BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM --- --- NGUYỄN ĐĂNG BÌNH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN ĐĂNG BÌNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VEN ĐÔ
Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số: 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG XUÂN PHƯƠNG
HÀ NỘI – 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Đăng Bình
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được nội dung này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp
đỡ rất tận tình của TS Hoàng Xuân Phương, sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý đất đai Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Hoàng Xuân Phương và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ UBND huyện, phòng nông nghiệp, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, chính quyền các xã trong huyện Hoài Đức đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp động viên, giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Đăng Bình
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Yêu cầu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số vấn đề về sử dụng đất nông nghiệp 3
1.1.1 Khái niệm về đất, đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 3
1.1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới 4
1.1.3 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp 5
1.1.4 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 6
1.2 Hiệu quả và xu hướng sử dụng đất nông nghiệp ven đô 8
1.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 8
1.2.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 12
1.2.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp ven đô 15
1.2.4 Xu hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp ven đô 19
1.3 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 26
1.3.1 Tình hình nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của một số nước trên thế giới 26
1.3.2 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam 28
Trang 5CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.2 Nội dung nghiên cứu 32
2.2.1 Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Hoài Đức có liên quan đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 32
2.2.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Hoài Đức theo hướng sản xuất nông nghiệp ven đô 32
2.2.3 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 32
2.2.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Hoài Đức theo hướng sản xuất nông nghiệp ven đô 34
2.3 Phương pháp nghiên cứu 34
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 34
2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin thứ cấp 34
2.3.3 Phương pháp điều tra thu thập thông tin sơ cấp 34
2.3.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 35
2.3.5 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 35
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Hoài Đức – Thành phố Hà Nội 36
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2 Các nguồn tài nguyên 38
3.1.3 Cảnh quan môi trường 39
3.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 40
3.2 Thực trạng dân số, lao động 42
3.2.1 Dân số 42
3.2.2 Lao động và việc làm 43
3.3 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Hoài Đức 43
3.3.1 Đất nông nghiệp 44
3.3.2 Đất phi nông nghiệp 46
3.3.3 Đất chưa sử dụng 47
Trang 63.3.4 Biến động về đất đai của huyện Hoài Đức trong những năm qua 47
3.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 49
3.4.1 Thuận lợi 49
3.4.2 Khó khăn 49
3.5 Đánh giá hiệu quả một số loại sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoài Đức 50
3.5.1 Hiện trạng cây trồng và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 50
3.5.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Hoài Đức 61
3.6 Đề xuất giải pháp nhằm phát triển theo hướng sản xuất nông nghiệp ven đô ở huyện Hoài Đức 82
3.6.1 Phương hướng phát triển nông nghiệp Hoài Đức trong xu thế đô thị hoá 82
3.6.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển theo hướng nông nghiệp ven đô ở huyện Hoài Đức 85
KẾT LUẬN 94
1 Kết luận 94
2 Kiến nghị 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7DANH MỤC BẢNG STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 3.1: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế nông thôn 2009 - 2013 40
Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế các ngành huyện Hoài Đức 2009 - 2013 41
Bảng 3.3: Biến động đất giai đoạn 2009 – 2013 huyện Hoài Đức 48
Bảng 3.4: Hiện trạng các cây trồng chính huyện Hoài Đức 51
Bảng 3.5: Hiện trạng các loại sử dụng đất canh tác huyện Hoài Đức 57
Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế các cây trồng tiểu vùng 1 63
Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế các cây trồng tiểu vùng 2 65
Bảng 3.8: Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 66
Bảng 3.9: Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 68
Bảng 3.10: Tổng hợp hiệu quả kinh tế theo các loại sử dụng đất 70
Bảng 3.11: Mức đầu tư lao động và thu nhâp bình quân trên ngày công lao động của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1 (tính trên 1 ha) 73
Bảng 3.12: Mức đầu tư lao động và thu nhâp bình quân trên ngày công lao động của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 2 (tính trên 1 ha) 74
Bảng 3.13: Tổng hợp mức đầu tư lao động và thu nhâp bình quân trên ngày công lao động của các loại hình sử dụng đất 76
Bảng 3.14: So sánh mức đầu tư phân bón thực tế tại địa phương với tiêu chuẩn bón phân cân đối và hợp lý 78
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT TÊN BIỂU ĐỒ TRANG
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu kinh tế các ngành huyện Hoài Đức năm 2013 41
Biểu đồ 3.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 44
Biểu đồ 3.3: Hiện trạng sử dụng đất theo đối tượng sử dụng đất năm 2013 44
Biểu đồ 3.4: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 45
Biểu đồ 3.5: Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2013 47
Biểu đồ 3.6: So sánh các LUT của hai tiểu vùng trong huyện 71
DANH MỤC HÌNH STT TÊN HÌNH TRANG Hình 3.1: Đất trồng cây hàng năm ở xã Song Phương 46
Hình 3.2: Ảnh LUT chuyên lúa xã Đức Thượng 59
Hình 3.3: Cánh đồng ngô trong LUT lúa - màu 60
Hình 3.4: LUT chuyên rau màu tại xã Song Phương 60
Hình 3.5: LUT chuyên trồng cây ăn quả tại xã Đắc sở 61
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với tất cả các quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố và tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng Trong nông nghiệp đất đai không những là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế
Nền sản xuất nông nghiệp nước ta với những đặc trưng như: sản xuất còn manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất chất lượng còn chưa cao, khả năng hợp tác, liên kết cạnh tranh trên thị trường và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng hóa còn yếu Diện tích đất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là hướng đi hết sức cần thiết nhằm tạo ra hiệu quả cao về kinh tế đồng thời tạo ra tính đột phá cho phát triển nông nghiệp của từng địa phương cũng như cả nước
Hoài Đức nằm cách trung tâm Hà Nội 16 km về phía Tây, có diện tích là 82,4 km2, dân số là 190.612 người Sau khi Hoài Đức sát nhập vào Hà Nội, tốc độ
đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh, nhu cầu quỹ đất để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá đã gây áp lực lớn lên nguồn tài nguyên đất đai Đặc biệt là đất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị giảm mạnh về số lượng và chất lượng
Vì vậy, việc sử dụng đất đai ở ngoại thành một cách hiệu quả, bền vững đang là vấn
đề mang tính cấp thiết cao
Từ thực tế trên, cho thấy việc đánh giá và đưa ra hướng sử dụng đất hợp lý, hiệu quả nhằm phát triển nông nghiệp ven đô cho huyện Hoài Đức là rất cần thiết
Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển theo hướng sản xuất nông nghiệp ven đô ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội”
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả của một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu trên địa bàn huyện Hoài Đức Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển theo hướng sản xuất nông nghiệp ven đô ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số vấn đề về sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Khái ni m v đ t, đ t nông nghi p và tình hình s d ng đ t nông nghi p
Theo nhà thổ nhưỡng học người Nga Docutraiep cho rằng: “ Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả quá trình hoạt động của 5 yếu tố hình thành đất đó là: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian” (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng, 1999)
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học
và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng
sử dụng đất Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: khí hậu, dáng đất, địa hình địa mạo, thổ nhưỡng, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do các hoạt động của con người (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998)
Theo Luật đất đai mới nhất của Việt Nam năm 2003 đã phân đất đai thành 3 loại sau: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng Trong đó đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
Hiện nay tổng diện tích đất trên thế giới 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng Trong đó, 12% tổng diện tích
là đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác hơn 1.500 triệu ha Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70% tổng diện tích đất tự nhiên; ở các nước đang phát triển là 36% tổng diện tích đất tự nhiên Trong
đó, những loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất nâu chỉ chiếm 12,6%; những loại đất quá xấu như đất vùng tuyết, băng, hoang mạc, đất núi, đất cao nguyên chiếm đến 40,5%; còn lại là các loại đất không phù hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng đất mỏng (Vũ Năng Dũng, 2009)
Với diện tích đất có thể canh tác ấy của thế giới so với nhu cầu ngày càng tăng về lương thực thực phẩm của con người thì chưa đủ Dựa vào báo cáo của World Bank
Trang 13trong năm 1995, hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực, thực phẩm vẫn thiếu hụt từ 150 – 200 triệu tấn (Sam fusiska, 1996) Hơn nữa theo nguồn tin từ hai
tổ chức OCED và FAO, thì tiêu dùng lương thực tính theo đầu người sẽ tăng trong vòng
10 năm tới nhờ việc tăng thu nhập và giao thương phát triển
Đất đai có vị trí cố định trong không gian và có chất lượng không đồng nhất giữa các vùng, miền Mỗi vùng đất luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nước, thảm thực vật), điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao động, giao thông, thị trường) Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả cần bố trí
sử dụng đất hợp lý trên cơ sở khai thác lợi thế sẵn có của vùng Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế, nếu được bố trí sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên
Trước áp lực từ sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, sự phát triển của xã hội làm cho nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp ngày càng tăng làm giảm diện tích và chất lượng đất sản xuất nông nghiệp Vì vậy, định hướng sử dụng đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả và bền vững là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển nền kinh tế của mọi quốc gia
1.1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người
mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỉ ha; còn lại chủ yếu là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12000 m2 Trong đó
ở Mỹ 2000 m2, ở Bungari 7000 m2, ở Nhật Bản 650 m2 Theo báo cáo của UNDP năm 1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 1200 m2; Malaysia 2700 m2; Philipin 1300 m2; Thái Lan
4200 m2; Việt Nam 1000 m2 (Ngô Thế Dân, 2001)
Trang 141.1.3 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp
Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng Trong điều kiện hầu hết đất canh tác đều bị nghèo về độ phì, để tăng vụ và năng suất cây trồng đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón
Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới (ESCAP/FAO/UNIDO, 1993), cho thấy gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất Quá trình thâm canh tăng vụ trong nông nghiệp đã làm phá huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng
Dự án điều tra, đánh giá tốc độ thoái hoá đất ở một số nước vùng nhiệt đới châu
Á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường của Trung tâm Đông Tây và khối các trường đại học Đông Nam Châu Á đã tập trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái nông nghiệp Kết quả nghiên cứu đã chỉ
ra rằng các yếu tố dinh dưỡng N, P, K của hầu hết các hệ sinh thái đều bị suy giảm Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của sự thất thoát dinh dưỡng trong đất do thâm canh thiếu phân bón và đưa các sản phẩm của cây trồng, vật nuôi ra khỏi hệ thống (Phùng Hữu Phú, 2008)
Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng N, P, K, Ca và Mg Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không bị thoái hoá thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung thường xuyên (ESCAP/FAO/UNIDO, 1993) Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hoá đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã góp phần gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và sử dụng thuốc
Trang 15bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường Tadon H.L.S chỉ ra rằng “sự suy kiệt đất và các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện thoái hoá về môi trường,
do vậy việc cải tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên và còn hơn nữa cho chính môi trường” (FAO, 1993)
Theo tài liệu của FAO/UNESCO (1992): trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do nhân tạo, trong đó suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7%, do gió 28%, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% Ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó
có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 triệu ha đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy Ở Ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu ha đất trồng trọt Theo kết quả điều tra của FAO (1993), do chế độ canh tác không tốt đã gây xói mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng đất dốc Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu Úc, Châu Phi: 5 -10 tấn/ha, Châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; Châu Á: 30 tấn/ha
Hiện nay những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và được phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện đại, loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên, buộc con người phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, thoả mãn các yêu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục tiêu của việc xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững và đó cũng là lối đi trong tương lai
1.1.4 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
1.1.4.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Mỗi quốc gia có một quỹ đất khác nhau, và quỹ đất này có hạn do vậy khi sử dụng đất phải đảm bảo tính hiệu quả, bền vững và phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định Tại điều 11 Luật Đất đai 2003 có 3 nguyên tắc phải đảm bảo khi sử dụng đất: (1) Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất; (2) Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh; (3) Người sử dụng đất thực hiện các quyền,
Trang 16nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Đối với đất nông nghiệp ngoài 3 nguyên tắc trên khi sử dụng đất cần thêm nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý, hiệu quả và bền vững”, và phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, của từng địa phương để làm cơ sở cho việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả về cả mặt kinh
tế, xã hội, môi trường
Sở dĩ, chúng ta cần sử dụng đất nông nghiệp một cách “đầy đủ, hợp lý, hiệu quả và bền vững” vì lý do sau:
- Nó sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích, xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp với tiềm năng sẵn có của từng địa phương, chế độ bón phân hợp lý, góp phần bảo vệ độ phì đất, bảo vệ môi trường
- Là tiền đề để sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên khác của vùng
từ đó nâng cao mức sống của người dân, quy mô sản xuất và đảm bảo hiệu quả bền vững
- Điều đó sẽ bảo vệ được tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn được việc thoái hóa đất, nước, bảo vệ môi trường
- Trong cơ chế kinh tế thị trường cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp bền vững
1.1.4.2 Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Khi tiến hành sử dụng đất nông nghiệp, ngoài việc phải tuân theo những nguyên tắc trên thì trong quá trình đánh giá và sử dụng đất nông nghiệp cần phải dựa trên các quan điểm sau:
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học - kỹ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu (Vũ Năng Dũng, 2009)
- Trên quan điểm phát triển hệ thống nông nghiệp, thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng
Trang 17ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục Thâm canh cây trồng, vật nuôi vừa để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp vừa đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp ổn định (Ngô Thế Dân, 2001)
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “đa dạng hoá” hình thức tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường (Lê Văn Bá, 2001)
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng bớt lao động sang các hoạt động phi nông nghiệp khác (Vũ Năng Dũng, 2009)
1.2 Hiệu quả và xu hướng sử dụng đất nông nghiệp ven đô
1.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1.1 Khái quát về hiệu quả
Hiệu quả là một thuật ngữ mà con người thường dùng để chỉ mục tiêu cho mọi hành động có chủ đích Và sau này trong ngôn ngữ học phát triển, cụm từ “hiệu quả” được hiểu như một phạm trù triết học Quan niệm khá “nguyên thuỷ” của một nhà kinh tế học người Mỹ, Piter F Drucker, giáo sư về quản lý tại New York University, cho rằng: xét cho cùng mang lại hiệu quả “effect” là cái mà mỗi người khi làm bổn phận của mình, dù trong môi trường nào đều mong đợi công việc được hoàn tất đúng Thật vậy, trước kia khi nhận thức còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả là một Về sau xã hội càng văn minh, nhận thức của con người phát triển lên thì dần đi đến sự phân biệt kết quả và hiệu quả
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Trước đây, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới, nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời
Trang 18gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm
được sản xuất ra trong một đơn vị thời gia (Bách khoa toàn thư Việt Nam)
1.2.1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời về mặt xã hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được sử dụng trong
cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu… để đảm bảo sự ổn định về kinh tế -
xã hội đất nước) (Bách khoa Toàn Thư Việt Nam)
Hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế (Bách khoa Toàn Thư Việt Nam)
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Vòng
và cộng sự, 2001)
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
* Hiệu quả kinh tế
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều nhà khoa học đưa ra khái
Trang 19niệm hiệu quả kinh tế trong nhiều lĩnh vực Khi nói đến hiệu quả kinh tế trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất cũng có nhiều quan điểm khác nhau:
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà kinh tế Samuel – Nordhuas thì “Hiệu quả là không lãng phí” Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội (Đỗ Thị Tám, 2001)
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội” (Đỗ Thị Tám, 2001)
* Hiệu quả xã hội
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất bên cạnh việc đánh giá hiệu quả kinh tế
Trang 20chúng ta còn phải đánh giá hiệu quả xã hội Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần giúp cho chúng ta đánh giá hiệu quả sử dụng đất một cách tốt nhất
Thật vậy, hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn chúng ta chỉ đề cập đến một số các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo
an ninh lương thực, sự chấp nhận của người dân với loại hình sử dụng đất đó, đảm bảo nâng cao mức sống cho người dân
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp (Đỗ Thị Tám, 2001)
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (Bùi Huy Hiền, Nguyễn Văn Bộ ,2001)
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường (Đỗ Nguyên Hải, 1999)
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra
Trang 21Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
1.2.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
+ Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh, do
đó cần phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức luân canh
+ Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế, cần phải nghiên cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất
+ Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết làm cho môi trường cùng phát triển Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường xung quanh
+ Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí nông thôn…
1.2.2.2 Nguyên tắc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ thống hữu
cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc (Nguyễn Đình Hợi, 1993), (Bùi Văn Ten, 2000)
Trang 22- Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu (Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000)
- Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và phải
có tác dụng kích thích sản xuất phát triển (Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000)
1.2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Mối quan hệ này là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số (Đỗ Thị Tám, 2001), (Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000) nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
H = K - C
H = K/C
H = (K - C)/C
H = (K1 - K0)/(C1 - C0) Trong đó:
- H: Hiệu quả
- K: Kết quả
- C: Chi phí
- 1, 0 là chỉ số về thời gian (năm)
* Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp
+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)
+ Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT = GTSX - CPTG
- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
Trang 23- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ, GTGT/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau (Hội khoa học đất, 2000):
+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;
+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
+ Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá xuất khẩu
* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường
Theo Đỗ Nguyên Hải, 1999 chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;
+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;
+ Đánh giá quản lý đất đai;
+ Đánh giá hệ thống cây trồng;
+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo
vệ cây trồng;
+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;
+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, nó đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua kết quả điều tra về việc đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kết quả phỏng vấn nông hộ về nhận xét của họ đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại
Trang 241.2.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp ven đô
1.2.3.1 Cơ sở lý luận của sản xuất nông nghiệp ven đô
* Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ven đô:
Đô thị hóa là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trên con đường phát triển Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ở các mức độ khác nhau và với những sắc thái khác nhau, làn sóng đô thị hóa tiếp tục lan rộng như là một quá trình kinh
tế, xã hội toàn thế giới – quá trình mở rộng thành phố, tập trung dân cư, thay đổi các mối quan hệ xã hội; quá trình đẩy mạnh và đa dạng hóa những chức năng phi nông nghiệp, mở rộng giao dịch, phát triển lối sống và văn hóa đô thị Bên cạnh những mặt tích cực mà đô thị hóa đã mang lại thì nó cũng để lại nhiều mặt bất cập, đang phát sinh những vấn đề bức xúc liên quan đến nông nghiệp, nông thôn
Hàng chục vạn ha “đất cấu tượng”, đất “bờ xôi, ruộng mật” – bao đời nay là
tư liệu sản xuất quan trọng và quý giá nhất của người nông dân, nền tảng bảo đảm
an ninh lương thực quốc gia – đã bị sử dụng phí phạm, tác động mạnh đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của hàng vạn chục hộ gia đình nông thôn với hàng triệu lao động nông nghiệp (Phùng Hữu Phú, 2008)
Quy mô thành phố ngày càng lớn, dân số ngày càng đông, mật độ dân số ngày càng cao và trình độ kinh tế – văn hóa ngày càng phát triển một mặt làm cho đất đai nông nghiệp ven đô bị thu hẹp nhiều, môi trường bị ô nhiễm trầm trọng, hiệu ứng về cuộc sống tù túng trong 4 bức tường bê tông cốt thép tăng lên (Phạm Văn Khôi, 2004) Nông nghiệp ven đô thường có các đặc điểm sau:
- Nông nghiệp ven đô có sự gia tăng mạnh về dân số, đặc biệt là sự gia tăng
cơ học Dân số ven đô luôn được bổ xung bởi sự di cư từ nội thành ra và từ các nơi khác đến Kết quả là tồn tại một xã hội nông thôn ven đô đa dạng cả về dân số và nghề nghiệp….Rất nhiều người sống ở nông thôn ven đô bị tách biệt giữa nơi ở và nơi làm việc, các hoạt động phi nông nghiệp cạnh tranh về lao động khá lớn với nông nghiệp và nó thu hút đặc biệt là lực lượng lao động trẻ Cơ sở hạ tầng nông thôn khá tốt, nhưng đôi khi không gian nông thôn bị chia cắt, gây khó khăn cho sinh hoạt và lao động của người dân
Trang 25- Tình trạng sản xuất nông nghiệp không ổn định do ngày càng có sự mở rộng các vành đai đô thị ra bên ngoài Tốc độ đô thị hóa, khả năng quy hoạch đô thị, chính sách và khả năng kiểm soát sự phát triển đô thị ảnh hưởng mạnh đến tính ổn định của nông nghiệp ven đô Đất đai nông nghiệp có xu thế giảm mạnh Nông nghiệp ảnh hưởng nhiều của sự ô nhiễm đô thị Các thành phố càng phát triển càng tồn tại nhiều các hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ, do đất đai ngày một đắt và bị mất đất vì đô thị hóa
- Nông nghiệp ven đô có nhiều lợi thế về thị trường Tận dụng lợi thế gần thành phố, nông nghiệp ven đô thường phát triển sản xuất các sản phẩm tươi sống như: rau, sữa, quả….tạo ra nền nông nghiệp khác biệt với đặc điểm thông thường của nó Đó là nông nghiệp không (hoặc ít) mang tính mùa vụ Tuy nhiên, sản phẩm đặc sản của một
số vùng ven đô vẫn có thể tồn tại và phát triển nhờ thị trường tiêu thụ luôn mở rộng Các sản phẩm đặc biệt khác như hoa, cây cảnh cũng có cơ hội phát triển
*Điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp ven đô ở Việt Nam
Trong các thập niên 60, 70 Việt Nam cũng đã đạt được một số thành tựu trong phát triển nông nghiệp tại các khu vực ven đô Nhưng khi bước sang thập kỷ 80 và những năm đầu của thập kỷ 90, nông nghiệp ở các đô thị phát triển khá ồ ạt Tuy đã góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm thực phẩm lúc bấy giờ và tăng thu nhập cho một số người làm công ăn lương ở thành phố, nhưng do phát triển tự phát, không có quy hoạch nên đã gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, làm mất cảnh quan đô thị, thậm chí đã tạo nên tâm lý không muốn phát triển nông nghiệp ven đô thị
Vận dụng quan niệm về nông nghiệp đô thị của FAO (1996), UNDP (1999), RUAF foundation (1999), Luc J.A Mougeot (2002)… vào điều kiện cụ thể của Việt Nam có thể hiểu: nông nghiệp ven đô thị là một ngành sản xuất ở vùng lân cận đô thị có chức năng trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và các sản phẩm khác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên và nhân văn, các sản phẩm cùng các dịch vụ ở vùng lân cận đô thị để cung cấp trở lại cho đô thị các sản phẩm, dịch vụ cao cấp Nông nghiệp ven đô thị bao gồm nông nghiệp ven đô thị với các hoạt động chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản (Lê Văn Trưởng, 2008)
Trang 26Nông nghiệp Việt Nam, trong khoảng hai thập kỷ qua, nhờ cách mạng xanh
và những tiến bộ kỹ thuật, đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc giải quyết vấn đề an ninh lương thực Tuy nhiên, việc đầu tư năng lượng hoá thạch trong thâm canh cao ở các vùng đồng bằng Sông Hồng, Sông Cửu Long và duyên hải miền Trung cũng đã và đang làm nảy sinh các vấn đề môi trường trong phát triển nông nghiệp bền vững của các vùng trọng điểm nông nghiệp này Và một xu hướng mới trong chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững đã xuất hiện vào cuối những năm
70, đó là nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ Cho đến nay, xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững theo hướng sinh thái học đang trở thành xu hướng tất yếu của sự phát triển bền vững ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới (Trần An Phong, 1995)
Việt Nam là một nước nông nghiệp, tỷ trọng ngành nông nghiệp còn chiếm khá lớn trong cơ cấu nền kinh tế, nhiều mặt hàng nông sản của nước ta đã chiếm được vị trí xuất khẩu hàng đầu thế giới Song nhìn chung, nông nghiệp của nước ta vẫn trong tình trạng lạc hậu và còn nhiều hạn chế Đặc biệt nông nghiệp đô thị vẫn chưa định hình, chưa được quan tâm để phát triển, còn mang tính tự phát và thiếu sự gắn kết trong quá trình phát triển đô thị Đối với vùng đô thị: Diện tích đất nông nghiệp vẫn dùng trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả và nuôi trồng thuỷ sản, nhưng không chỉ để lấy sản phẩm tiêu dùng mà còn để tạo cảnh quan, môi trường sinh thái cho đô thị
Nông nghiệp ven đô thị là bộ phận quan trọng nhất của nông nghiệp đô thị Việt Nam hiện nay Chúng có lãnh thổ rộng, được quy hoạch rõ ràng, hình thành các vùng chuyên canh, các vành đai nông nghiệp nhưng lãnh thổ biến động mạnh
do sự phát triển của không gian đô thị Thành phố Hải Phòng có vành đai phát triển rau, hoa, cây cảnh tập trung chủ yếu tại quận Hải An, huyện An Dương, quận Lê Chân và huyện Thủy Nguyên; vành đai phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm tập trung tại quận Hải An, huyện An Dương, huyện Thủy Nguyên và huyện Kiến Thụy; vành đai phát triển sản xuất lương thực, chăn nuôi tập trung chủ yếu chăn nuôi lớn thịt, gia cầm và bò sữa nhằm đáp ứng nhu cầu của Hải Phòng, Quảng Ninh
Trang 27và xuất khẩu; vành đai phát triển sản xuất lương thực, cây ăn quả tập trung tại các huyện An Dương, Thủy Nguyên và Kiến Thụy
TP Hồ Chí Minh đã hình thành các vùng: cây hoa cảnh, vùng cây ăn quả ở rải rác và xen các vườn hoa đặc chủng (ngâu, nhài, phong lan…), vùng cây ăn quả tập trung kinh doanh đa dạng, vùng rau thực phẩm các loại và vùng chăn nuôi cung cấp thịt, sữa, thủy sản… Riêng diện tích hoa, cây cảnh khoảng 2.848 ha năm 2010
Ở vị trí trung tâm kinh tế khu vực đồng bằng sông Hồng, là đầu mối giao thông, giao lưu hàng hóa, Hà Nội có nhiều tiềm năng để phát triển nền nông nghiệp
đô thị ven đô Trên khắp các xã ngoại thành, xuất hiện ngày càng nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa, cho thu nhập cao, là vành đai thực phẩm của thủ đô Nông nghiệp đã bước đầu phát triển theo hướng đô thị sinh thái được áp dụng khoa học công nghệ cao, sạch trong sản xuất giống cây trồng vật nuôi
Hà Nội có vùng hoa tập trung ở Tây Tựu (Hoài Đức), vùng rau an toàn Yên Mỹ; Duyên Hà (Thanh Trì); Đặng Xá, Văn Đức (Gia Lâm)… vùng nuôi bò chất lượng cao ở Sóc Sơn, Gia Lâm, vùng nuôi trồng thủy sản tập trung ở vùng trũng thuộc Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh
1.2.3.2 Khái niệm về sản xuất nông nghiệp ven đô
- Sản xuất nông nghiệp vốn đã mang trong nó bản chất sinh thái, sản xuất nông nghiệp muốn phát triển có hiệu quả và ổn định đương nhiên phải phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn, môi trường và quần thể sinh vật tạo nên hệ sinh thái nông nghiệp Chính sự phù hợp đó làm cho cây trồng vật nuôi phát huy mọi ưu thế và tác động lẫn nhau để tồn tại và phát triển, đó là một nền nông nghiệp sinh thái Nhiều học giả cũng cho rằng nông nghiệp sinh thái cũng chính là nông nghiệp bền vững, một nền nông nghiệp sinh thái, hay bền vững đều mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Nhưng ngược lại, một nền sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, chưa chắc đã là một nền nông nghiệp sinh thái và bền vững nếu như nó không có tác động đến bảo vệ môi trường sinh thái
Nông nghiệp ven đô: Nông nghiệp ven đô (theo nghĩa rộng bao gồm:
nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản) nói một cách đơn giản bao gồm toàn bộ hoạt
Trang 28động sản xuất nông nghiệp từ sản xuất nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nằm ở các vùng giáp ranh nội đô hay còn gọi là ven đô
Nông nghiệp ven đô: Chủ yếu tiến hành sản xuất nông nghiệp sạch tạo ra sản phẩm chất lượng cao để đáp ứng các nhu cầu của đô thị về nông sản và môi trường Các cấp chính quyền phải có chính sách hỗ trợ để tạo ra vùng đệm về cảnh quan, sinh thái đô thị và góp phần giải quyết tại chỗ các nhu cầu của nhân dân thành phố
1.2.3.3 Vai trò của sản xuất nông nghiệp ven đô trong nền kinh tế thị trường
Nông nghiệp ven đô có nhiều lợi thế về thị trường Tận dụng lợi thế gần thành phố, nông nghiệp ven đô thường phát triển sản xuất các sản phẩm tươi sống như: rau, sữa, quả….tạo ra nền nông nghiệp khác biệt với đặc điểm thông thường của nó
Nông nghiệp ven đô, ngoài việc cung cấp lương thực, thực phẩm chất lượng cao, an toàn, mà còn có tác động làm giảm tiêu cực của quá trình đô thị hoá đến môi trường nhờ tác động cải thiện khí hậu, bảo tồn và làm giầu tính đa dạng sinh học, giá trị cảnh quan, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngoài ra, nông nghiệp ven đô còn tạo cơ hội cung cấp công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho một bộ phận dân cư giáp ranh đô thị Việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, đặc biệt là công nghệ sinh học, sẽ góp phần làm tăng năng suất và chất lượng nông sản tạo cơ hội phát triển công nghiệp chế biến, thương mại dịch vụ, cho hiệu quả kinh tế cao và bền vững Do đó, phát triển nông nghiệp ven đô bền vững là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển nông nghiệp tương lai (Phạm Văn Khôi, 2005) Những sản phẩm này sẽ ngày càng được coi trọng hơn trong quá trình đô thị hoá khi mà dân trí
và điều kiện vật chất của người dân ngày càng được nâng cao
1.2.4 Xu h ướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp ven đô
1.2.4.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp ven đô trên thế giới
Trong vài chục năm qua nông nghiệp đô thị phát triển nhanh song song với quá trình đô thị hóa Ở Hoa kỳ, từ 1980 đến 1990 nông nghiệp đô thị tăng 17%, ở Nhật Bản, Hà Lan, Thuỵ Sĩ cũng tăng mạnh
Trong 25 năm cuối của thế kỷ 20 trong thế giới đô thị hóa, xuất hiện một xu hướng ngược lại với quá trình tách rời giữa quá trình xây dựng đô thị hiện đại với nông
Trang 29nghiệp - công nghiệp hóa xảy ra từ thế kỷ 19 Chính sự phát triển của nông nghiệp ven
đô thị đã hài hoà hai quá trình đô thị hóa và phát triển nông nghiệp hiện đại
Trong các năm 1970 nông nghiệp ven đô thị còn ít được chú ý, ở một số nước châu Phi bắt đầu xây dựng các dự án nông nghiệp ven đô như ở Ghana, Zaire, Zambia với sự giúp đỡ của Pháp FOA, UNICEF Sang các năm 1980 nhiều tổ chức phát triển của các nước và tổ chức quốc tế hỗ trợ nhiều dự án ở châu Phi, Á, Mỹ Latinh Sang các năm 1990 thì phong trào nông nghiệp ven đô thị phát triển mạnh ở nhiều nước và bắt đầu phát triển cả ở các nước đã phát triển như Mỹ, Canada, Anh,
Hà Lan Nhiều tổ chức quốc tế về nông nghiệp ven đô thị ra đời, thúc đẩy việc nghiên cứu về vấn đề này Các tổ chức phi chính phủ tham gia vào phong trào này ngày càng đông từ thực tiễn phát triển nông nghiệp ven đô thị của các nước có thể rút ra mặt tích cực của nông nghiệp ven đô thị: Đô thị có xu hướng phát triển với mật
độ dân số thấp hơn trước nên có nhiều đất để làm nông nghiệp Nông nghiệp ven đô thị
có hiệu quả và tính cạnh tranh cao hơn nông nghiệp nông thôn, nhất là trong những ngành rau, thuỷ sản, gia cầm, lợn Nông nghiệp ven đô thị ở các nước đang phát triển nhằm tạo an ninh thực phẩm, việc làm, môi trường còn ở các nước đang phát triển thì nhằm vào chất lượng cao
Theo các dự báo từ năm 1993 đến 2005, nông nghiệp ven đô tăng tỷ lệ tự túc thực phẩm từ 15% lên 33%, phần rau, thịt, cá, sữa dùng ở ven đô tăng từ 33 lên 50%, số nông dân ra ven đô sản xuất hàng hóa tăng từ 200 lên 400 triệu người Công nghệ trong nông nghiệp ven đô bắt đầu phát triển nhanh và trong thời gian tới
sẽ phát triển rất nhanh Châu á là một vùng có nhiều châu thổ đông dân Vấn đề phát triển của các châu thổ này từ lâu đã là một đề tài mà nhiều ngành khoa học quan tâm Vùng Nam và Đông Nam châu á có hai loại châu thổ: Châu thổ đông dân (trên 300 dân một km2), có 250.000km2 với 120 triệu dân và châu thổ thưa dân có 120.000 km2 với 10 triệu dân
Trước sự phát triển nhanh của nền nông nghiệp ven đô thị ở các nước có tốc
độ đô thị hoá rất cao, nhiều tổ chức trên thế giới đã bắt đầu đi sâu nghiên cứu và có
hỗ trợ chương trình này Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thông qua các chương trình định hướng như: AGA Sub - Programme on Peri-urban Production Sytems on
Trang 30animal production, health and veterinary public health, chương trình Food supply an Distribution to cities (AGSM), chương trình Urban and Peri-urban forestry Qua các chương trình này, FAO nghiên cứu các hoạt động nông nghiệp, hỗ trợ chính sách, trợ giúp kỹ thuật xây dựng các đặc trưng về nông nghiệp đô thị và ven đô thị Ngoài
ra, còn nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ nghiên cứu vấn đề này, như: UNDP, IDRC, WB, Bên cạnh đó, một số tổ chức trực thuộc Liên Hợp Quốc như: UNHCR, UNICEF, UNWHO cũng tham gia vào nghiên cứu
Nông nghiệp ven đô ở các nước phát triển:
- Ở Hoa Kỳ, trong số 2 triệu nông trại có 696.000 nông trại (chiếm 33%) ở trên đất ven đô thị, các nông trại này chiếm trên 16% diện tích, sản xuất ra 35% sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi Khoảng 25% nông hộ tham gia nông nghiệp ven đô thị, sản xuất 38 triệu USD thực phẩm Có khoảng 1000 dự án nông nghiệp vùng ven
đô thị Từ 1980 đến 1990 nông nghiệp đô thị của Hoa Kỳ tăng 17% Năm 1994, có 30.000 nông trang tham gia vườn công cộng, trong đó thành phố NewYork có 1000 vườn, Boston có 400, San Francisco có 100 Các nông trại ven đô thị bán nông sản gấp 13 lần trên một nông trại nông thôn Các nông trại ven đô thị nông nghiệp hữu
cơ phát triển nhiều hơn Các hiệu ăn ở Chicago và Washington mua 80% sản phẩm sản xuất ra ở vùng ven đô thị Ở miền Nam California nơi có giá đất cao nhất thế giới nhưng lại là nơi có nông nghiệp ven đô thị phát triển nhất, hoa
và cây cảnh sản xuất nhiều trong nhà kính và ngoài trời ở đây
- Ở Canada có 11% diện tích đất tự nhiên (105 triệu ha) có thể phát triển nông nghiệp, trong đó chỉ có 43% đất trồng trọt có hiệu quả cao (45,9 triệu ha), nhưng có khoảng 1/3 đất này nằm trong các vành đai đô thị Gần 55% đất tốt nằm trong vòng bán kính 161 km của 23 đô thị lớn, từ 1950 đô thị hóa xảy ra trong loại đất này Canada phát triển mạnh nông nghiệp ven đô thị, hình thức vườn cộng đồng được phát triển phổ biến từ năm 1970 Các đô thị trích một phần đất chia cho dân với một tỷ lệ nhất định
để phát triển các nhà vườn Thành phố Montreal và Toronto có 10.000 khu đất chia cho dân Vancouver đã phát triển hình thức này hơn 20 năm nay
- Tại Berlin - Đức, có 15% đất dùng để phát triển đô thị, có 80.000 nhà vườn Thành phố SanPetecbua – Nga có 500.000 nhà vườn Ở Luân Đôn – Anh, tỷ lệ
Trang 31không gian xanh chiếm 60%, người dân Luân Đôn có thể bảo đảm 18% nhu cầu cây
ăn quả và rau quả của họ Ở Thượng Hải – Trung Quốc, Nông nghiệp đô thị và ven
đô sản xuất ra hơn 50% thịt lợn và gà, hơn 90% trứng và sữa… Theo ước tính, hiện nay có khoảng 800 triệu dân cư đô thị trên thế giới kiếm sống nhờ sản xuất lương thực thực phẩm
- Hà Lan là một nước đứng hàng đầu trên thế giới về nhiều mặt hàng nông sản có giá trị kinh tế cao, mặc dù là quốc gia có tốc độ phát triển đô thị rất cao nhưng cũng có nền nông nghiệp phát triển rất mạnh nhất là bộ phận nông nghiệp ở ven đô Phát triển nông nghiệp ven đô thị ở Hà Lan được xem như là giải pháp cơ bản trong phát triển nông nghiệp bền vững Ở các thành phố của Hà Lan, để khắc phục khó khăn trong việc quản lý chất lượng rau xanh đã tiến hành kiểm tra chặt chẽ chất lượng sản phẩm tại nơi tiêu thụ Đồng thời xây dựng mạng lưới chợ rau xanh để quản lý chất lượng sản phẩm và bảo vệ người tiêu dùng Điều đó đã tác động tích cực đến sản xuất, buộc các nhà sản xuất phải cải tiến quy trình sản xuất, tuân thủ các quy định về chất lượng để tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường
Nông nghiệp ven đô ở các nước đang phát triển
Vào các năm 1970, Ghana ở châu Phi phát triển nông nghiệp ven đô thị để giải quyết vấn đề thực phẩm, tập trung trước tiên vào sản xuất chuối bột, đậu bắp, lúa gạo và rau
Ở ven đô của Zambia tập trung phát triển sản xuất rau và gia súc nhỏ từ năm
1980 phong trào này mở rộng ra Mozambique, Lesotho, Bostvana, Kenya, Chile, Philipin, Peru Từ 1990 phong trào nông nghiệp ven đô thị đã mở rộng ra hầu hết các nước đang phát triển Nhiều điển hình nông nghiệp ven đô thị đã được tổng kết, phổ biến ở các hội nghị quốc tế Phong trào đã phát triển mạnh sang cả châu Mỹ latinh với các điển hình như Cuba, Braxin, Arhentina, Peru
- Nông nghiệp ven đô thị ở châu á: ở châu á trước kia quy mô dân số các đô thị phụ thuộc vào lượng thực phẩm sản xuất ra để cung cấp cho đô thị Với sự phát triển của giao thông cước phí vận chuyển lương thực thực phẩm được chở từ các vùng khác đến, do đó thu nhập đã trở thành nhân tố quyết định Tình trạng thiếu ăn
và nghèo khổ ở các đô thị trở thành một vấn đề gay gắt Việc sản xuất thực phẩm
Trang 32trong nội đô thị và vùng ven đô trở thành một nhu cầu: Do đô thị hóa, đất nông nghiệp vùng ven đô mất dần Đồng thời do sự đầu cơ đất nên việc bỏ hoang hay sử dụng kém hiệu quả đất ven đô cũng trở nên phổ biến do sự đầu cơ đất Do đó các nhà lãnh đạo và các nhà làm quy hoạch cho rằng không nên làm nông nghiệp trong
đô thị, do vậy trong quy hoạch đô thị không có nông nghiệp, nông nghiệp đô thị dần lạc hậu và giảm đi Các nước châu á phát triển ngày càng phụ thuộc vào thực phẩm nhập Hiện nay nông nghiệp ven đô thị ở các nước châu á là phát triển vì cá là thức
ăn chủ yếu của người dân châu á Xu hướng phát triển cây có giá trị hàng hóa cao
và chăn nuôi thay cho cây lương thực, phát triển nhà vườn đã trở lên phổ biến Nông nghiệp ven đô thị thường thâm canh cao và có kết quả
- Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp ven đô thị tại Trung Quốc: Trung Quốc có một chiến lược đô thị hoá phi tập trung với nhiều đô thị nhỏ trong nông thôn và như vậy nông nghiệp nông thôn cũng sẽ biến đổi Vì vậy, nghiên cứu nông nghiệp đô thị này có thể thấy được phần nào hình ảnh của nông nghiệp nông thôn trong tương lai gần Trong hoàn cảnh Trung Quốc tham gia WTO thì lợi thế so sánh của Trung Quốc sẽ là các sản phẩm cần nhiều lao động như rau xanh, nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất trong nhà lưới Hiện nay, Trung Quốc cũng đã xuất khẩu nhiều rau xanh sang các nước ASEAN Tại các đô thị lớn, nông nghiệp có xu thế đẩy xa
ra các vùng khác có cơ sở hạ tầng tốt, nối đô thị với các vùng xa hơn Nông nghiệp ven đô thị lớn dần (tuy còn chậm) định hướng theo nông nghiệp du lịch và sinh thái
- Ở Bangkok (Thái Lan): Do quá trình đô thị hoá nhanh đã gây nhiều biến động
về thị trường ruộng đất ở vùng ngoại ô, đã đẩy nông nghiệp ra các vùng xa hơn Để thúc đẩy các vùng sản xuất vệ tinh (nông nghiệp ven đô) này phát triển đã xác lập các yếu tố tác động sau: dễ dàng tiếp cận tín dụng, các kỹ thuật mới đa dạng mà nông dân
dễ tiếp cận, cơ sở hạ tầng phát triển, tăng cường quan hệ hợp đồng giữa các công ty chế biến và nông dân nhằm tạo đầu ra cho nông sản Các công ty tư nhân là yếu tố trực tiếp định hướng cho phát triển nông nghiệp, đồng thời không thể thiếu vai trò của nhà nước trong việc: quy hoạch đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng, điều tiết giá cả, làm trung gian giải quyết các vấn đề về môi trường, tư vấn, đào tạo và tạo khung pháp lý cho phát triển nông nghiệp
Trang 33- Singapore là một trong những quốc gia quản lý và sử dụng tài nguyên đất đai rất có hiệu quả Trong phát triển nông nghiệp ven đô thị, Singapore vận dụng phương pháp kết hợp công nghệ truyền thống và hiện đại phù hợp với quốc gia có nhiều dân tộc trong đó tập trung phát triển mô hình kinh tế trang trại Chăn nuôi là lĩnh vực chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu nông nghiệp, các sản phẩm của chăn nuôi ven đô thị là thịt: lợn, gà, cá tôm… Lượng thực bình quân mỗi người dân là 70kg/năm, sản lượng rau tươi dùng trong nước do nông nghiệp ven đô cung cấp cũng chiếm 25% tổng sản lượng rau từ nông nghiệp
- Inđônexia, nông nghiệp đô thị và ven đô được phát triển theo mô hình trang trại Trong mô hình này, cây trồng và vật nuôi được phát triển trên nền sinh thái ẩm của đất
và nước Nông nghiệp đô thị sinh thái ở nước này thể hiện sự pha trộn giữa cổ truyền và hiện đại Với sự trợ giúp của Chính phủ, nông nghiệp đô thị và ven đô ở đây đã phát triển thành ngành tương đối lớn mạnh
1.2.4.2 Xu hướng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp ven đô ở Việt Nam
Các thành phố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt đều có xây dựng phát triển nông nghiệp ven đô thị, nhưng chưa được quy hoạch
cụ thể, tuỳ theo điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội của từng vùng mà nông nghiệp ven
đô thị mỗi nơi có những nét khác nhau (Vụ quản lý kiến trúc quy hoạch, 1998)
Ở Đà Lạt, tập trung cho hoa, cây cảnh và rau á nhiệt đới, nông nghiệp ven đô thị chuyển mạnh sang phục vụ du lịch và xuất khẩu Ở thành phố Hồ Chí Minh nông nghiệp ven đô thị phát triển mang đặc trưng của thành phố siêu đô thị, sản phẩm của nó chủ yếu là rau, hoa, cây cảnh, chăn nuôi bò sữa… và các ngành dịch
vụ nông nghiệp Nông nghiệp đô thị và ven đô thành phố hàng năm cung cấp khoảng 28.858 tấn thịt lợn, 4.461 tấn thịt trâu bò, 10.632 tấn thịt gia cầm, 180-200 ngàn tấn rau… đáp ứng nhu cầu tại chỗ của dân cư đô thị
Tuy nhiên các nghiên cứu về nông nghiệp đô thị cũng đã được chú ý bắt đầu
từ những năm thập kỷ 90 của thế kỷ XX Các nhà khoa học về nông nghiệp của Viện KHKTNN Việt Nam, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, Trường Đại học kinh tế quốc dân, Viện Di truyền nông nghiệp đã tiến hành một số nội dung
Trang 34nghiên cứu về nông nghiệp sinh thái bền vững, nông nghiệp đô thị và ven đô nhằm góp phần phát triển nông nghiệp của các thành phố lớn theo hướng hiện đại, bền
vững Năm 2003 thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành nội dung Nghiên cứu xây dựng các mô hình nông nghiệp sinh thái phù hợp trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh
Ở vị trí trung tâm kinh tế khu vực đồng bằng sông Hồng, là đầu mối giao thông, giao lưu hàng hóa, Hà Nội có nhiều tiềm năng để phát triển nền nông nghiệp ven đô thị Trên khắp các xã ngoại thành, xuất hiện ngày càng nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa, cho thu nhập cao, là vành đai thực phẩm của thủ đô Nông nghiệp đã bước đầu phát triển theo hướng ven đô thị được áp dụng khoa học công nghệ cao, sạch trong sản xuất giống cây trồng vật nuôi Trồng rau, hoa trong nhà kính, nhà lưới, sản xuất rau an toàn, nuôi lợn theo kiểu công nghiệp Nông nghiệp đã chuyển hướng sang sản xuất nông sản, thực phẩm có chất lượng cao phục
vụ nhu cầu đô thị và bảo vệ môi trường So với năm 2005 hiện nay diện tích lúa giảm 10.162 ha, diện tích rau màu tăng 3.500 ha, diện tích cây ăn quả tăng trên 700 ha… Chăn nuôi đang phát triển mạnh sản phẩm có chất lượng cao: Lợn hướng nạc đạt 14.000 con, tăng 60% so với năm 2000, nhiều giống gia cầm có chất lượng cao như: Ngan Pháp, gà thả vườn được đưa vào sản xuất Một số mô hình trồng cây ăn quả và nuôi trông thuỷ sản gắn với du lịch sinh thái ngày càng gia tăng… Trước tốc
độ đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp giảm dần, ngành nông nghiệp Hà Nội đã có những bước đi cụ thể, phù hợp nhằm phát huy lợi thế của mình Nghị quyết đại hội lần thứ 13 đảng bộ thành phố và Chương trình 12 của Thành ủy Hà Nội về "phát triển kinh tế ngoại thành và từng bước hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn" đang tạo ra một luồng gió mới, thôi thúc sự chuyển mình của nông nghiệp thủ đô trên con đường CNH – HĐH, tạo lập sự liên kết hiệu quả giữa Hà Nội với kinh tế vùng trọng điểm phía bắc và cả nước Nông nghiệp Hà Nội tập trung vào ứng dụng công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến thúc đẩy năng suất, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao và thực phẩm sạch cung cấp cho thủ đô và xuất khẩu
Dựa trên quy hoạch không gian về sử dụng đất đai, đến năm 2015, diện tích đất nông nghiệp chỉ còn khoảng 31-32 nghìn ha (giảm 11 nghìn ha) Chính vì vậy,
Trang 35thành phố đã xây dựng những chương trình nông nghiệp trọng điểm, tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng "ba cây, ba con", gồm rau, hoa, quả, bò sữa, lợn hướng nạc và thủy sản Đến nay, "vành đai" thực phẩm thủ đô bước đầu hình thành sáu vùng chuyên canh: vùng trồng hoa 500 ha ở Tây Tựu (Hoài Đức); vùng rau sạch 2.000 ha ở các xã Vân Nội (Đông Anh), Văn Đức, Đặng Xá (Gia Lâm); vùng cây ăn quả kết hợp du lịch sinh thái ở Hoài Đức, Sóc Sơn; vùng lợn hướng nạc
ở Đông Anh; vùng bò sữa ở dọc hai bên bờ sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lồ (thuộc Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Sóc Sơn); vùng nuôi trồng thủy sản ở xã Đông Mỹ, Đại Áng (Thanh Trì), Đông Anh (Phạm Văn Khôi, 2005)
1.3 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của một số nước trên thế giới
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của vùng Hàng năm các Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới, giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất lúa
Nói chung về việc sử dụng đất đai, các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn, mang kết quả và hiệu quả cao hơn Tạp chí “Farming Japan” của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai cho người dân, nhất là ở nông thôn (Hà Thị Thanh Bình, 2000)
Trang 36* Mỹ
Nông nghiệp ở Hoa Kỳ là ngành nông nghiệp phát triển, đứng đầu thế giới
về sản lượng ngũ cốc (lúa mì, ngô ) Mặc dù nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 2% GDP nhưng mỗi năm cũng thu về cho đất nước khoảng 240 - 260 tỷ USD Sản phẩm nông nghiệp có giá trị xuất khẩu lớn, khoảng 75 - 80 tỉ USD mỗi năm (Hoàng Việt, 2001)
Hàng năm Bộ Nông nghiệp Mỹ cũng như chính phủ Mỹ cũng dành một khoản tiền lớn đầu tư để nghiên cứu các loại hình sử dụng đất cho phù hợp với nhiều giống cây, con mới thích nghi với điều kiện và tiềm năng của từng vùng Điển hình tháng 11/2006 Bộ Nông nghiệp Mỹ vừa cấp chứng nhận cho 30 giống cây trồng mới thuộc nhóm tái chế và nhóm củ được nhân giống của nước này như cỏ màn trầu, bông, cỏ đuôi trâu, rau diếp, yến mạch, hạt tiêu, cà chua, lúa nước, lúa mì
Mới đây, tại Bác Ngao, Hải Nam, viện sĩ Viên Long Bình - "Cha đẻ của lúa lai thế giới", người đề xuất và chủ trì Chương trình gây giống lúa lai siêu cấp Trung Quốc cho rằng: sau 13 năm nghiên cứu và nhân rộng, công tác nghiên cứu lúa lai siêu cấp Trung Quốc đã thu được thành tựu đáng mừng, gieo trồng thử trên diện tích nhỏ tại khu vực thâm canh lương thực đã cho thu hoạch cao
Viện sĩ Viên Long Bình cho biết, theo Chương trình "nghiên cứu cải tiến và ứng dụng giống lúa lai siêu cấp chất lượng cao" do Bộ Khoa học kỹ thuật Trung Quốc ấn định vào năm 2008, mục tiêu giai đoạn 3 được thực thi theo 3 bước, tức là chỉ tiêu sản lượng thí điểm trên diện tích rộng lúa lai siêu cấp một vụ năm 2010 lên tới 830 kg/sào; năm 2012 lên tới 860 kg/sào; năm 2015 lên tới 900 kg/sào Theo
Trang 37ông: "nghiên cứu lúa lai siêu cấp có ý nghĩa to lớn, có lợi cho đảm bảo an ninh lương thực Trung Quốc và thế giới; có lợi cho nông dân Trung Quốc gia tăng thu nhập, nông nghiệp tăng năng suất; có lợi cho kinh tế Trung Quốc phát triển bền vững; nâng cao trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật ngành giống Trung Quốc; thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bảo vệ môi trường” (Vũ Ngọc Tuyên, 1994)
* Thái Lan
Tại Thái Lan nhiều vùng trong điều kiện thiếu nước, từ sử dụng đất thông qua công thức luân canh lúa xuân - lúa mùa hiệu quả thấp vì chi phí tưới nước quá lớn và độc canh cây lúa làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng đất đã đưa cây đậu thay thế lúa xuân trong công thức luân canh Kết quả là giá trị sản lượng tăng lên đáng
kể, hiệu quả kinh tế được nâng cao, độ phì nhiêu của đất được tăng lên rõ rệt, nhờ
đó hiệu quả sử dụng đất được nâng cao
1.3.2 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam
Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới ẩm Châu Á có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên nguồn tài nguyên đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên trên người là 0,38 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới, xếp thứ 135 trên thế giới, xếp thứ 9/10 Đông Nam Á Mặt khác, dân số lại tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên người sẽ tiếp tục giảm Theo dự kiến nếu tốc độ tăng dân số là 1-1,2% năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2015 (Lê Văn Trưởng, 2006) Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp có chiều hướng giảm nhanh do chuyển mục đích sử dụng Vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Thực tế những năm qua chúng ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề về kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như: lai tạo các giống cây trồng mới ngắn ngày
có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng phù hợp với từng loại đất, thực hiện thâm canh trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá hiện trạng
Trang 38sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của tác giả Trần An Phong
- Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (1995)
Vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có tổng diện tích đất nông nghiệp là 903.650 ha, chiếm 44%, diện tích tự nhiên trong vùng Trong đó, gần 90% đất nông nghiệp dùng để trồng trọt Đây là trung tâm sản xuất lương thực lớn thứ 2 của cả nước, là nơi thu hút nhiều công trình nghiên cứu khoa học, góp phần định hướng cho việc xây dựng các hệ thống cây trồng và sử dụng đất thích hợp Trong đó phải
kể đến các công trình như: Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng ĐBSH của các tác giả Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà (1990); Đánh giá kinh tế đất lúa vùng ĐBSH của tác giả Quyền Đình Hà (1993); Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng ĐBSH của tác giả Vũ Năng Dũng (1997), Quy hoạch sử dụng đất vùng ĐBSH của tác giả Phùng Văn Phúc (1996), phân bón cho lúa ngắn ngày trên đất phù sa sông Hồng của tác giả Nguyễn Như Hà (2000), chương trình quy hoạch cụ thể vùng ĐBSH (1994) đã nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp ĐBSH, kết quả cho thấy:
Ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3 -
4 vụ một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái ven đô, tưới tiêu chủ động Đã có những điển hình về chuyển đổi hệ thống cây trồng, trong việc bố trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế như: hoa, cây ăn quả, cây thực phẩm cao cấp Việc quy hoạch tổng thể vùng ĐBSH, nghiên cứu đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp và phân vùng sinh thái nông nghiệp của nhiều tác giả và các nhà khoa học như: Vũ Năng Dũng, Trần An Phong, 1995 Các tác giả đã chỉ ra mỗi vùng sinh thái có đặc điểm khí hậu thời tiết, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau cần phải quy hoạch cụ thể và nghiên cứu ở từng vùng sinh thái thì hiệu quả các biện pháp kinh tế kỹ thuật trong sản xuất mới phát huy tác dụng và đạt kết quả tốt
Năm 1999, Hà Học Ngô và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất đai và đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Châu Giang, Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy, vùng này có thể phát triển các loại hình sử dụng đất cho đạt hiệu quả như lúa - màu, lúa - cá, chuyên rau màu, hoa cây cảnh và
Trang 39cây ăn quả Đồng thời nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một trong những nguyên nhân làm cho sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá chưa được khai thác triệt
để là do chưa xác định được hướng sử dụng lợi thế đất nông nghiệp, đồng thời chưa xây dựng được các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao (Hà Học Ngô và các cộng sự, 1999)
Việc quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng, nghiên cứu đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp và phân vùng sinh thái nông nghiệp của nhiều tác giả và các nhà khoa học như: Vũ Năng Dũng, Trần An Phong, Nguyễn Văn Phúc Các tác giả đã chỉ ra mỗi vùng sinh thái có đặc điểm khí hậu thời tiết, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau cần phải quy hoạch cụ thể và nghiên cứu ở từng vùng sinh thái thì hiệu quả các biện pháp kinh tế kỹ thuật trong sản xuất mới phát huy tác dụng và đạt kết quả tốt
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện các biện pháp quản lý kinh tế sản xuất
tổ chức ngành hàng trong nông nghiệp cũng như trong nông hộ của Phạm Vân Đình
Từ năm 1995 đến năm 2000, Nguyễn Ích Tân đã tiến hành nghiên cứu tiềm năng đất đai, nguồn nước và xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả kinh tế cao đối với vùng úng trũng xã Phụng Công-huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trên đất vùng úng trũng Phụng Công - huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên có thể áp dụng mô hình lúa xuân -
cá hè đông cho lãi từ 9258 - 12527,2 ngàn đồng/ha Mô hình lúa xuân - cá hè đông
và cây ăn quả, cho lãi từ 14315,7 - 18949,25 nghìn đồng/ha
Năm 2001, Đỗ Thị Tám tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy, một số LUT điển hình không những cho hiệu quả kinh tế cao, dễ áp dụng mà còn có thể tạo được nhiều việc làm có giá trị ngày công lao động cao như: LUT cây ăn quả, LUT lúa – cá, LUT chuyên màu Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu về đất và sử dụng đất là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng và bảo vệ môi trường
Trang 40Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên đây là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng và bảo
vệ đất
Có thể nói Đồng bằng sông Hồng là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, vùng đất bao gồm 10 tỉnh và thành phố như: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình
Vùng Đồng bằng sông Hồng có diện tích đất nông nghiệp là 802.600 ha, trong đó 70% là đất phù sa màu mỡ, có giá trị lớn về sản xuất nông nghiệp Đất nông nghiệp chiếm 51,2% diện tích vùng Vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa,
có mùa đông lạnh làm cho cơ cấu cây trồng đa dạng Có tài nguyên nước phong phú, có giá trị lớn về kinh tế là hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Ngoài ra còn có nước ngầm, nước nóng, nước khoáng
Giá trị tổng sản phẩm của vùng năm 2005 đạt 42.081 tỷ đồng theo giá hiện hành bằng 21,32% GDP toàn vùng ven biển Về cơ cấu: nông nghiệp đóng góp 23%, CN và xây dựng 32%, dịch vụ 45%, giá trị tổng sản phẩm bình quân đầu người đạt 7,3 triệu đồng đạt 72% mức bình quân trong cả nước
Theo báo cáo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của đồng bằng sông Hồng đến năm 2020 Đến năm 2020 vùng phải phát triển đảm bảo an ninh lương thực cho toàn vùng Bắc Bộ Trên cơ sở đó thực hiện phát triển nông nghiệp toàn diện, đa dạng hoá, chuyên môn hoá, và từng bước có được nền nông nghiệp hàng hoá đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu Phát triển nông nghiệp theo hướng thâm canh, tăng vụ, tăng chất lượng nông sản theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá đáp ứng nhu cầu trong và ngoài vùng