Về những nghiên cứu theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh trong dạy học Vật lí có các công trình nghiên cứu sau : Luận văn thạc sĩ “Thiết kế sách điện tử ebook chương “Dao
Trang 1LỜI CẢM ƠN Luận văn của tôi hoàn thành tại Trường Đại học Giáo Dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Cán bộ quản lý và các thầy cô giáo trong Trường Đại học Giáo Dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tham gia giảng dạy và tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đinh Văn Dũng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Trưng Vương - Hưng Yên, các đồng nghiệp ở các trường THPT trong tỉnh Hưng Yên đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện
về tinh thần và vật chất cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành khoá học cũng như luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song chắc chắn luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến bổ sung của các thày cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện và có ý nghĩa thực tế hơn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2014
Học viên
Đỗ Thị Thiết
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các sơ đồ vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Bản chất của hoạt động dạy học và quan điểm đổi mới phương pháp dạy học 5
1.1.1 Bản chất của hoạt động dạy và hoạt động học trong hệ tương tác dạy học 5
1.1.2 Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học 6
1.2 Tự học 8
1.2.1 Khái niệm tự học 8
1.2.2 Vai trò của tự học 9
1.2.3 Các hình thức tự học 10
1.2.4 Chu trình tự học của học sinh .11
1.2.5 Các kĩ năng tự học cần rèn luyện cho học sinh 12
1.3 Tài liệu hướng dẫn đối với người tự học .13
1.4 Việc tổ chức hướng dẫn tự học 14
1.4.1 Đặc điểm hoạt động của tổ chức dạy học tự học 14
1.4.2 Nguyên tắc tổ chức hướng dẫn học sinh tự học 15
1.4.3 Quy trình hướng dẫn học sinh tự học 15
1.5 Thực trạng tự học Vật lí của học sinh và việc hướng dẫn học sinh tự học của giáo viên ở một số trường trung học phổ thông 15
1.5.1 Về tình hình dạy học và hướng dẫn học sinh tự học của giáo viên 16
1.5.2 Về tình hình tự học của học sinh 18
Kết luận Chương 1 19
Chương 2 : XÂY DỰNG BỘ TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC 20 2.1 Vị trí chương “Sóng cơ và sóng âm” trong chương trình Vật lý THPT 20
Trang 42.2 Mục tiêu dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” 20
2.2.1 Mục tiêu về kiến thức .20
2.2.2 Mục tiêu về kỹ năng 21
2.2.3 Mục tiêu về thái độ .22
2.3 Nội dung kiến thức chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lý 12 22
2.3.1 Sóng cơ và sự truyền sóng cơ 22
2.3.2 Hiện tượng đặc trưng của sóng 24
2.3.3 Âm học .26
2.4 Xây dựng tài liệu hướng dẫn học sinh tự học 27
2.4.1 Nguyên tắc xây dựng tài liệu 27
2.4.2 Qui trình xây dựng tài liệu hướng dẫn tự học 28
2.4.3 Bộ tài liệu hướng dẫn tự học cho từng nội dung khoa học của các kiến thức trong chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12 29
Kết luận Chương 2 64
Chương 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65
3.1 Mục đích thực nghiệm .65
3.2 Đối tượng thực nghiệm .65
3.3 Cách thức tiến hành thực nghiệm 65
3.4 Kết quả thực nghiệm 66
3.4.1 Cơ sở để đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 66
3.4.2 Đánh giá định tính kết quả thực nghiệm sư phạm 67
3.4.3 Đánh giá định lượng kết quả thực nghiệm sư phạm .68
Kết luận Chương 3 80
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 85
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Hướng dẫn tự học nội dung “Sóng cơ và sự truyền sóng cơ” 30
Bảng 2.2 Hướng dẫn tự học nội dung “Giao thoa sóng” 39
Bảng 2.3 Hướng dẫn tự học nội dung “Sóng dừng” 46
Bảng 2.4 Hướng dẫn tự học nội dung “Đặc trưng vật lí của âm” 53
Bảng 2.5 Hướng dẫn tự học nội dung “Đặc trưng sinh lí của âm” 58
Bảng 3.1 Bảng kết quả bài kiểm tra 10 phút hai lớp TN và ĐC 68
Bảng 3.2 Ma trận đề kiểm tra 45 phút 69
Bảng 3.3 Đáp án bài kiểm tra 45 phút 76
Bảng 3.4 Thống kê điểm bài kiểm tra 45 phút 76
Bảng 3.5 Xử lí kết quả để tính các tham số 77
Bảng 3.6 Tổng hợp các tham số x, S2, S, V 77
Bảng 3.7 Tính tần suất i và tần suất luỹ tích hội tụ lùi i i .78
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 3.1: Đồ thị đường phân bố tần suất 79
Sơ đồ 3.2: Đồ thị đường phân bố tần số luỹ tích (hội tụ lùi) 79
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển với sự bùng nổ của thông tin, khoa học, kĩ thuật
và công nghệ, lượng kiến thức cần cập nhật ngày càng nhiều, vì thế tự học đang trở thành chiếc chìa khóa vàng trong việc chiếm lĩnh kho tàng tri thức nhân loại và là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Nếu rèn cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Chỉ có tự học học sinh mới có lòng say mê học tập phát huy hết năng lực sáng tạo của mình Chính vì tầm quan trọng của tự học mà việc phục vụ ngày càng tốt hơn cho hoạt động tự học và phương châm học suốt đời đang là một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Biển học là vô bờ, học nữa học mãi, nguồn tri thức là vô hạn Thiết nghĩ nhiệm vụ của giáo viên là giúp học sinh khám phá nguồn tri thức ấy
Học sinh Việt Nam thông minh nhưng đã quen trong việc thụ động tiếp thu kiến thức Trong trường học, SGK và giáo viên là nguồn cung cấp thông tin duy nhất Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, nguồn tri thức tiếp nhận trong nhà trường chưa đủ đáp ứng yêu cầu của xã hội Do vậy năng lực tự học phải được nâng cao đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao nền tri thức xã hội Tuy nhiên nội dung hướng dẫn học sinh tự học trong sách giáo khoa còn chưa cụ thể để mọi học sinh có thể tự tìm tòi nghiên cứu; đội ngũ giáo viên còn xem nhẹ hoạt động hướng dẫn học sinh tự học
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Xây dựng tài liệu hướng dẫn học sinh tự học chương “Sóng cơ và sóng âm”, Vật lí 12” với mục tiêu nâng cao năng lực tự học của học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy học
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài
Ở Anh, vào những năm 1920 đã hình thành nhà trường kiểu mới, khuyến khích
Trang 8Ở Hoa Kì, từ những năm 1970, gần 200 trường đã dạy học thử nghiệm mô hình giáo viên hướng dẫn học sinh cách học, học sinh độc lập làm việc theo nhịp độ riêng phù hợp với nhận thức của mình
Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường tính tự học của học sinh đã được nhân rộng khắp trên thế giới
2.2 Những vấn đề nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
Việc tìm tòi nghiên cứu để có được tài liệu hướng dẫn học sinh tự học đã được nhiều tác giả đề cập đến Ở Việt Nam, đề cập đến vấn đề này có thể kể đến các công trình:
“Tuyển tập tác phẩm tự giáo dục tự học tự nghiên cứu”, tập 2 Nguyễn Cảnh Toàn (2001)
“Quá trình dạy - tự học”, Nguyễn Cảnh Toàn - Nguyễn Kỳ - Vũ Văn Tảo - Bùi Tường (1997)
Về những nghiên cứu theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh trong dạy học Vật lí có các công trình nghiên cứu sau :
Luận văn thạc sĩ “Thiết kế sách điện tử (ebook) chương “Dao động cơ” chương
“Sóng cơ và sóng âm” (Chương trình Vật lí 12 Trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học của học sinh ”, Lê Thị Phương Dung (2009)
Luận văn thạc sĩ “Bồi dưỡng năng lực tự học và liên hệ thực tế của học sinh trong dạy học chương dòng điện xoay chiều”, Nguyễn Thị Trà My (2009)
Luận văn thạc sĩ “Tổ chức dạy học phần “Các định luật bảo toàn” Vật lí lớp 10 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh ”, Nguyễn Thị Thuý Nga (2010) Luận văn thạc sĩ “Xây dựng tài liệu và hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương “Động lực học chất điểm” - Vật lí 10 nâng cao”, Bùi Hoàng Hà (2012); Luận văn thạc sĩ “Xây dựng tài liệu và hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Hạt nhân nguyên tử - Vật lí 12”, Đoàn Thanh Hà (2012);
Luận văn thạc sĩ “Xây dựng tài liệu hướng dẫn tự học chương Điện tích điện trường – Vật lí 11 nâng cao”, Nguyễn Thị Cúc (2013)
Nhìn chung, hiện nay các tài liệu về hướng dẫn học sinh tự học rất ít, chủ yếu dừng lại ở các bài báo hay sáng kiến kinh nghiệm Vì vậy gây ra nhiều khó khăn trong dạy học theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
Trang 93 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tài liệu hướng dẫn học sinh tự học khi dạy học chương “Sóng cơ
và sóng âm” nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh Từ đó rèn cho học
sinh có năng lực tự học để học tập suốt đời
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lí thuyết về tự học, hướng dẫn học sinh tự học
trong dạy học Điều tra khảo sát thực trạng việc tự học của học sinh ở trường Trung học phổ thông Trưng Vương – tỉnh Hưng Yên
Thứ hai, nghiên cứu nội dung chương “Sóng cơ và sóng âm” (Vật lý 12 ) Thứ ba, xây dựng tài liệu hướng dẫn học sinh tự học và kế hoạch hướng dẫn
học sinh tự học chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lý 12
Thứ tư, thực nghiệm sư phạm để đánh giá kết quả học tập của học sinh từ việc
tự học theo tài liệu hướng dẫn
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Bộ tài liệu hướng dẫn học sinh tự học chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lý 12
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các nghiên cứu khảo sát quá trình hướng dẫn học sinh tự học của giáo viên và năng lực tự học của học sinh được tiến hành với giáo viên Vật lí và học sinh khối 12 – trường Trung học phổ thông Trưng Vương, tỉnh Hưng Yên khi giảng dạy và học tập chương « Sóng cơ và sóng âm »
Thời gian nghiên cứu từ tháng 2/2014 đến tháng 11/2014
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp thống kê toán
Trang 10Việc soạn thảo được tài liệu hướng dẫn học sinh tự học đồng thời tổ chức hướng dẫn học sinh tự học sẽ làm cho học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức một cách
hệ thống, sâu sắc và bền vững Từ đó hình thành và phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu suốt đời cho học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa khoa học
Phương pháp dạy học hiện đại: thầy là người hướng dẫn, tổ chức quá trình học tập; trò tham gia tích cực, chủ động tìm tòi, học hỏi và vận dụng sáng tạo Phương pháp dạy học này nâng cao tính chủ động, độc lập tìm hiểu chiếm lĩnh tri thức của học sinh
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Học sinh hiện nay đại bộ phận ít tìm tòi, tự học mà rất thụ động trong học tập Việc giảng dạy theo phương pháp tích cực (hình thức hướng dẫn học sinh tự học tại lớp 12 trường THPT Trưng Vương – Tỉnh Hưng Yên) thúc đẩy học sinh tự học, tự tìm tòi, học hỏi qua các tài liệu khác nhau, chủ động tham gia quá trình học tập
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn học sinh tự học
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1
Trang 11CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Bản chất của hoạt động dạy học và quan điểm đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1 Bản chất của hoạt động dạy và hoạt động học trong hệ tương tác dạy học Bản chất của hoạt động dạy
Bản chất của hoạt động dạy là quá trình người giáo viên “điều khiển hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh theo quy luật nhận thức và quy luật hình thành
kĩ năng, kĩ xảo”[20] “Giáo viên là người giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, khích lệ học sinh học tập” [20] Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học, đào sâu kiến thức, tự điều chỉnh, nghiên cứu, người thầy giúp người học tự hiểu bản thân mình để biến đổi mình, mỗi ngày một tiến bộ Cần hiểu dạy học là dạy hành động: tổ chức, điều khiển hành động học tập của học sinh
Bản chất của hoạt động học
Quá trình học tập của học sinh bao gồm hai hoạt động là hoạt động học và hoạt động tập Học là quá trình nhận thức, tìm tòi, tích luỹ những giá trị văn hoá xã hội Tập là quá trình rèn luyện hình thành kĩ năng kĩ xảo trên cơ sở vận dụng kiến
thức đã học , làm biến đổi năng lực hoạt động của bản thân.[20]
Bản chất của hoạt động học tập là quá trình nhận thức những kiến thức, kinh nghiệm mà nhân loại đã tích lũy, “biến những kiến thức khoa học tích luỹ từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của chính mình” [10] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “học tập là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong và bằng cách đó mà hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện” Như vậy học tập là hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh nhằm chiếm lĩnh tri thức nhân loại.
có thể hiện ở nội dung, chương trình, kế hoạch, phương tiện dạy học
Trang 12Trong quá trình tương tác đó, GV là chủ thể của hoạt động dạy, HS là chủ thể của hoạt động học Hoạt động dạy của GV chỉ nên giữ vai trò chủ đạo, hướng dẫn Với vai trò này, GV một mặt phải lãnh đạo, tổ chức, điều khiển những tác động đến HS; mặt khác phải tiếp nhận và điều khiển, điều chỉnh tốt thông tin phản hồi và kết quả học tập thể hiện trong quá trình và trong sản phẩm hoạt động học tập của HS
Ngược lại, HS là đối tượng chịu sự tác động của hoạt động dạy đồng thời lại
là chủ thể của hoạt động học HS phải tuân theo sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của
GV, đồng thời phải chủ động, tích cực và sáng tạo trong hoạt động học tập của bản thân Quá trình tương tác GV-HS nhằm giúp HS lĩnh hội hệ thống tri thức; hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo; có khả năng vận dụng các thao tác trí tuệ để lĩnh hội và vận dụng tri thức có hiệu quả, qua đó học sinh hình thành ý thức đúng đắn và những phẩm chất nhân cách của người công dân
Tóm lại, dạy học là quá trình hoạt động tương tác giữa hai chủ thể : Giáo viên và học sinh “Giáo viên là người giữ vai trò chủ đạo định hướng, tổ chức, quản
lí quá trình dạy học; học sinh giữ vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập, quyết định kết quả học tập và rèn luyện của bản thân” [20] Trong quá trình dạy học, hoạt động học tập của học sinh diễn ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên, với
sự giúp đỡ của giáo viên nhiều hoặc ít khác nhau, tùy trình độ của học sinh và tùy giai đoạn của quá trình học tập, nhưng cuối cùng bao giờ cũng phải thông qua hoạt động tự lực hoàn toàn độc lập của học sinh và chỉ có thông qua hoạt động tự lực hoàn toàn độc lập của học sinh mới đảm bảo cho họ thực hiện sự lĩnh hội được nội dung học tập một cách vững chắc
1.1.2 Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học
1.1.2.1 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học
Nước ta đang bước vào thời kì hội nhập với cộng đồng quốc tế trong một bối cảnh kinh tế cạnh tranh quyết liệt Tình hình đó đòi hỏi sản phẩm của giáo dục phải
là những con người mới, năng động, sáng tạo và có khả năng thực hành giỏi Phương pháp dạy học truyền thống thì không đạt được mục tiêu đó Nghị quyết Trung ương 2, khoá VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam có thể xem là phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp
Trang 13giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều và rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh mẽ phong trào
tự học, tự đào tạo”.[21]
Như vậy có thể thấy, phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học gồm bốn điểm cơ bản:
- Khắc phục lối truyền thụ một chiều
- Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học
- Áp dụng các phương pháp tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học
- Rèn luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, sinh viên
1.1.2.2 Phương pháp dạy học tích cực
Tính tích cực của nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết vấn đề học tập - nhận thức Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, vừa là điều
kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người Để tồn tại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội
Do đó, hình thành và phát triển tính tích cực là mục tiêu hàng đầu của giáo dục
Phương pháp dạy học tích cực là những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Ở đây “tích cực” được dùng với nghĩa là “chủ động”, “hoạt động”, trái nghĩa với “thụ động”, “không hoạt động”, không dùng theo nghĩa trái nghĩa với “tiêu cực”
Một số đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực đó là: Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh; Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học; Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác; Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong các phương pháp dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm
Trang 14lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình
Một trong các yêu cầu của dạy và học tích cực là khuyến khích người học tự lực khám phá những điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết Tham gia vào các hoạt động học tập người học được đặt vào các tình huống có vấn đề, được trực tiếp quan sát, thảo luận, trao đổi, làm thí nghiệm, được khuyến khích đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề theo cách của mình, được động viên trình bày quan điểm riêng của mỗi cá nhân Qua đó người học không những chiếm lĩnh được kiến thức
và kĩ năng mới mà còn làm chủ cách xây dựng kiến thức, từ đó tính chủ động sáng tạo có cơ hội được bộc lộ rèn luyện
Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh phải trở thành trung tâm của quá trình giáo dục Giáo viên cần biết lập kế hoạch dạy học để hướng dẫn học sinh phát triển các năng lực cần thiết trong cuộc sống, trong và ngoài nhà trường, hiện tại cũng như tương lai
Trong dạy học cần rèn cho người học có phương pháp tự học Nếu người học
có được phương pháp, kĩ năng, thói quen và ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng say
mê học tập, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người học Trong dạy học tích cực cần khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức đã học vào điều kiện thực tế tại gia
đình để các em có thể rèn luyện các kĩ năng đã học
1.2 Tự học
1.2.1 Khái niệm tự học
Theo từ điển Giáo dục học - Nxb Từ điển Bách khoa 2001: “…tự học là quá trình
tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành…”
Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm,
cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”[15]
Trang 15Theo GS–TSKH Thái Duy Tuyên: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích…)cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội
của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”[19]
1.2.2 Vai trò của tự học
L.N.Tolxtoi đã viết “kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào nó là thành quả của những cố gắng của tư duy chứ không phải của trí nhớ” Như vậy, quá trình tự giáo dục có vai trò ý nghĩa vô cùng to lớn, quyết định đến chất lượng của giáo dục
“người dạy dù cố gắng đến đâu nhưng người học không động não, không tự tìm tòi, suy nghĩ trong quá trình lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thì kết quả dạy không thể tốt được” Tự học hình thành nên những con người năng động sáng tạo
“Tự học là quá trình học sinh vận động trí tuệ để chiếm lĩnh tri thức, tự mình luyện tập các thao tác, hành động để hình thành kỹ năng, kỹ xảo Vì thế, tự học giúp người học tự tìm ra tri thức mới, cách thức hành động mới chính bằng sự nỗ lực của bản thân mình”
Tự học có vai trò to lớn trong giáo dục, giúp hình thành nhân cách cho người học Việc tự học, tự rèn luyện giúp cho họ có thói quen độc lập trong suy nghĩ, độc lập trong giải quyết các khó khăn gặp phải Từ đó, giúp người học tự tin và thành công trong cuộc sống Như vậy, có thể nói tự học có ý nghĩa quan trọng đối với sự
thành đạt của mỗi con người
Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người Thật vậy, tự học thúc đẩy người học lòng ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của
khoa học, sống có hoài bão có ước mơ
Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức rất lớn với quỹ thời gian ít ỏi, hạn hẹp ở nhà trường Tri thức của nhân loại được tích luỹ từ đời này qua đời khác và hiện nay đang được nhân lên với tốc độ rất nhanh, còn thời gian của nhà trường thì có hạn Chỉ có tự học mới có thể giúp giải quyết được nghịch lí này
Trang 16Tự học với sự nỗ lực, tư duy sáng tạo là điều kiện thuận lợi cho người học hiểu tri thức một cách sâu sắc, tìm ra bản chất của chân lí Mặt khác, tự học cũng là cách tốt nhất để kích thích hoạt động trí tuệ của người học Bởi vì trong quá trình tự học
họ luôn gặp phải những vấn đề mới và phải tự mình đi tìm giải pháp để giải quyết vấn đề Chỉ có tự học mới có thể giúp con người có thể “học suốt đời”, không bị lạc hậu so với sự phát triển chung của nhân loại Tự học trang bị cho người học những kiến thức mới nhất, khoa học nhất và cũng thu được những kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động để đi tới thành công
Theo Aditxterrec: “Chỉ có truyền thụ tài liệu của giáo viên mà thôi thì dù có nghệ thuật đến đâu đi chăng nữa cũng không đảm bảo được việc lĩnh hội tri thức của học sinh Nắm vững kiến thức, thực sự lĩnh hội chân lí, cái đó học sinh phải tự làm lấy bằng trí tuệ của bản thân” Như vậy, nếu thiếu đi sự nỗ lực tự học của người học thì kết quả thu được cũng không thể cao dù điều kiện ngoại cảnh (Thầy giỏi, tài liệu tốt) rất thuận tiện
Tự học cũng có vai trò quan trọng với học sinh THPT Tự học giúp họ có thể thích ứng tốt với các bậc học cao hơn Quan trọng hơn là tạo điều kiện cho họ phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo Qua đó, nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường Do đó, tự học là yêu cầu cấp thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp dạy học hiện đang là vấn đề rất được quan tâm của tất cả các nhà trường Định hướng cơ bản trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm Để thực hiện được định hướng đó, đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu trước bài học, đọc thêm các tài liệu
có liên quan, đề xuất vấn đề,… hàng loạt công việc độc lập trên chỉ giải quyết được bằng con đường tự học
1.2.3 Các hình thức tự học
1.2.2.1 Tự học không có hướng dẫn
Người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng tương ứng mà hoàn toàn không có sự hướng dẫn của giáo viên Người học có thể tự học qua nhiều kênh khác nhau như qua tài liệu, tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác… Với hình thức này người học phải tự mình lựa chọn nội dung, phương pháp, cách thức học Đây là hình thức tự học ở mức cao, thường gặp ở người trưởng
Trang 17thành Tuy nhiên, hình thức tự học này gây ra rất nhiều khó khăn cho người học bởi
vì người tự học phải có rất nhiều kĩ năng như tìm tài liệu học, kĩ năng đọc, kĩ năng quan sát, kĩ năng vận dụng, kĩ năng lập kế hoạch… Một trở ngại không lớn là người học không thể tự kiểm tra đánh giá nên dễ gây chán nản và việc tự học dễ bị phá vỡ
1.2.2.2 Tự học có hướng dẫn
Người học tự mình chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng dưới sự hướng dẫn của giáo viên nhưng không trực tiếp gặp giáo viên Ngày nay, sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và viễn thông tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho người học tự học có hướng dẫn nhưng giáo viên và người học không giáp mặt Người học có thể nhận được sự hướng dẫn của giáo viên ở xa bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác
Tự học có hướng dẫn trực tiếp là người học tự mình chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Người học tự học theo sự hướng dẫn của tài liệu và có sự giúp đỡ một phần của giáo viên Việc tự học có thể được tiến hành ngay tại lớp hoặc về nhà Hình thức tự học này rất phù hợp với học sinh phổ thông, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi các em
1.2.4 Chu trình tự học của học sinh
+ Chu trình tự học mỗi nội dung kiến thức của người học là một chu trình
gồm ba giai đoạn:
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới và tạo ra sản phẩm thô có tính
chất cá nhân
- Giai đoạn 2: Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy cô, tạo ra sản phẩm có tính xã hội của
cộng đồng lớp học
- Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy cô; người học sẽ nhận được kết luận từ thầy cô để từ đó tự kiểm tra, đánh giá sản phẩm
Trang 18+ Đối với mỗi bài học, trong quá trình học tập người học cần thực hiện các bước sau:
- Bước 1: Chuẩn bị trước bài học
Người học tự tìm hiểu những vấn đề liên quan đến nội dung kiến thức trong bài học bằng cách đọc trước nội dung kiến thức trong SGK, tìm hiểu các hiện tượng trong đời sống sinh hoạt, tìm tài liệu trên mạng internet…
- Bước 3: Ôn tập củng cố sau bài học
Người học vận dụng kiến thức vào giải bài tập, giải thích các hiện tượng gặp phải trong tự nhiên, trong đời sống sinh hoạt nhằm hình thành kĩ năng, kĩ xảo đồng
thời củng cố, khắc sâu bản chất các vấn đề lí thuyết
Để giúp học sinh tự học có hiệu quả cao giáo viên cần có những hướng dẫn chi tiết, cụ thể cho từng bước của quá trình học tập bằng hệ thống các phiếu học tập
1.2.5 Các kĩ năng tự học cần rèn luyện cho học sinh
Kĩ năng tự học là nhân tố quan trọng, quyết định sự thành công của quá trình tự học Có thể kể đến một số nhóm kĩ năng cơ bản như sau:
1.2.5.1 Kĩ năng kế hoạch hoá việc tự học
Biểu hiện đầu tiên của kĩ năng này là biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, trong tháng, trong năm… Khi xây dựng kế hoạch cần đảm bảo tính khả thi của
kế hoạch Muốn vậy, kế hoạch phải đảm bảo cho thời gian tự học tương xứng với lượng kiến thức của môn học, đảm bảo sự xen kẽ giữa các môn học khác nhau, giữa các hình thức tự học khác nhau
Trang 191.2.5.2 Kĩ năng đọc
Trong quá trình tự học, người học có thể phải đọc sách, đọc tài liệu hay đọc
giáo trình… Khi đọc cần phải xác định rõ mục đích đọc và lựa chọn cách đọc phù hợp Tập trung chú ý đọc sẽ không phải đọc lại nhiều lần Khi đọc cần ghi chép và biết cách “hỏi sách” bằng cách đặt các câu hỏi, rồi tìm câu trả lời từ sách Cuối cùng
là hệ thống hoá những kiến thức thu được sau khi đọc
1.2.5.3 Kĩ năng nghe giảng và ghi chép bài giảng
Để nghe giảng có hiệu quả học sinh cần đọc lướt nội dung bài học để định hình kiến thức và đưa ra những câu hỏi cho bài học Khi nghe giảng, cần tập trung nghe, phân tích nội dung nghe để tìm ra nội dung chính của bài học Cần hỏi để hiểu rõ vấn đề còn khúc mắc, không nên vội vã kết luận một vấn đề khi chưa hiểu rõ về nó Ghi chép cũng là một việc quan trọng trong quá trình nghe giảng Nên ghi chép theo cấu trúc của bài học, đồng thời phân tích chọn lọc thông tin để ghi theo ý của mình Đối với những điểm chính của bài học cần ghi chép cẩn thận để làm tài liệu học tập
1.2.5.4 Kĩ năng ôn tập, luyện tập
Kĩ năng ôn tập là hoạt động tái nhận bài giảng như xem lại bài ghi, mối quan
hệ giữa các đoạn rời rạc, bổ sung bài ghi bằng những thông tin nghiên cứu được ở các tài liệu khác, nhận diện cấu trúc từng phần và toàn bài Việc tái hiện bài giảng dựa vào những biểu tượng, khái niệm, phán đoán được ghi nhận từ bài giảng của thầy, từ hoạt động tái nhận bài giảng, dựng lại bài giảng của thầy bằng ngôn ngữ của chính mình, đó là những mối liên hệ lôgic có thể có cả kiến thức cũ và mới
Kỹ năng luyện tập có tác dụng trong việc hình thành kỹ năng tương ứng với những tri thức đã học Từ việc giải bài tập của thầy đến việc người học tự thiết kế bài tập cho mình giải; từ bài tập củng cố đơn vị kiến thức đến bài tập hệ thống hóa bài học, chương học, cũng như những bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc sống 1.3 Tài liệu hướng dẫn đối với người tự học
Tài liệu hướng dẫn tự học là tài liệu học tập chứa những thông tin hướng dẫn người học tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức, qua đó hình thành kĩ năng kĩ xảo Tài liệu hướng dẫn có thể coi là “bảo bối” của người học trong quá trình tự học
Trang 20Mục tiêu ghi trong tài liệu giúp cho người học biết được cái đích mình cần hướng tới và họ sẽ chủ động, tự tin hơn trong quá trình tự mình chiếm lĩnh tri thức Những hướng dẫn của tài liệu giúp người học tìm ra phương pháp phù hợp, con đường phù hợp tiếp cận tri thức
Tài liệu hướng dẫn gồm các phiếu học tập Nội dung được trình bày trên phiếu học tập đó là các câu hỏi định hướng học sinh hành động để tự tìm ra kiến thức của bài học Các câu hỏi này được sắp xếp theo nội dung kiến thức trong bảng kế hoạch Nội dung hướng dẫn học sinh tự học là các hướng dẫn cụ thể của giáo viên giúp học sinh nhanh chóng hoàn thành yêu cầu đặt ra
Sử dụng tài liệu hướng dẫn người học có thể tự kiểm tra đánh giá kết quả của mình Qua đó họ kịp thời khắc phục những sai lầm, thiếu sót và đồng thời tạo cho họ tâm lí thoải mái, tự tin để tiếp tục tự học, tự nghiên cứu
1.4 Việc tổ chức hướng dẫn tự học
1.4.1 Đặc điểm hoạt động của tổ chức dạy học tự học
1.4.1.1 Hoạt động của giáo viên
Hoạt động tự học của học sinh có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thông qua các hoạt động học tập của chính bản thân họ Đây là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới những mục đích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động học của học sinh chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động Các hoạt động chủ yếu của giáo viên trong dạy tự học là :
- Chuẩn bị tài liệu tự học cho học sinh, đồng thời hướng dẫn họ tìm tài liệu học tập phù hợp
- Hướng dẫn học sinh cách làm việc với tài liệu
- Xây dựng hệ thống câu hỏi của bài học và hướng dẫn học sinh hoạt động để
họ tự mình chiếm lĩnh tri thức mới
- Theo dõi diễn biến lớp học, kịp thời khen ngợi để kích thích học sinh tự làm việc cũng như điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh theo đúng hướng
- Kiểm tra hiệu quả học tập của học sinh thông qua các báo cáo cá nhân, các ý kiến thảo luận hay các phiếu học tập
Trang 21- Kết nối các nội dung của bài học thành một chỉnh thể lôgic
1.4.1.2 Hoạt động của học sinh
- Chuẩn bị các tài liệu tham khảo theo hướng dẫn của giáo viên
- Tự đọc tài liệu để nắm được nội dung của bài học
- Làm việc cá nhân, làm việc nhóm, hoàn thành các phiếu học tập để tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức mới
- Tự kiểm tra đánh giá kết quả
1.4.2 Nguyên tắc tổ chức hướng dẫn học sinh tự học
Khi tổ chức hướng dẫn học sinh tự học, giáo viên cần chú ý một số nguyên tắc sau:
- Làm cho học sinh thấy được vai trò của việc tự học Tạo cho họ lòng tin tưởng vào sự thành công của việc tự học
- Đảm bảo cho tất cả các học sinh đều có thể tham gia vào hoạt động học tập
- Đảm bảo cho học sinh có thể tiếp thu kiến thức từ dễ đến khó Các kĩ năng tự học từng bước được hình thành từ thấp lên cao
- Đảm bảo có thể thu nhận thông tin phản hồi từ phía học sinh để giáo viên kịp thời điều chỉnh nhịp độ học tập của học sinh khi cần thiết
1.4.3 Quy trình hướng dẫn học sinh tự học
- Giáo viên nghiên cứu nội dung kiến thức khoa học của chương
- Xác định mục tiêu dạy học cả kiến thức, kỹ năng và cấp độ nhận thức
- Xây dựng kế hoạch và tài liệu hướng dẫn học sinh tự học: Đối với từng bài học cụ thể, căn cứ vào mục tiêu kiến thức cần đạt được của bài để đề ra kế hoạch 1.5 Thực trạng tự học Vật lí của học sinh và việc hướng dẫn học sinh tự học của giáo viên ở một số trường trung học phổ thông
Để có cơ sở thực tế cho việc thực hiện đề tài, chúng tôi đã tìm hiểu thực trạng dạy và học ở một số trường trung học phổ thông trong tỉnh Hưng Yên Nhất là công việc giáo viên hướng dẫn học sinh tự học trong quá trình xây dựng kiến thức mới và
tự học sau mỗi giờ học Sơ bộ đề xuất nguyên nhân của những khó khăn, thiếu sót trên để làm cơ sở soạn thảo tài liệu hướng dẫn học sinh tự học trên lớp cũng như ở
nhà khi dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12
Trang 22Thông qua việc điều tra giáo viên, học sinh bằng cách dùng các phiếu điều tra
ở các trường THPT Trưng Vương, THPT Văn Lâm, THPT Hùng Vương của huyện Văn Lâm; trường THPT Mỹ Hào của huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên Phỏng vấn trực tiếp, dự giờ, xem bài kiểm tra, vở học bài (vở ghi chép, vở bài tập) quan sát học sinh học tập trong giờ học, chúng tôi đã thu được một số kết quả phục vụ việc nghiên cứu đề tài như sau:
1.5.1 Về tình hình dạy học và hướng dẫn học sinh tự học của giáo viên
Về phương pháp dạy học, chủ yếu là thầy giảng trò nghe và ghi chép, giáo viên giảng dạy theo từng bài, đúng theo phân phối chương trình do nhà trường duyệt sau khi đã được tổ bộ môn phân phối lại dựa vào phân phối chương trình chuẩn của bộ giáo dục ban hành cho phù hợp với điều kiện và tình hình chung của nhà trường và địa phương Trong mỗi tiết học giáo viên cố gắng trình bày tất cả các kiến thức trong sách giáo khoa, giảng giải cho học sinh hiểu sau đó nhấn mạnh công thức, chỉ ra những phần cần ghi nhớ (học thuộc) theo hình thức thông báo, nhắc nhở Tuy nhiên, trong một số giờ dạy (chủ yếu là các tiết thao giảng mẫu) giáo viên đã phát huy được tính tích cực của học sinh bằng cách dạy học theo lược đồ tư duy, tổ chức hoạt động nhóm, cho học sinh thiết kế thí nghiệm, nêu các câu hỏi cho học sinh trả lời Thực tế cho thấy các hình thức dạy học tích cực chưa được giáo viên hiểu, vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo như tổ chức hoạt động nhóm, dạy học dự án, dạy học theo chủ đề
Việc sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học tuy đã được giáo viên chú ý và
có hiệu quả nhất định song việc làm này chưa thực sự khai thác được mặt tích cực,
ưu điểm của phương tiện dạy học hiện đại trong quá trình tổ chức nhận thức cho học sinh, đôi khi giáo viên lạm dụng các thí nghiệm ảo gây giảm độ tin cậy của học sinh trong việc lĩnh hội tri thức Ngoài ra vẫn còn một số giáo viên lúng túng trong ứng dụng công nghệ thông tin đặc biệt là việc khai thác và cập nhật kiến thức trên mạng internet phục vụ công tác giảng dạy
Về thiết bị thí nghiệm, đa số GV cho rằng chưa đáp ứng được yêu cầu của bộ môn Vì vậy các thí nghiệm Vật lí được tiến hành trên lớp chủ yếu là các thí nghiệm biểu diễn, do GV thực hiện Đa số HS chỉ tiến hành thí nghiệm trong các giờ thực
Trang 23hành Điều đó làm hiệu quả của dạy học bị giảm rất nhiều, đặc biệt không phát huy được năng lực thực hành của HS
Việc kiểm tra đánh giá chủ yếu vẫn là thầy đánh giá trò thông qua các bài kiểm tra thường xuyên và định kì theo quy định trong phân phối chương trình, kiểm tra miệng (kiểm tra bài cũ), tức là mới chú trọng đến đánh giá kết quả học tập, chưa chú ý đánh giá quá trình; mới chỉ có giáo viên đánh giá chưa có học sinh tham gia
tự đánh giá và đánh giá học sinh khác Do đó trong quá trình dạy học GV hầu như không có căn cứ để điều chỉnh kịp thời phương pháp dạy học phù hợp với nội dung kiến thức và phát huy năng lực của học sinh nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy
Khi được hỏi về vấn đề tự học của học sinh thì đa số các thầy cô quan niệm rằng việc tự học của học sinh là đọc sách giáo khoa cả bài cũ và bài mới (77%), xem thêm tài liệu tham khảo (40,6%), học thuộc bài vừa học (57,3%) Vì vậy để hướng dẫn học sinh tự học thì các thầy cô cho rằng học thuộc lòng bài vừa học, làm
đủ bài tập được giao, đọc trước bài mới và đọc thêm các tài liệu sách báo liên quan, khai thác thông tin trên Internet…
Để đánh giá khả năng tự học của học sinh thì các giáo viên cho rằng cần đặt câu hỏi mở rộng liên quan đến bài học và kiểm tra bài cũ, kiểm tra bài tập đã giao
Để thúc đẩy học sinh tự học thì các giáo viên cho rằng cần tăng cường cho học sinh thảo luận (57,7%), cho đề kiểm tra có phần mở rộng, tăng cường cho bài tập và kiểm tra thường xuyên Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà sẽ có hiệu quả cao nếu giáo viên hướng dẫn học sinh tự tóm tắt kiến thức, cách giải bài tập, giao cho học sinh một số nội dung kiến thức cần tìm hiểu và giới thiệu tài liệu để HS tự đọc, tự nghiên cứu sau đó tổ chức để HS thảo luận các vấn đề đó Biện pháp tổ chức hoạt động tự học trên lớp cho học sinh cần chú ý tổ chức dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, dạy học theo nhóm
Để học sinh tự học tốt thì các thầy cô cho rằng Bộ Giáo dục cần đổi mới cách thi cử (82,6%), tạo điều kiện về thời gian cho học sinh có điều kiện tự học ở nhà (61,7%), giáo viên phải hướng dẫn học sinh cách học (43%), Giáo viên phải giới thiệu cho học sinh các tài liệu và hướng dẫn học sinh sử dụng tài liệu(45%)
Trang 241.5.2 Về tình hình tự học của học sinh
- Đa số học sinh nhận thức được mục đích học tập là để có kiến thức, để thi đỗ đại học tạo điều kiện để tìm được một việc làm sau này Vì vậy học sinh đi học thêm rất nhiều, dẫn đến thời gian tự học của học sinh ở nhà rất ít
- Về quan niệm của học sinh đối với việc tự học trong quá trình học tập và rèn luyện ở nhà trường đa số các ý kiến cho rằng tự học là chỉ học thuộc bài vừa học, làm các bài tập mà giáo viên yêu cầu, một số ít thì đọc trước bài mới ở nhà Tài liệu
tự học chủ yếu của các em là vở ghi bài giảng, sách giáo khoa, sách bài tập; rất ít học sinh khai thác thông tin trên Internet, đọc sách báo, tài liệu liên quan đến bài học Về kiến thức thu được từ việc tự học thì các em cho rằng nó tương đương với kiến thức thu được trên lớp và ảnh hưởng đến 50% kết quả học tập Đa số học sinh cho rằng việc tự học là bình thường, một số thích và rất thích tự học, số còn lại cho rằng tự học là bị bắt buộc
- Về điều kiện tự học của học sinh đa số các em cho rằng bố mẹ tạo điều kiện tốt cho các em học tập về mặt thời gian học, sách vở tài liệu liên quan đầy đủ
- Về phương pháp tự học của học sinh: Đa số học sinh cho rằng cách tự học tốt nhất là vừa đọc vừa viết, làm bài tập một số chọn đọc sách Khi đọc sách các em thường mất nhiều thời gian và thấy khó hiểu Hình thức tự học mà các em thích nhất
là học một mình hoặc học với bạn thân Khi gặp vấn đề khó khăn thì 50% học sinh hỏi bạn bè, 30% thì hỏi thầy cô, 28% thì tự tìm cách giải quyết, số ít học sinh bỏ qua Đánh giá tác động của giáo viên đối với việc tự học của học sinh thì đa số các
em cho rằng giáo viên chỉ giao các bài tập và kiểm tra thường xuyên các em, khi gặp các vấn đề khó thì các em được các thầy cô trả lời cặn kẽ cho tới khi hiểu, nhìn chung các giáo viên đã có hướng dẫn học sinh tự học Một số học sinh cho rằng giáo viên chưa chú trọng nhiều đến việc hướng dẫn học sinh phương pháp tự học trong quá trình dạy học như giới thiệu, cung cấp tài liệu tham khảo, hướng dẫn học sinh cách đọc tài liệu, cách thu thập và xử lý thông tin
Có ý kiến cho rằng phương pháp giảng dạy của thầy chủ yếu là thuyết trình, ít dành thời gian tổ chức cho học sinh thảo luận nên không tạo điều kiện để học sinh rèn luyện khả năng diễn đạt cũng như được thể hiện hiểu biết của mình
Trang 25Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều học sinh chưa nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của
tự học, chưa có quan niệm đúng đắn về trách nhiệm của bản thân mình với gia đình
và xã hội nên còn mải chơi (đặc biệt là chơi điện tử), đua đòi nên thiếu thời gian
và sức lực dành cho việc tự học
Kết luận Chương 1 Trên cơ sở phân tích các quan điểm dạy học hiện đại và nghiên cứu các cơ sở
lý luận về tự học Trong chương này chúng tôi đề cập đến một số luận điểm lí luận như sau:
- Những quan điểm về dạy học và xu hướng đổi mới phương pháp dạy học
- Tự học và tài liệu hướng dẫn tự học
- Đặc điểm của hoạt động hướng dẫn học sinh tự học
-Thực tiễn của hoạt động tự học và hướng dẫn học sinh tự học ở một số trường THPT trong tỉnh HưngYên
Tất cả những cơ sơ lý luận và thực tiễn trên sẽ giúp chúng tôi vận dụng để xây
dựng tài liệu và tổ chức hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương “Sóng cơ
và sóng âm” Vật lí 12 được trình bày ở chương sau
Trang 26CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG BỘ TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC
2.1 Vị trí chương “Sóng cơ và sóng âm” trong chương trình Vật lý THPT
Trong SGK Vật lí 12, chương “Sóng cơ và sóng âm” là chương thứ hai nằm
sau chương “Dao động cơ” và là kiến thức nền tảng cần trang bị để học sinh tiếp tục nghiên cứu “Sóng điện từ” nói riêng, các quá trình sóng nói chung Nếu như chương
“Dao động cơ” nghiên cứu dao động của một chất điểm; các đại lượng đặc trưng
của chuyển động dao động; các loại dao động (dao động tự do, dao động duy trì,
dao động cưỡng bức) và sự tổng hợp dao động thì chương “Sóng cơ và sóng âm”
xét đến quy luật của chuyển động sóng (sự lan truyền của dao động từ phần tử này đến phần tử khác trong môi trường vật chất), bản chất của quá trình chính là sự cưỡng bức dao động của các phần tử vật chất đối với các phần tử lân cận bằng lực liên kết Đồng thời bằng phương pháp thực nghiệm và vận dụng lí thuyết tổng hợp dao động điều hoà nghiên cứu các hiện tượng đặc trưng của sóng như giao thoa
sóng và sóng dừng Ngoài ra, chương “Sóng cơ và sóng âm” còn nghiên cứu một
loại sóng cơ đặc biệt là sóng âm (đó là những sóng cơ có tần số nhỏ truyền qua không khí làm thính giác của ta có thể nhận biết được) và những yếu tố ảnh hưởng đến cảm giác về âm thanh của con người Với nhiệm vụ làm sáng tỏ bản chất của quá trình sóng, các hiện tượng đặc trưng, các ứng dụng quan trọng trong đời sống
và kĩ thuật của sóng và âm học thì nội dung cơ bản của chương này đề cập đến các vấn đề sau:
- Sóng cơ và sự truyền sóng cơ
- Hiện tượng đặc trưng của sóng cơ: Giao thoa sóng
- Sóng âm: Các đặc trưng vật lí và các đặc trưng sinh lí
2.2 Mục tiêu dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm”
Trang 27- Nêu được dạng phương trình sóng tại một điểm bất kì trong môi trường có sóng truyền qua
- Mô tả được hiện tượng giao thoa của hai sóng mặt nước và nêu được các điều kiện để có sự giao thoa của hai sóng
- Mô tả được hiện tượng sóng dừng trên một sợi dây, nêu được điều kiện để có sóng dừng trên dây có hai đầu cố định, điều kiện có sóng dừng trên dây có một đầu
cố định một đầu tự do
- Nêu được sóng âm, âm thanh, hạ âm, siêu âm là gì
- Nêu được các đặc trưng sinh lí (độ cao, độ to và âm sắc) và các đặc trưng vật
lí (tần số, mức cường độ âm và các hoạ âm) của âm
- Nêu được cường độ âm và mức cường độ âm là gì; đơn vị đo cường độ âm, mức cường độ âm
- Nêu được ví dụ để minh hoạ cho khái niệm âm sắc Trình bày được sơ lược
về âm cơ bản, các hoạ âm
2.2.2 Mục tiêu về kỹ năng
- Tính toán được các đại lượng đặc trưng của sóng như chu kì, tần số, tốc độ
- Tính toán được các đại lượng cường độ và mức cường độ âm
- Viết được phương trình sóng tại một điểm trong miền có sóng truyền qua
- Xác định được độ lệch pha giữa hai điểm trên cùng phương truyền sóng
- Xác định được bước sóng và tốc độ truyền âm bằng phương pháp khảo sát thực nghiệm hiện tượng sóng dừng
- Vận dụng được các công thức xác định vị trí cực đại và cực tiểu giao thoa vào giải các bài toán đơn giản về giao thoa
- Giải thích được sơ lược hiện tượng sóng dừng trên một sợi dây, vận dụng để giải bài toán về sóng dừng
- Vận dụng được hiện tượng sóng dừng trong cột khí để giải thích hiện tượng cộng hưởng âm và vai trò của hộp cộng hưởng
- Thu lượm thông tin về vật lý từ quan sát thực tế, thí nghiệm, sưu tầm tài liệu,
Trang 282.2.3 Mục tiêu về thái độ
- Có hứng thú học Vật lí, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng những đóng góp của Vật lí cho sự tiến bộ của xã hội
- Có thái độ khách quan, trung thực, có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác và
có tinh thần hợp tác trong việc học tập môn Vật lí, trong việc áp dụng các hiểu biết
đã đạt được
- Có ý thức vận dụng những hiểu biết Vật lí vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập cũng như bảo vệ, giữ gìn môi trường sống
2.3 Nội dung kiến thức chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lý 12
2.3.1 Sóng cơ và sự truyền sóng cơ
Sóng cơ là dao động cơ lan truyền trong một môi trường
Dựa vào cách truyền sóng, người ta chia sóng cơ ra thành hai loại: Sóng dọc và
sóng ngang Sóng dọc là sóng trong đó các phần tử môi trường dao động theo phương trùng với phương truyền sóng Sóng ngang là sóng trong đó các phần tử của
môi trường dao động theo phương vuông góc với phương truyền sóng
Sự truyền của một sóng hình sin trên một sợi dây đàn hồi được thể hiện trong hình 2.1
Hình 2.1
Trang 29Truyền cho phần tử 0 một dao động theo phương thẳng đứng có chu kì T
- Ở thời điểm ban đầu t = 0, tất cả các phần tử của dây đều đứng yên ở vị trí I
- Trong khoảng thời gian t = T/4, phần tử 0 chuyển động từ vị trí cân bằng lên vị trí cao nhất Trong khi đó lực liên kết đàn hồi kéo phần tử 1 chuyển động theo, nhưng chậm hơn Cũng như thế chuyển động được truyền đến phần tử 2 sau phần tử
1 Dây có vị trí II
- Phần tử 0 tiếp tục dao động và dao động này lần lượt được truyền cho các phần tử tiếp theo của dây Các phần tử này thực hiện dao động cùng tần số, cùng biên độ với phần tử 0 nhưng trễ pha hơn
Các đặc trưng của một sóng hình sin gồm chu kì sóng T (hoặc tần số sóng f), biên độ sóng, tốc độ sóng, bước sóng và năng lượng sóng
Chu kì T (hoặc tần số) của sóng là chu kì dao động (hoặc tần số dao động) của một
phần tử môi trường có sóng truyền qua và cũng bằng chu kì dao động (hoặc tần số dao động) của nguồn phát sóng
Biên độ sóng A là biên độ dao động của một phần tử môi trường có sóng truyền qua Bước sóng là quãng đường mà sóng truyền được trong một chu kì Hai phần tử
nằm trên cùng một phương truyền sóng, cách nhau một bước sóng thì dao động đồng pha với nhau
Tốc độ truyền sóng v là tốc độ lan truyền dao động trong môi trường Đối với mỗi
môi trường xác định, tốc độ truyền sóng có giá trị không đổi
Năng lượng sóng là năng lượng truyền cho các phần tử của môi trường để chúng
thực hiện dao động
Phương trình sóng:
+ Giả sử phương trình dao động tại nguồn O là: u O = A.cosωt
với u O là li độ của O so với vị trí cân bằng của nó, A là biên độ dao động của phần
Trang 30Trong phương trình, T là chu kì sóng, f = 1/T là tần số của sóng, nó bằng tần số dao
động của nguồn phát sóng, lượng 2π
t
là pha của sóng tại M vào thời điểm t,
đại lượng = vT là bước sóng
Phương trình này cho biết li độ u của phần tử có toạ độ x vào thời điểm t, đó là một hàm vừa tuần hoàn theo thời gian và vừa tuần hoàn theo không gian Thật vậy,
cứ sau mỗi chu kì T thì dao động tại một điểm trên trục Ox lại lặp lại giống như cũ
Và cứ cách nhau một bước sóng trên trục Ox thì dao động tại các điểm lại giống hệt nhau (dao động đồng pha với nhau) Vậy quá trình truyền sóng là một quá trình tuần hoàn theo thời gian và trong không gian với các đặc trưng là chu kì T và bước sóng Tính lưỡng tuần hoàn là một đặc tính quan trọng của sóng
2.3.2 Hiện tượng đặc trưng của sóng
Giao thoa sóng
Hiện tượng giao thoa là hiện tượng hai sóng gặp nhau thì xuất hiện các gợn sóng
ổn định, trong đó có những điểm chúng luôn tăng cường lẫn nhau; có những điểm chúng luôn luôn triệt tiêu lẫn nhau
Điều kiện xảy ra hiện tượng giao thoa là hai sóng gặp nhau phải là hai sóng kết
hợp
Hai sóng kết hợp là hai sóng được sinh ra bởi hai nguồn dao động cùng phương,
có cùng tần số và có hiệu số pha không đổi theo thời gian
Có thể khảo sát lí thuyết về hiện tượng giao thoa sóng như sau:
Xét một điểm M trên mặt nước cách S1, S2 lần lượt là d1 = S1M, d2 = S2M
Phương trình dao động tại 2 nguồn S1, S2 là: 1 2
Coi biên độ bằng nhau và không đổi trong quá trình truyền sóng
Sóng tổng hợp tại M: u M u1M u2M A cos 2 (t d1) cos 2 (t d2)
Trang 31Như vậy tuỳ thuộc vào hiệu đường đi (d 2 – d 1 ) mà khi hai sóng đến gặp nhau
tại M có thể luôn luôn tăng cường nhau làm cho phần tử tại M dao động mạnh lên, hoặc triệt tiêu nhau làm cho phần tử tại M đứng yên
Ta thấy điểm M dao động với biên độ cực đại Amax khi:
Sóng là một quá trình biến đổi nhanh theo thời gian Vì thế rất khó xác định những tính chất của sóng đang chuyển động bằng mắt Hiện tượng giao thoa xảy ra trong trạng thái dừng (quan sát bằng mắt thường thấy hiện tượng hình như đứng yên) nên có thể cho phép xác định một số đặc điểm của sóng khá thuận lợi và chính xác
Sóng dừng
Sóng dừng là sóng truyền trên sợi dây trong trường hợp xuất hiện các nút và
các bụng Khoảng cách giữa hai bụng sóng liền kề và khoảng cách giữa hai nút sóng liền kề là λ/2 Khoảng cách giữa một bụng sóng và một nút sóng liền kề là λ/4
Trang 32Điều kiện để có sóng dừng trên một sợi dây có hai đầu cố định là chiều dài của
sợi dây (l) thoả mãn: l = k
2
Điều kiện để có sóng dừng trên một sợi dây có một đầu cố định, một đầu tự do
là chiều dài của sợi dây (l) thoả mãn: l = (2k+1)
4
2.3.3 Âm học
Sóng âm là các sóng cơ truyền trong các môi trường khí, lỏng, rắn (môi trường
đàn hồi) Nguồn âm là các vật dao động
Âm nghe được (âm thanh) có tần số trong khoảng từ 16Hz đến 20000 Hz
Đó là những âm có tác dụng làm cho màng nhĩ trong tai ta dao động, gây ra cảm giác âm
Âm có tần số dưới 16 Hz gọi là hạ âm, âm có tần số trên 20000Hz gọi là siêu
âm Đó là những âm mà tai người không nghe được
Âm không truyền được trong chân không, truyền được qua các chất rắn, lỏng
và khí Tốc độ truyền âm phụ thuộc vào tính đàn hồi và mật độ của môi trường Nói chung tốc độ truyền âm trong chất rắn lớn hơn trong chất lỏng và trong chất lỏng lớn hơn trong chất khí (vkhí < vlỏng < vrắn) Trong chất khí và chất lỏng, sóng âm là sóng dọc vì trong các chất này lực đàn hồi chỉ xuất hiện khi có biến dạng nén – giãn Trong chất rắn sóng âm có thể là sóng dọc hoặc sóng ngang vì lực đàn hồi xuất hiện
cả khi có biến dạng nén - giãn và biến dạng lệch
Âm hầu như không truyền được qua các chất xốp như bông, len những chất
đó gọi là các chất cách âm
Đặc trưng vật lí của âm
Mỗi âm có ba đặc trưng vật lí là tần số âm; cường độ âm và mức cường độ âm;
đồ thị dao động của âm
Tần số âm là một trong những đặc trưng vật lí quan trọng nhất của âm Mỗi âm
có một tần số riêng chính là tần số dao động của nguồn
Cường độ âm I tại một điểm là đại lượng đo bằng lượng năng lượng mà sóng
âm tải qua một đơn vị diện tích đặt tại điểm đó, vuông góc với phương truyền sóng
Trang 33trong một đơn vị thời gian Đơn vị cường độ âm là oát trên mét vuông (W/m2)
Đại lượng L=lg
0
I
I gọi là mức cường độ âm của I (so với âm I0) Trong đó I0
là cường độ âm chuẩn (âm có tần số 1000Hz, cường độ I0= 10-12 W/m2);
Đơn vị của mức cường độ âm là ben, kí hiệu B hoặc đêxiben (dB): 1 dB = 1 B
âm) Tổng hợp tất cả các hoạ âm trong một nhạc âm ta được phổ của nhạc âm Phổ
của cùng một âm do các nhạc cụ khác nhau phát ra thì hoàn toàn khác nhau Tổng
hợp đồ thị dao động của tất cả các hoạ âm trong một nhạc âm ta được đồ thị dao
động của nhạc âm đó
Đặc trưng sinh lí của âm
Đặc trưng sinh lí của âm gồm độ cao, độ to và âm sắc
Độ cao của âm là một đặc trưng sinh lí của âm gắn liền với tần số âm Âm có
thể trầm hoặc thanh, nghĩa là có độ cao khác nhau Độ cao của âm phụ thuộc vào tần số của âm: tần số càng tăng thì độ cao của âm phát ra càng cao Các âm nhỏ hơn 16Hz hoặc lớn hơn 20000Hz thì không gây kích thích ở trong ốc tai và không gây ra cảm giác âm đối với con người
Độ to của âm là một khái niệm nói về đặc trưng sinh lí của âm gắn liền với đặc
trưng vật lí mức cường độ âm
Âm sắc là một đặc trưng sinh lí của âm, giúp ta phân biệt âm do các nguồn âm
khác nhau phát ra Âm sắc có liên quan mật thiết với đồ thị dao động âm Âm sắc
của một âm phụ thuộc số lượng hoạ âm được phát ra cùng với âm cơ bản, và biên
độ của mỗi hoạ âm cụ thể
2.4 Xây dựng tài liệu hướng dẫn học sinh tự học
2.4.1 Nguyên tắc xây dựng tài liệu
Tài liệu hướng dẫn học sinh tự học phải đảm bảo một số nguyên tắc sau:
Trang 34- Đảm bảo mục tiêu dạy học môn học Mục tiêu dạy học ở THPT là cung cấp cho
HS những kiến thức phổ thông cơ bản và rèn luyện cho họ những kĩ năng tương ứng Mục tiêu này được thể hiện rõ trong tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng của từng môn học
do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Do đó trong quá trình xây dựng tài liệu hướng dẫn tự học cần bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng
- Đảm bảo tính khoa học, hiện đại Nội dung đưa vào tài liệu phải phản ánh được những quan điểm khoa học hiện đại, tiếp cận được với những ứng dụng kĩ thuật có tính cập nhật
- Đảm bảo tính khả thi Điều kiện quan trọng nhất để đảm bảo tính khả thi là tính vừa sức Tài liệu hướng dẫn tự học cần được xây dựng phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh và trình độ, năng lực dạy học của giáo viên Nội dung của tài liệu phù hợp với phương pháp dạy học của giáo viên
- Đảm bảo tính phân hoá Trong một lớp học, trình độ học sinh luôn luôn không đồng đều Do đó, nội dung của tài liệu hướng dẫn phải được xây dựng từ dễ đến khó,
từ đơn giản đến phức tạp sao cho có thể tạo ra sự hứng thú học tập với cả học sinh khá giỏi lẫn HS trung bình, học sinh yếu
- Đảm bảo chu trình tự học Chu trình tự học phải trải qua ba giai đoạn: Tự nghiên cứu; tự thể hiện; tự kiểm tra, điều chỉnh
- Đảm bảo cho người học có thể tự kiểm tra đánh giá
2.4.2 Qui trình xây dựng tài liệu hướng dẫn tự học
Xác định mục đích của việc xây dựng tài liệu: Xây dựng một tài liệu hướng dẫn
HS tự học
Xác định yêu cầu của tài liệu: Sau khi được xây dựng tài liệu phải chứa đầy đủ các thông tin giúp học sinh có kĩ năng có phương pháp tự học và có thể tự mình kiểm tra đánh giá kiến thức cũng như kĩ năng sau khi học
Xác định nội dung, cấu trúc của tài liệu: Nội dung tài liệu phải đảm bảo mục tiêu giáo dục và có thể hình thành cho học sinh kĩ năng tự học
Thu thập thông tin để xây dựng tài liệu: Để xây dựng một tài liệu tốt đòi hỏi phải thu thập được nhiều thông tin Việc thu thập thông tin đòi hỏi phải có nhiều thời gian
và được tổ chức khoa học
Trang 35Tiến hành xây dựng tài liệu
Thực nghiệm, chỉnh sửa và bổ sung
2.4.3 Bộ tài liệu hướng dẫn tự học cho từng nội dung khoa học của các kiến thức trong chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12
Tài liệu này chúng tôi soạn thảo theo cấu trúc thành 5 nội dung:
Nội dung 1: Sóng cơ và sự truyền sóng cơ
Nội dung 2: Giao thoa sóng
Nội dung 3: Sóng dừng
Nội dung 4: Các đặc trưng vật lí của âm
Nội dung 5: Các đặc trưng sinh lí của âm
Ở mỗi nội dung, chúng tôi trình bày các vấn đề:
- Tên nội dung
- Mục tiêu học sinh cần đạt
- Bảng thiết kế nội dung tự học và hướng dẫn HS tự học
- Các phiếu học tập theo các hình thức tự học khác nhau
- Bài kiểm tra đánh giá sau khi kết thúc nội dung tự học
NỘI DUNG 1: SÓNG CƠ VÀ SỰ TRUYỀN SÓNG CƠ
+ Nêu được tốc độ truyền sóng cơ phụ thuộc môi trường truyền sóng
+ Viết được phương trình sóng tại một điểm khi biết phương trình sóng tại nguồn
Trang 36+ Nêu được tính lưỡng tuần hoàn của sóng: Vừa tuần hoàn theo thời gian với chu kì T, vừa tuần hoàn theo không gian với bước sóng λ
- Về kĩ năng
+ Tính được độ lệch pha giữa hai điểm trên cùng phương truyền sóng
+ Tính được chu kì, tần số, tốc độ sóng trong một số bài toán sóng cơ đơn giản + Viết được phương trình sóng tại một điểm khi biết phương trình sóng tại một điểm khác trên cùng phương truyền sóng
+ Tự làm được thí nghiệm về sự truyền sóng cơ trên một sợi dây
- Về thái độ
+ Có thái độ nghiêm túc, tích cực, tự giác trong quá trình tự học
+ Học sinh hứng thú, say mê tìm kiếm kiến thức thông qua hoạt động tự học và thảo luận trong nhóm học tập
B Bảng thiết kế nội dung và hướng dẫn HS tự học
Bảng 2.1 Hướng dẫn tự học nội dung “Sóng cơ và sự truyền sóng cơ”
được quá trình truyền sóng
không phải là quá trình truyền
vật chất
KT2- Tìm hiểu quá trình lan
truyền của một sóng hình sin
Phiếu học tập
số 1
HD1- Đọc mục I.1 bài 7 ở
trang 36 SGK vật lí 12; Tự làm thí nghiệm bằng một chậu nước và một cần rung đơn giản
Tìm các đoạn video trên internet (các trang hocmai.vn; thuvienviolet ; thuvienvatli.com.vn….) HD2- Đọc mục II.1 bài 7 ở trang 37 SGK vật lí 12 ;
Trang 37KT3- Tìm hiểu các đại lượng
HD4- Đọc mục I.3 và I.4 bài 7 ở trang 36, 37 SGK vật lí 12; Tự làm thí nghiệm đơn giản với một sợi lò xo
Tự học
trên lớp
KT5- Khắc sâu kiến thức
thông qua thí nghiệm tạo sóng
trên mặt nước và trên một sợi
số 2
HD5 - HS làm thí nghiệm
và thu thập kết quả thí nghiệm để rút ra các kết luận khoa học
HD6 – Vận dụng kiến thức
về “Cấu tạo chất” (Vật lí 10); “Dao động cưỡng
bức” ( Vật lí 12)
HD7– Xem lại tính chất của dao động cưỡng bức
HD8– Dựa vào định luật bảo toàn năng lượng
Trang 38giảm dần khi ra xa tâm dao
động
KT9 – Nắm được tốc độ
truyền sóng cơ chỉ phụ thuộc
tính chất của môi trường
KT10- Viết phương trình của
một sóng hình sin truyền theo
trục Ox
KT11- Biết được sóng vừa có
tính tuần hoàn theo thời gian
vừa có tính tuần hoàn theo
7 ở trang 39 SGK vật lí 12
HD11- Đọc mục III bài 7
ở trang 39 SGK vật lí 12 ; Vận dụng tính tuần hoàn
với chu kì 2π của hàm số
cosin
HD12- Thảo luận theo
nhóm các nội dung đã chuẩn
bị để chuẩn lại kiến thức dưới sự điều hành của GV
HD13 – Lập sơ đồ (bảng) nội dung kiến thức bài học
lượng đặc trưng của sóng và
độ lệch pha giữa hai điểm trên
số 3
HD14- Nghiên cứu giải
các bài tập trong SGK và phiếu học tập số 3
Trang 39C Các phiếu học tập cho các giai đoạn tự học của học sinh
Phiếu học tập số 1.1
(Tài liệu hướng dẫn HS chuẩn bị bài)
Câu 1 Tạo sóng trên mặt nước bằng cách tác động một cần rung vào điểm O trên mặt nước trong chậu.(Có thể tìm trên mạng internet video thí nghiệm tạo sóng trên mặt nước và quan sát để tìm hiểu hiện tượng sóng mặt nước)
a Mô tả hiện tượng quan sát được trên mặt nước?
TL………
b Khi điểm O trên mặt nước được kích thích dao động, đặt một mẩu xốp tại điểm M trên mặt nước Có thấy mẩu xốp bị đẩy ra xa điểm O không?
TL………
c Quan sát thí nghiệm sóng mặt nước, cho biết sóng truyền đến những điểm M, N
có đồng thời không nếu:
- M, N có cùng khoảng cách tới nguồn dao động O ?
- M gần nguồn dao động O hơn N ?
Câu 3 Lấy một sợi lò xo dài và mềm làm thí nghiệm như sau: Thả một đầu lò xo tự
do, đầu còn lại kích thích dao động sao cho các vòng lò xo dao động theo phương trùng với trục lò xo Nhận xét phương dao động và phương truyền sóng ?
TL :………
Trang 40Phiếu học tập số 1.2
(Tài liệu hướng dẫn HS tự học trên lớp)
YC1: Các nhóm làm thí nghiệm sóng truyền trên mặt nước, sóng truyền dọc theo trục lò xo (Hình 7.1; 7.2 trang 36, 37 SGK Vật lí 12) và thảo luận theo nhóm để thống nhất các câu trả lời cho các câu hỏi ở phiếu học tập số 1
YC2: Thảo luận theo nhóm để trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1 Tại sao dao động của phần tử O lại lan truyền đến các phần tử lân cận? Dao động của các phần tử môi trường có sóng truyền qua là dao động gì?