Thực tiễn kiểm tra đánh giá trong lớp học bậc phổ thông ở Việt Nam Theo kết quả nghiên cứu cho Dự án phát triển GV trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp của nhóm tác giả Đinh T
Trang 1HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đó tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này
Trước hết, xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, Phòng Đào tạo và Công tác sinh viên, Khoa Sau đại học, Khoa Quản lý Giáo dục của nhà trường cùng các thầy cô giáo
đã trang bị kiến thức, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn
cô giáo TS Nguyễn Thị Ngọc Bích, người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí trong ban lãnh đạo Phòng GD&ĐT huyện Điện Biên, ban giám hiệu trường THCS Pom Lót huyện Điện Biên, chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp
đỡ nhiệt tình và chia sẻ nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đuợc sự đóng góp, chia sẻ của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Văn Bằng
Trang 2DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn ……… i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ……… ii
Mục lục ……… iii
Danh mục các bảng ……… vi
Danh mục các biểu đồ ……… viii
MỞ ĐẦU ……… Trang 1 1 Lý do chọn đề tài ……… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu ……… 6
3 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 6
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu ……… 6
5 Câu hỏi nghiên cứu ……… 6
6 Giả thuyết khoa học ……… 7
7 Phạm vi nghiên cứu ……… 7
8 Phương pháp nghiên cứu ……… 7
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ……… 8
10 Cấu trúc luận văn ……… 8
CHƯƠNG I Cơ sở lý luận về quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong trường phổ thông 9
1.1 Sơ lược các kết quả nghiên cứu về quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở một số trường THCS của Việt Nam 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản ……… 9
1.2.1 Quản lý ……… 11
1.2.2 Quy trình và Quản lý quy trình ……… 13
1.2.3 Kiểm tra ……… 13
1.2.4 Đánh giá ……… 14
1.2.5 Kết quả học tập ……… 15
1.3 Đánh giá trong lớp học ……… 16
Trang 41.4 Chức năng, vai trò, yêu cầu của đánh giá trong giáo dục …… 18
1.5 Quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập ……… 21
1.6 Đặc điểm kiểm tra ĐG kết quả học tập học sinh THCS……… 28
1.7 Yêu cầu đổi mới KT ĐG kết quả học tập trong giai đoạn tới 29
1.8 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập tại trường trung học cơ sở ……… 33
1.9 Những nội dung quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường trung học cơ sở ……… 36
1.9.1 Đối với hiệu trưởng ……… 37
1.9.2 Đối với các tổ trưởng chuyên môn ……… 38
Tiểu kết chương 1 ……… 39
CHƯƠNG 2 Thực trạng quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập tại trường trung học cơ sở Pom Lót 40
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục của huyện Điện Biên 40
2.2 Khái quát về trường trung học cơ sở Pom Lót ……… 41
2.3 Thực trạng về việc thực hiện quy trình KT ĐG kết quả học tập của học sinh trường THCS xã Pom Lót, huyện Điện Biên 45
2.4 Thực trạng về quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập tại trường THCS Pom Lót 63
2.5 Thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá trong từng bài dạy ………… 72
2.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập tại trường trung học cơ sở Pom Lót ……… 75
Tiểu kết chương 2 ……… 77
CHƯƠNG 3 Biện pháp quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập tại trường THCS Pom Lót đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 78
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp ……… 78
3.2 Đề xuất một số Biện pháp quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường trung học cơ sở Pom Lót ……… 79
Trang 53.2.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh
đối với quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập ……… 79
3.2.2 Nâng cao hiệu quả quản lý một số thành tố trong quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập ……… 82
3.2.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ khảo thí ……… 84
3.2.4 Nâng cao năng lực KT ĐG cho cán bộ quản lý, giáo viên 85
3.2.5 Đáp ứng đầy đủ các điều kiện CSVC phục vụ cho công tác thực hiện quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập 89
3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập ……… 91
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp … 91
Tiểu kết chương 3 ……… 96
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ……… 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 99
PHỤ LỤC ……… 102
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1 Bảng so sánh kiểm tra đánh giá truyền thống với kiểm tra
đánh giá tiếp cận năng lực theo xu thế mới 32
2 Bảng 2.1 Thống kê đội ngũ CBQL, GV năm học 2012 – 2013 42
3 Bảng 2.2 Bảng thống kê số HS thuộc diện chính sách 43
4 Bảng 2.3 Bảng thống kê số HS tham gia khảo sát 46
5 Bảng 2.4 Thống kê kết quả lựa chọn các bước trong quy trình KT ĐG kết quả học tập của cán bộ quản lý và GV 47
6 Bảng 2.5 Thống kê thực trạng nhận biết mục đích KT ĐG kết quả học tập 48
7 Bảng 2.6 Bảng thống kê mức độ nhận thức của cán bộ quản lý, GV về tầm quan trọng của việc thực hiện KT ĐG kết quả học tập theo đúng quy trình 49
8 Bảng 2.7 Biểu hiện phân tích đề KT sau khi biên soạn 54
9 Bảng 2.8 Bảng thống kê tỷ lệ % ý kiến của cán bộ quản lý, GV, HS về mức độ bảo mật của đề KT 56
10 Bảng 2.9 Ý kiến của HS về thái độ của giám thị coi KT 57
11 Bảng 2.10 Bảng thống kê số lời phê của GV trong bài KT của HS 59
12 Bảng 2.11 Bảng thống kê thực trạng việc sử dụng kết quả ĐG để điều chỉnh hoạt động DH 62
13 Bảng 2.12 Bảng thống kê ý kiến ĐG của GV về quản lý việc biên soạn đề KT 65
14 Bảng 2.13 Bảng thống kê ý kiến ĐG của cán bộ quản lý, GV về quản lý việc tổ chức coi KT 67
15 Bảng 2.14 Ý kiến của cán bộ quản lý và GV về quản lý việc chấm KT và quản lý điểm KT 69
16 Bảng 2.15 ĐG của cán bộ quản lý và GV về thực trạng quản lý việc
Trang 7viết lời phê vào bài KT của HS 70
17 Bảng 2.16 Bảng ĐG về quản lý công tác trả bài KT 72
18 Bảng 2.17 Bảng thống kê ý kiến GV về quản lý KT ĐG trong từng
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ % mức độ nhận thức của cán bộ quản lý, GV về
tầm quan trọng việc thực hiện KT ĐG kết quả học tập theo đúng quy
trình 50
2 Biểu đồ 2.2 Biểu đồ thực trạng việc phân tích đề KT sau khi biên soạn 54
3 Biểu đồ 2.3 Biểu đồ % ý kiến HS ĐG thái độ coi KT của GV 57
4 Biểu đồ 2.4 Biểu đồ thể hiện việc viết lời phê của GV lên bài KT 58
5 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ tỷ lệ % ĐG mức độ cần thiết 94
6 Biểu đồ 3.2 Biểu đồ tỷ lệ % ĐG mức độ khả thi 94
Trang 9– 2020 đưa ra một số giải pháp đạt được mục tiêu chiến lược, trong đó có giải
pháp: “Đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục” Giải pháp này có đề cập đến việc “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học” [6] Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện GD&ĐT xác định đổi mới thi, KT, ĐG là một trong chín nhiệm vụ giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT Nghị quyết đề cập đến đổi mới
KT ĐG như sau: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội” Đối với cấp THCS, Đảng ta xác định: “tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; Bảo đảm cho HS có trình độ THCS (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp
Trang 10ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau THCS; Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, đến năm 2020, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở THCS là 95%” [19]
1.2 Về lý luận
Trong quá trình DH và giáo dục, KT ĐG là khâu hết sức quan trọng:
“Kiểm tra đánh giá định hướng cho toàn bộ quá trình dạy học, khuyến khích, tạo động lực cho người học, giúp người học tiến bộ không ngừng Kiểm tra đánh giá còn cung cấp cho giáo viên, nhà quản lí những thông tin phản hồi hữu ích, giúp điều chỉnh quá trình dạy học và quản lý để cùng đạt mục tiêu dạy học ngày càng cao” [9, tr 13] Những thông tin phản hồi của KT ĐG sẽ
giúp GV, nhà quản lý điều chỉnh quá trình DH và quản lý trong nhà trường để đạt được mục đích phát triển năng lực của HS và vì sự tiến bộ của người học
Vì vậy, “Kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học và có thể nói, kiểm tra đánh giá là động lực để thúc đẩy sự đổi mới quá trình dạy và học, đổi mới quản lý” [14, tr 29] Hoạt động KT ĐG và quá
trình DH có mối liên hệ biện chứng với nhau, một trong những tác động chính của KT ĐG là giúp quá trình DH ngày càng phát triển, ngược lại quá trình DH càng phát triển thì sẽ tác động đến hoạt động KT ĐG cùng phát triển theo
Tác giả Nguyễn Đức Chính và Đinh Thị Kim Thoa cho rằng: “Nếu xem chất lượng của quá trình dạy - học là sự “trùng khớp với mục tiêu” thì kiểm tra - đánh giá là cách tốt nhất để đánh giá chất lượng của quy trình đào tạo” Đánh giá tuân theo những chuẩn mực nhất định để đạt được mục tiêu phát triển hoạt động dạy - học và đảm bảo lợi ích cho người được đánh giá Chỉ có đánh giá khách quan mới có thể kích thích, tạo động lực người được đánh giá
và cho những kết quả đáng tin cậy làm cơ sở cho các quyết định quản lý khác Đánh giá không chỉ giúp người được đánh giá nhận ra hiện trạng cái mình đạt mà còn có niềm tin, động lực để phấn đấu khắc phục những điểm chưa phù hợp để đạt tới trình độ cao hơn Kiểm tra đánh giá phải đáp ứng được toàn bộ mục đích của đánh giá, các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá” [9, tr 36],
quan điểm trên về KT ĐG đã thể hiện tính toàn diện, coi KT ĐG là công cụ
Trang 11tốt nhất để ĐG chất lượng của quy trình đào tạo hay chất lượng của quá trình dạy học, trong khi đó quá trình dạy học trong nhà trường phổ thông là chủ đạo; việc ĐG phải đảm bảo tính quy chuẩn, tính khách quan, tính xác nhận và phát triển, tính toàn diện
1.3 Về thực tiễn
1.3.1 Thực tiễn kiểm tra đánh giá trong lớp học bậc phổ thông ở Việt Nam
Theo kết quả nghiên cứu cho Dự án phát triển GV trung học phổ thông
và trung cấp chuyên nghiệp của nhóm tác giả Đinh Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Ngọc Bích và Sái Công Hồng [24] đã chỉ rõ thực trạng KT ĐG trong lớp
học bậc phổ thông ở Việt Nam như sau: Thứ nhất, về công tác chỉ đạo và triển khai hoạt động đánh giá ở nhà trường phổ thông: Hoạt động KT ĐG ở
nhà trường phổ thông hiện nay mới chỉ thực hiện được một phần chức năng
sư phạm của nó đó là ĐG kết quả học tập và rèn luyện của người học Hoạt động KT ĐG hiện nay ngoài những hạn chế như chưa đáp ứng được yêu cầu toàn diện, đôi khi còn thiếu khách quan; việc cung cấp những thông tin quan trọng, có giá trị giúp nhà quản lý, người dạy và người học điều chỉnh trong hoạt động giáo dục còn rất hạn chế KT ĐG mới chỉ được xem như một kênh cung cấp thông tin về kết quả học tập một cách chưa toàn diện, chứ chưa được nhìn nhận như một công cụ, phương pháp giảng dạy và học tập hữu hiệu Những hệ quả này có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là: Chưa có văn bản pháp quy hướng dẫn một cách chi tiết cụ thể, định hướng đúng vai trò chức năng của hoạt động KT ĐG trong nhà trường; Trình độ chuyên môn về KT
ĐG của nhà quản lý các cơ sở, GV chưa đồng đều, chưa đáp ứng được việc thực hiện các yêu cầu của KT ĐG; Thái độ chưa đúng mực của một bộ phận
nhà quản lý và GV đối với tầm quan trọng của việc KT ĐG Thứ hai, về kết quả khảo sát cán bộ quản lý giáo dục về thực trạng kiểm tra đánh giá: Kiểm
tra ĐG HS còn mang nặng tính hình thức, chú trọng vào điểm số mà chưa chú
ý đến nâng cao chất lượng Các em HS mang tâm lí nặng nề trong KT, chưa xem đây như là hoạt động học tập và vì hoạt động học tập Ngoài ra, các em
Trang 12chưa được hỗ trợ để rút kinh nghiệm trong từng bài KT, từng nội dung ĐG để hoàn thiện, củng cố, bổ sung những kiến thức mà bản thân còn thiếu sót
1.3.2 Thực tiễn kiểm tra đánh giá tại trường trung học cơ sở Pom Lót
Huyện Điện Biên là một huyện trọng điểm về giáo dục của tỉnh Điện Biên Trong những năm học qua, ngành GD&ĐT huyện đã và đang thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục của Đảng, của Bộ GD&ĐT đề ra, như: Đổi mới phương pháp DH, đổi mới cách thi và ĐG kết quả học tập, đặc biệt là việc thực hiện phổ cập THCS và Tốt nghiệp THCS Theo báo cáo tổng kết ngành GD&ĐT huyện Điện Biên năm học 2012 – 2013 [21], về Phổ cập giáo dục THCS, huyện Điện Biên đạt 89,8% Về Tốt nghiệp THCS, toàn huyện đạt 98,4% Đây là sự cố gắng rất lớn của lãnh đạo ngành GD&ĐT huyện cũng như toàn thể đội ngũ GV cấp THCS trong huyện Điện Biên Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã làm được, báo cáo tổng kết ngành cũng chỉ rõ quản lý GD&ĐT huyện Điện Biên còn nhiều vấn đề bất cập như: Việc quản lý hoạt động dạy học; quản lý đội ngũ, quản lý cơ sở vật chất và quản lý tài chính
Trường THCS Pom Lót đã và đang thực hiện tốt những yêu cầu về đổi mới giáo dục mà ngành đã đề ra Mặc dù vậy, nhà trường đang gặp phải những vấn đề bất cập về quản lý như: Quản lý hoạt động xây dựng mục tiêu
DH và quản lý hoạt động KT ĐG kết quả học tập, đây là những vấn đề nổi cộm nhất làm cho xếp hạng của nhà trường cuối năm học 2012 - 2013 tụt từ
vị trí số 3 xuống vị trí số 11 Theo báo cáo tổng kết ngành GD&ĐT năm học
2012 – 2013 của trưởng phòng GD&ĐT huyện Điện Biên đã nói rõ hạn chế
của nhà trường như sau: “việc quản lý hoạt động dạy học của trường THCS Pom Lót còn rất nhiều hạn chế, trong đó đặc biệt vấn đề quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập có hạn chế lớn nhất” [22] Trên thực tế, các
năm học trước trường THCS Pom Lót là một trong những trường đứng trong
“top 3” về kết quả DH Vì sao kết quả DH của nhà trường lại tụt hạng nghiêm trọng như vậy? Để trả lời câu hỏi này và hỗ trợ trường hòa nhập được với chiến lược phát triển chung của giáo dục huyện cũng như lấy lại tốc độ phát
Trang 13triển của trường, quản lý hoạt động DH trong trường THCS Pom Lót cần phải được điều chỉnh và được quan tâm đúng mức, vấn đề quan trọng là nhà trường nên thực hiện tốt việc quản lý hoạt động KT ĐG trong lớp học, qua từng bài học của GV Với mục tiêu góp phần cải thiện được hiệu quả hoạt động DH tại trường THCS Pom Lót, để có thể thực hiện tốt mục tiêu đổi mới giáo dục mà ngành GD&ĐT huyện đề ra và có biện pháp quản lý hiệu quả các vấn đề còn hạn chế của nhà trường theo kết luận của trưởng phòng GD&ĐT huyện trong báo cáo tổng kết cuối năm, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường trung học cơ sở Pom Lót, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục”
Trang 14
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất được những biện pháp khả thi và phù hợp về quản lý quy trình
KT ĐG kết quả học tập tại trường THCS Pom Lót đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tổng quan cơ sở lý luận về quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập
trong trường phổ thông
3.2 Khảo sát thực trạng về quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập tại
trường THCS Pom Lót
3.3 Đề xuất được những biện pháp quản lý khả thi và phù hợp quy trình KT
ĐG kết quả học tập tại trường THCS Pom Lót đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động KT ĐG kết quả học tập của trường THCS Pom Lót
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập của HS ở trường THCS Pom Lót
5 Câu hỏi nghiên cứu
Trường THCS Pom Lót chưa có biện pháp quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập của HS phù hợp với yêu cầu đổi mới và hỗ trợ tích cực HS? Biện pháp quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập của HS nào phù hợp với yêu cầu đổi mới và hỗ trợ tích cực HS trong quá trình học tập, để hoạt động DH của trường THCS Pom Lót tăng hạng?
Trang 156 Giả thuyết khoa học
- Quản lý hoạt động DH ở trường THCS Pom Lót còn hạn chế, những nguyên nhân chủ yếu là do quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập không phù hợp với thực tiễn, chủ yếu mang tính hành chính; quản lý hoạt động KT ĐG trong lớp học, qua từng bài học không được thực hiện dẫn tới tình trạng hoạt động
DH của nhà trường tụt hạng
KT ĐG kết quả học tập phù hợp với mục tiêu là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động DH Có biện pháp quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập một cách khoa học, đồng bộ, phù hợp với mục tiêu DH và đặc biệt hỗ trợ GV và
HS điều chỉnh và khích lệ, tạo động cơ học tập của HS, giúp HS phát triển năng lực và không ngừng tiến bộ, giúp GV phát triển năng lực KT ĐG tại lớp học, sẽ góp phần giúp cải thiện hoạt động DH ở trường THCS Pom Lót, tiến tới đáp ứng được yêu cầu của người học và đổi mới giáo dục
8 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu khái niệm về quản lý, quy trình và quản lý quy trình, KT,
ĐG, kết quả học tập; tìm hiểu về ĐG trong lớp học; chức năng, vai trò yêu cầu của KT ĐG trong GD; những yêu cầu đổi mới KT ĐG kết quả học tập trong giai đoạn tới; các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý quy trình KT ĐG, nội dung quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập ở trường THCS
- Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo, ĐG của Phòng GD&ĐT huyện Điện Biên, của trường THCS Pom Lót ban hành, hồ sơ chuyên môn của các tổ chuyên môn về hoạt động KT ĐG kết quả học tập
Trang 168.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Xây dựng phiếu điều tra; tổ chức điều tra 100% cán bộ quản lý và GV và 59,8% HS trong trường THCS Pom Lót
- Phương pháp điều tra phỏng vấn nhóm: Tổ chức thảo luận với cán bộ quản
lý và các GV trao đổi về các chỉ số trong các phiếu điều tra và các biện pháp
8.3 Phương pháp xử lý thông tin
Ngoài các phương pháp nghiên cứu trên, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê, xử lý thông tin định tính, định lượng để phục vụ mục tiêu nghiên cứu đề tài
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể áp dụng cho các trường có vấn đề yếu kém tương tự như trường THCS Pom Lót hiện nay
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong trường phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập tại trường trung học cơ sở Pom Lót
Chương 3: Biện pháp quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập tại trường trung học cơ sở Pom Lót đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUY TRÌNH KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1 Sơ lược các kết quả nghiên cứu về quản lý quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở một số trường THCS của Việt Nam
Trong khoảng 5 năm gần đây, cùng với sự phát triển GD&ĐT, hoạt động nghiên cứu về KT ĐG và công tác quản lý hoạt động KT ĐG có những phát triển mới, được nhiều học giả quan tâm Qua tìm hiểu sơ bộ, có khoảng
30 tác giả nghiên cứu về lĩnh vực KT ĐG kết quả học tập và Quản lý hoạt động KT ĐG kết quả học tập Riêng tại trường Đại học Giáo dục có 8 tác giả
đã nghiên cứu về lĩnh vực Quản lý hoạt động KT ĐG kết quả học tập, như: Nguyễn Thị Minh Khoa [15], Phạm Văn Phong [20], Vũ Trọng Dũng [11], Nguyễn Thị Minh Thu [25], Trần Thị Kim Xuyến [29], Nguyễn Địch Long [16], Phạm Đức Mỹ [18], Nghiêm Nữ Diễm Thùy [26] Hầu hết các tác giả trên đều tập chung nghiên cứu về thực hiện các công việc trong hoạt động KT
ĐG như: việc lựa chọn hình thức, phương pháp KT ĐG; việc xây dựng ngân hàng đề KT; tổ chức KT; thanh KT các hoạt động KT ĐG kết quả học tập; việc ứng dụng CNTT vào hoạt động KT ĐG, sau đó đưa ra các biện pháp quản lý những công việc trên Trong 8 công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên thì có 3 công trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý quy trình KT ĐG hoặc có đề cập đến quy trình KT ĐG Trong nghiên cứu của ba tác giả này, chỉ có tác giả Nguyễn Thị Minh Thu nghiên cứu cụ thể về quản lý quy trình
KT ĐG môn Ngữ văn tại một trường THCS ở Hải Phòng Tác giả Nguyễn Thị Minh Thu cho rằng quản lý hoạt động KT ĐG bao gồm 3 mảng lớn là “chính sách về KT ĐG, quản lý hoạt động KT ĐG và quản lý nguồn lực KT ĐG”; hoạt động KT ĐG gồm 2 khâu diễn ra theo quy trình 6 bước (Xác định mục tiêu; xây dựng kế hoạch KT ĐG; chọn các phương pháp, hình thức KT phù hợp; tiến hành KT theo kế hoạch; báo cáo và sử dụng kết quả KT ĐG; ĐG
Trang 18toàn bộ quy trình KT ĐG), từ đó đề ra các nội dung quản lý công tác KT ĐG
ở trường THCS Tóm lại, luận văn của tác giả Nguyễn Thị Minh Thu đưa ra quy trình KT ĐG – sau đó điều tra việc thực hiện các bước trong quy trình như thế nào – và đề ra biện pháp quản lý những hạn chế trong việc thực hiện
KT ĐG, mà không đề cập đến vấn đề quản lý giúp nâng cao năng lực KT ĐG trong lớp học cho GV nhằm mục đích vì sự tiến bộ của người học Có 2 tác giả [11], [29] nghiên cứu về hoạt động KT ĐG trong đó cũng đề cập đến việc quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập cấp THCS Tác giả Vũ Trọng Dũng [11] viết về “Đổi mới quản lý hoạt động KT ĐG kết quả học tập của HS THCS ở huyện An Lão – Hải Phòng” Trong luận văn, tác giả Vũ Trọng Dũng
đã đưa ra được những nội dung quản lý hoạt động KT ĐG kết quả học tập, điều tra thực trạng về các khâu trong hoạt động KT ĐG: Lựa chọn viết câu hỏi; phân tích câu hỏi; tổ chức KT và chấm điểm Từ đó tác giả đưa ra biện pháp đổi mới là xây dựng một quy trình KT ĐG và đưa ra biện pháp quản lý quy trình này Tuy nhiên, các biện pháp quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập mà tác giả Vũ Dũng đưa ra chỉ tập chung chú trọng đến một vài khâu như: Quản lý công tác chuẩn bị trước KT, quản lý công tác coi, chấm KT, tăng cường hoạt động thanh tra Với những biện pháp đó phần nào giải quyết được vướng mắc khi thực hiện quy trình KT ĐG kết quả học tập tại địa bàn nghiên cứu mà chưa giúp GV trực tiếp thực hiện KT ĐG nâng cao năng lực thực hiện các kỹ thuật KT ĐG trong lớp học, qua từng bài học giúp người học nâng cao năng lực của mình Tác giả Trần Thị Kim Xuyến [29] viết về “Quản lý hoạt động KT ĐG kết quả học tập của HS trường THCS Ngô Quyền – Hải Phòng” Công trình nghiên cứu này có một yếu tố mới về lý luận so với các công trình trên đó là đề cập đến yếu tố “ĐG thực kết quả học tập của người học”, đề cập đến quy trình KT ĐG gồm 8 bước Phần điều tra thực trạng tác giả Trần Thị Kim Xuyến tiến hành điều tra việc thực hiện các thành tố trong hoạt động KT
ĐG Qua đó tác giả đã đưa các biện pháp quản lý việc thực hiện từng bước của quy trình Mặc dù tác giả Trần Thị Kim Xuyến đã đề cập đến yếu tố mới
Trang 19“ĐG thực” trong chương 1 nhưng chưa giải quyết triệt để yếu tố này trong chương 2 và 3, ngoài ra luận văn cũng định hướng được cho GV sử dụng kết quả học tập của HS để điều chỉnh hoạt động dạy học và cũng như các tác giả trên đều không đề cập đến yếu tố phát triển năng lực KT ĐG cho GV
Nhìn chung ba công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý quy trình KT ĐG đã đưa ra một số lý luận về KT ĐG và đề ra các biện pháp quản
lý để giải quyết những hạn chế nêu trong phần thực trạng ở địa bàn nhất định Song, các công trình nghiên cứu này chưa hệ thống toàn diện và rõ một số vấn
đề lý luận cơ bản của KT ĐG và quản lý qui trình KT ĐG, thiên nhiều về quản lý hành chính và đặc biệt chưa làm nổi bật về bản chất tích cực của KT
ĐG liên quan đến tiến bộ thực sự của người học và vấn đề phải phát triển năng lực sử dụng các kỹ thuật KT ĐG của GV trong lớp học, qua từng bài học giúp người học đạt mục tiêu học tập và phát triển năng lực toàn diện
Tham khảo những nghiên cứu trước và dựa vào các nghiên cứu mới về
lý luận và thực tiễn liên quan đến mục đích nghiên cứu của đề tài cũng như chiến lược đổi mới KT ĐG của Bộ GD&ĐT, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu một cách hệ thống về quy trình và quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập và xác định một số biện pháp phù hợp với yêu cầu và điều kiện thực tiễn Trên địa bàn huyện Điện Biên - tỉnh Điện Biên chưa có tác giả nào nghiên cứu về Biện pháp quản lý quy trình KT ĐG giá kết quả học tập của HS THCS Do vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn rất cần thiết trong công tác KT ĐG giá cấp THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra những giải thích về quản lý Tuy nhiên, có một số khái niệm về quản lý mà tác giả cảm thấy tâm đắc nhất đó là: Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc định
nghĩa“Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng
Trang 20các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [5, tr 9)] Định nghĩa này đã đề cập đến mục tiêu của tổ chức được thực
hiện thông qua các chức năng của quản lý Việc vận dụng các chức năng của quản lý để hoàn thành mục tiêu của tổ chức là một sự định hướng rất có hệ thống, theo đó xác định những công việc mà người quản lý phải làm và họ hải làm công việc đó như thế nào Hoạt động quản lý không chỉ dừng lại ở việc thực hiện tốt các chức năng của quản lý mà cần phải đảm bảo sự ổn định và luôn đổi mới Tác giả Đặng Quốc Bảo cũng đã chỉ rõ yếu tố này trong định
nghĩa về quản lý của mình như sau: “Hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau; trong đó, “quản” có nghĩa là duy trì và ổn định hệ, “lý” có nghĩa là đổi mới hệ” [2, tr 5] Cuốn từ
điển Giáo dục học coi việc quản lý là sự tác động giữa chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý để đạt được mục tiêu của tổ chức.“Quản lý là tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) nhằm đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức” [23, tr
326] Với một môi trường giáo dục luôn biến động như hiện nay, tác giả Đặng
Xuân Hải xác định:“Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động” [12, tr 7] Mặc dù có nhiều khái niệm
về quản lý, nhưng có thể tóm lại: Quản lý là tác động có định hướng, có mục đích, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và KT nhằm làm cho sự vận hành của tổ chức được ổn định, làm cho nó phát triển đạt được mục tiêu đề ra và luôn đổi mới trong một môi trường luôn biến động
Trang 211.2.2 Quy trình và quản lý quy trình
Nhận thức về quá trình làm ra một sản phẩm của con người ngày càng tiến bộ, chính từ những kinh nghiệm từ quá trình lao động sản xuất nhiều nhà nghiên cứu đã xây dựng lên những quy trình để thực hiện công việc sao cho sản phẩm/dịch vụ tạo ra có chất lượng ổn định, cải tiến liên tục kết quả thực hiện và tăng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng, bên cạnh đó người tạo ra sản phẩm/dịch vụ mong muốn tốn ít chi phí nhất và tạo ra sản phẩm chất lượng nhất Nổi bật nhất đó là bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2008, trong
bộ tiêu chuẩn này, quy trình được định nghĩa: “Quy trình được dùng để chỉ một ‘cách thức’ hay ‘phương thức’ thực hiện một quá trình/công việc” [27]
Nói đến quy trình là nói đến trình tự của các hoạt động, phương pháp, trách nhiệm và quyền hạn, năng lực cần thiết, thời gian Có thể nói Quy trình là một phương thức thực hiện công việc theo một trình tự nhất định nhằm đảm bảo công việc được thực thi một cách hiệu quả nhất để đạt tới mục tiêu Quản lý quy trình là tác động có định hướng, có mục đích, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm giúp quá trình thực hiện công việc vận hành theo một trình tự nhất định để đạt được mục tiêu đề
ra và quy trình đó được cải tiến liên tục trong một môi trường luôn biến động
1.2.3 Kiểm tra
Kiểm tra là một trong những chức năng của quy trình quản lý Trong mọi lĩnh vực từ sản xuất, kinh doanh đến giáo dục thì KT được xem là khâu rất quan trọng, bởi mỗi sản phẩm sau khi hoàn thành nếu không được KT thì những người liên quan đến việc tạo ra sản phẩm sẽ không thể biết sản phẩm của mình làm ra có đảm bảo theo mục tiêu đề ra hay không Vì vậy, đưa ra một triết lý về KT cũng là một việc làm hết sức quan trọng Rất nhiều tác giả
đã đưa ra quan điểm về KT, như: Tác giả Nguyễn Đức Chính cho rằng: “Đo lường (kiểm tra) là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng và định tính về các đại lượng đặc trưng của sản phẩm” [8, tr 18] Với quan điểm
này có thể hiểu KT là đo lường và điều chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo
Trang 22rằng các mục tiêu và các kế hoạch vạch ra để thực hiện các mục tiêu này đã
và đang được hoàn thành Tác giả Trần Kiều nhận định về mối liên hệ giữa thực tiễn với những nhiệm vụ ĐG, phát huy yếu tố tích cực, hạn chế những
sai lệch để hệ thống đạt tới trình độ cao hơn “Kiểm tra là quá trình xem xét thực tiễn để thực hiện các nhiệm vụ đánh giá thực trạng, khuyến khích các nhân tố tích cực, phát hiện những sai lệch và đưa ra những quyết định điều chỉnh nhằm giúp đối tượng hoàn thành nhiệm vụ và góp phần đưa toàn bộ hệ thống được quản lý tới một trình độ cao hơn” [13, tr 31] Hay theo tác giả Nguyễn Công Khanh, thì “Kiểm tra là quá trình đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác lập để phát hiện những ưu điểm và hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp giúp tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu” [13, tr 33]
Từ một số định nghĩa trên, nội hàm khái niệm KT bao gồm: Xác lập các tiêu chuẩn; đo lường kết quả để phát hiện ưu điểm, nhược điểm; đưa ra các giải pháp phù hợp (phát huy ưu điểm, điều chỉnh sai lệch và sửa chữa sai lầm); mục đích của KT là để tổ chức vận hành theo đúng mục tiêu Tóm lại:
KT là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng và định tính về các đại lượng đặc trưng của sản phẩm để phát hiện những ưu điểm và hạn chế nhằm đưa ra những quyết định phù hợp kịp thời, giúp đối tượng được KT phát huy
ưu điểm, hạn chế nhược điểm và hoàn thành tốt mục tiêu góp phần đưa tổ chức đạt tới một trình độ cao hơn
1.2.4 Đánh giá
Có nhiều quan điểm về ĐG nhưng khái niệm của tác giả Nguyễn Đức
Chính đầy đủ và thuyết phục hơn cả: “Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được
ở mức độ nào Đánh giá là quá trình thu thập thông tin về năng lực, phẩm chất của một đối tượng và sử dụng thông tin đó để đưa ra những quyết định
về đối tượng được đánh giá” [8, tr 26] Với khái niệm trên, tác giả Nguyễn
Đức Chính xác định những yếu tố về năng lực, phẩm chất của một đối tượng
Trang 23so với mục tiêu đã đề ra và cuối cùng là đưa ra quyết định về đối tượng được
ĐG Như vậy: ĐG là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm đưa ra nhận định về năng lực và phẩm chất của sản phẩm giáo dục căn cứ vào các thông tin định tính và định lượng Trên cơ sở đó đưa ra những phán xét, quyết định về đối tượng được ĐG theo mục tiêu, chuẩn mực
và nêu ra những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh, giúp đỡ đối tượng được ĐG
tiến bộ hơn Có một số loại ĐG: ĐG đầu vào, ĐG chẩn đoán, ĐG tiến trình,
ĐG tổng kết
1.2.5 Kết quả học tập
Kết quả học tập là cơ sở cho việc ĐG, muốn đưa ra được những ĐG chuẩn xác về đối tượng thì phải có kết quả học tập chính xác, muốn có kết quả học tập chính xác thì phải hiểu thế nào là kết quả học tập? Tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc đã đưa ra cách hiểu về kết quả học tập như sau:
“Kết quả học tập là một khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệm khác nhau trong thực tế cũng như trong khoa học (1) Đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt, được xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định (2) Đó còn là mức độ thành tích đã đạt của một học sinh so với các bạn học khác
Theo quan niệm thứ nhất, kết quả học tập là mức thực hiện tiêu chí; Với quan niệm thứ hai, đó là mức thực hiện chuẩn” [17, tr 34] Với cách hiểu như trên
thì kết quả học tập được coi là thành tích đạt được của chủ thể so với mục tiêu hoặc so với bạn học khác Cụ thể hơn, tác giả Nguyễn Đức Chính coi kết quả học tập là mức độ kiến thức, kỹ năng hay nhận thức trong một lĩnh vực nào
đó: “Kết quả học tập là mức độ kiến thức, kỹ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực (môn học) nào đó” [8, tr 21] Kiến thức, kỹ năng hay
nhận thức là một yếu tố rất quan trọng trong dạy học, suy cho cùng thì mục tiêu của quá trình dạy học là trang bị cho HS một lượng kiến thức nhất định
và rèn những kỹ năng để HS có thể phát triển năng lực của mình Tác giả
Trang 24Trần Kiều kết luận: “Dù hiểu theo nghĩa nào thì kết quả học tập cũng đều thể hiện ở mức độ đạt được các mục tiêu của dạy học, trong đó bao gồm 3 mục tiêu lớn là: nhận thức, hành động, xúc cảm Với từng môn học thì các mục tiêu trên được cụ thể hóa thành các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và thái độ” [13, tr 24] Khái niệm này đã cũng đề cập đến mức độ đạt được các mục
tiêu của dạy học và coi mục tiêu dạy học là những kiến thức, kỹ năng và thái
độ Như vậy, cho dù đứng ở góc độ thực tế hay khoa học thì: Kết quả học tập
là mức độ đạt được mục tiêu dạy học (về kiến thức, kỹ năng, thái độ) của người học, có thể định lượng trong một môn học nào đó
1.3 Đánh giá trong lớp học
Đánh giá trong lớp học là loại hình ĐG thường xuyên, diễn ra trong quá
trình học tập, với phạm vi của một lớp học do GV tiến hành bằng nhiều cách thức đa dạng khác nhau Các cách thức này còn được gọi là các chiến lược để kiểm soát việc học của HS được gọi là “Các kĩ thuật ĐG trong lớp học” ĐG
ở đây không mang nghĩa là các kì thi xếp loại, mà là tập hợp các chiến lược dạy học nhằm mục đích nâng cao chất lượng học tập của HS Các kỹ thuật
ĐG trong lớp học được sử dụng trong suốt quá trình dạy học, từ khi người học bắt đầu học một nội dung/chủ đề mới Các kĩ thuật này được sử dụng không nhằm mục đích để xếp hạng, chủ yếu nhằm để thu thập các thông tin phản hồi từ HS về những gì họ đã học được và điều gì họ thấy băn khoăn về nội dung của bài học, giúp HS học tốt hơn Người dạy sử dụng các kĩ thuật
ĐG trong lớp học như là một biện pháp có tính hệ thống để tìm hiểu mức độ tiếp thu kiến thức của người học và sau đó sẽ sử dụng những thông tin có được để cải tiến chất lượng giảng dạy ĐG trong lớp học để đạt được mục đích vì sự tiến bộ của người học cần đảm bảo các nguyên tắc:
- Tạo điều kiện nâng cao khả năng tự ĐG của người học;
- Khuyến khích GV và đồng nghiệp trao đổi về quá trình dạy học;
Trang 25- Xác định rõ mục đích, tiêu chí và tiêu chuẩn kì vọng;
- Cung cấp thông tin về sự thiếu hụt giữa năng lực hiện tại và năng lực mong muốn;
- Cung cấp những thông tin có chất lượng cho người học về việc học của họ;
- Khuyến khích sự tự tôn trọng bản thân và những niềm tin mang tính động lực tích cực cho người học;
- Cung cấp thông tin cho GV có thể sử dụng giúp định hướng hoạt động dạy
Sử dụng các kĩ thuật ĐG sẽ góp phần kích thích năng lực sáng tạo trong dạy học và giúp người dạy tìm ra biện pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy Thông tin phản hồi từ người học chính là động lực để người dạy tìm tòi, khám phá những phương pháp dạy học mới nhằm mục đích giúp người học tiến bộ
* Các kỹ thuật ĐG trong lớp học:
1 ĐG những thông tin thu được, sự hồi tưởng, sự hiểu biết;
2 ĐG kỹ năng phân tích và tư duy phê phán;
3 ĐG kỹ năng tổng hợp và tư duy sáng tạo;
4 ĐG kỹ năng giải quyết vấn đề;
5 ĐG kỹ năng ứng dụng và năng lực thực hiện;
6 ĐG nhận thức của HS về thái độ và giá trị của họ;
7 ĐG sự nhận thức của người học về việc học;
8 ĐG việc học liên quan đến môn học và nghiên cứu kỹ năng, phương pháp và hành vi học tập;
9 ĐG phản hồi của người học đối với GV và phương pháp dạy;
10 ĐG phản hồi của người học về các hoạt động của lớp học, bài tập và tài liệu
Trang 26Sử dụng các kĩ thuật ĐG trong lớp học đem lại lợi ích cho cả HS và GV
Sử dụng những kĩ thuật ĐG này sẽ là minh chứng để HS thấy được sự quan tâm của GV tới việc học của họ, thực hiện vai trò của người dạy là tạo điều kiện để HS tiến bộ, đạt thành tích tốt hơn trong học tập Bên cạnh đó, việc sử dụng các kĩ thuật ĐG cũng giúp GV nâng cao chất lượng dạy học, phát triển năng lực nghề nghiệp của bản thân, hiểu về việc dạy của mình và trở nên hứng thú hơn trong dạy học Tất cả đều nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học và vì sự tiến bộ của người học
1.4 Chức năng, vai trò và yêu cầu của đánh giá trong giáo dục
1.4.1 Chức năng của đánh giá trong giáo dục
Chức năng định hướng: ĐG trong giáo dục có nhiệm vụ chỉ ra được
bức tranh thực trạng của giáo dục và sự phát triển của cá nhân trong nền giáo dục ấy Từ thực trạng, người ta mới tính đến các bước đi tiếp theo phải như thế nào Chính vì vậy ĐG giữ chức năng định hướng cho giáo dục ĐG trong giáo dục được tiến hành trên cơ sở của mục tiêu giáo dục Nó tiến hành phán đoán độ sai lệch giữa hiện trạng thực tế và mục tiêu đề ra trước đó, làm khoảng cách này ngày một ngắn hơn
Chức năng kích thích, tạo động lực: ĐG là một phần không thể thiếu
của mọi hoạt động xã hội ĐG trong giáo dục có thể kích thích tinh thần học hỏi và vươn lên không ngừng của những đối tượng được ĐG, từ đó tạo ra một
môi trường cạnh tranh chính thức hoặc phi chính thức
Trong quá trình quản lý dạy và học, căn cứ vào đặc điểm công việc và qui định hoạt động của ngành giáo dục chúng ta có thể sử dụng ĐG để tăng cường tinh thần cạnh tranh giữa các đối tượng được ĐG, từ đó có thể giúp cho những đối tượng này thực hiện được những mục tiêu đề ra trong tương lai
Chức năng sàng lọc, lựa chọn: Để thực hiện tốt vai trò cá biệt hóa
trong giáo dục, cần có sự ĐG để sàng lọc và lựa chọn các cá nhân theo mục tiêu giáo dục phù hợp ĐG cần phải dựa vào những mục tiêu của nhà giáo dục
Trang 27và các chuẩn ĐG phải được xác định một cách khoa học, khi đó ĐG mới thực
hiện tốt chức năng sàng lọc và lựa chọn
Chức năng cải tiến, dự báo: Kết quả ĐG trong giáo dục từ nhiều góc
độ và trong nhiều giai đoạn khác nhau có thể cung cấp những dự báo về xu thế phát triển của giáo dục Và cũng nhờ có ĐG mới phát hiện được những vấn đề tồn tại trong giáo dục, từ đó lựa chọn và triển khai các biện pháp thích
hợp để bù đắp những thiếu hụt hoặc loại bỏ những sai sót không đáng có 1.4.2 Vai trò của đánh giá trong giáo dục
1.4.2.1 Đánh giá là một bộ phận quan trọng của quản lý giáo dục và là công
cụ của các nhà quản lý giáo dục
Nói đến quản lý giáo dục là nói đến quá trình tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát quá trình giáo dục và ĐG là một trong những phương thức của kiểm soát Hơn nữa, có thể nói rằng bất kì khâu nào của hoạt động quản lý giáo dục cũng phải có ĐG bởi ĐG giúp quản lý chất lượng giáo dục, làm cho giáo dục đạt được mục tiêu đặt ra Chính vì vậy ĐG là khâu tất yếu và quan trọng nhất của quản lý Hơn nữa, bản chất của ĐG là xác định xem mục tiêu của chương trình giáo dục có đạt được hay không và nếu đạt được thì ở mức độ nào Các thông tin khai thác được từ kết quả KT - ĐG sẽ rất hữu ích cho việc điều chỉnh nội dung, cách thức và điều kiện đạt mục tiêu Như vậy ĐG giúp các nhà quản lý có những thay đổi cần thiết trong việc tổ chức quá trình giáo dục như điều chỉnh chương trình đào tạo, nội dung đào tạo, hình thức tổ chức dạy – học Nếu xem chất lượng của quá trình dạy - học là sự “trùng khớp với mục tiêu” thì KT - ĐG là cách tốt nhất để ĐG chất lượng của qui trình đào tạo, giáo dục ĐG và sử dụng kết quả ĐG sẽ giúp nhà quản lý đưa ra các quyết định quản lý cần thiết Rõ ràng, ĐG sẽ giúp các nhà quản lý giám sát được quá trình giáo dục có đạt mục tiêu không Chỉ khi có ĐG, các nhà quản lý giáo dục mới có được thông tin phản hồi, từ đó mới kịp thời phát hiện ra các vấn đề để giải quyết chúng
Trang 281.4.2.2 Đánh giá là công cụ hành nghề quan trọng của người giáo viên
Giáo viên là đội ngũ trực tiếp tạo ra sản phẩm giáo dục Muốn xác định sản phẩm của mình như thế nào thì người GV phải tiến hành ĐG Kết quả ĐG
sẽ là nguồn thông tin vô cùng quan trọng để có những điều chỉnh kịp thời những nội dung giáo dục cần thiết GV, các nhà giáo dục và các bậc phụ huynh cần phải quan tâm đến việc ĐG và kết quả ĐG HS Các nhà quản lý trường học và lãnh đạo các cấp cũng cần quan tâm đến kết quả ĐG
1.4.3 Những yêu cầu đối với việc đánh giá trong giáo dục
Để ĐG thực hiện được các chức năng quan trọng như đã nêu trên, việc
ĐG phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Tính qui chuẩn: Mục tiêu lớn nhất của ĐG trong giáo dục là tạo động
lực cho sự phát triển toàn diện nhân cách người học Chính vì vậy ĐG, dù theo bất kỳ hình thức nào không những đảm bảo mục tiêu phát triển hoạt động dạy học và giáo dục nói chung, ĐG còn phải đảm bảo lợi ích cho người được
ĐG Muốn vậy ĐG phải dựa vào những chuẩn nhất định Chuẩn ĐG có thể được xây dựng theo những cấp độ khác nhau tùy vào mục đích ĐG Chuẩn
ĐG có thể được xây dựng ở cấp độ quốc gia hoặc cấp độ lớp học Dù ở cấp
độ nào, các chuẩn này phải được công bố công khai đối với người được ĐG hoặc người bảo hộ Những qui định này phải cung cấp cho đối tượng được
ĐG đầy đủ, chi tiết, rõ ràng từ mục tiêu đến hình thức ĐG cũng như cách tổ
chức ĐG
Tính khách quan: Tính khách quan là yêu cầu đương nhiên của mọi
hình thức ĐG ĐG khách quan mới có thể kích thích, tạo động lực cho người được ĐG và cho những kết quả đáng tin cậy làm cơ sở cho các quyết định quản lý khác Nếu ĐG thiếu khách quan, kết quả ĐG không có ý nghĩa đối với giáo dục, nó có thể làm cho giáo dục đi chệch hướng, nó triệt tiêu động lực phát triển, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ sự phát triển xã hội Để ĐG trở nên khách quan và phù hợp, những người “cầm cân nẩy mực” luôn thấm
Trang 29nhuần tư tưởng đạo đức quan trọng là tất cả vì sự tiến bộ và phát triển của chính cá nhân người được ĐG, không bị chi phối hay lệ thuộc bởi các yếu tố khác Ngoài ra, trước khi đưa ra kết quả ĐG nào đó, người ĐG cần phải đặt đối tượng trong tổng thể các mối quan hệ khác nhau, trong điều kiện và hoàn cảnh của chúng Bên cạnh đó, về công tác quản lý, cần xây dựng một qui trình
ĐG chặt chẽ, nghiêm chỉnh đảm bảo an toàn tất cả các khâu của qui trình ấy
Tính xác nhận và phát triển: ĐG phải chỉ ra những kết quả đáng tin cậy
khẳng định hiện trạng của đối tượng so với mục tiêu, tìm ra nguyên nhân của các sai lệch và có biện pháp khắc phục Nếu ĐG đảm bảo tính qui chuẩn và khách quan thì kết quả ĐG ấy sẽ xác nhận được mức độ phát triển của cá nhân người được ĐG Tuy nhiên tính xác nhận của kết quả ĐG chỉ tương ứng với thời điểm ĐG Mọi kết quả ĐG không mang tính vĩnh hằng, nhưng nó có thể dự báo sự phát triển tiếp theo ĐG trong giáo dục phải mang tính phát triển ĐG không chỉ giúp người được ĐG nhận ra hiện trạng cái mình đạt mà còn giúp hình thành con đường phát triển đi lên như thế nào, tạo động lực cho người được ĐG phấn đấu khắc phục những điểm chưa phù hợp để đạt tới
trình độ cao hơn cũng như phát triển tốt hơn nữa những ưu điểm của mình
Tính toàn diện: Tính toàn diện là một yêu cầu của giáo dục, nhằm phát
triển một cách toàn diện các đối tượng giáo dục, do vậy KT ĐG cũng phải quán triệt nguyên tắc này Tính toàn diện được hiểu là nội dung của việc KT
ĐG phải đáp ứng toàn bộ mục đích của ĐG, các tiêu chuẩn, tiêu chí ĐG trong các lĩnh vực nhận thức, tình cảm cũng như kỹ năng Tính toàn diện trong KT
ĐG nhằm phản ánh tính toàn diện của giáo dục, đồng thời định hướng để mọi hoạt động giáo dục phải được tiến hành một cách toàn diện
1.5 Quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập
KT ĐG kết quả học tập là một trong những khâu quan trọng nhất của quy trình DH KT ĐG định hướng cho toàn bộ quá trình DH, khuyến khích,
Trang 30tạo động lực cho người học, giúp người học tiến bộ không ngừng KT ĐG còn cung cấp cho GV, nhà quản lý những thông tin phản hồi hữu ích, giúp điều chỉnh quá trình DH và quản lý để cùng đạt mục tiêu DH ngày càng cao Như vậy, để có thể tổ chức các kì KT ĐG bậc phổ thông đạt được mục đích động viên, khuyến khích người học, định hướng cho quá trình DH và điều chỉnh quá trình DH tiến tới mục tiêu cuối cùng, thì việc xác định các mục tiêu trung gian cho từng bài, từng chương của môn học là công việc có ý nghĩa quyết định Việc xác định đúng mục tiêu nhận thức, kĩ năng, thái độ như vậy không những là cơ sở quan trọng cho KT ĐG mà còn định hướng cho việc tổ chức nội dung DH, lựa chọn hình thức tổ chức DH (ở nhà, trên lớp), lựa chọn, kết hợp các phương pháp, phương tiện, công cụ để đạt mục tiêu DH Cho nên,
để thực hiện thành công một kỳ KT ĐG kết quả học tập của HS thì mỗi cán
bộ quản lý phải nghĩ đến điều đầu tiên quan trọng nhất là thực hiện nó theo quy trình nào? Việc xây dựng một quy trình KT ĐG là rất quan trọng, bởi qua
đó sẽ giúp cho GV và HS có thể định hướng được là phải làm công việc theo các bước như thế nào Hơn nữa, giúp cán bộ quản lý đưa ra được những quyết định quản lý hiệu quả và dễ dàng hơn
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính [10], quy trình tổ chức một kỳ KT ĐG kết quả học tập ở bậc trung học bao gồm 10 bước cơ bản:
Trang 31Bước 5 Sau khi có đủ các câu hỏi ứng với các nội dung và bậc nhận thức tương ứng, người phụ trách tổ hợp các câu hỏi thành đề KT đúng với tỉ
lệ đã quy định trong ma trận nội dung – bậc nhận thức;
bỏ sót kiến thức Tuy nhiên theo yêu cầu đổi mới KT ĐG theo định hướng phát triển năng lực HS thì cần phải có một quy trình KT ĐG phù hợp, đảm bảo phát huy năng lực của HS mà cốt lõi là việc biên soạn đề KT
Kết hợp các bước của tác giả Nguyễn Đức Chính và Bộ GD&ĐT, tôi tổng hợp thành một quy trình tổ chức một kỳ KT ĐG kết quả học tập (KT ĐG thường xuyên, định kì) như sau:
Bước 1 Xác định mục đích KT ĐG
Trang 32Về vấn đề này tác giả bài viết đồng tình với quan điểm của tác giả Nguyễn Đức Chính Mục đích KT ĐG là: Cho HS (và phụ huynh HS), cho
GV và cho nhà quản lý Tuy nhiên cần bổ xung thêm vào mục đích KT ĐG cho HS là: KT ĐG phải giúp HS phát huy tính sáng tạo và phát triển năng lực của bản thân Phổ biến công khai mục đích KT ĐG cho toàn bộ GV, HS được biết để định hướng cho GV có cách dạy, HS có cách học sao cho phù hợp Xác định mục đích KT ĐG của cán bộ quản lý, GV là thành tố đầu tiên quyết định sự thành công việc tổ chức một kỳ KT ĐG, bên cạnh đó phần nào giúp
GV định hướng cho việc biên soạn một đề KT Khi nhận thức rõ được vấn đề này thì lý trí của mỗi cán bộ quản lý, mỗi GV, HS sẽ tự điều khiển hành động của mình sao cho phù hợp
Bước 2 Biên soạn đề KT
Đề KT là một công cụ chính thức cho việc ĐG kết quả học tập, vì vậy muốn có những ĐG khách quan, đầy đủ về kết quả học tập của HS thì công cụ được tạo ra từ bước này phải đảm bảo những yêu cầu như: Đa dạng, toàn diện, có sự liên hệ thực tế, tiếp cận năng lực của HS, giúp định hướng cho toàn bộ quá trình DH, khuyến khích, tạo động lực cho người học, giúp người học tiến bộ không ngừng, đòi hỏi sự sáng tạo của HS, giúp HS chủ động trong
KT ĐG, phù hợp với đối tượng HS Việc biên soạn đề KT được chia thành các bước như sau:
Trang 33Với hình thức đề KT, tác giả không lựa chọn hình thức KT 100% TNKQ bởi lý do: Đề thi dạng này có sẵn các phương án trả lời nên khó
ĐG được quá trình suy nghĩ để đi đến kết quả của HS; khuyến khích
HS đoán mò đáp án bằng biện pháp may-rủi; Việc soạn thảo đề thi tốn rất nhiều thời gian, công phu sẽ làm ảnh hưởng lớn đến thời gian giảng dạy của GV; kết quả bài KT không ĐG được tính sáng tạo của HS; Hơn nữa, theo xu hướng mới KT ĐG định hướng phát triển năng lực
HS là quan tâm vào kỹ năng, tính sáng tạo và năng lực của HS, nên với hình thức KT sử dụng 100% TNKQ chủ yếu quan tâm đến số lượng kiến thức được KT sẽ không đảm bảo yếu tố định hướng năng lực HS trong thời gian tới
Bước 3 Thiết lập ma trận đề KT (bảng mô tả tiêu chí của đề KT) [3];
Bước 4 Biên soạn câu hỏi KT theo ma trận [3];
Lưu ý: Ở bước này cần biên soạn một thư viện câu hỏi cho mỗi
cấp độ nhận thức (VD: với mỗi chuẩn kiến thức kỹ năng được lựa chọn
để KT ghi trong ma trận, GV sẽ phải biên soạn 5 - 10 câu hỏi) Mã hóa câu hỏi;
Khi biên soạn câu hỏi GV đặc biệt lưu ý: Không cho những câu hỏi tái hiện kiến thức như: Nêu định nghĩa/khái niệm/tính chất ., viết công thức hay những câu chỉ đòi hỏi HS học thuộc là có thể trả lời được Cần có những câu hỏi yêu câu HS phải tư duy, vận dụng kiến thức, sáng tạo thì mới trả lời được, mỗi đề KT phải có ít nhất 20% câu hỏi
mở (là những câu hỏi yêu cầu HS phải vận dụng kiến thức nhiều môn học để giải quyết những tình huống thực tiễn), tỷ lệ % câu hỏi mở phải được tăng dần theo thời gian trong năm học và tăng dần trong cấp học Như vậy với đề KT được biên soạn như trên thì đòi hỏi HS phải có kỹ năng, năng lực thực sự mới có thể làm bài đảm bảo yêu cầu
Bước 5 Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm [3];
Trang 34Mã hóa đáp án tương ứng với câu hỏi Lưu trữ trong ngân hàng câu hỏi Bước 6 Thiết lập đề KT [3];
Ở bước này GV chỉ cần dựa vào tỉ lệ câu hỏi đã xác định trong ma trận
và lựa chọn câu hỏi trong thư viện và đáp án đã được xây dựng ở bước
3 để tạo thành một đề KT hoàn chỉnh
Bước 7 Xem xét lại việc biên soạn đề KT [3];
Đề KT sau khi đã được soạn song cần phải được đưa ra bảo vệ trước tổ chuyên môn, phân tích đề bằng cách làm bài với tư cách là HS Trong quá trình làm bài sẽ phát hiện những sai só có thể và độ dài của bài KT (thông thường, GV cần 2/5 đến 1/2 thời gian so với thời lượng làm bài của HS là phù hợp)
Bước 3 In ấn đề, chuẩn bị tâm thế, điều kiện khác cho HS làm bài KT [10] Bước 4 Tổ chức cho HS làm bài KT
Nhà trường nên thành lập tổ khảo thí bao gồm hiệu phó chuyên môn làm trưởng ban, các tổ trưởng chuyên môn, tổ khảo thí có trách nhiệm tổ chức các buổi KT đảm bảo buổi KT diễn ra trung thực, khách quan, đúng quy chế Việc giám sát các lớp khi đang làm bài KT là hết sức quan trọng bởi, nếu giám thị coi KT dễ dãi thì HS sẽ nảy sinh những việc làm tiêu cực, từ đó sẽ dẫn đến sai lệch kết quả KT ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc ĐG quá trình
DH của GV và HS Với mỗi tiết KT nhà trường nên phân công GV coi chéo (GV không coi môn lớp mình dạy), tổ chức cho cả khối KT, cùng thời gian với bốn mã đề/ 1 lớp trở lên
Bước 5 Chấm bài
Sau khi tổ chức KT song chậm nhất 1 tuần bài KT 45 phút phải chấm song và 4 ngày đối với bài KT 15 phút Việc chấm bài phải được phân công chấm chéo (GV không chấm môn lớp mình dạy), GV chấm bài tại phòng hội đồng đối với bài KT 45 phút trở lên và cần được giám sát chặt chẽ bởi tổ khảo
Trang 35thí, việc làm này sẽ giải quyết được tình trạng GV mang bài về nhà chấm và sửa bài KT cho HS Quan trọng hơn là lời phê của GV Tránh việc chỉ cho điểm, hoặc những lời phê “vô hồn” như tốt, khá Sau khi chấm, tổ khảo thí tiến hành chấm thanh tra ít nhất 5% mỗi bài/lớp Cần có những ĐG về việc chấm KT, điều chỉnh (nếu có) trước khi cho GV trả bài
Bước 6 Trả bài và nhận xét
Việc trả bài, nhận xét phải thực hiện ngay tiết kế tiếp gần nhất sau khi chấm thanh tra song Đây là khâu hết sức quan trọng của quy trình KT ĐG, vì vậy ngoài những việc cần làm như: Chữa đề KT, nhận xét từng HS có những lời động viên, khuyến khích thỏa đáng, đảm bảo giữ bí mật về điểm số cho
HS, khi GV thực hiện bước này cần chú ý đến những ý kiến phản hồi của HS
về cách làm, về điểm số để điều chỉnh (nếu có) và rút kinh nghiệm cho những lần sau
Bước 7 Ghi chép điểm và nhận xét cho từng HS trong sổ điểm của GV, lưu ý các trường hợp đặc biệt (đặc biệt xuất sắc, kém v.v…) Nhập điểm vào sổ
“gọi tên và điểm”, nhập vào phần mềm quản lý điểm trên máy tính Việc nhập điểm này phải được thực hiện ngay, chậm nhất một ngày sau khi GV trả bài song Định kỳ 1 lần/tháng tổ khảo thí phải KT “sổ gọi tên và ghi điểm”, phần mềm quản lý điểm có khớp với điểm trên bài KT hay không để có hướng khắc phục và xử lý kịp thời
Bước 8 Thông báo kết quả KT ĐG cho phụ huynh HS
Là một thành tố cũng không kém phần quan trọng trong quy trình KT
ĐG có tác động đến nhân tố phụ huynh HS Với kết quả học tập và nhận xét của GV về HS, phụ huynh sẽ có thông tin kịp thời nhất về con mình, để cùng phối hợp với nhà trường có những biện pháp phù hợp giúp HS tiến bộ không ngừng Việc này sẽ tác động đến phương pháp học ở nhà của HS
Trang 36GV viết phiếu ghi kết quả điểm và nhận xét về nhận thức, kỹ năng, thái
độ, năng lực của HS về môn học mình đảm nhiệm cho từng HS sau mỗi bài
KT Phụ huynh HS cần có phản hồi đến GV môn đó qua nhiều kênh thông tin khác nhau
Với các bước trong quy trình KT ĐG trên đây tác giả hy vọng sẽ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động DH của trường THCS Pom Lót đạt được mục tiêu
Quy trình KT ĐG còn cung cấp cho GV, nhà quản lý những thông tin phản hồi hữu ích, giúp điều chỉnh quá trình KT ĐG và quản lý để cùng đạt mục tiêu DH ngày càng cao Như vậy, để có thể tổ chức các kì KT ĐG bậc phổ thông đạt được mục đích động viên, khuyến khích người học, định hướng phát triển năng lực của HS thì việc xác định các mục tiêu trung gian cho từng bài, từng chương của môn học là công việc có ý nghĩa quyết định Việc xác định đúng mục tiêu nhận thức, kĩ năng, thái độ như vậy không những là cơ sở quan trọng cho KT ĐG mà còn định hướng cho việc tổ chức nội dung DH, lựa chọn hình thức tổ chức DH (ở nhà, trên lớp), lựa chọn, kết hợp các phương pháp, phương tiện, công cụ để đạt mục tiêu DH Cho nên, để thực hiện thành công một kỳ KT ĐG kết quả học tập của HS thì mỗi cán bộ quản lý phải nghĩ đến điều đầu tiên quan trọng nhất là thực hiện nó theo quy trình nào?
1.6 Đặc điểm kiểm tra đánh giá kết quả học tập học sinh trung học cơ sở
Hiệu trưởng nhà trường xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo
và KT, giám sát ở tất cả các khâu trên cơ sở tuân thủ Thông tư số 58/2011/TT-BGD&ĐT, ngày 12/12/2011 của Bộ GD&ĐT [4] và các văn bản
có liên quan; GV giảng dạy là người chủ động thực hiện tất cả các khâu, từ khâu xác định mục tiêu của KT đến khâu cuối cùng là ghi chép kết quả và tổ chức ĐG HS, cụ thể:
1.6.1 Về mục đích, căn cứ, nguyên tắc và hình thức đánh giá
ĐG chất lượng giáo dục đối với HS THCS sau mỗi học kỳ, mỗi năm học nhằm thúc đẩy HS rèn luyện, học tập
Trang 37Căn cứ ĐG: Mục tiêu; Chương trình, kế hoạch giáo dục của cấp học; Điều lệ nhà trường; Kết quả rèn luyện và học tập của HS
Bảo đảm nguyên tắc khách quan, công bằng, công khai, đúng chất lượng trong ĐG, xếp loại hạnh kiểm, học lực HS
ĐG HS THCS bao gồm 3 hình thức: ĐG bằng nhận xét, ĐG bằng cho điểm, kết hợp giữa ĐG bằng cho điểm và nhận xét
1.6.2 Chủ thể đánh giá học sinh trong trường trung học cơ sở
Các chủ thể tham gia ĐG kết quả học tập của HS trong trường THCS hiện nay là GV chủ nhiệm và GV bộ môn
1.6.3 Phương thức đánh giá học sinh trong trường trung học cơ sở
Phương thức ĐG HS trong trường THCS hiện nay là: ĐG thường xuyên hàng ngày, ghi nhận ở hệ thống sổ bộ như sổ điểm, sổ điểm danh, sổ chủ nhiệm; ĐG định kỳ qua bài KT 1 tiết trở lên và KT học kỳ Về số lần, thời điểm KT được quy định cụ thể trong phân phối chương trình môn học 1.7 Yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập hiện nay
Kiểm tra ĐG HS là những khâu rất quan trọng trong quá trình DH và giáo dục Vì vậy các nhà nghiên cứu luôn cố gắng đưa ra những lý luận KT
ĐG mới nhằm đảm bảo định hướng cho quá trình DH và cho sự phát triển ổn định của tổ chức KT ĐG định hướng phát triển năng lực của HS là một xu thế rất được nhiều nước trên thế giới đã thực hiện có hiệu quả Đổi mới KT
ĐG ở Việt Nam đã và đang được ngành GD&ĐT thực hiện và đã có sự chuyển biến tích cực cả về lý luận cũng như thực tiễn, nhiều cải tiến theo xu hướng khoa học KT ĐG của thế giới đã được triển khai và mang lại kết quả bước đầu Song, nhìn chung KT ĐG kết quả giáo dục ở Việt Nam vẫn còn chậm và chưa bắt kịp so với xu thế chung thế giới Để thực hiện thành công chủ chương, đường lối của Đảng về đổi mới chương trình giáo dục sau năm
2015 thì một trong những việc cấp thiết của ngành GD&ĐT phải thực hiện đó
là đổi mới KT ĐG theo những định hướng sau:
Trang 381.7.1 Kiểm tra đánh giá theo tiếp cận phát triển năng lực toàn diện
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, xu hướng ĐG mới của thế giới là
ĐG dựa theo năng lực, “tức là đánh giá dựa theo khả năng tiềm ẩn của HS dựa trên kết quả đầu ra cuối một giai đoạn học tập, là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc HS đã thực hiện thành công các sản phẩm đó” [14, tr 68] ĐG theo tiếp cận phát triển năng lực nhằm giúp GV có thông tin về kết
quả học tập của HS để điều chỉnh giảng dạy; giúp HS điều chỉnh hoạt động học tập; giúp GV và nhà trường xác nhận kết quả học tập như việc thực hiện các mục tiêu dạy học hiệu quả Đẩy mạnh ĐG quá trình và ĐG thực bằng các hình thức, phương pháp ĐG không truyền thống như quan sát, phỏng vấn, hồ
sơ, dự án, trình diễn thực, nhiều người cùng tham gia, HS tự ĐG, ĐG kết quả học tập thông qua dự án hoặc nghiên cứu nhóm Với cách này, HS có thể chủ động làm bài theo hiểu biết của mình, trao đổi, tương tác với nhau, tìm hiểu từ thực tế, vận dụng kiến thức của nhiều môn học khác nhau, hợp tác nghiên cứu
có thể đưa ra nhiều nhận định sáng tạo Đây là hình thức học tập mang tính hợp tác cao, GV và HS cùng tham gia ĐG kết quả của từng nhóm Theo tổng quan của nhóm tác giả Đinh Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Ngọc Bích và Sái Công Hồng [28] thì cần chú ý đến bản chất của cách tiếp cận mới trong KT
ĐG kết quả học tập là “ĐG vì sự thành công của người học” Những kỳ vọng của xã hội dành cho người học tăng lên về cả chiều rộng và chiều sâu, đã ảnh hưởng đáng kể tới vai trò thiết kế, ĐG của người dạy, và vai trò của người học Vai trò của tạo động lực học tập suốt đời sẽ giúp GV và HS cộng tác, sử dụng liên tục ĐG, có những phản hồi thích hợp để tạo sự tiến bộ không ngừng trong học tập Khi ĐG trong lớp học là thường xuyên và đa dạng, GV có thể hiểu biết được rất nhiều về HS của mình để có thể xác định mối liên hệ giữa kiến thức và nhu cầu học tập mới Học tập cũng được nâng cao khi HS được khuyến khích để suy nghĩ về việc học, xem xét kinh nghiệm và điều chỉnh phương pháp học của họ ĐG trong lớp học cung cấp thông tin phản hồi liên tục cho quá trình dạy học: khi HS và GV trở nên thoải mái với một chu kỳ
Trang 39liên tục của thông tin phản hồi và điều chỉnh, việc dạy học trở nên hiệu quả hơn Rõ ràng, GV cần thiết phải có những thông tin phản hồi từ phía HS thông qua KT ĐG nhanh tróng để điều chỉnh hoạt động DH kịp thời giúp HS tiến bộ thì công tác ĐG trong lớp học, qua từng bài học phải được đẩy mạnh, phát huy tối đa tác dụng của nó Để làm được điều này thì không còn cách nào khác phải nâng cao kỹ năng thực hiện các kỹ thuật KT ĐG trong lớp học, qua từng bài học cho chính những GV trực tiếp làm công tác này
1.7.2 Đánh giá đạo đức và sự tiến bộ của học sinh
Việc ĐG về đạo đức và rèn luyện của HS cũng cần được coi trọng, nhà trường đưa ra tiêu chí rõ ràng và GV nhận xét trên những tiêu chí đó Điều này không chỉ có tác dụng hỗ trợ giúp đỡ HS tiến bộ mà sự phối hợp giữa GV
và gia đình trong việc giáo dục HS tốt hơn
1.7.3 Phối hợp giữa phụ huynh, nhà trường và các tổ chức liên quan trong cộng đồng trong việc đánh giá học sinh
Việc phối hợp giữa phụ huynh, nhà trường trong việc ĐG HS cần có sự quan tâm đúng mức Tạo ra các kênh thông tin đa dạng, hiệu quả để GV, nhà trường có thể liên lạc phối hợp nhanh nhất với phụ huynh HS Hoạt động hợp tác hỗ trợ của mạng lưới các phụ huynh và cộng đồng là một cách tổ chức tốt
và hiệu quả
1.7.4 Đánh giá thông qua các loại hình kiểm tra đánh giá đa dạng
Thông qua các loại hình KT đa dạng được tổ chức trong suốt quá trình
DH, thông qua các bài KT chất lượng đầu năm, các bài KT 5 phút cuối mỗi tiết học, KT 15 phút, KT 45 phút, KT thực hành…
Có thể so sánh giữa KT ĐG theo hướng tiếp cận nội dung (truyền thống) và KT ĐG theo hướng tiếp cận năng lực thế xu thế mới để thấy rõ một
số đặc điểm cơ bản của ĐG tiếp cận phát triển năng lực thông qua bảng sau của tác giả Hồ Sỹ Anh [1, tr 140 - 141]:
Trang 40Bảng 1.1 So sánh KT ĐG truyền thống với KT ĐG tiếp cận phát triển năng
Các bài thi trên giấy được thực
hiện vào cuối một chủ đề, một
chương, một học kì
Nhiều bài KT đa dạng trong suốt quá trình học tập
2
Việc lực chọn câu hỏi và tiêu chí
ĐG không được nêu trước (có
6 Tập trung vào kiến thức hàn lâm Tập trung vào năng lực thực tế và sáng tạo
7 ĐG do các cấp quản lí và do GV còn tự ĐG của HS rất ít GV và HS chủ động trong KT ĐG, khuyến khích tự ĐG của HS
8
ĐG đạo đức HS chú trọng đến
việc chấp hành nội quy nhà
trường, tham gia phong trào thi
đua… hạn chế sự thể hiện cá tính
của HS
ĐG đạo đức của HS một cách toàn diện, chú trọng đến năng lực cá nhân, khuyến khích HS thể hiện cá tính và năng lực bản thân
9 KT ĐG HS chủ yếu do GV bộ môn và GV chủ nhiệm
Nhiều người tham gia KT ĐG , không chỉ
GV bộ môn, GV chủ nhiệm, GV tư vấn
mà ngay cả phụ huynh và cộng đồng, đặc biệt là tự ĐG lẫn nhau của HS