Nghị quyết số 29-NQ/TW của Quốc Hội Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường xã hội chủ
Trang 1Với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin được bầy tỏ lòng biết ơn tới Hội đồng Khoa học chuyên ngành Quản lý giáo dục, Phòng Đào tạo, Khoa sau Đại học Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, chuyên viên Sở Giáo dục và Đào tạo Điện Biên, cán bộ quản lý trường THPT Tủa Chùa, Trường THCS-THPT Tả Sìn Thàng, các đồng chí cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp thông tin, tham gia trả lời phiếu khảo sát, giúp đỡ và động viên tác giả nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên để tác giả có thể hoàn
thành luận văn này Dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô trong Hội đồng khoa học, bạn bè và đồng nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
Tủa Chùa, ngày 10 tháng 11 Năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Hằng Nga
Trang 2GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
MỞ ĐẦU i
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 16
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học 16
1.1.1 Ngoài nước 16
1.1.2 Trong nước 17
1.1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta và yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo hiện nay 19
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà trường 22
1.2.1 Khái niệm quản lý 22
1.2.2 Khái niệm Quản lý nhà trường 24
1.2.3 Chức năng quản lý 26
1.2.4 Nội dung quản lý nhà trường 27
1.3 Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học 30
1.3.1 Khái niệm hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học 30
1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông 32
1.4 Nội dung yêu cầu đổi mới giáo dục 41
1.4.1 Mục tiêu và nội dung 41
1.4.2 Đổi mới phương pháp dạy học 42
1.4.3 Tích hợp và phân hóa 42
1.5 Vai trò của hiệu trưởng trong quản lý hoạt động dạy học theo yêu cầu đổi mới 43
1.5.1 Hiệu trưởng xây dựng chương trình nhà trường và quản lý chương trình nhà trường 43
Trang 41.5.2 Vai trò của hiệu trưởng với quản lý mục tiêu hình thành năng lực cho học
sinh 45
1.5.3 Vai trò của hiệu trưởng với đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan 46 1.6 Đặc điểm trường Phổ thông dân tộc nội trú 47
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN TỦA CHỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN 49
2.1 Vài nét về kinh tế - xã hội, giáo dục huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên 49
2.1.1 Điểm mạnh 49
2.1.2 Điểm yếu 50
2.1.3 Thời cơ 50
2.1.4 Những thách thức 51
2.2 Trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên 52
2.3 Thực trạng dạy học của nhà trường 52
2.3.1 Thực trạng hoạt động dạy và học 52
2.3.2 Thực trạng hoạt động học của học sinh 45
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học 58
2.4.1 Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình và kế hoạch dạy học 58
2.4.2 Quản lý việc thực hiện kế hoạch giáo dục 64
2.4.3 Thực trạng quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 71
2.4.4 Thực trạng quản lý phương tiện, cơ sở vật chất 73
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên trong bối cảnh đổi mới giáo dục 79
2.5.1 Những ưu điểm 79
2.5.2 Những khuyết điểm (hay những tồn tại) 79
2.5.3 Những thuận lợi 80
2.5.4 Những khó khăn 80
Tiểu kết chương 2 81
Trang 5Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PTDTNT THPT HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN TRONG BỐI
CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 82
3.1 Định hướng phát triển trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh đổi mới giáo dục 82
3.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý 82
3.2.1 Tính hệ thống 82
3.2.2 Tính hiệu quả 83
3.2.3 Tính thực tiễn 83
3.2.4 Tính bền vững 83
3.3 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh đổi mới giáo dục 84
3.3.1 Nâng cao nhận thức về việc đổi mới căn bản toàn diện trong đó hoạt động dạy học là nhiệm vụ quan trọng 84
3.3.2 Chỉ đạo việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực 87
3.3.3 Phát huy vai trò của tổ chuyên môn trong quản lí hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực 90
3.3.4 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học trong nhà trường 95
3.3.5 Tăng cường cơ sở vật chất, xây dựng phòng học bộ môn, khai thác và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, phục vụ dạy học có chất lượng 98
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 99
3.5 Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 100
3.5.1 Đối tượng khảo nghiệm 100
3.5.2 Cách thức tiến hành khảo nghiệm 101
3.5.3 Mục đích khảo nghiệm 101
3.5.4 Các biện pháp được khảo nghiệm 101
3.5.5 Nội dung khảo sát 101
Tiểu kết chương 3 106
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107
1 Kết luận 107
Trang 62 Khuyến nghị 108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC 113
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả xếp loại văn hóa của học sinh (Trong 3 năm - tỷ lệ %) 40
Bảng 2.2 Trình độ cán bộ quản lý (Số liệu 2014)……… 42
Bảng 2.3 Trình độ giáo viên, nhân viên (Số liệu 2014) ……… 42
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên 44
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát về thực trạng hoạt động học của học sinh 46
Bảng 2.6 Kết quả thi đỗ tốt nghiệp THPT và Đại học, Cao đẳng……… 47
Bảng 2.7 Thực trạng việc thực hiện nội dung chương trình giảng dạy của giáo viên……… ……… 48
Bảng 2.8 Kết quả thực hiện chương trình ở 3 loại hồ sơ 50
Bảng 2.9 Đánh giá thực trạng quản lí hoạt động lập kế hoạch 51
Bảng 2.10 Thực trạng quản lí hồ sơ chuyên môn của giáo viên 53
Bảng 2.11 Đánh giá thực trạng quản lí việc chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên……… ……… 55
Bảng 2.12 Đánh giá thực trạng quản lí nề nếp trên lớp của giáo viên…… 57
Bảng 2.13 Thực trạng quản lí việc thực hiện đổi mới PPDH……… 59
Bảng 2.14 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh……… 61
Bảng 2.15 Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng phương tiện dạy học 63
Bảng 2.16 Thực trạng về cơ sở vật chất và mức độ thực hiện trang thiết bị dạy học……… 66
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp…… 90
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp………… 91
Bảng 3.3 So sánh tương quan thứ bậc giữa tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý HĐDH trong bối cảnh đổi mới giáo dục 92
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Kết quả thi đỗ tốt nghiệp THPT và ĐH-CĐ 47
Biểu đồ 2.2 Thực trạng việc thực hiện nội dung chương trình giảng dạy của giáo viên 49
Biểu đồ 2.3 Thực trạng quản lý hoạt động lập kế hoạch 52
Biểu đồ 2.4 Thực trạng quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên 53
Biểu đồ 2.5 Thực trạng việc quản lý chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên 55
Biểu đồ 2.6 Thực trạng việc quản lý đổi mới phương pháp dạy học 59
Biểu đồ 2.7 Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học 63 Biểu đồ 3.1 So sánh tương quan thứ bậc giữa tính cấp thiết và khả thi của
các biện pháp quản lý HĐDH trong bối cảnh đổi mới giáo dục 93
Trang 9Giáo dục và đào tạo đóng vai trò rất quan trọng trong việc gìn giữ phát triển và truyền bá nền văn minh nhân loại Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay, tiềm năng và trí tuệ trở thành động lực chính của
sự tăng tốc phát triển trong đó Giáo dục - Đào tạo được coi là nhân tố quyết định
sự thành bại của mỗi quốc gia trên thương trường Quốc Tế và sự thành đạt của mỗi con người
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992) Luật giáo dục (1998) Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng (2001), chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2001 - 2010) đã chỉ rõ những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục nước ta" Giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là nền tảng là nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững " Đặc biệt Hội nghị Trung ương 8 lần thứ XI (2013) đã chỉ rõ “ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở Giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình,
Trang 10cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học ”
Hiện nay, nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp Giáo dục - đạo tạo cùng các cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm việc thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến đổi mới các cơ sở Giáo dục - đào tạo và sự tham gia của gia đình, cộng đồng xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học, ở cả Trung ương và địa phương
Trong thời gian vừa qua, thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước về xây dựng nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa, ngành giáo dục đã ban hành nhiều văn bản pháp qui để đưa vào thực hiện đó là:
- Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học”
- “Quy chế công nhận trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông
và trường phổ thông có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia” ban hành kèm theo thông tư số: 47/2012/TT-BGDĐT ngày 7/12/2012 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
Các văn bản này sẽ tạo thành một hệ thống các quy định làm cơ sở cho việc theo dõi, kiểm tra đánh giá và đảm bảo chất lượng giáo dục các nhà trường
Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa to lớn của công tác giáo dục, đòi hỏi người cán bộ quản lý phải quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo các hoạt động của nhà trường, đặc biệt là hoạt động dạy học là một hoạt động có vai trò quyết định đến kết quả giáo dục và đào tạo của nhà trường Góp phần thực hiện các mục tiêu giáo dục của Đảng và nhà nước đã đề ra
Để đạt được các mục tiêu, thực hiện được các chỉ thị, Nghị quyết của các cấp Đòi hỏi người cán bộ quản lý cần phải có những năng lực quản lý nhất định bằng lý luận cũng như trong thực tiễn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Tủa Chùa là một huyện vùng cao, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Điện Biên Dân số toàn huyện khoảng 49.000 người Trong đó dân tộc Mông chiếm
Trang 1173% Địa bàn chủ yếu là núi đá, khe sâu, dân cư sống thưa thớt Toàn huyện có
11 xã và 01 thị trấn, trình độ dân trí còn thấp
Với những đặc điểm trên công tác giáo dục của huyện Tủa Chùa còn gặp không ít những khó khăn Đặc biệt là học sinh ở các vùng sâu, vùng xa, chất lượng giáo dục còn nhiều hạn chế Cùng với những khó khăn chung, trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên trong những năm học qua, cũng gặp không ít khó khăn trong công tác giáo dục trong đó có hoạt động dạy của giáo viên cũng như hoạt động học tập của học sinh Chất lượng dạy học chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mà Nghị quyết 29-NQ/TW lần
XI (2013) đã chỉ ra Để tìm kiếm những giải pháp phù hợp, khả thi, khắc phục những khó khăn hạn chế cùng với nhà trường phấn đấu nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng với yêu cầu đổi mới hiện nay, tác giả mạnh dạn lựa chọn nghiên
cứu đề tài: "Quản lý hoạt động dạy học ở trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT huyện Tủa Chùa Tỉnh Điện Biên trong bối cảnh đổi mới giáo dục” làm
đề tài cho luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục sau 2015
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Xác định cơ sở lý luận việc quản lí hoạt động dạy học trong bối cảnh đổi mới giáo dục
3.2 Đánh giá thực trạng hoạt động dạy học và quản lí hoạt động dạy học ở trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa Tỉnh Điện Biên
3.3 Đề xuất các biện pháp quản lí dạy học ở trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa Tỉnh Điện Biên trong bối cảnh đổi mới giáo dục
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học ở trường PTDTNT THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Quản lý hoạt động dạy học ở trường PTDTNT THPT bối cảnh đổi mới giáo dục
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động dạy học ở trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa hiện nay như thế nào?
- Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa hiện nay như thế nào?
- Biện pháp quản lý hoạt động dạy học nào cần thực hiện để nâng cao chất lượng dạy học ở trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay?
6 Giả thuyết khoa học
Việc dạy học hiện nay ở nhà trường chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đặt ra: Giáo viên chưa chủ động trong việc xây dựng chương trình, chưa chú
ý tới hình thành và phát triển năng lực học sinh…
Công tác quản lý hoạt động dạy học vẫn còn những khó khăn, vướng mắc
và bất cập dẫn đến chất lượng dạy học chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của nhà trường
Nếu người quản lý có những biện pháp quản lý phù hợp, đổi mới (tập trung vào bồi dưỡng giáo viên, có sự động viên hợp lý, hỗ trợ kịp thời và giáo viên được quyền chủ động; giám sát kiểm tra tốt ) thì việc dạy học của giáo viên sẽ đáp ứng yêu cầu cao hơn của đổi mới giáo dục
7 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số biện pháp quản lí hoạt động dạy học ở trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa Tỉnh Điện Biên
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài qua các văn bản chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về Giáo dục - đào tạo
8.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Trang 13Lập phiếu điều tra, sử dụng bảng câu hỏi đã soạn sẵn với hệ thống câu hỏi nhằm thu thập ý kiến về các vấn đề nghiên cứu Đối tượng điều tra là các tổ trưởng chuyên môn, giáo viên trực tiếp giảng dạy, học sinh
8.3 Phương pháp tọa đàm (trò chuyện, phỏng vấn)
Thu thập thông tin qua việc trao đổi trực tiếp với các cán bộ quản lý, phó hiệu trưởng, giáo viên, học sinh để nắm bắt thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu của đề tài
8.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng thông tin điều tra thống kê, từ đó phân tích so sánh các đánh giá của các đối tượng, sau đó rút ra kết luận
9 Những đóng góp mới của đề tài
- Chỉ ra được thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên
- Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động dạy học phù hợp với thực tế và
có tính khả thi giúp nâng cao chất lượng dạy học trong bối cảnh đổi mới giáo dục cho học sinh trường PTDT nội trú THPT huyện Tủa Chùa Tỉnh Điện Biên Qua đó, giúp nhân rộng kinh nghiệm quản lý cho các trường trung học
10 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 phần chính:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động dạy và học ở trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa Tỉnh Điện Biên
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa Tỉnh Điện Biên trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học
1.1.1 Ngoài nước
Trên thế giới đã xuất hiện những tư tưởng quản lý rất sớm từ thời Ai Cập
cổ đại đến Trung Hoa cổ đại ở phương Đông cổ đại Những tư tưởng về phép trị nước của Khổng Tử ( 551- 479 TrCN), Mạnh Tử (372-289 TrCN), Hàn Phi Tử (280-233 TrCN )… theo đánh giá của các nhà nghiên cứu hiện đại vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc và đậm nét trong phong cách quản lý và văn hóa của nhiều quốc gia Châu Á hiện nay: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên Nhận xét của sử gia Daniel A.Wren "Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy" và ông cũng ghi nhận rằng chỉ mới gần đây, người ta mới chú ý đến "chất khoa học" của quá trình quản lý và dần dần hình thành nên các "lý thuyết "quản lý Khổng Tử có một câu lý thú cho các nhà quản lý "Bất tại kỳ vị bất mưu kỳ chính" (Không ở vào địa vị ấy đừng nên bàn chuyện của nơi ấy) hay ông còn khuyên " Kỳ tâm chính bất lệnh nhi hành, kỳ tâm bất chính tuy lệnh bất tòng" (Nếu người quản lý liêm chính đúng mực không cần ra lệnh nhiều cấp dưới cũng tuân phục theo, nhược bằng không đàng hoàng chính đáng, dẫu có bắt buộc người ta cũng chẳng theo)
Trang 15Mạnh Tử có lời răn đến ngay vẫn giữ nguyên giá trị: "Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" (Lấy dân làm đầu, xã hội/quốc gia đứng hàng thứ hai, còn người cầm đầu chỉ nên xếp hàng thứ ba mà thôi)
Phương Tây cổ đại (vào thế kỷ IV-III TrCN) nhà triết học Xôcơrat trong tập nghị luận của mình viết rằng: "Những người nào biết cách sử dụng con người
sẽ điều khiển được công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt Những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong công việc"
Theo Platôn (427- 347 TrCN) - nhà triết học cổ đại Hy Lạp thì muốn trị nước phải biết đoàn kết dân lại, phải vì dân Theo ông, người đứng đầu phải ham chuộng hiểu biết, thành thật, tự chủ, biết điều độ, ít tham vọng về vật chất, đặc biệt phải được đào tạo kỹ lưỡng
Thế kỷ XVII, hàng loạt các thuyết quản lý ra đời bởi các nhà nghiên cứu nổi tiếng như Adam Smith (1776), Eli Whitney (1800), Rober Owen (1771-1858), Charles Babbage (1792-1871) được thừa nhận rộng rãi là "Cha đẻ của sự tính toán hiện đại" và đặc biệt F Taylo (1856-1915) người được coi là "cha đẻ của thuyết quản lý theo khoa học"
Nhận thấy rõ lợi ích lớn lao của quản lý nên sang thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý như: Tính khoa học và nghệ thuật quản lý, làm thế nào để việc
ra quyết định quản lý đạt hiệu lực cao, những động cơ để thúc đẩy một số tổ chức phát triển…
1.1.2 Trong nước
Ở Việt Nam, khoa học quản lý tuy được nghiên cứu muộn nhưng tư tưởng
về quản lý cũng như “phép trị nước an dân" đã có từ lâu đời Các vua hiền tài đất Việt từ xa xưa đã biết lấy dân làm gốc trong việc quản lý đất nước: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" (Bình ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)
Ngày nay đã có nhiều tác giả với các công trình nghiên cứu về giáo dục và quản lý giáo dục, quản lý hoạt động dạy học, các công trình nghiên cứu đó đã có những đóng góp to lớn về mặt lý luận Có thể kể đến là các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Đức Chính, Đặng Xuân Hải, Trần Quốc Thành, Đặng
Trang 16Bá Lãm, Nguyễn Gia Quý, Bùi Trọng Tuân, Nguyễn Ngọc Quang.v v Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã giải quyết vấn đề lý luận rất cơ bản về khoa học quản lý như khái niệm quản lý, bản chất của hoạt động quản lý, thành phần cấu trúc, chức năng quản lý, phương pháp và nghệ thuật quản lý
Với tư cách là một loại hình hoạt động xã hội rộng lớn trong những thiết chế nhà nước-xã hội nhất định, vấn đề quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về giáo dục nói riêng đã và đang là những vấn đề được quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý, chuyên gia trong nhiều lĩnh vực về nhà nước và pháp quyền Từ chức năng của nhà nước và chức năng cuả giáo dục thì khái niệm Quản lý nhà nước về giáo dục được hiểu là: "Thực hiện công quyền để quản lý các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội" (Từ điển bách khoa về giáo dục học)
Ngày nay trong xu thế quốc tế và hội nhập của nền kinh tế tri thức, của thời kỳ phát triển như vũ bão khoa học và công nghệ, đòi hỏi quản lý giáo dục phải đổi mới để đáp ứng kịp thời với sự phát triển của thời đại Tuy nhiên do đặc thù về tính chất và nội dung nên giáo dục có tính kế thừa và ổn định tương đối trong các giai đoạn phát triển của lịch sử
Quản lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường phổ thông nói riêng được nhiều nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu Nhiều luận văn tiến sĩ, thạc sĩ đã đề cập đến những vấn đề cụ thể trong công tác quản lý trường học, đặc biệt là quản
lý hoạt động dạy học được nhiều người quan tâm Mỗi nhà nghiên cứu đứng trên các góc độ khác nhau, bình diện khác nhau để tìm ra các biện pháp quản lý nhưng đều đến mục đích chung là nâng cao chất lượng dạy học trong các nhà trường
Tại trường Đại học giáo dục (trước đây là khoa sư phạm của Đại học Quốc gia) từ năm 2004 đến 2012 có nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT, cụ thể là:
- Doãn Kim Chung: Một số biện pháp quản lý quá trình dạy- học nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục ở trường THPT Hải Phòng, luận văn thạc sỹ QLGD-2004
- Đồng Duy Hiển:.Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học
ở trường THPT hiệp Hòa 2, tỉnh Bắc Giang, luận văn thạc sỹ QLGD-2006
Trang 17- Phạm Thị Tuyết Nhung: Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học của
Hiệu trưởng trường THPT Nam Trực tỉnh Nam Định theo yêu cầu đổi mới giáo dục, luận văn thạc sỹ QLGD - 2007
- Trần Thị Hoa: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của các trường THPT
huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay, luận văn thạc
sỹ QLGD-2007
- Bùi Thanh Bình: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy ở các trường
THPT thành phố Hải Phòng, Luận văn thạc sỹ QLGD, năm 2008
- Bế Thị Đoan Trang : Quản lý quá trình dạy học ở trường THPT Hòa Bình
tỉnh Lạng Sơn, luận văn thạc sỹ QLGD, năm 2010
Như vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học
ở các trường THPT công lập, nhất là quản lý hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới của nền giáo dục hiện đại Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều nêu được các biện pháp quản lý dạy học hiệu quả và phân tích một cách biện chứng các yếu tố tác động đến quá trình quản lý dạy học nói chung và nêu lên được thực trạng cùng các biện pháp cụ thể phù hợp với thực tiễn hoạt động quản
lý giáo dục từng địa phương Các công trình trên thực sự có ý nghĩa về mặt lý luận và nghiên cứu thực tiễn đối với hoạt động quản lý, đồng thời cũng đóng góp tích cực biện pháp quản lý giáo dục trên cả nước
Vì vậy việc nghiên cứu, khảo sát thực trạng, đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động dạy học một cách khoa học, phù hợp điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng của mỗi vùng, miền không bao giờ là cũ Do vậy tác giả mạnh dạn tiếp tục nghiên cứu lĩnh vực quản lý hoạt động dạy học ở trường PTDTNT THPT huyện Tủa Chùa Tỉnh Điện Biên với mong muốn sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào kho tàng lý luận quản lý giáo dục hiện đại
1.1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta và yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo hiện nay
Nhận thức được vai trò quan trọng của Giáo dục trong sự nghiệp cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước, ngay sau khi giành chính quyền Bác Hồ đã phát động phong trào “Bình dân học vụ” để diệt “giặc dốt” Bác đã căn dặn: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Trang 18Nước ta, sau Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế chuyển từ bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, đòi hỏi phải có sự thay đổi triệt để từ tư duy chính trị, tư duy kinh tế đến tư duy quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đặc biệt bước sang thế kỷ 21, với sự bùng nổ của Khoa học công nghệ - truyền thông, với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước càng cần phải có đội ngũ trí thức giỏi và đội ngũ công nhân lành nghề với trình độ cao, có khả năng thích ứng nhanh với hoàn cảnh Đó chính vừa là thời cơ vừa là thách thức của ngành giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay
Trong mấy thập niên vừa qua Đảng ta đã luôn coi trọng giáo dục và đào tạo Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đến Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng
ta đã khẳng định: "Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển"
Và nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo là: "Đổi mới toàn diện, mạnh mẽ giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo định hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời" (Đảng cộng sản Việt Nam
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - Bổ sung, phát triển năm 2011 NXB lao động )
Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng thực hành của người học, đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội đối với sự nghiệp giáo dục
Khẩn trương điều chỉnh, khắc phục tình trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông, đảm bảo tính khoa học,
cơ bản, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi và hoàn cảnh cụ thể Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài
Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội khoá 10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của đổi mới là: "Xây dựng nội dung
Trang 19chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông trong khu vực và trên thế giới"
Do đó tất yếu phải nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và năng lực của cán bộ quản lý giáo dục để phù hợp với chủ trương đổi mới chương trình giáo dục của Đảng, Nhà nước Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15-6-2004 đã khẳng định phải: "Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục để
có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản
lý giáo dục"
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Quốc Hội Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã đặt
ra yêu cầu: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới
từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục, đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội
và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Đổi mới để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhu cầu học tập của nhân dân Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học, các giải pháp đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp Đổi mới căn bản
và toàn diện không có nghĩa là làm lại tất cả, từ đầu mà cần vừa kế thừa, củng
cố, phát huy các thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới, vừa kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc; đổi mới có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình phù hợp với thực tế đất nước, địa phương Những hạn chế, thách thức của giáo dục phải
Trang 20được nhận thức sâu sắc, có giải pháp hữu hiệu và lộ trình khắc phục, vượt qua
để đưa sự nghiệp giáo dục lên tầm cao mới”
Để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của Giáo dục - đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu đặt ra thì một trong các yếu tố có vai trò then chốt đó là công tác quản lý giáo dục các cấp Trong đó công tác quản lý hoạt động giáo dục cấp cơ
sở, nhà trường phổ thông có ý nghĩa quan trọng Nhà trường phổ thông hoạt động dạy học của thầy và trò là nhiệm chính trị trung tâm của mỗi nhà trường,
do vậy công tác quản lý hoạt động dạy học của nhà trường là động lực quan trọng nhất Luật giáo dục sửa đổi năm 2005 cũng khẳng định: "Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục Cán bộ quản lý giáo dục phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân" (Điều 16, Chương I)
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà trường
1.2.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người,
sự vật cụ thể
Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện tài chính để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng theo một định hướng quản lý đặt ra phải tạo ra được ''quyền uy'' buộc đối tượng phải tuân thủ Quản lý nền sản xuất – xã hội là loại hình quản lý đặc biệt phát sinh từ tính chất xã hội hoá lao động Mác viết: ''Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận
Trang 21động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải nhạc trưởng'' [6, tr.2]
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: Frederich Wiliam Taylor 1915), Mỹ; Henri Fayol (1841-1925), Pháp; Max Weber (1864-1920), Đức
(1856-đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy
sự phát triển XH
Về nội dung, thuật ngữ ''Quản lý'' có nhiều cách hiểu khác nhau
Trong giáo trình Khoa học quản lý (Tập 1 NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội 1999) đã ghi rõ: "Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự
hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một
tổ chức Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó "
Có tác giả lại quan niệm: Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt các mục tiêu KT-XH Quản lý
là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định Quản lý là sự tác động có mục đích, có KH của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (mà trực tiếp là tập thể
những người lao động) nhằm thực hiện mục tiêu đề ra
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặp nhau
ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản
lý Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
Trang 22- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
- Tác động của chủ thể phải có KH và có tính mục đích
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể là một
hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội)
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải
có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình
Hoạt động quản lý (theo định nghĩa kinh điển nhất) là: Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt
được mục đích của tổ chức
Hiện nay, quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt
đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra
Như vậy, có thể khái quát rút ra một khái niệm chung về quản lý như
sau: Quản lý là sự tác động có mục đích, có biện pháp và có sáng tạo của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm không chỉ tạo ra những sản phẩm mang giá trị sử dụng tối ưu mà còn cải tạo mối quan hệ giữa chủ thể quản lý với khách thể quản lý
Quản lý là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý và xã hội học Nó còn là một ''nghệ thuật'' đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục đích [5, tr.4]
1.2.2 Khái niệm Quản lý nhà trường
Thực chất của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường là đơn vị
cơ sở giáo dục quan trọng nhất, chủ yếu nhất trong các hệ thống giáo dục của tất cả các quốc gia
Theo tác giả Phạm Viết Vượng “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực
Trang 23lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng Giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [27, tr.205]
Còn theo tác giả Phạm Minh Hạc thì: "Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh"
[11, tr35]
Quản lý trường học về cơ bản khác với quản lý các lĩnh vực khác của đời sống xã hội và sản xuất Quản lý nhà trường gồm các thành tố: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, thày giáo, học sinh và cơ sở vật chất phục vụ dạy học Vì vậy có thể xem quản lý trường học vừa có bản chất xã hội, vừa có bản chất sư phạm Cho nên khi quản lý trường học của mình, các nhà quản lý phải kết hợp hài hòa các khoa học như: Giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, khoa học quản lý, điều khiển học…
Thực tế, hoạt động dạy và học là hoạt động cơ bản nhất, chủ yếu nhất trong các nhà trường hiện nay Như vậy quản lý trường học thực chất là quản lý hoạt động của giáo viên và học sinh Có thể hiểu: Quản lý trường học là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý, có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động và phối hợp sức lực trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó Quản
lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang phát triển lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát
Trang 24triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào việc phục
vụ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục
Tóm lại, có thể khái quát quản lý nhà trường như sau: Quản lý nhà trường
là quản lý toàn diện mọi hoạt động trong nhà trường, bao gồm quản lý quá trình dạy học, giáo dục, tài chính, cơ sở vậy chất, nhân lực và môi trường giáo dục nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả, cùng phối hợp các lực lượng giáo dục khác thực hiện mục tiêu giáo dục Trong đó, quản lý quản lý quá trình giáo dục và dạy học nhằm nắm vai trò trọng yếu, đặc trưng của nhà trường nhằm đưa nhà trường đạt được hiệu quả giáo dục với chất lượng cao nhất, đáp ứng yêu cầu phát triển nhân cách học sinh một cách toàn diện, đào tạo ra những công dân hữu ích cho xã hội
+ Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức
+ Xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu + Quyết định những hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu đó
1.2.3.2 Tổ chức
Khi người quản lý lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa như thế Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho ta thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực và nhân lực
Trang 25thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả
1.2.3.3 Lãnh đạo (chỉ đạo)
Sau khi kế hoạch đã được lập, có tổ chức thì phải có người đứng ra lãnh đạo
và dẫn dắt tổ chức - lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức
1.2.3.4 Kiểm tra
Là một chức năng quản lý thông qua đó một cá nhân một nhóm hoặc một
tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hoạt động điều chỉnh, uốn nắn Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh diễn ra có tính chu kỳ như sau:
+ Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động
+ Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả với chuẩn mực đã đặt ra + Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch
+ Người quản lý hiệu chính, sửa lại chuẩn mực nếu cần
1.2.4 Nội dung quản lý nhà trường
Nội dung công tác quản lý giáo dục trong nhà trường bao gồm:
- Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục học sinh
- Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của Nhà nước đồng thời thực hiện xã hội hóa giáo dục, động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học
- Quản lý đội ngũ các thầy giáo, cán bộ công nhân viên và tập thể học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường
- Quản lý tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình giáo dục của
Bộ Giáo dục và nhà trường Thực hiện nghiêm túc chương trình, đổi mới phương pháp giáo dục, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng dạy học
Trang 26- Quản lý tốt việc học tập của học sinh Quản lý học sinh bao hàm cả quản
lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần, thái độ và phương pháp học tập
- Quản lý việc kiểm tra và đánh giá
- Quản lý việc chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tập thể giáo viên, công nhân viên của nhà trường
Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường Vì vậy muốn thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục, người quản lý phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải chú trọng tới việc đổi mới công tác quản lý giáo dục để quản lý có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường
Trong quản lý nhà trường thì quản lý trường THPT là vấn đề tất yếu được đặt ra và nếu trường THPT là một cơ sở giáo dục thì quản lý trường phổ thông được hiểu là quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp
Như chúng ta đã biết, trong các trường học, đặc biệt là trường THPT thì hoạt động chuyên môn là hoạt động trọng tâm Vì thế, có ý kiến cho rằng: Quản
lý trường phổ thông là quản lý hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn của giáo viên, tức là đưa hoạt động đó từ trạng thái này đến trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục, mà mục tiêu giáo dục của bậc THPT là một mục tiêu kép: Vừa chuẩn bị kiến thức cho học sinh vào đại học, vừa chuẩn bị cho các em các kỹ năng, năng lực cần thiết, tính tự chủ trong lao động điều đó có nghĩa là khác nhiều so với bậc THCS Đối với học sinh THPT thì ngoài trang bị kiến thức cho các em thì việc hình thành cho các em phương pháp học tập, khả năng tư duy, khả năng thích ứng với cuộc sống cũng là một vấn đề quan trọng Vì thế vấn đề đặt ra đối với việc quản lý trường THPT chính là: Người quản lý (chủ thể quản lý) tác động như thế nào vào các thành tố của hệ thống giáo dục, nhằm đem lại kết quả như mong muốn Tác giả cho rằng đây thực sự là vấn đề khó khăn Khó khăn không chỉ bởi công tác quản lý là một công tác mang tính khoa học, đồng thời ở một khía cạnh nào đó cũng mang tính
Trang 27nghệ thuật, mà còn bởi trong sự phát triển nhanh chóng của xã hội ngày nay thì đổi mới giáo dục phổ thông, để đạt được mục tiêu giáo dục không phải là việc dễ dàng Hơn thế, dù giáo dục phổ thông là một lĩnh vực trong nhiều năm qua đã được Đảng và Nhà nước quan tâm song những bất cập của nó về quản lý, về đội ngũ giáo viên, về cơ sở vật chất cũng bị lộ rõ Bởi những lẽ đó tác giả cho rằng, quản lý nhà trường THPT là điều kiện mang tính quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục
Có thể thấy, nếu hoạt động trọng tâm của trường THPT là hoạt động chuyên môn thì để đạt được mục tiêu giáo dục, người quản lý cần chú trọng đến việc quản lý hoạt động chuyên môn của người giáo viên Bởi muốn có trò giỏi trước tiên phải có thầy giỏi và người chính là người “kiến thiết” giờ dạy, định hướng việc học tập cho học sinh Trong quá trình tìm hiểu các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục tác giả nhận thấy: Các nhà nghiên cứu giáo dục nước ngoài cũng như Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp quản lý của Hiệu trưởng Có một số tác giả đề cập tới chất lượng dạy học của bậc THPT nhưng lại thiên về vấn đề cải tiến phương pháp dạy học bộ môn mà chưa đề cập một cách sâu sắc đến các biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Như vậy, quản lý trường THPT là tập hợp các tác động tối ưu sự công tác, tham gia hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ công nhân viên nhằm tận dụng các nguồn lực sẵn
có, nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp nhằm đạt được mục tiêu Quản
lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận
Trang 281.3 Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học
1.3.1 Khái niệm hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học
1.3.1.1 Khái niệm về hoạt động dạy học
Nhiều nhà khoa học đã tiếp cận khái niệm dạy học từ cơ sở của lý luận của quá trình giáo dục tổng thể Mặt khác, xét quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của hoạt động, một số tác giả đã luận giải về nội hàm của khái niệm dạy học từ những góc độ khoa học khác nhau như: giáo dục học, tâm lý học, điều khiển học
- Tiếp cận dạy học từ góc độ giáo dục học ''Dạy học – một trong các bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn - là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng phát triển các phẩm chất của nhân cách người học theo mục đích giáo dục'' [21, tr.22]
Như vậy, dạy học là khái niệm chỉ quá trình hoạt động chung của người dạy và người học
- Dạy trong nhà trường chủ yếu dạy cho con người những tri thức khoa
học, hình thành những năng lực người ở trình độ cao Dạy thường ngày cũng dạy cho mỗi cá thể những năng lực người để tồn tại trong cuộc sống xã hội Việc dạy trong nhà trường giúp cho mỗi cá nhân lĩnh hội được tri thức một cách hệ thống, khoa học và họ được đào tạo theo một phương thức đặc biệt và người dạy là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm Vì vậy khi nói tới hoạt động dạy học chúng ta hiểu là dạy học theo phương thức nhà trường
Như vậy, trong nhà trường, dạy học cũng chính là con đường giáo dục
quan trọng, góp phần thực hiện các nhiệm vụ giáo dục cơ bản khác Đó là cơ sở
khoa học để thấu hiểu ý nghĩa sâu xa của việc cần và có thể thông qua dạy chữ
để dạy người và của câu phương ngôn nhân bất học, bất tri lý
Tóm lại, Hoạt động dạy học là hoạt động chuyên biệt của người dạy (người được đào tạo nghề dạy học), là quá trình tổ chức và điều khiển hoạt động học của trẻ nhằm giúp họ lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm
lý, hình thành và hoàn thiện nhân cách bản thân trẻ [20, tr39]
Trang 29- Tiếp cận dạy học từ góc độ điều khiển học: ''Dạy học là quá trình cộng tác giữa thầy và trò nhằm điều khiển - truyền đạt và tự điều khiển - lĩnh hội tri thức nhân loại nhằm thực hiện mục đích giáo dục”[10, tr.51]
Hoạt động dạy học là sự tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách học sinh Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh, giúp cho họ nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ Hoạt động dạy học có chức năng kép truyền đạt và điều khiển Nội dung dạy học được thực hiện trong một môi trường thuận lợi, chính là nhà trường, ở đó được thực hiện một nội dung chương trình qui định, phù hợp với từng lứa tuổi
Hoạt động dạy của giáo viên thực chất gồm hai hoạt động :
- Giáo viên nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, trình độ học sinh, điều kiện của giáo viên, tài liệu tham khảo, nắm vững các phương pháp dạy, lựa chọn phương pháp dạy phù hợp với các điều kiện trên Trên cơ sở đó giáo viên xây dựng một phương án thích hợp nhất để dạy từng bài cụ thể cho từng lớp
- Giáo viên phối hợp hoạt động với học sinh trên lớp, đây là quá trình giảng dạy của giáo viên Giáo viên nêu vấn đề, giảng dạy kiến thức mới, rèn luyện kỹ năng, củng cố kiến thức, hướng dẫn học sinh tự học Trong quá trình giảng dạy, các hoạt động của giáo viên được phối hợp nhịp nhàng với hoạt động của học sinh Giáo viên càng tăng cường việc hướng dẫn chỉ đạo thì học sinh càng có nhiều thời gian hoạt động tìm hiểu kiến thức, rèn luyện kỹ năng thực hành
1.3.1.2 Khái niệm quản lý hoạt động dạy học
Trong trường học mọi hoạt động đều hướng vào phục vụ hoạt động dạy học và quản lý trường học trọng tâm là quản lý hoạt động dạy học
Quản lý dạy học là quản lý một hoạt động với tư cách là một hệ thống toàn vẹn, bao gồm các nhân tố cơ bản: mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp và các phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Trang 30Theo tác giả Đỗ Ngọc Bích ''Quản lý quá trình dạy học là một bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống quản lý quá trình GD&ĐT trong trường học Quá trình thực hiện các chức năng tổng hợp, phát triển nhân cách, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài'' [4, tr.41]
Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và học được thể hiện bằng sự hợp tác giữa dạy và học theo logic khách quan của nội dung
Như vậy quản lý hoạt động dạy học là quản lý hoạt động sư phạm của người thầy và hoạt động học tập rèn luyện của trò, để hình thành và phát triển nhân cách học sinh
1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông 1.3.2.1 Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình và kế hoạch dạy học
Quản lý việc thực hiện mục tiêu chương trình giáo dục (chương trình dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) nhằm đảm bảo thực hiện các quy định về chuẩn kiến thức kỹ năng và thái độ để hình thành những phẩm chất năng lực và phất triển nhân cách người học
Quản lý việc thực hiện nội dung chương trình giáo dục Nội dung giáo dục phải đảm bảo tương thích với những yêu cầu về tri thức, kỹ năng và thái độ đã xác định Nội dung giáo dục được truyền tải thông qua hệ thống các phương pháp dạy học và giáo dục phù hợp, đảm bảo phát huy tính tích cực của người học
Việc xây dựng kế hoạch phải dựa vào chương trình dạy học quy định phần cứng và phần mềm, dựa vào trình độ, kỹ năng sư phạm của giáo viên, khả năng học sinh, kết quả học tập của những năm trước và điều kiện cụ thể của nhà trường để đảm bảo cho dạy học để xây dựng kế hoạch các nhân, kế hoạch tổ bộ môn…
Việc xây dựng kế hoạch của giáo viên và tổ chuyên môn là một việc làm tất yếu Trên cơ sở yêu cầu chung của công tác giáo dục và yêu cầu riêng của từng bộ môn, căn cứ vào hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của các cấp
Trang 31quản lý và tình hình cụ thể của nhà trường mà mỗi giáo viên và tổ trưởng chuyên môn phải đề ra kế hoạch phù hợp
Nhà trường phải là người hướng dẫn giáo viên qui trình xây dựng kế hoạch, giúp họ biết xác định mục tiêu đúng đắn và tìm ra các biện pháp để thực hiện mục tiêu đó
Chương trình dạy học là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành, là căn cứ pháp lý để Bộ, Sở Giáo dục tiến hành chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động giảng dạy trong nhà trường Đồng thời nó cũng là căn cứ pháp lý để người cán bộ quản lý giáo viên theo yêu cầu mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra cho từng cấp học
Quản lý việc thực hiện chương trình là: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn chỉ đạo tổ chuyên môn theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chương trình đủ và đúng tiến độ thời gian, không được cắt xén, thêm bớt hoặc làm sai lệch nội dung chương trình
Nội dung kế hoạch đối với cá nhân:
+ Cơ sở để xây dựng kế hoạch: Các chỉ thị, nhiệm vụ năm học, hướng dẫn giảng dạy bộ môn, định mức chỉ tiêu được giao, tình hình điều tra chất lượng học sinh năm trước, các điều kiện đảm bảo cho việc dạy và học
+ Xác định mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu về các mặt hoạt động, đề ra các biện pháp để đạt được các mục tiêu và điều kiện để đảm bảo thực hiện kế hoạch như: sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, trang thiết bị dạy học bộ môn, kinh phí dành cho các hoạt động, kế hoạch cụ thể từng chương, từng bài, từng tháng, từng tuần Chỉ đạo việc thực hiện đổi mới chương trình, phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay
Nội dung kế hoạch đối với tổ chuyên môn:
+ Nhà trường chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch chung của cả tổ
Cơ sở để xây dựng kế hoạch: Chỉ thị thực hiện nhiệm vụ năm học mới, kế hoạch của nhà trường, đặc điểm tình hình của nhà trường, những thuận lợi, khó khăn của nhà trường, tổ bộ môn
+ Lập kế hoạch công tác từng tháng, học kỳ và cả năm Xác định phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu Nêu các biện pháp thực hiện và
Trang 32điều kiện thực hiện biện pháp như: Cơ sở vật chất, sự phối hợp của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường và các cấp lãnh đạo trong việc thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy trong giai đoạn hiện nay Dựa trên biên chế của tổ nhóm chuyên môn, trên cơ sở năng lực, tinh thần trách nhiệm phân công cụ thể, đúng người đúng việc, có kế hoạch kèm cặp những giáo viên mới ra trường, những giáo viên hạn chế chuyên môn
+ Để đảm bảo chất lượng dạy học, mỗi cá nhân và tổ chuyên môn cần thực hiện tốt kế hoạch đã đề ra, đồng thời cán bộ quản lý nhà trường cần theo dõi, kiểm tra đôn đốc sát sao, tạo điều kiện tốt nhất cho họ đạt được mục tiêu
đã đề ra trong kế hoạch
Muốn xây dựng được kế hoạch đảm bảo được các mục tiêu đề ra Đòi hỏi giáo viên ngoài những phẩm chất đã có thì giáo viên cần phải có năng lực dạy học tốt có như vậy thì việc lập kế hoạch mới đầy đủ cụ thể Theo kinh nghiệm của các nhà giáo dục thì để dạy tốt được một lĩnh vực hay một nội dung kiến thức nào đó (một môn học nào đó) điều trước tiên bắt buộc người giáo viên phải hiểu rất sâu sắc loại kiến thức ấy Tuy nhiên điều đó chưa phải là tất cả, còn có nhiều loại kiến thức khác để giúp họ trở thành giáo viên giỏi Theo Shulman, sự phân loại về các kiến thức, kỹ năng hỗ trợ bao gồm các vấn đề như sau:
+ Kỹ năng sư phạm nói chung
+ Kiến thức trong chương trình dạy học với các phương tiện trợ giảng
+ Kiến thức nội dung kết hợp với kỹ năng sư phạm
+ Hiểu được vốn kiến thức và tính cách của người học
+ Kiến thức về những vấn đề xung quanh liên quan đến nền giáo dục
+ Kiến thức về các thời đại lịch sử, các mục tiêu, các thành ngữ vè những kiến thức cơ bản về lịch sử, triết học thời đại
Như vậy để trở thành người dạy có năng lực, người thày cần phải trau dồi nhiều kiến thức khác nhau và biến chúng thành năng lực thực tiễn, sau đây là các nhóm năng lực cần thiết của người dạy
Trang 33- Năng lực hiểu biết kiến thức chuyên môn: là một năng lực cơ bản của năng lực sư phạm, một trong những năng lực trụ cột của người thầy giáo, được biểu hiện:
+ Nắm vững và hiểu rộng môn mình phụ trách
+ Thường xuyên theo dõi những xu hướng, những phát minh khoa học trong môn học thuộc mình phụ trách
+ Biết tiến hành nghiên cứu khoa học
+ Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng để bổ túc và hoàn thiện trí thức của mình
- Năng lực hiểu người học trong quá trình giáo dục và dạy họ: đó là năng lực “thâm nhập” vào thế giới bên trong của người học, sự hiểu biết tường tận về nhân cách của học cũng như năng lực quan sát tinh tế những biểu hiện tâm lý của người học trong quá trình dạy học và giáo dục
+ Để có năng lực hiểu người học trong dạy học, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất tâm lý : Phải có óc suy luận, phấn đoán và tưởng tượng, có phẩm chất
ý chí như tính kiên trì, tính nhẫn nại, có năng lực phân phối và di chuyển, chú ý
- Năng lực chế biến tài liệu học tập: Để chế biến được tài liệu học tập, người giáo viên cần phải:
+ Hiểu được tài liệu, tri thức nào là cơ bản, tri thức nào là dễ hay khó tiếp thu đối với người học
+ Hiểu được mức độ tiếp thu và trình độ nhận thức của người học
+ Xác định được mối liên hệ giữa tri thức mới với tri thức cũ và kinh nghiệm của người học để thiết kế bài giảng phù hợp với nhận thức của người học
+ Xác lập mối liên hệ giữa tri thức cũa và tri thức mới
Tinh thần sáng tạo của người dạy khi chế biến tài liệu học tập được biểu hiện: + Trình bày tài liệu một cách khoa học
+ Tìm ra những biện pháp mới, hữu hiệu
+ Học tập và áp dụng sáng tạo những kinh nghiệm tốt của các giáo viên khác
- Năng lực sử dụng kỹ thuật dạy học
+ Năm vững kỹ thuật dạy học mới
+ Truyền đạt tài liệu rõ ràng, dễ hiểu
+ Gây hững thú và kích thích người học suy nghĩ tích cực và độc lập
Trang 34+ Tạo ra tâm thế có lợi cho sự lĩnh hội học tập
- Năng lực ngôn ngữ: Là năng lực biểu đạt rõ ràng, mạch lạc những ý nghĩ, tình cảm của mình bằng lời nói, chữ viết cũng như cử chỉ, điệu bộ
1.3.2.2 Quản lý thực hiện kế hoạch
a) Quản lý việc chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên
Việc chuẩn bị bài lên lớp là khâu rất quan trọng góp phần quyết định chất lượng dạy học, gồm các khâu: chuẩn bị từng chương, từng học ký, chuẩn bị từng tiết dạy/bài soạn bài của giáo viên
Để quản lý tốt việc chuẩn bị bài lên lớp theo quan điểm dạy học phân hóa, người quản lý đặc biệt phải lưu tâm đến những công việc sau đây:
+ Chỉ đạo tổ chuyên môn thống nhất mọi kế hoạch chuẩn bị bài lên lớp từ khâu phân tích nhu cầu, hứng thú của người học với môn học Việc điều tra này, giúp giáo viên năm được động cơ học tập môn học, những nguyên nhân dẫn tới nguy cơ thích hoặc không thích học môn học để co chiến lược dạy học phù hợp
+ Hướng dẫn việc soạn bài tỉ mỉ, thống nhất nội dung và hình thức nhưng không rập khuôn máy móc, tránh sao chép Mục tiêu dạy học phải thẻ hiện rõ về lĩnh vực nhận thức (biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá) trong giáo
án phải nêu chi tiết của mục tiêu dạy học tương ứng với bạc 1, bâc 2, bâc 3
+ Cung cấp sách giáo viên, sách tham khảo, cơ sở vật chất trường học… + Giáo viên phải biên soạn và nộp đề cương bài soạn về tổ bộ môn… + Tăng cường kiểm tra công tác đánh giá đầu vào của học sinh, bài soạn, kiểm tra hồ sơ, phiếu báo giảng, dự giờ đánh giá soạn giảng qua bài dạy
b) Quản lý việc thực hiện nền nếp dạy học
+ Hoạt động dạy học ở nhà trường phổ thông hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng hình thức lên lớp, mỗi giờ dạy là cơ sở tạo nên chất lượng dạy học Vì vậy, việc thực hiện nền nếp ra vào lớp, tổ chức, hướng dẫn quản lý học sinh đối với giáo viên đứng lớp hết sức quan trọng Mỗi giờ dạy phải thực hiện được mục tiêu bài giảng đề ra, gây được hứng thú cho học sinh học tập, phát huy tính sáng tạo, giờ học có chất lượng hiệu quả Đối với người quản lý phải xây dựng tiêu chí giờ lên lớp dựa trên những quy định chung của ngành và hoàn cảnh riêng của nhà trường Cần phải xây dựng tiêu chuẩn đánh giá gời lên lớp từng bộ môn
Trang 35một cách linh hoạt, tạo sự phấn đấu dạy hcoj đảm bảo yêu cầu phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sang tạo và khả năng tự học của học sinh Cần xây dựng thời khóa biểu một cách khoa học hợp lý để người dạy và người học tạo ra tâm
lý thoải mái truyền đạt và tiếp thu kiến thức
+ Hiệu trưởng phải thường xuyên kiểm tra giờ dạy trên lớp của giáo viên thông qua dự giờ có báo trước và không báo trước, trao đổi với giáo viên về kết quả học tập của học sinh, chất lượng toàn diện của lớp
+ Cùng với việc kiểm tra trực tiếp giờ dạy, người quản lý cũng cần chú ý đến công tác thu thập thông tin của học sinh, phụ huynh học sinh và đồng nghiệp…
+ Thực hiện nền nếp dạy học của giáo viên còn thể hiện nghiêm túc qui trình các bước lên lớp, tác phong của thày cô giáo, phương pháp truyền đạt, tinh thần thái độ, ý thức chấp hành nề nếp kỷ cương, đạo đức nghề nghiệp trong cả chính khóa, phụ đạo, dạy thêm học thêm, hướng nghiệp dạy nghề, ngoại khóa… c) Quản lý việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học
+ Phương pháp dạy học có thể hiểu là một hệ thống tác động liên tục của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh, để học sinh lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã định
+ Quản lý phương pháp dạy học trong nhà trường là quản lý việc thực hiện phương pháp dạy học của giáo viên sao cho phù hợp với nội dung, chương trình và đặc trưng từng bộ môn đồng thời phù hợp với sự phát triển của xã hội
+ Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập Rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo, khả năng tự nghiên cứu, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
+ Đổi mới phương pháp dạy học là một nội dung quan trọng trong việc đổi mới giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn hiện nay Người Hiệu trưởng cần quan tâm chỉ đạo hoạt động đổi mới phương pháp dạy học thông qua
+ Cập nhật, bồi dưỡng cho giáo viên thấy được vai trò của tính cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay
Trang 36+ Lập kế hoạch cụ thể, chi tiết của đổi mới phương pháp dạy học đối với từng
bộ môn ngay từ đầu năm học phù hợp với đặc thù riêng của nhà trường Chuẩn
bị đầy đủ các điều kiện để triển khai kế hoạch: Đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị
+ Tổ chức hoạt động nghiên cứu học tập, ứng dụng lý luận, học hỏi về phương pháp qua học tập chuyên đề, tổ chức hội thảo, trao đổi kinh nghiệm
+ Quy định thực hiện các qui chế, đảm bảo chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn, trao đổi soạn giáo án, những vấn đề khó trong chương trình, tổ chức dự giờ rút kinh nghiệm các tiết học
+ Tổ chức tham quan, trao đổi, học tập kinh nghiệm những đơn vị thực hiện tốt đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả Nêu cao tinh thần tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên, nắm vững chương trình, sách giáo khoa mới và những điểm mới về kiế n thức cần truyền tải cho học sinh
Ngoài ra giáo viên cũng cần phải bồi dưỡng năng lực giáo dục để làm tốt công tác đổi mới phương pháp dạy học bởi năng lực giáo dục là năng lực hiểu được người học và linh hoạt sử dụng các biện pháp giáo dục để giúp người học hiểu, suy nghĩ và làm theo yêu cầu xã hội Năng lực này bao gồm:
Năng lực định hình được mô hình phát triển nhân cách người học: Là năng lực biết dựa vào mục đích giáo dục, yêu cầu đào tạo để hình dung ra được những phẩm chất nhân cách cần phải giáo dục cho từng người học và định hướng hoạt động của mình để đạt tới hình mẫu trọn vẹn của người học như một con người mới
Năng lực cảm hóa người học: Đó là năng lực gây được ảnh hưởng trực tiếp của mình đến với người học về tình cảm và ý chí
Năng lực ứng xử sư phạm có hiệu quả: Đây là một phần quan trọng trong tài nghệ sư phạm
Nhóm năng lực tổ chức hoạt động sư phạm
+ Biết xây dựng kế hoạch hoạt động sư phạm
+ Biết sử dụng đúng đắn các hình thức và phương pháp dạy học, giáo dục khác nhau để tổ chức tốt việc học tập
Trang 37+ Biết mức độ và giới hạn của từng biện pháp dạy học và giáo dục khác nhau
+ Có nghị lực và dũng cảm vào sự đúng đắn của kế hoạch và các biện pháp giáo dục
Nếu giáo viên có đầy đủ các năng lực thì hoạt động đổi mới phương pháp dạy học sẽ được thực hiện một cách hoàn chỉnh
1.3.2.3 Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập cần quán triệt đặc điểm kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng, điều chỉnh hoạt động giảng dạy của giáo viên
Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng trong quản lý quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường Nó cung cấp các thông tin phản hồi chính xác, tạo nên
sự liên thông cần thết trong nhà trường giữa hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học tập của học sinh với các cán bộ quản lý cuãng như tạo ra mối liên kết giữa nhà trường với các cấp quản lý giáo dục và cộng đồng
- Thông qua việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, cán bộ quản
lý làm căn cứ để đánh giá kết quả giảng dạy của giáo viên và trên cơ sở đó để điều chỉnh quá trình tổ chức dạy học ngày càng hiệu quả hơn Qua việc quản lý kết quả học tập biết được tinh thần thái độ, ý thức chuyên cần, năng lực trình độ, của học sinh
từ đó điều chỉnh cách dạy của thày, cách học của trò
Để quản lý tốt nội dung này, Hiệu trưởng cần phải làm những việc sau:
- Lập kế hoạch và sắp xếp kiểm tra trong từng tháng cho phù hợp trên cơ sở đề xuất của tổ, nhóm chuyên môn, công bố công khai để giáo viên đảm bảo thực hiện đúng tiến độ chương trình, tổ chức kiểm tra chung thường xuyên là hiệu quả nhất
- Lập kế hoạch kiểm tra giữa kỳ, cuối kỳ, cuối năm học cho các khối lớp,
có mục tiêu, hình thức kiểm tra, nội dung kiểm tra, biểu điểm đáp án, và phải có người phản biện để tránh sai sót trong khi ra đề, đảm bảo an toàn tuyệt đối nghiêm túc khi ra đề, in sao, coi, chấm, người chịu trách nhiệm chính là hiệu phó chuyên môn và giáo viên trực tiếp ra đề
Trang 38- Yêu cầu giáo viên chấm chính xác công bằng, trả bài, chữa bài đúng thời gian qui định Sau mỗi lần kiểm tra chung cần tổng hợp phân tích kết quả của từng khối, lớp, tỷ lệ giữa khối lớp, kịp thời rút kinh nghiệm những giáo viên đạt
tỷ lệ thấp, qua đó đánh giá kết quả dạy của thày và học của trò
- Yêu cầu giáo viên thực hiện tốt trong việc đổi mới kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng và được chia ra làm các cấp độ: biết - hiểu - vận dụng Cần kết hợp hài hòa trong việc ra đề thi, kiểm tra theo hình thức tự luận và
trắc nghiệm
1.3.2.4 Quản lý phương tiện, cơ sở vật chất
- Thiết bị dạy học là điều kiện quan trọng không thể thiếu trong quá trình dạy học, đặc biệt việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các nhà trường hiện nay Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý toàn diện về cơ sở vật chất
và thiết bị phục vụ cho dạy học thể hiện: có trách nhiệm bảo quản, sử dụng và phát huy hiệu quả của cơ sở vật chất và thiết bị
Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị cần chú ý các vấn đề sau:
- Có cán bộ chuyên trách về quản lý trang thiết bị, phương tiện dạy học
Có đủ hồ sơ và sổ sách quản lý: Sổ tài sản gốc, sổ xuất nhập, sổ theo dõi sử dụng, sổ theo dõi việc bảo dưỡng, sửa chữa
- Thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm kê định kỳ và đột xuất, đặc biệt khi có thay đổi tổ chức, biến động do chủ quan, khách quan Hàng năm có kế hoạch xây dựng, cải tạo, sửa chữa, mua sắm bằng nhiều nguồn kinh phí
- Quản lý tốt công tác thi đua khen thưởng, định ra tiêu chuẩn thi đua phù hợp Định mức thưởng về vật chất tinh thần Công khai dân chủ công bằng vô tư, tránh tùy tiện trong bình xét thi đua, tranh trừng phạt, hướng giáo viên noi gương Xử lý kịp thời và có tình, có lý trong những trường hợp vi phạm quy định của trường
- Tăng cường quản lý các nguồn lực cơ sở vật chất, thiết bị của nhà trường nhằm thực hiện tốt đổi mới chương trình, coi thiết bị không phải chỉ là phương tiện minh họa, cho bài giảng của giáo viên mà chính là nguồn tri thức, phương tiện truyền tải thông tin, phương tiện tư duy, nghiên cứu học tập, tiếp cận tự
Trang 39nhiên và xã hội của học sinh Khuyến khích giáo viên tăng cường sử dụng thiết
bị dạy học và tự làm thiết bị dạy học
1.4 Nội dung yêu cầu đổi mới giáo dục
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Quốc Hội Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế theo
nhiệm vụ và giải pháp của đề án đổi mới căn bản toàn diện đã chỉ rõ:
1.4.1 Mục tiêu và nội dung
Nhiệm vụ và giải pháp thứ hai nhằm chuyển từ giáo dục chủ yếu nhằm trang bị kiến thức sang mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực người học
- Xác định mục tiêu giáo dục con người vừa đáp ứng yêu cầu xã hội vừa phát triển cao nhất tiềm năng của mỗi cá nhân Phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ thay vì chỉ chú trọng trang bị kiến thức; kết hợp hài hòa dạy người, dạy chữ và dạy nghề;
- Nội dung giáo dục đổi mới theo hướng tinh giản, cơ bản, hiện đại, giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành và vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn Thiết kế nội dung giáo dục phổ thông theo hướng tích hợp cao các môn học ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng số môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục dành cho học sinh tự chọn Đa dạng hóa nội dung giáo dục nghề nghiệp theo hướng tích hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ, hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học Đổi mới nội dung giáo dục đại học theo hướng cơ bản, tích hợp các lĩnh vực kiến thức, kỹ năng và hiểu biết xã hội, tiếp cận thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến trên thế giới Đổi mới chương trình giáo dục đạo đức, giáo dục công dân, giáo dục chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng tập trung vào những giá trị cơ bản của đạo lý dân tộc, đạo đức xã hội, trách nhiệm cộng đồng, những giá trị cốt lõi
và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin; giảm tải phù hợp với lứa tuổi, trình độ
và ngành nghề đào tạo Dạy học ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng thực tế của người học Chú trọng dạy tiếng nói và chữ viết của dân tộc thiểu số Phát triển đa dạng nội dung, tài liệu học tập đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của mọi người
Trang 401.4.2 Đổi mới phương pháp dạy học
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, tập trung dạy cách học, cách nghĩ và tự học, theo phương châm “giảng ít, học nhiều” Chuyển quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Bồi dưỡng khát vọng học tập suốt đời
Chuyển từ chủ yếu thực hiện chương trình giáo dục trên lớp học sang tổ chức đa dạng các hình thức thực hiện chương trình giáo dục; tăng cường các hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa học của người học Coi trọng sự phối hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học; tăng cường áp dụng hình thức giáo dục từ xa có chất lượng
1.4.3 Tích hợp và phân hóa
Nội dung yêu cầu đổi mới lần này đề cập đến việc dạy học tích hợp, dạy học phân hóa… phương pháp dạy học tích hợp đầu tiên giúp cho đỡ bị quá tải trong chương trình Khi tích hợp, số môn học ít đi, nội dung được xem xét thấu đáo, khỏi bị chồng lấn giữa các môn
Khi dạy học tích hợp, có thể thấy rõ giáo viên và học sinh phải vận dụng kiến thức một cách tổng hợp Theo đó, năng lực vận dụng kiến thức, áp dụng vào thực tế cao hơn
Còn khi dạy học phân hóa, ở cấp THPT số môn học bắt buộc ít đi nhưng
có nhiều môn hoặc chủ đề cho học sinh tự chọn Sẽ thiết kế nhiều nội dung ở mức độ cao thấp khác nhau nhưng học sinh được học tự chọn Thiết kế chương trình theo hướng phân hóa sẽ đáp ứng nhu cầu phát huy năng lực riêng của từng học sinh Cần hướng tới việc học sinh làm được gì sau khi học Trong thực tế, quan niệm về kiểm tra đánh giá còn hạn hẹp, chỉ coi trọng kết quả cuối cùng là học được gì Trong khi đó, cách kiểm tra đánh giá theo quan điểm mới là trong quá trình dạy học, giáo viên phải biết phát hiện những nhân tố nổi bật của học sinh để bồi dưỡng, phát huy; nhìn ra những yếu kém của học sinh để có hướng dẫn kịp thời, điều chỉnh phương pháp, nội dung dạy học để giúp học sinh đạt