Trong ca dao,những tình cảm, tâm trạng của các kiểu nhân vật trữ tình và cách thểhiện thế giới nội tâm của các kiểu nhân vật này đều mang tính chấtchung, phù hợp với lứa tuổi, giới tính,
Trang 1TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC CHO GIÁO VIÊN NGỮ VĂN THPT
LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiến kế hoạch kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho giáoviên theo Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012 của BộGiáo dục và Đào tạo
Để nhằm bổ trợ kiến thức, nâng cao chất lượng giảng dạy mônNgữ văn cho giáo viên, Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn tàiliệu phục vụ chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viênNgữ văn cấp THPT(thời lượng 30 tiết), tài liệu gồm các chuyên đềsau:
1 Đặc trưng của thơ và phương pháp đọc hiểu tác phẩm thơtrong nhà trường
2 Cách tiếp cận nhân vật trong tác phẩm tự sự
3 Đề mở- một hình thức đổi mới cách ra đề môn Ngữ văn ởtrường THPT
Trong quá trình biên soạn, mặc dầu đã có nhiều cố gắng songkhông tránh khỏi những thiếu sót, về nội dung cũng như hình thức.Trong quá trình nghiên cứu, học tập rất mong các thầy, cô giáo, đồngnghiệp chỉ ra những hạn chế, góp ý kiến bổ ích để nội dung tài liệungày càng được hoàn thiên hơn Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2ĐẶC TRƯNG CỦA THƠ VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỌC HIỂU
TÁC PHẨM THƠ TRONG NHÀ TRƯỜNG Trần Quốc Hoàn - THPT Lê Hữu Trác II
1 Thơ: quan niệm và phân loại
1.1 Quan niệm về thơ
Thơ là gì? Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa, quan niệmkhác nhau về thơ, nhưng rất hiếm định nghĩa đủ sức bao quát đượctất cả mọi đặc trưng của thể loại này Quan niệm dưới đây của nhómtác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi có thể xem là đầy
đủ nhất: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thểhiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm
Trang 3súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” (Từ điển thuật ngữ văn
học, Nxb ĐHQG, H, 1999).
1.2 Một số cách phân loại thơ
Lâu nay giới nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách phân loại thơ Cụthể:
- Theo nội dung biểu hiện có thơ trữ tình (đi vào tâm tư tình
cảm, những chiêm nghiệm của con người về cuộc đời, ví dụ như bài
Tự tình của Hồ Xuân Hương), thơ tự sự (cảm nghĩ vận động theo
mạch kể chuyện, ví dụ như bài Hầu Trời của Tản Đà), thơ trào
phúng (phê phán, phủ nhận cái xấu theo lối mỉa mai, đùa cợt, ví dụ
như bài Vịnh Khoa thi Hương của Tú Xương).
- Theo cách thức tổ chức bài thơ có thơ cách luật (viết theo luật
đã định trước, ví dụ các loại thơ Đường, lục bát, song thất lục bát,…),
thơ tự do (không theo niêm luật có sẵn), thơ văn xuôi (câu thơ giống
như câu văn xuôi, nhưng giàu nhịp điệu hơn)
- Ở Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung, một số nhànghiên cứu còn dựa vào thời gian xuất hiện để chia thơ thành các loại:
+ Thơ trữ tình dân gian: Ca dao - những sáng tác trữ tình dân
gian, diễn tả đời sống nội tâm của con người Ca dao không mang dấu
ấn cá nhân tác giả như thơ trữ tình (của văn học viết) Trong ca dao,những tình cảm, tâm trạng của các kiểu nhân vật trữ tình và cách thểhiện thế giới nội tâm của các kiểu nhân vật này đều mang tính chấtchung, phù hợp với lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,… Bất cứ ai, nếuthấy ca dao phù hợp, đều có thể sử dụng, xem đó là tiếng lòng mình
Vì thế, ca dao được coi là" thơ của vạn nhà", là tấm gương soi củatâm hồn và đời sống dân tộc Tuy nhiên, trong cái chung đó mỗi bài
ca dao lại có nét riêng độc đáo
Trang 4+ Thơ trữ tình trung đại: do đặc điểm hệ tư tưởng thời đại mà
thơ ở thời đại này thường nặng tính tượng trưng, ước lệ, tính quyphạm và tính phi ngã Chủ thể trữ tình trong thơ trung đại thường làcái tôi đại chúng, cái tôi “siêu cá thể” Nội dung thơ trữ tình trung đạithường nặng về tỏ chí và truyền tải đạo lí
+ Thơ trữ tình hiện đại: thuộc loại hình Thơ mới, xuất hiện từ
đầu thế kỷ XX và phát triển cho đến ngày nay Do nhu cầu đề cao
mạnh mẽ của cái tôi của thi sĩ, nên màu sắc cá thể của cảm xúc in
đậm trong mọi khía cạnh của ngôn từ như vốn từ, các biện pháp tu từhay ngữ điệu, giọng điệu Lời thơ thường linh hoạt, uyển chuyển hơn
so với thơ cũ
Ở nước ta lâu nay vẫn còn tồn tại quan niệm dựa vào nội dung
để chia thơ thành các loại: thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ trào phúng, thơcách mạng (có nội dung tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu bảo
vệ đất nước)
Nhìn chung, mọi cách phân chia trên đây đều mang tính chấttương đối Bởi thơ nào mà chẳng trữ tình, dù ít dù nhiều loại thơ nàocũng theo thi luật nhất định (theo đặc trưng của thơ, của ngôn ngữ,dung lượng,…) Mặt khác, những bài thơ trữ tình biểu lộ tình cảmtrước thiên nhiên đất trời, giang sơn gấm vóc cũng là một “kênh” thểhiện lòng yêu nước,… Tuy vậy, việc phân chia thơ thành các loạikhác nhau là cần thiết, phục vụ cho việc nghiên cứu, đọc – hiểu vàthẩm bình tác phẩm một cách thuận lợi hơn
2 Đặc trưng của thơ
Trang 5Để tạo cơ sở khoa học cho việc đọc – hiểu, thẩm bình thơ,chúng tôi xin được tổng hợp và đúc rút ra một số điểm đặc trưng củathể loại này như sau:
- Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữtình Thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống,những liên tưởng, tưởng tượng phong phú; thơ được phân chia thành
nhiều loại hình khác nhau, nhưng dù thuộc loại hình nào thì yếu tố trữ
tình vẫn giữ vai trò cốt lõi trong tác phẩm
- Nhân vật trữ tình (cũng gọi là chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình) là
người trực tiếp cảm nhận và bày tỏ niềm rung động trong thơ trước sựkiện Nhân vật trữ tình là cái tôi thứ hai của nhà thơ, gắn bó máu thịtvới tư tưởng, tình cảm của nhà thơ Tuy vậy, không thể đồng nhấtnhân vật trữ tình với tác giả
- Thơ là tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của
trái tim trước cuộc đời Lê Quý Đôn từng khẳng định: “Thơ phát khởi
từ lòng người ta”, hay như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Thơ chỉ tràn rakhi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy” Nhà thơ Pháp Alfret deMussé chia sẻ: "Hãy biết rằng chính quả tim ta đang nói và thở thanlúc bàn tay đang viết", "nhà thơ không viết một chữ nào nếu cả toànthân không rung động" (dẫn theo PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương,
Tạp chí Nghiên cứu văn học số 01/2009) Nhưng tình cảm trong thơ
không tự nhiên mà có Nói về điều này, nhà văn M Gorki cũng chorằng: “Thơ trước hết phải mang tính chất tình cảm Tình cảm trongthơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo nhưng không phải là một yếu tố
Trang 6đơn độc, tự nó nảy sinh và phát triển Thực ra đó chính là quá trìnhtích tụ những cảm xúc, những suy nghĩ của nhà thơ do cuộc sống tácđộng và tạo nên Không có cuộc sống, không có thơ” (theo PGS.TSNguyễn Thị Thanh Hương, sđd)
- Thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư, nhưng những
tác phẩm thơ chân chính bao giờ cũng mang ý nghĩa khái quát về con người, về cuộc đời, về nhân loại, đó là cầu nối dẫn đến sự đồng cảm
giữa người với người trên khắp thế gian này
- Thơ thường không trực tiếp kể về sự kiện, nhưng bao giờ cũng
có ít nhất một sự kiện làm nảy sinh rung động thẩm mĩ mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ mà văn bản thơ là sự thể hiện của niềm rung động ấy Một miếng trầu đem mời, một cái bánh trôi nước, một tiếng
gà gáy canh khuya có thể là những sự kiện gây cảm xúc cho Hồ XuânHương; sự kiện Dương Khuê qua đời trong "Khóc Dương Khuê"(Nguyễn Khuyến); cuộc đời tài hoa mệnh bạc của nàng Tiểu Thanhtrong "Độc Tiểu Thanh kí" (Nguyễn Du),…
- Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác
(tự sự, kịch) Hệ quả là nhà thơ biểu hiện cảm xúc của mình một cách
tập trung hơn thông qua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua dòng thơ, qua vần điệu, tiết tấu Nhiều khi, cảm xúc
vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên mới có chuyện “ýtại ngôn ngoại” Do đó, thơ có thể tạo điều kiện cho người đọc thựchiện vai trò “đồng sáng tạo” để phát hiện đời sống, khiến người đọc
Trang 7phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũngnhư những điểm đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ
- Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người
và cuộc sống khách quan Vẻ đẹp và tính chất gợi cảm, truyền cảm
của thơ có được còn do ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, giàu hình
ảnh và nhạc điệu Sự phân dòng, và hiệp vần của lời thơ, cách ngắt nhịp, sử dụng thanh điệu…làm tăng sức âm vang và lan tỏa, thấm sâu của ý thơ Bàn về đặc điểm này, nhà thơ Sóng Hồng viết: “Thơ là
một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tìnhcảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là có tìnhcảm, lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm
và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lờithơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường "
- Về cấu trúc, mỗi bài thơ là một cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt Sự
sắp xếp các dòng (câu) thơ, khổ thơ, đoạn thơ làm nên một hình thức
có tính tạo hình Đồng thời, sự hiệp vần, xen phối bằng trắc, cách ngắtnhịp vừa thống nhất vừa biến hóa tạo nên tính nhạc điệu Hình thức
ấy làm nên vẻ đẹp nhịp nhàng, trầm bổng, luyến láy của văn bản thơ.Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình, là ngôn ngữhình ảnh, biểu tượng Ý nghĩa mà văn bản thơ muốn biểu đạt thườngkhông được thông báo trực tiếp, đầy đủ qua lời thơ, mà do tứ thơ,giọng điệu, hình ảnh, biểu tượng thơ gợi lên Do đó ngôn ngữ thơthiên về khơi gợi, giữa các câu thơ có nhiều khoảng trống, những chỗkhông liên tục gợi ra nhiều nghĩa, đòi hỏi người đọc phải chủ động
Trang 8liên tưởng, tưởng tượng, thể nghiệm thì mới hiểu hết sự phong phúcủa ý thơ bên trong
3 Yêu cầu và phương pháp đọc hiểu tác phẩm thơ
Khi đọc hiểu tác phẩm thơ, cần tiến hành theo các bước sauđây:
- Cần biết rõ tên bài thơ, tên tác giả, thời gian và hoàn cảnh sángtác, đó là cơ sở ban đầu để tiếp cận tác phẩm
- Đọc và quan sát bước đầu để nắm chắc bài thơ Qua việc đọc,phải xác định được chủ đề, chủ thể trữ tình (chủ thể trữ tình thườngxuất hiện ở hai dạng: cái tôi trữ tình và chủ thể trữ tình ẩn), đối tượngtrữ tình, hình tượng trữ tình và giọng điệu chủ đạo của bài thơ
- Cảm nhận nội dung, ý nghĩa bài thơ qua câu chữ, hình ảnh,nhịp điệu, kết cấu, các biện pháp tu từ,…
- Lí giải, đánh giá toàn bộ bài thơ cả về hai phương diện nộidung và nghệ thuật Đặc biệt là phải chỉ ra những đóng góp của tácgiả (thể hiện qua tác phẩm) cho thơ và cho cuộc sống con người
4 Định hướng tiếp cận một số bài thơ trong chương trình THPT theo đặc trưng thể loại
TỎ LÒNG (Thuật hoài ) Phạm Ngũ Lão Yêu cầu chung:
- Cảm nhận được vẻ đẹp của con người thời Trần, người anh hùng vệ
quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách lớn lao; vẻ đẹpcủa thời đại và khí thế hào hùng
- Thấy được nghệ thuật của bài thơ: ngắn gọn, đạt tới độ súc tích cao.
Trang 9- Bồi dưỡng nhân cách, lí tưởng, lòng yêu nước và tự hào dân tộc
"Tài võ" của ông đem hiến dâng cho sự nghiệp cứu nước "Tàivăn" dùng để làm thơ bày tỏ nỗi lòng của mình với bè bạn, với hậuthế và trước hết là tự nói với mình về ý thức trách nhiệm thiêng liêng,
nghĩa vụ cao cả với Tổ quốc yêu quý Tỏ lòng chính là tiếng nói của
một trái tim yêu nước thiết tha Qua tiếng nói ấy, người đời được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của trang nam nhi yêu nước thời Trần.
Cần bám sát những đặc trưng của thơ trữ tình trung đại để đọchiểu bài thơ, như :
- Thể thơ : Bám vào đặc điểm kết cấu của thơ Đường luật (thấtngôn tứ tuyệt), thường gặp nhất có bài gồm một giải hoặc hai giải:tiền giải và hậu giải để chia bố cục của bài thơ làm 2 phần: phần 1(thường là sự việc, câu chuyện, cảnh vật):Vẻ đẹp của con người vàthời đại nhà Trần, phần 2 (thường là cảm nghĩ của tác giả): Nỗi lòngcủa tác giả
- Ngôn ngữ: Văn học trung đại thiên về xây dựng những kiếntrúc ngôn từ vững chãi, hàm súc, được viết bằng chữ Hán hoặc chữNôm Đối với bài thơ "Tỏ lòng" được viết bằng chữ Hán nên khi tìmhiểu bài thơ phải đối chiếu với phần phiên âm và dịch nghĩa để cảm
Trang 10nhận đúng giá trị và vẻ đẹp của bài thơ.(Ví dụ:" Hoành sóc" có nghĩalà: "cầm ngang ngọn giáo" nhưng bản dịch thơ lại là : múa giáo ).Cần đối chiếu phần phiên âm và dịch nghĩa trong bài thơ để thấyđược chỗ đạt và chưa đạt của bản dịch thơ Mặt khác, thơ đạt chữHán vốn dĩ đạt đến độ hàm súc cao "quý hồ tinh bất quý hồ đa", dùngười dịch đã cố gắng nhưng vẫn chưa thể chuyển tải hết ý thơ.
(Có thể mở rộng so sánh thêm một số bài thơ chữ Hán của Nguyễn
Du, Hồ Chí Minh )
- Văn học trung đại thường sử dụng các hình ảnh ước lệ, tượngtrưng, các điển cố, niêm luật, đối xứng chặt chẽ, hài hoà cho nêncần chú ý những đặc trưng này khi tiếp nhận tác phẩm.( Ví như cáchình ảnh "hoành sóc giang sơn" kết hợp với bối cảnh không gian vàthời gian "kháp kỷ thu" đã làm bật được tư thế hiên ngang và tầm vóc
vũ trụ của con người thời Trần Sử dụng điển cố "thuyết Vũ Hầu" thểhiện được chí hướng, hoài bão của tác giả một cách hàm súc, sâu sắc
- Hình tượng nhân vật trữ tình: Cách biểu hiện chủ thể của nhàthơ trung đại là một hiện tượng độc đáo So với thơ trữ tình hiện đại
là sự thiếu vắng cách biểu thị trực tiếp chủ thể trữ tình dưới dạng thức
"tôi ", "ta ", "chúng ta" Câu thơ do đó thường vắng chủ từ biểu thịchủ thể, tạo một sự cảm nhận mơ hồ, phiếm chỉ, một chủ thể có tínhtổng hợp Ví dụ, trong câu đầu của bài thơ có việc cầm ngang ngọngiáo đứng giữa non sông đã mấy thu nhưng ai cầm, câu thơ khôngcho biết Người đọc nghĩ đến đó là chủ thể trữ tình (tự hiểu ngầm làtác giả Phạm Ngũ Lão) Nhưng câu sau lại có" tam quân tỳ hổ" Vậyphải chăng ba quân cũng là kẻ cầm ngang ngọn giáo ? Câu ba xuất
Trang 11hiện " nam nhi" - một danh từ chung, hẳn không chỉ riêng cho PhạmNgũ Lão Chủ thể trữ tình rõ ràng là Phạm mà không chỉ có Phạm Đó
là một con người vừa cá thể , vừa tổng hợp, vừa phổ quát, có khảnăng gây đồng cảm mạnh mẽ
- Thơ trữ tình trung đại thiên về biểu hiện tâm sự, chí hướng, lýtưởng của nhà thơ vì thế cần khai thác tâm sự, chí hướng, lý tưởng,nhân cách của tác giả được thể hiện trong bài thơ Ngay nhan đề
"Thuật hoài" cũng đã thể hiện rõ ý" kể ra cái chí hướng hoài bão củamình" "Thuật hoài " - (Tỏ lòng ) là cái chí, cái tâm của người anhhùng Chí được nói tới là chí làm trai để trả món nợ công danh, trả nợcông danh là phải hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân, với nước.Còn cái tâm của người anh hùng được thể hiện qua nỗi "thẹn", PhạmNgũ Lão "thẹn" vì chưa có được tài mưu lược lớn như Vũ Hầu - GiaCát Lượng để trừ giặc, cứu nước, đó là cái thẹn có ý nghĩa nâng tầmnhân cách
VỘI VÀNG (Xuân Diệu) Yêu cầu chung:
- Cảm nhận được lòng yêu đời, yêu sống mãnh liệt, quan niệmmới về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc của thi sĩ Xuân Diệu
- Thấy được sự kết hợp giữa mạch cảm xúc dào dạt và mạch líluận trong bài thơ, những sáng tạo trong nghệ thuật biểu hiện
- Biết quý trọng thời gian, yêu tuổi trẻ, yêu cuộc sống, góp phầnlàm cho cuộc sống thêm tươi đẹp
Trang 12Định hướng tiếp cận:
Cái mới của Thơ mới là dám coi cái tôi cá nhân như một quanđiểm một tư cách để nhìn đời và nói với mọi người Sự thức tỉnh về ýthức cá nhân đòi hỏi thơ lấy cái tôi, cái cá nhân làm đề tài, thậm chílàm trung tâm Thơ mới thể hiện khát vọng "được thành thực" để giãibày mọi cảm xúc, tâm tư "Vội vàng" là bài thơ tiêu biểu cho tinh thần
đó của Thơ mới
Thơ mới đem lại một ngôn ngữ gắn với lời nói và dòng ngữđiệu- cảm xúc của con người Câu thơ mới và từ thơ mới mất dần tínhđộc lập để kết hợp nhau thành giọng, lời bão hoà tình cảm cá thể Câuthơ mới đã được chủ thể hoá, cá thể hoá cao độ để gắn với lời phântrần, tâm sự Chất liệu thơ không chỉ là từ mà là ngữ
Trước hết bài thơ được tổ chức thành một lời bộc bạch khá trực
tiếp Y như đang có đối tượng giao tiếp ngay trước mặt, còn chủ thểthì đang nhiệt thành phơi trải lòng mình say sưa nhất, phấn chấnnhất Lời thơ vì thế có rất nhiều yếu tố của văn bản nói: cách tranh
biện hăng hái (nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn – Nếu tuổi trẻ
chẳng hai lần thắm lại), mật độ từ nghiêng về khẩu ngữ: từ chỉ trỏ tạo
nhịp điệu cho động tác của chủ thể ( Này đây…Này đây), lối cắt nghĩa liên tục (nghĩa là… nghĩa là), các liên từ (và…và…và),
Thủ pháp trùng điệp gồm cả điệp cú, điệp ngữ, điệp từ…đượcdùng linh hoạt khiến cho mạch thơ tuôn chảy tự nhiên Điệp lại kiểu
câu như là sự bộc bạch ao ước: Tôi muốn tắt nắng đi - Cho màu đừng
nhạt mất, Tôi muốn buộc gió lại – Cho hương đừng bay đi Xác định
sở hữu của…này đây, đảo lại Này đây…của, rồi lại nhấn mạnh Và
Trang 13này đây…lối cắt nghĩa: Xuân đương tới nghĩa là…Xuân còn non nghĩa là… Điệp lại các cụm từ, các từ (ta muốn…ta muốn, cho… cho…, và và )
Bài thơ Vội vàng tần số xuất hiện dày đặc các động từ: tắt,
buộc, ôm, riết, thâu, say, cắn Các trạng từ mãnh liệt: cho chếnh choáng, cho no nê, cho đã đầy…Đó là những làn sóng ngôn từ đan
xen, cộng hưởng thể hiện tiếng lòng của nỗi khao khát mãnh liệt
Thể thơ và cách ngắt nhịp khá đa dạng và linh hoạt Bốn câuđầu là thể thơ năm chữ Phần còn lại là thể thơ tám chữ Phần cuối
trước khi kết thúc là một câu thơ bắt đầu bằng câu thơ 3 chữ: Ta
muốn ôm.
Nhạc điệu trong bài thơ được quy định bởi cách ngắt nhịp cáccâu thơ, thường nhịp điệu trong câu thơ tám chữ ngắt theo nhịp phổ
biến 3/3/2 nhưng ở đây tác giả dùng cách linh hoạt: Của yến anh/ này
đây/ khúc tình si (3/2/3); có khi là 5/5: Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Tạo ra nhịp điệu sôi nổi, chuyển tải được một
tâm hồn say sưa chếnh choáng
Hệ thống những tính từ chỉ xuân sắc, động từ chỉ động thái đắmsay, danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân tươi trẻ tạo ra hình ảnh tình tứ,
quyến rũ: bắt đầu mơn mởn, mây đưa gió lượn, cái hôn nhiều, cỏ
rạng, mùi thơm, ánh sáng, thời tươi , xuân hồng…
Bài thơ là tiếng nói sôi nổi, hăm hở của một tâm hồn yêu đời,yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt Đồng thời thể hiện một cái nhìn mới
mẻ về cuộc sống, Xuân Diệu đã nhìn đời bằng "cặp mắt xanh non,biếc rờn" nên cuộc sống hiện lên tràn đầy xuân sắc, xuân tình, nhưmột thiên đường trên mặt đất này Xuân Diệu đã hoà lẫn cái tôi của
Trang 14mình vào cuộc đời trần thế với một niềm khát khao giao cảm mãnhliệt Mặt khác, bài thơ cũng thể hiện những quan niệm nhân sinh hếtsức mới mẻ về thời gian, tuổi trẻ, hạnh phúc: Đời người ngắn ngủi,hữu hạn, tuổi trẻ là phần đẹp đẽ quý giá nhất của đời người Vậy nêncần sống "vội vàng " từng giây, từng phút, tận hiến và tận hưởng cuộcsống này "Vội vàng" là tâm thế sống, cũng là triết lý sống của thi sĩ.
TÂY TIẾN
Quang Dũng
Yêu cầu chung:
- Cảm nhận được nỗi nhớ tha thiết của nhà thơ về :
+ Con đường Tây Tiến dữ dội, hùng vĩ mà thơ mộng, mĩ lệ mộtthời
+ Hình tượng người lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa và đậmtinh thần bi tráng
- Thấy được những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ: bútpháp lãng mạn, những sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ và giọng điệu
- Xúc động trước vẻ đẹp cao cả và sự hi sinh của người lính TâyTiến
Định hướng tiếp cận:
Bài thơ được kết tinh từ một nỗi nhớ, nỗi nhớ da diết về nhữngngười đồng đội và những ngày tháng, những kỉ niệm không thể nàoquên của tác giả trong đoàn quân Tây Tiến, gắn với vùng đất miềnTây hùng vĩ, hiểm trở và thơ mộng Nỗi nhớ ấy đã đánh thức mọi ấntượng, kí ức để kết tinh thành những hình ảnh sống động Thường thìnhững hình ảnh trong kí ức dược gợi ra khó có một trật tự rõ ràng, nó
có thể xáo trộn trình tự thời gian, không gian, nhưng vẫn có một trình
tự khác - đó là mạch cảm xúc của chủ thể Ở đây, mạc cảm xúc hồi
Trang 15tưởng đã làm lần lượt hiện lên những hình ảnh về Tây Tiến Khởi đầu
là hình ảnh những cuộc hành quân dãi dầu gian khổ giữa một khungcảnh miền Tây hoang sơ, hùng vĩ, bí ẩn, Tiếp đó, nỗi nhớ gợi vềnhững hình ảnh tươi đẹp, rực rỡ, mềm mại và thơ mộng nổi bật lêntrong đó là hình ảnh những thiếu nữ miền Tây trong đêm lửa trại và
vẻ đẹp huyền ảo trong sương khói tiễn biệt nơi Châu Mộc Nỗi nhớđược kết tinh lại trong sự khắc họa tập trung, cận cảnh bức chân dungngười lính Tây Tiến và sự hi sinh của họ Nỗi nhớ đã đi trọn mạch hồitưởng của nhà thơ, và đến khi kết thúc, tác giả muốn gửi trọn hồnmình lên với mảnh đất miền Tây
Hình ảnh trong bài thơ khá đa dạng và được sáng tạo bằng nhiềubút pháp khác nhau, tạo nên sắc thái thẩm mĩ phong phú Trong bàithơ có hai loại hình ảnh chính: thiên nhiên miền Tây Bắc và ngườilính Tây Tiến, đồng thời còn có hình ảnh về cuộc sống của đồng bàomiền Tây gắn với người lính Tây Tiến Thiên nhiên có cái dữ dội,khắc nghiệt, hoang sơ, hùng vĩ ("Dốc lên khúc khuỷu dốc thămthẳm", "Heo hút cồn mây", "Chiều chiều oai linh thác gầm thét - Đêmđêm Mường Hịch cọp trêu người", " Sông Mã gầm lên khúc độchành") Bên cạnh đó lại có những hình ảnh thiên nhiên đầy thơ mộng,
ẩn hiện trong sương khói, trong màn mưa, đong đưa bóng hoa, ("SàiKhao sương lấp đoàn quân mỏi", "Mường Lát hoa về trong đêm hơi",
"Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi", "Châu Mộc chiều sương", "hồn launẻo bến bờ", "dòng nước lũ hoa đong đưa") Hình ảnh con ngườicũng hiện ra với nhiều sắc thái, mà chủ yếu là hào hùng và hào hoa.Hào hùng ở ý chí hiên ngang, vượt lên và coi thường những gian khổ,
Trang 16thiếu thốn, hi sinh Còn hào hoa là ở tâm hồn nhạy cảm trước thiênnhiên, đằm thắm tình người và cả những khát khao, mơ mộng
Đặc sắc trong ngôn ngữ của Tây Tiến là sự phối hợp, hòa trộncủa nhiều sắc thái phong cách với những lớp từ vựng đặc trưng Cóthứ ngôn ngữ trang trọng, có màu sắc cổ kính Lại có lớp từ ngữthông tục, sinh động của lời ăn tiếng nói hàng ngày, in đậm phongcách người lính: nhớ chơi vơi, súng ngửi trời, anh bạn, bỏ quên đời,cọp trêu người
Những kết hợp từ độc đáo, mới lạ, tạo nghĩa mới hoặc sắc thái
mới cho từ ngữ ( ví dụ: nhớ chơi vơi, đêm hơi, súng ngửi trời, mưa xa
khơi, Mai Châu mùa em, hoa đong đưa, dáng kiều thơm, về đất )
Sử dụng địa danh cũng là một nét chú ý trong ngôn ngữ của bàithơ Các địa danh vừa tạo ấn tượng về tính cụ thể, xác thực của bứctranh thiên nhiên và đời sống con người, lại vừa gợi được sự hấp dẫncủa xứ la, phương xa
Về giọng điệu: Cả bài thơ bao trùm là nỗi nhớ với nhiều trạngthái cảm xúc khác nhau Ở đoạn 1, giọng chủ đạo là giọng tha thiết,bồi hồi được cất lên thành những tiếng gọi, những từ cảm thán Ởđoạn 2, khi tái hiện kỉ niệm về những đêm liên hoan thắm tình quândân thì chuyển sang hồn nhiên, tươi vui; rồi lại bâng khuâng, manmác khi gợi lại một cảnh chia tay trong một chiều sương bao phủ nơiChâu Mộc Giọng thơ trở nên trang trọng, rồi lắng xuống bi tráng ởđoạn thứ 3- tái hiện hình ảnh người lính Tây Tiến và sự hi sinh củahọ
ĐẤT NƯỚC
( Trích trường ca Mặt đường khát vọng)
Trang 17Nguyễn Khoa Điềm Yêu cầu chung:
- Hiểu được nhận thức nghệ thuật mới mẻ về đất nước của nhàthơ Nguyễn Khoa Điềm : Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của cadao thần thoại
- Đặc sắc về nghệ thuật: Giọng thơ trữ tình - chính luận, sự vậndụng sáng tạo nhiều yếu tố của văn hóa và văn học dân gian
- Có nhận thức toàn diện và sâu sắc về đất nước
Định hướng tiếp cận:
Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân : Tư tưởng này thực ra đã
manh nha trong lịch sử xa xưa Những nhà tư tưởng lớn, những nhàvăn của dân tộc đã từng nói lên nhận thức về vai trò của nhân dân
trong lịch sử Biểu hiện tư tưởng ấy trong thơ văn Nguyễn Trãi Việc
nhân nghĩa cốt ở yên dân Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới Tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào, hay Dân là nước nước là dân (Phan Bội Châu).
Ở thời kì hiện đại được soi sáng bằng tư tưởng xã hội chủ nghĩa, nảy
nở trong thực tiễn của cuộc cách mạng mang tính nhân dân, văn họcsau Cách mạng tháng Tám đã đạt đến một nhận thức sâu sắc về nhândân và cảm hứng về đất nước mang tính dân chủ cao (Thơ ca khángchiến chống thực dân Pháp là một ví dụ tiêu biểu Có thể kể đến các
bài như Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Bên kia Sông Đuống của
Hoàng Cầm ) Đến giai đoạn chống đế quốc Mĩ, tư tưởng Đất nướccủa Nhân dân một lần nữa được nhận thức sâu sắc thêm bởi vai trò và
Trang 18những đóng góp to lớn, những hi sinh vô vàn của nhân dân trong cuộcchiến tranh dài lâu và cực kỳ ác liệt này.
Tư tưởng ấy được các nhà thơ lớp trẻ thời chống Mĩ cứu nướcphát biểu một cách thấm thía qua sự trải nghiệm của chính mình nhưnhững thành viên của nhân dân, cùng chia sẻ mọi gian lao, hi sinh và
được sự chở che, đùm bọc, nuôi dưỡng của nhân dân (Hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy, trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo,
Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh đều tập trung nói về gương mặt
của những người con bình thường, vô danh trong nhân dân) Đất
Nước của Nguyễn Khoa Điềm góp thêm một thành công trong dòng
thơ về đất nước thời chống Mĩ cứu nước, làm sâu sắc thêm nhận thức
về đất nước: dung dị, đời thường, thậm chí có phần lam lũ nhưngkhông kém phần cao cả Đất Nước được nhìn nhận trên nhiều bìnhdiện : địa lí, lịch sử, văn hóa…Ở mỗi bình diện, dường như NguyễnKhoa Điềm đều có những phát hiện mới, cách nói mới về Đất Nước
Thành công của đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm ở
việc tạo ra một không khí, giọng điệu, một không gian nghệ thuậtriêng đưa ta vào thế giới gần gũi, mĩ lệ và bay bổng của ca dao,truyền thuyết, của văn hóa dân gian nhưng lại mới mẻ, qua cách cảmnhận và tư duy hiện đại với hình thức câu thơ tự do Đó chính là
nét thẩm mĩ, thống nhất với tư tưởng " Đất Nước của Nhân dân, Đất
Nước của ca dao thần thoại".
Chất liệu dân gian được sử dụng rất đa dạng và sáng tạo Có
phong tục, tập quán sinh hoạt, vật dụng quen thuộc (miếng trầu; tóc
bới sau đầu; cái kèo; cái cột, hạt gạo xay, giã, giần, sàng, hòn than,
Trang 19con cúi, ) Có ca dao, dân ca, tục ngữ Có truyền thuyết Hùng
Vương, các truyện cổ tích xa xưa (Trầu Cau, Tấm Cám, núi Vọng
Phu, hòn Trống Mái ) Cách vận dụng của tác giả thường là chỉ gợi
ra bằng một vài chữ của câu ca dao hay một hình ảnh, một chi tiếttrong truyền thuyết, cổ tích
Chất liệu văn hóa, văn học được sử dụng đậm đặc đã tạo nênmột không gian nghệ thuật riêng của đoạn trích, vừa bình dị, gần gũi,hiện thực, lại vừa giàu tưởng tượng, bay bổng, mơ mộng Hơn nữa cóthể nói chất dân gian đã thấm sâu vào tư tưởng và cảm xúc của tácgiả, tạo nên một đặc điểm trong tư duy nghệ thuật ở đoạn trích này
Đoạn trích Đất Nước không chỉ có chất dân gian mà còn có tính
hiện đại Điều đó được thể hiện ở các yếu tố suy tưởng, triết lí và ởthể thơ tự do với những câu thơ co duỗi linh hoạt, thay đổi nhịp điệu
và rất ít dựa vào vần để liên kết
Đoạn trích thể hiện đặc điểm thơ của Nguyễn Khoa Điềm: kếthợp chính luận và trữ tình, suy tưởng và cảm xúc Chất chính luận ở
đây thể hiện trong toàn bộ trường ca Mặt đường và khát vọng nằm
trong ý đồ tư tưởng của tác giả: thức tỉnh tinh thần dân tộc của thế hệtrẻ thành thị miền Nam, để dứt khoát trong sự lựa chọn đứng về phíanhân dân và cách mạng Nhưng đoạn trích này không phải là một vănbản nghị luận thuần túy, khô khan mà sự kết hợp chính luận với trữ
tình, suy tưởng với cảm xúc Giọng tâm tình, thủ thỉ , lối trò chuyện
thân mật, tự nhiên Chất trữ tình không chỉ biểu hiện ở những câu thơ
bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của chủ thể mà còn thấm vào trongcái nhìn, trong thái độ trân trọng, yêu quý với mỗi hình ảnh, chi tiết
Trang 20về đất nước gắn liền với nhân dân Chính nhờ suy tưởng mà nhà thơphát hiện được nhiều ý nghĩa mới và sâu từ những điều quen thuộc:những truyện cổ tích, câu ca dao, những địa danh, thắng cảnh của đấtnước đều chứa đựng tâm sự, quan niệm, lối sống, cả cuộc đời và máuthịt của nhân dân Nhưng những suy nghĩ, phát hiện ấy không phảiđược nói lên bằng những mệnh đề khô khan, mà qua những hìnhảnh thơ và những cảm xúc của chủ thể trữ tình.
Trang 21CÁCH TIẾP CẬN NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM TỰ SỰ
Phan Huệ Chi - THPT Chuyên
“trần thuật” là hành động diễn ngôn tự sự được thực hiện bởi một(hoặc nhiều) người kể chuyện giữ vai trò trung gian giữa người sángtác với những chuyện được kể trong tác phẩm
Trang 22Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhậnchủ quan về nó thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộtính khách quan của nó Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bứctranh mở rộng của đời sống trong không gian và thời gian, qua các sựkiện, biến cố xẩy ra trong cuộc đời con người Phương thức phản ánhhiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi con người làm cho tácphẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một sự kiện nào
đó Cho nên, tác phẩm tự sự thường có cốt truyện Gắn liền với cốttruyện là hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đặn hơn hẳn nhân vậttrong tác phẩm trữ tình và kịch
Những đặc điểm nói trên làm cho tác phẩm tự sự trở thành loạivăn học có khả năng quan trọng trong đời sống tinh thần của conngười hiện đại
1.2 Nhân vật trong tác phẩm tự sự
1.2.1 Nhân vật trong tác phẩm văn học
Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tácphẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng cũng có thểkhông có tên riêng Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụngnhư một ẩn dụ không chỉ một con người cụ thể mà chỉ một hiện tượngnổi bật nào đó trong tác phẩm Bên cạnh con người, nhân vật văn học
có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường đượcgán cho những đặc điểm giống con người
Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệkhông thể bị đồng nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xâydựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu
Trang 23Từ những góc độ khác nhau, có thể chia nhân vật văn học thànhnhiều kiểu, loại khác nhau:
- Dựa vào vai trò, vị trí khác nhau trong tác phẩm, nhân vật vănhọc được chia thành nhân vật chính, nhân vật phụ
- Dựa vào đặc điểm tính cách và việc truyền đạt sự đánh giá vàthể hiện lý tưởng xã hội của nhà văn, nhân vật văn học được chiathành nhân vật chính diện (tích cực), nhân vật phản diện (tiêu cực)
- Dựa vào thể loại văn học, người ta phân biệt nhân vật tự sự,nhân vật trữ tình, nhân vật kịch
- Dựa vào cấu trúc hình tượng, nhân vật được chia thành nhânvật chức năng (mặt nạ), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhânvật tư tưởng
- Tuy nhiên, mọi sự phân chia đều mang tính chất tương đối,nhân vật trong thực tế văn học hết sức đa dạng, sự phân chia chỉ nhằmnhấn mạnh đặc điểm cơ bản, xuất phát từ một trong những góc độtiếp cận các nhân vật văn học Trong văn học cổ điển, thông thườngnhân vật chính đồng thời là nhân vật tích cực, chính diện và ngượclại Tuy nhiên, đối với văn học hiện đại, sự phân chia nhân vật trongtác phẩm không rõ ràng, rạch ròi như văn học cổ điển, có nhân vậtvừa ác vừa thiện, vừa hiền vừa dữ…
Trang 241.2.2 Nhân vật trong tác phẩm tự sự
Nhân vật trong tác phẩm tự sự bao gồm:
- Con người là đối tượng phổ biến và bao trùm nhất
- Vật: Loài vật, đồ vật, tạo vật thường được mô tả theo hai kiểu:Kiểu ngụ ngôn (phổ biến trong văn học dân gian, được nhân cách hóahoặc người đội lốt vật); kiểu hiện thực (vẫn được miêu tả là đồ vật,loài vật nhưng có vai trò quan trọng trong tác phẩm như con chó vàng
(Lão Hạc - Nam Cao), con chó becgie (Đôi mắt - Nam Cao), Khoang đen (Phiên chợ Giát - Nguyễn Minh Châu)…
Nhưng dù nhà văn viết về loài vật, đồ vật nhưng đều miêu tảtheo qui luật của con người Miêu tả đồ vật, loài vật không phải vìbản thân đối tượng mà là vì con người Nói cách khác, con ngườiđược miêu tả gián tiếp qua đó
Tầm quan trọng của việc tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm tự sựđược xác định dựa vào vai trò của nhân vật trong tác phẩm:
- Nhân vật khái quát tính cách của con người, khái quát hóacuộc sống, hiện thực được cô đặc lại, thu nhỏ lại trong cuộc sống củamột nhân vật giống như qua một giọt nước thấy cả đại dương, qua sốphận của một nhân vật có thể thấy được cả một lớp người, một thờiđại, một xã hội Đó chính là vai trò phản ánh
- Nhân vật là yếu tố hết sức quan trọng truyền tải tư tưởng củatác giả Qua nhân vật, tác giả gửi gắm những tư tưởng, những thôngđiệp thẩm mỹ tới người đọc Đó chính là vai trò tư tưởng
Trang 25- Nhân vật tạo nên tính thuyết phục cho tác phẩm, khiến ngườiđọc có cảm giác tin cậy vào những điều nhà văn viết Vấn đề này hếtsức cần thiết trong hoạt động tiếp nhân văn học Điều quan trọng củatính thuyết phục là tính chân thực của tác phẩm, tức là sự phù hợpgiữa tác phẩm với những qui luật của đời sống, mà xét đến cùng, tínhchân thực của tác phẩm lại phụ thuộc vào tính chân thực của nhân vật.
Vì vậy, có thể nói, nhân vật tạo nên tính thuyết phục cho tác phẩm Như vậy, trong tác phẩm tự sự, nhà văn “nói” qua nhân vật.Nhân vật chính là nơi tập trung mang chở nội dung phản ánh, chủ đề,
tư tưởng của tác phẩm, là nơi ký thác quan niệm về con người, vềcuộc sống, về nghệ thuật của nhà văn Một nhân vật văn học lớn baogiờ cũng thể hiện một số phận, một quan niệm nhân sinh độc đáo vàthường điển hình cho một tầng lớp xã hội, một giai cấp, thậm chí mộtthời đại nào đó Bởi thế, phân tích nhân vật trở thành con đường quantrọng nhất để xác định giá trị của tác phẩm, để nhận ra lí tưởng thẩm
mĩ cùng tài năng, phong cách nghệ thuật của nhà văn
Trong chương trình THPT, tác phẩm tự sự chiếm số lượng lớnbên cạnh tác phẩm trữ tình, từ trung đại đến hiện đại Ở đây, chúngtôi giới hạn việc tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm tự sự hiện đại
2 Phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự
2.1 Xác định đúng mục đích của việc phân tích nhân vật
Trang 26Điều cốt lõi khi phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự là phảixác định đúng mục đích của việc phân tích Thông thường, khi phântích, giáo viên giúp học sinh chỉ ra được các đặc điểm của nhân vậtnhư: hình dáng bên ngoài, lời nói, cách nói, cử chỉ, thế giới nội tâm,quan hệ với nhân vật khác Nếu vậy, chưa thể xem là đã phân tíchmột nhân vật tự sự Đây mới chỉ là những phương tiện, những dấuhiệu của đặc điểm tâm lý, tính cách nhân vật Mục đích của việc phântích nhân vật là chỉ ra được tâm lý, tính cách, bản chất xã hội củanhân vật từ đó làm rõ ý nghĩa phản ánh, ý nghĩa tư tưởng, thông điệp
thẩm mĩ và những điểm sáng tạo được nhà văn thể hiện qua nhân vật.
Người phân tích cần tránh nhầm lẫn giữa mục đích và phương tiện,không được lấy phương tiện thay cho mục đích
2.2 Xác định đúng loại nhân vật để định hướng cho qui trình phân tích
Thực tiễn giảng dạy cho thấy, có sự khác nhau trong việc phân
tích các loại nhân vật Phân tích các nhân vật như Chí Phèo (Chí
Phèo), Mị (Vợ chồng A Phủ) khác với tiến trình phân tích nhân vật
Huấn Cao (Chữ người tử tù), Tnú (Rừng xà nu); cũng không giống với tiến trình phân tích nhân vật Hộ (Đời thừa)… Sự khác nhau trong
phân tích các nhân vật nói trên xuất phát từ sự khác nhau về đối tượngphân tích Nói cách khác, đó là các kiểu loại nhân vật được xây dựngtheo những mô hình khác nhau Ở mỗi loại nhân vật cần có cách tiếpcận khác nhau
Tác phẩm tự sự hiện đại trong chương trình có một số kiểu cấutrúc nhân vật chủ yếu:
Trang 27Nhân vật loại hình: Nhân vật thể hiện tập trung một loại phẩm
chất, tính cách nào đó của con người hoặc các phẩm chất, tính cách,đặc điểm của một loại người nhất định của thời đại Nhân vật loạihình không phải là khái niệm trừu tượng Giống như các loại nhân vậtkhác, các nhân vật được thể hiện trong tác phẩm qua những chi tiếtchân thực, sinh động của đời sống Điển hình loại này có cá tính nhấtđịnh nhưng khái niệm loại vẫn là cốt lõi của nó Chương trình THPT
có loại nhân vật này như Huấn Cao (Chữ người tử tù), Tnú (Rừng xà
nu), A Châu (Vợ chồng A Phủ)…
Nhân vật tư tưởng: Loại nhân vật tập trung thể hiện một tư
tưởng, một ý thức tồn tại trong đời sống tinh thần của xã hội Nhânvật tư tưởng cũng thể hiện một cá tính, một nhân cách nhưng hạt nhâncủa nó là một tư tưởng, một ý thức Trong chương trình THPT có
những nhân vật tư tưởng như: Hộ (Đời thừa), Phùng (Chiếc thuyền
ngoài xa)
Nhân vật tính cách: Là một kiểu nhân vật phức tạp được miêu
tả trong tác phẩm như một nhân cách, một cá nhân có cá tính nổi bật.Nhân vật tính cách thường có những mâu thuẫn nội tại, những nghịch
lý, những chuyển hóa Do đó, tính cách của loại nhân vật này thường
có một quá trình tự phát triển trong sự tác động, chi phối của hoàncảnh sống
Trang 28Như vậy, nhân vật tính cách khác với nhân vật loại hình Nếunhư khái niệm loại là hạt nhân của nhân vật loại hình thì ở nhân vậttính cách, hạt nhân lại là cá tính Chương trình PTTH có những nhân
vật tính cách như Chí Phèo (Chí Phèo), Mị (Vợ chồng A Phủ)… Tính
cách, bản chất xã hội của nhân vật được thể hiện bằng cá tính, thôngqua cá tính
Chỉ khi định vị được kiểu loại nhân vật, chúng ta mới có thể xácđịnh đúng các kiến thức cơ bản, trọng tâm cần truyền đạt:
- Với những nhân vật loại hình, nhân vật tư tưởng, kiến thức cơbản, trọng tâm phân tích là làm sáng tỏ đặc điểm phần loại Với kiểunhân vật này, đặc điểm tính cách ít hoặc không thay đổi Các sự kiệntrong cốt truyện có đổi thay, vận động theo chiều không gian, thờigian cũng chỉ để khắc họa, tô đậm càng lúc càng rõ nét đặc điểm tínhcách của nhân vật
- Với những nhân vật được xác định là nhân vật tính cách, trọngtâm cần phân tích không phải ở chỗ chỉ ra được những đặc điểm tínhcách bất biến mà chính ở sự thay đổi, chuyển biến của tính cách dưới
sự thay đổi của môi trường sống, hoàn cảnh sống cùng những mâuthuẫn, xung đột trong nội tâm, tâm lý, tính cách của nhân vật
Thực tiễn sáng tác cho thấy, có thể căn cứ vào chủng loại nhânvật - tập hợp nhân vật thể hiện tư tưởng và phong cách tác giả để hỗtrợ cho quá trình phân tích:
Trang 29- Nguyễn Tuân: Tập hợp các nhân vật bao gồm: Huấn Cao (Chữ
người tử tù) cụ Hồ Viễn và cậu Chiêu (Ngôi mả cũ), ông Cử Hai (Thả thơ) là những nghệ sĩ hoặc tuy không hành nghề nghệ thuật nhưng
rất tài hoa trong nghề nghiệp của mình Đây là loại nhân vật kết tinhtâm huyết và phong cách Nguyễn Tuân
- Nam Cao: Xuất hiện hệ thống các nhân vật xấu xí, dị dạng như
Chí Phèo, Thị Nở (Chí Phèo), Mụ Lợi (Lang Rận), Trương Rự, Đức (Nửa đêm), Trạch Văn Đoành (Đôi móng giò)…là dụng ý của tác giả.
Với loại nhân vật này, Nam Cao muốn nhấn mạnh tính chất khốc liệt
và tàn bạo của xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám (làmméo mó, dị dạng cả tâm hồn lẫn thể xác của người lao động lươngthiện) đồng thời bộc lộ quan điểm rất hiện đại về con người: không cócon người hoàn toàn thánh thiện, không có con người hoàn toàn xấu
xa, con người hiện diện với tất cả sự phức tạp của các mặt đối lập
Thạch Lam: Tập hợp những nhân vật như: Liên, An (Hai đứa
trẻ), Thanh (Dưới bóng hoàng lan), Tâm (Cô hàng xén)…là kiểu con
người nội tâm, với những trạng thái cảm giác, cảm xúc mơ hồ, mong
manh, tinh tế, những rung động khẽ khàng như cánh bướm non…
Trang 30Tuy nhiên, các nhân vật dẫu có cùng một loại, chủng loại nhưngrất đa dạng, không nhân vật nào giống nhân vật nào Bởi vì, bản chất
lao động nghệ thuật là sáng tạo để mỗi tác phẩm phải là một phát
minh về hình thức và một khám phá về nội dung Vì vậy, để chiếm
lĩnh các giá trị của hình tượng nghệ thuật còn phải phân tích hìnhtượng với tư cách là sản phẩm tinh thần của một cá tính sáng tạo độcđáo Phân tích nhân vật tự sự là tìm hiểu các phương diện mô tả nhânvật, gắn với sự tìm tòi, sáng tạo của người nghệ sĩ, để làm nổi bật tínhcách, số phận, bản chất xã hội của nhân vật
2.3 Tìm hiểu các phương diện mô tả nhân vật
Một nhân vật thành công cũng như một con người sinh động
ngoài đời Đó là con người này trong sự phân biệt với con người
khác Nó có tính cách riêng, số phận riêng không thể lẫn Vấn đề lànhà văn không trực tiếp nói lên điều ấy Tính cách, số phận nhân vậthiện lên sinh động trong tác phẩm qua nhiều phương diện cụ thể Đó
là những phương diện người đọc, người phân tích cần chú ý như: lailịch, ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ, cử chỉ- hành động, mối quan hệvới các nhân vật khác…
Tuy nhiên, không phải bất cứ nhân vật nào cũng được nhà vănthể hiện đầy đủ các phương diện nêu trên, người phân tích cần biếttập trung, xoáy sâu vào các phương diện thành công nhất của tácphẩm
Có thể xem những phương diện đã nêu đồng đẳng và đều là sự
cụ thể hóa, hiện thực hóa của tính cách, số phận nhân vật, không xemtính cách như một phương diện ngang bằng các phương diện ấy
Trang 312.3.1 Lai lịch
Lai lịch là phương diện đầu tiên góp phần hình thành đặc điểmtính cách, chi phối số phận của nhân vật Tính cách nhân vật được lýgiải một phần bởi thành phần xuất thân, hoàn cảnh gia đình và bướcđường đời đã trải qua
Chí Phèo (Chí Phèo) là đứa con hoang bị bỏ rơi trong lò gạch
cũ, không hơi ấm tình mẫu tử, không bà con thân thích, không thướcđất cắm dùi, đi ở từ nhà này sang nhà khác Hoàn cảnh xuất thân ấy làmột trong những nguyên nhân tạo nên số phận cô độc thê thảm củanhân vật Tuy nhiên, Chí Phèo sinh ra và lớn lên vốn mang bản chấtlương thiện Chính vì vậy, sau này, xã hội tàn ác (đại diện là Bá Kiến
và nhà tù thực dân) dẫu ra sức hủy diệt bản tính tốt đẹp ấy nhưng nóvẫn âm thầm sống trong đáy sâu tâm hồn Chí, ngay cả khi con ngườinày tưởng chừng đã bị biến thành qủy dữ
Xuân Tóc Đỏ (Số đỏ) vốn mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lại có hành vi
vô giáo dục khi ở với bác họ, rồi bị đuổi ra khỏi nhà, sống lang thangđầu đường xó chợ, phải kiếm sống bằng đủ thứ nghề như trèo me,trèo sấu, quảng cáo thuốc lậu, nhặt ban quần, gắn với những thànhtích bất hảo… Hoàn cảnh xuất thân ấy đã góp phần tạo nên tính cáchlưu manh, liều lĩnh của nhân vật sau này
Trang 32Tính cách của Mị và A Phủ (Vợ chồng A Phủ) đều có thể lý giải
một phần bởi lai lịch Mị tuy sinh ra trong đói nghèo nhưng ở tuổithiếu nữ, cô đã từng được sống những tháng năm hạnh phúc Mị xinhđẹp nhất vùng, hát hay, lại có tài thổi sáo nên từng được bao trai làng
mê, con trai đến thổi sáo đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị Mị
từng có người yêu, từng hò hẹn…Điều này lí giải cho sự trỗi dậy củasức sống tiềm tàng và khát vọng tự do của nhân vật Mị ở phần sau.Còn A Phủ, cha mẹ, anh em đều chết trong một trận dịch đậu mùa,
từng bị người làng đói bụng bắt đem xuống bán đổi lấy thóc của
người Thái, suốt đời đi làm thuê, làm mướn, không có cả chiếc vòng
bạc đeo cổ để đi chơi tết Chính hoàn cảnh sống cùng cực ấy đã hunđúc cho A Phủ sức sống mạnh mẽ, tính cách gan góc cùng lòng hamchuộng tự do…
2.3.2 Ngoại hình
- Ngoại hình là dáng vẻ bên ngoài của nhân vật, bao gồm yphục, cử chỉ, tác phong, diện mạo Trong văn học, nhà văn miêu tảngoại hình nhân vật thường nhằm hai mục đích
Thứ nhất, nhằm cá thể hóa nhân vật, nghĩa là để tạo ấn tượngriêng về nhân vật ấy, không thể lẫn vào nhân vật khác Qua đó, ngườiđọc có thể nắm bắt được những đặc điểm chung của những ngườicùng nghề nghiệp, tầng lớp, thời đại Những nhân vật thành côngtrong văn học từ xưa đến nay bao giờ cũng được nhà văn chọn lựacông phu những nét tiêu biểu nhất để khắc họa ngoại hình nhân vật
Trang 33Thứ hai, qua vẻ bề ngoài mà phần nào hé mở tính cách, bản chấtcủa nhân vật ấy Miêu tả ngoại hình nhân vật không chỉ vì mục đíchdựng ra trước mắt người đọc một nhân vật mà quan trọng hơn đó làmột cách gián tiếp miêu tả tính cách vì ngoại hình là dấu hiệu của tínhcách.
- Khi cảm nhận, phân tích ngoại hình nhân vật, cần thấy rằng,phần lớn trường hợp, đặc điểm tính cách, chiều sâu nội tâm đượcthống nhất với vẻ bề ngoài Song cũng có trường hợp bên trong và
bên ngoài trái ngược (Lão Hạc -Lão Hạc- thân hình nhỏ thó, bộ mặt
nhăn nheo như quả trám nhưng có lòng tự trọng, tình thương yêu lớn
lao, cao cả ít ai bằng Thị Nở - Chí Phèo- xấu xí nhưng có tình người
nồng hậu…) Phân tích nhân vật cần qua các chi tiết ngoại hình mà
“đọc” đúng nội tâm, bản chất của đối tượng
Trang 34Không phải ngẫu nhiên nhà văn Nam Cao đặc tả ngoại hình của
nhân vật Chí Phèo sau bảy tám năm ở tù: Hắn ai biết về lớp này trông
khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai Trông đặc như thằng săng đá! Cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng Cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế, trông gớm chết! Đó là ngoại hình của một tên lưu manh, hay nói cách
khác, tính cách lưu manh biểu hiện qua ngoại hình Đó là hình hài củamột kẻ côn đồ, chỉ biết gây gổ và đâm chém Miêu tả hình thù quái gởcủa Chí Phèo cũng là cách Nam Cao nhấn mạnh tính chất khốc liệtcủa nhà tù thực dân cùng mối quan hệ biện chứng giữa tính cách vàhoàn cảnh sống