi đề toán Chỉ có 1015% học sinh có thể tự ghi tóm tắt và tìm đợc câu lời giải thích hợp, còn đa số học sinh không tóm tắt đầu bài mà dập khuôn từ một dạng nào đó áp dụng vào giải các bài tập nên kết quar cha cao
Các em cha biết dựa vào và cha thấy đợc tầm quan trọng của việc tóm tắt bài toán, đây là bớc đầu tiên, quyết định cách giải bài toán
Qua các vấn đề trình bày trên và những khó khăn của học sinh mắc phải khi giải bài toán có lời văn Tôi xin củng cố lại một số mẹo nhỏ bên cạnh đờng lối chung nh sau:
b Các b ớc tiến hành giải bài toán có lời văn:
(Gồm 4 bớc)
1 Đọc - tìm hiểu bài 3 Phân tích các đại lợng liên quan
B
ớc 1: Yêu cầu học sinh nhất thiết phải đọc kỹ đề bài (3 lần trở lên), tìm hiểu để biết đợc cái đã cho và cái phải tìm, đến đây là điều quan trọng không thể
bỏ qua đợc Giáo viên cần nhắc nhở học sinh tránh thói quen xấu là vừa đọc đầu bài xong hoặc cha hiểu kỹ bài đã vội vàng giải toán Nh vậy không tránh khỏi sự
bế tắc khi giải toán hoặc làm lạc đề toán
- Để giúp học sinh hiểu rõ đề hoặc tránh việc học sinh bỏ qua việc tìm hiểu
đề, giáo viên có thể đa ra các câu hỏi để giúp học sinh hiểu đề hơn
Ví dụ: Bài toán cho biết những gì ?
Hay bài toán bắt ta tìm gì?
Cũng có thể yêu cầu học sinh nhắc lại đề toán mà không cần phải nhìn sách
vở Nếu các em nhớ đề đọc lại đợc cũng có nghĩa là các em đã hiểu đề
B ớc 2: Tóm tắt bài toán:
Đây là bớc rất quan trọng, nó là kết quả ban đầu của tiết 1; lúc này bài toán
đợc tóm gọn lại, chủ yếu bằng lợc đồ đơn giản Nhờ đó mà mối quan hệ giữa các
số đã cho và số phải tìm hiện rõ hơn, dễ hiểu hơn
Trang 7Học sinh cần phải tóm tắt đợc bài toán biết phân tích tổng hợp, xác định
đ-ợc yêu cầu của bài ra, tìm ra cách giải thích hợp
ở chơng trình lớp 1 giáo viên dạy cho học sinh với cách tóm tắt nh sau:
a Tóm tắt bằng chữ:
Ví dụ: Mai gấp đợc 6 cái thuyền, Hà gấp đợc 3 cái thuyền Hỏi cả hai bạn gấp đợc mấy cái thuyền?
Tóm tắt:
Mai gấp: 6 cái thuyền
Hà gấp: 3 cái thuyền
Có tất cả: cái thuyền ?
b Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Ví dụ:
3 cái thuyền 6 cái thuyền
c Tóm tắt bằng sơ đồ ven:
ví dụ: Hằng có 7 qủa cam, Nga có 2 quả cam Hỏi cả 2 bạn có tất cả bao nhiêu quả cam ?
d Tóm tắt bằng chữ và dấu: ( thờng là mũi tên hoặc ngoặc)
Ví dụ: Lan có 10 điểm 9 và 8 điểm 10 Hỏi lan có tất cả bao nhiêu điểm 9,10?
Tóm tắt:
Có: 10 điểm 9
điểm 9, 10 ? Có: 8 điểm 10
Trên đây là 4 cách tóm tắt bài toán mà tôi thờng dùng, để dạy học sinh lớp
1 Tuy nhiên đối với học sinh lớp 1 hiện nay thì kiểu tóm tắt bằng chữ là chủ yếu
? cái thuyền
Trang 8và thông dụng nhất Các cách tóm tắt trên giúp cho các em học sinh dễ hiểu và khi học sinh đã tóm tắt đợc bài toán thì các em sẽ dễ dàng tìm ra cách giải
B
ớc 3: Phân tích đề bài toán:
Đây là bớc quan trọng trong quá trình giải toán tập trung cao độ t duy của học sinh Để lập đợc các mối liên quan giữa các đại lợng, trong bớc này ngời thầy giúp các em suy luận Muốn biết đợc yêu cầu của đề bài là gì ? thì phải làm
nh thế nào ?
Để thực hiện đợc điều đó giáo viên cần tổ chức cho học sinh đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng nh: " Thêm, và, tất cả " hoặc "bớt, bay
đi, ăn mất, còn lại " (có thể quan sát tranh vẽ để hỗ trợ)
Trong thời kỳ đầu (tiết 81,82) Giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt bằng cách đàm thoại: " Bài toán cho gì ? Hỏi gì ? và dựa vào câu trả lời của học sinh
để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán Đây là cách rất tốt để học sinh ngầm phân tích đề toán
Ví dụ: Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà
* Qua ví dụ trên ta phân tích nh sau:
- Bài toán cho biết gì ? (Nhà An có 5 con gà)
- Còn cho biết gì nữa ? ( Mẹ mua thêm 4 con gà)
- Bài toán hỏi gì ? (Nhà An có tất cả mấy con gà ?)
- Giáo viên nêu tiếp: " Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em làm tính gì ? " (tính cộng)
- Mấy cộng mấy ? (5+4); 5+4 bằng mấy ? (5+4=9)
Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp: "9 này là 9 con gà", nên ta viết
"Con gà" vào dấu ngoặc đơn:
5+4=9 (con gà) Trong các bớc phân tích bài toán, giáo viên cần hớng dẫn học sinh qua các câu hỏi cụ thể để đi đến yêu cầu đợc giải quyết tránh tình trạng lan man, thiếu trọng tâm và hớng học sinh đi lệch vấn đề
B ớc 4: Trình bày bài giải:
Đây là bớc cụ thể hoá của quá trình t duy trên, nó đợc thể hiện rõ nét kỹ năng, kỹ xảo giải bài tập của học sinh Học sinh dựa vào sơ đồ phân tích trên để viết bài giải, nó đợc chuyển dịch t duy ngợc lại khi phân tích
Nhìn vào bảng tóm tắt phân tích ví dụ trên đến trình bày bài giải nh sau:
Bài giải:
Nhà An có tất cả số gà là:
5+4 = 9 (con gà)
Đáp số: 9 con gà
Trang 9u ý: Khi giải các bài toán có lời văn thông thờng các em chỉ cần viết bớc
4, còn lại các bớc 1,2,3 là bớc suy nghĩ và làm miệng Song cũng cần phải tỉ mỉ, cẩn thận, chính vì việc để cho các em suy nghĩ cho nên dẫn đến đa số các em qua loa, đại khái, dẫn đến kết quả sai, trong khi giải bế tắc
Trong quá trình giảng dạy bài toán có lời văn có 2 điều mà chúng ta cần chú ý là :
- Luôn củng cố ý thức nắm các bớc giải toán
- Thành thạo kỹ năng tính toán, học thuộc bảng cộng, bảng trừ; Biết làm cộng trong phạm vi 100 không nhớ
Nếu trong quá trình giải toán, học sinh không nắm đợc các quy tắc, tiến trình các bớc thì không thể tránh đợc sự nhầm lẫn, bài toán có thể bế tắc hoặc tìm ra cách giải cha hay, cha nhanh nhất Cho nên khi giải một bài toán có lời văn dù đơn giản hay phức tạp thì học sinh cần phải tuân thủ chặt chẽ các bớc tiến hành, không thể qua loa đại khái bớc nào thì kết quả mới cao đợc Điều này cả giáo viên và học sinh cần ghi nhớ
Nếu trong quá trình giải toán, học sinh không thuộc bảng cộng, trừ thì kết quả không tránh khỏi đợc sai sót Đây chính là kỹ năng quan trọng trong tính toán Vì thế cho nên bất cứ bài toán nào cũng đòi hỏi đễn kỹ năng tính toán Vì vậy giáo viên phải luôn rèn luyện cho học sinh đọc đúng các phép tính cộng, trừ (không nhớ) và vận dụng thành thạo
Qua một số biện pháp kể trên ta có thể nhận thấy dễ dàng Muốn giải một bài toán có lời văn tốt thì học sinh phải:
- Nắm chắc đờng lối chung giải bài toán
- Học thuộc và vận dụng thành thạo
c Tổ chức thực hiện:
1 Đối với các lớp 1, bài toán có lời văn chỉ đơn thuần là bài toán đơn, các
em chủ yếu làm quen với hai loại bài (nh đã nói ở phần A), và trong chơng trình mới thay sách này yêu cầu học sinh khi giải phải viết thêm lời giải Đối với bài toán đơn thì các em sẽ dựa vào yêu cầu của bài toán để viết câu lời giải
Ví dụ: Tóm tắt đề toán (*)
Lan có: 8 quả bóng
Lan thả: 3 qủa bóng
Còn lại: quả bóng ?
Bài giải:
Lan còn lại:
Trang 108 - 3 = 5 (quả bóng)
Đáp số: 5 quả bóng
Điều khó khăn nhất đối với học sinh lớp một hiện nay là việc tìm ra một câu lời giải thích hợp Các em rất lúng túng trong việc tìm lời giải cho mỗi bài toán Nhiều khi cách viết cha chính xác, thậm chí còn sai khá phổ biến
Ví dụ: Từ ví dụ (*) trong lớp đã có một số em đặt lời giải là:
- Số bóng của Lan là:
- Lan có số bóng còn lại là:
- Hỏi lan còn lại bao nhiêu quả bóng ?
Vậy để giúp học sinh tìm ra câu lời giải nhanh nhất và đúng nhất, giáo viên có thể hớng dẫn học sinh đặt câu lời giải nh sau:
*Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đâu (Hỏi) và cuối (mấy quả bóng?) Để có câu lời giải: " Lan còn lại" hoặc thêm từ để có câu lời giải:
"Lan còn lại số quả bóng là"
* Cách 2: Đa từ "quả bóng" ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ "hỏi" và thêm từ số "số" ơ đầu câu, "là" ở cuối câu để có: "Số quả bóng của lan còn lại là"
*Cách 3: Dựa vào dòng cuối cùng của tóm tắt "Từ khoá" của câu lời giải rồi thêm thắt chút ít, ví dụ: Từ dòng cuối của tóm tắt: "Còn lại quả bóng" Học sinh viết câu lời giải là: " Lan còn lại số qủa bóng là?"
*Cách 4: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: " Hỏi Lan còn lại mấy quả bóng ? "
để học sinh trả lời miệng: " Lan còn lại 5 quả bóng" rồi chèn phép tính vào
để có cả bớc giải (gồm lời giải và cả phép tính):
Lan còn số quả bóng là:
8 - 3 = 5 (quả bóng)
* Cách 5: Sau khi học sinh tính xong: 8- 3 = 5(quả bóng), giáo viên chỉ vào 5 và hỏi: " 5 quả bóng" ở đây là số bóng của ai "còn lại" ? (là số bóng của Lan còn lại) Từ câu trả lời của các em ta giúp học sinh chỉnh sửa thành câu lời giải: "Số bóng của Lan còn lại là " :
ở đây giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh tự nêu nhiều câu lời giải khác nhau, sau đó cùng bàn bạc, thảo luận để tìm câu lời giải thích hợp nhất Không nêu bắt buộc học sinh nhất nhất phải tuân theo một kiểu nhất định
Ngoài ra từ tuần học thứ 7 (ở học kỳ I) ta đã ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đề để giải toán có lời văn sau này ở đây có sự chuẩn bị từ xa cho việc viết câu lời giải
Ví dụ: Từ bức tranh "3 con chim trên cành, 1 con chim bay tới" ở trang 47 sách giáo khoa lớp 1, sau khi học sinh quan sát tranh và điền phép tính vào dãy ô trống