Do những yếu tố địa lý, địa hình, điều kiện khí hậu, cùng với quá trình hội nhập quốc tế đã tạo nên nguy cơ xâm nhập của các loài cá ngoại lai vào nước ta là rất cao, gây ra các tác hại
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Hiện trạng và công tác quản lý các loài cá ngoại lai trên thế giới 4
1.1.1 Hiện trạng các loài cá ngoại lai trên thế giới 4
1.1.2 Công tác quản lý các loài cá ngoại lai trên thế giới 6
1.2 Hiện trạng và công tác quản lý các loài cá ngoại lai ở Việt Nam 10
1.2.1 Hiện trạng các loài cá ngoại lai ở Việt Nam 10
1.2.2 Công tác quản lý các loài cá ngoại lai tại Việt Nam 12
Chương 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Địa điểm nghiên cứu 14
2.2 Thời gian nghiên cứu 14
2.3 Đối tượng nghiên cứu 14
2.4 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 14
2.4.1 Phương pháp tiếp cận 14
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 15
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn 18
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 18
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 31
3.2 Các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại đã gặp và đặc điểm phân bố của chúng ở hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn (Hà Nội) 35
3.3 Thông tin chi tiết về đặc điểm sinh học và nguồn gốc của các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại tại hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn 44
3.3.1 Cá rô phi đen 44
3.3.2 Cá tỳ bà lớn 46
3.3.3 Cá tỳ bà 48
3.3.4 Cá trê phi 50
3.3.6 Cá trôi Nam Mỹ 53
Trang 23.3.7 Cá chim trắng toàn thân 55
3.4 Hiện trạng công tác quản lý và đề xuất biện pháp quản lý các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại 57
3.4.1 Hiện trạng công tác quản lý của hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn 57
3.4.2 Đề xuất các biện pháp quản lý các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại ở hai huyên Mê Linh và Sóc Sơn 58
KẾT LUẬN 61
KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Phân bố các loài cá ngoại lai xâm hại và có ngoại lai xâm hại
có mặt theo thông tư 22/2011/Bộ Tài nguyên – Môi trường ở
huyện Mê Linh
37
Bảng 2 Phân bố các loài cá ngoại lai xâm hại và có ngoại lai xâm hại
có mặt theo thông tư 22/2011/Bộ Tài nguyên – Môi trường ở
huyện Sóc Sơn
41
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 3 Bản đồ phân bố các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm
hại có mặt tại huyện Mê Linh
38
Hình 4 Bản đồ phân bố các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm
hại có mặt tại huyện Sóc Sơn
42
Hình 5 Cá rô phi đen Oreochromis mossambicus Peters, 1852 45 Hình 6 Cá tỳ bà lớn Pterygoplichthys pardalis Castelnau, 1855 47 Hình 7 Cá tỳ bà bé Hypostomus punctatus Valenciennes, 1840 49 Hình 8 Cá trê phi Clarias gariepinus Burchell, 1822
chụp tại huyện Mê Linh
51
Hình 9 Cá trôi Nam Mỹ Prochilodus lineatus Spix & Agassi, 1829 54
Hình 10 Cá chim trắng bụng đỏ Piaractus brachypomus Cuvier, 1818
chụp tại xã Liên Mạc huyện Mê Linh
55
Trang 5PHỤ LỤC Phụ lục 1: Mẫu bảng hỏi phỏng vấn về từng loài cá ngoại lai
Phụ lục 2: Phiếu điều tra các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại Phụ lục 3: Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT
Phụ lục 4: Ảnh thực địa tại huyện Mê Linh
Phụ lục 5: Ảnh thực địa tại huyện Sóc Sơn
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
SVNLXH : Sinh vật ngoại lai xâm hại TSVNL : Thủy sinh vật ngoại lai xâm hại HST : Hệ sinh thái
ĐDSH : Đa dạng sinh học GTSX : Giá trị sản xuất (tính bằng tiền) VHTT : Văn hóa thông tin
Trang 7MỞ ĐẦU Theo Công ước Đa dạng sinh học, sự xâm hại của các sinh vật ngoại lai chính là một trong những nguyên nhân chính gây mất đa dạng sinh học, ảnh hưởng tới sự phát triển của các ngành kinh tế quan trọng như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và tới sức khỏe con người
Việt Nam được biết là một quốc gia phong phú, đa dạng về nguồn gen, thành phần loài và các hệ sinh thái nhưng kém bền vững trước sự thay đổi, tác động của các yếu tố môi trường Và một trong những nguyên nhân đó là sự du nhập của các loài SVNLXH, đặc biệt là các loài TSVNL
Hiện nay, các loài TSVNL vẫn tiếp tục được nhập vào nước ta qua nhiều con đường khác nhau nhưng không được kiểm soát một cách chặt chẽ Điều này dẫn đến nguy cơ làm mất cân bằng các HST và ĐDSH, đồng thời làm suy giảm nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên Chính vì vậy, việc đánh giá tác động của TSVNL tới HST, ĐDSH và nguồn lợi thủy sản là một yêu cầu cấp thiết Để từ đó, những đánh giá này
sẽ là những cơ sở tiền đề cho những biện pháp bảo vệ, quản lý bền vững nguồn lợi thủy sản
Theo Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho biết: Trong 50 năm qua, Việt Nam đã nhập 41 loài thủy sinh ngoại lai, trong đó hầu hết là cá Các nghiên cứu cho thấy: Các loài cá ngoại lai có mặt ở Việt Nam đều là những loài nằm trong danh sách “100 SVNLXH xâm lấn nguy hiểm nhất thế giới” Do những yếu tố địa lý, địa hình, điều kiện khí hậu, cùng với quá trình hội nhập quốc tế đã tạo nên nguy cơ xâm nhập của các loài cá ngoại lai vào nước ta là rất cao, gây ra các tác hại cho các hệ thống thủy lợi, nông nghiệp, đa dạng sinh học…và gây ra những thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế [7,9]
Thủ đô Hà Nội nằm “chếch’’ về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng trù phú, nơi đây là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Sông Hồng là con sông chính của thành phố Hà Nội Ngoài ra, Hà Nội còn có sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ, và còn nhiều sông khác
Trang 8như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho việc phát triển thủy sản
Hai huyện Mê Linh, Sóc Sơn là hai huyện ngoại thành nằm phía Bắc thủ đô
Hà Nội Với hệ thống sông, hồ và đầm khá phong phú, 2 huyện có nhiều điều kiện thuận lợi cho các loài thủy sinh vật phát triển mạnh mẽ Cùng nằm trong tình trạng chung của cả nước về việc phải đối mặt với vấn nạn SVNLXH, hai huyện Mê Linh
và Sóc Sơn chứa đựng các mối đe dọa, rủi ro từ TSVNL nói chung và các loài cá ngoại lai nói riêng ở các sông, đầm, hồ Song cho đến nay, tại hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn chưa có nghiên cứu nào để kiểm kê, đánh giá các tác động của các loài cá ngoại lai trên địa bàn hai huyện, cũng như chưa có các biện pháp quản lý các loài cá ngoại lai phù hợp
Chính vì vậy, việc thực hiện đề tài “ Kiểm kê, đánh giá các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại ở hai huyện Mê Linh, Sóc Sơn (Hà Nội) và đề xuất biện pháp quản lý” là thực sự cần thiết Qua đề tài tôi mong muốn góp phần
nào đó trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu, tiến đến là loại bỏ và kiểm soát chặt chẽ các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại ở 2 huyện Mê Linh và Sóc Sơn
Đề tài có các mục tiêu và nội dung nghiên cứu như sau:
Mục tiêu:
Xác định được các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại (theo thông tư 22 Bộ Tài nguyên và môi trường) ở địa bàn hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn, đồng thời đề xuất biện pháp quản lý chúng
Cung cấp cơ sở khoa học cho việc lập danh sách và xây dựng cơ sở dữ liệu các loài cá ngoại lai của thành phố Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung
Nội dung:
Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội ở 2 huyện Mê Linh và Sóc Sơn, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp
Khảo sát hiện trạng các hệ sinh thái thủy vực chính của hai huyện
Kiểm kê, xác định các loài cá ngoại lai và sự phân bố của chúng trong các thủy vực ở 2 huyện Mê Linh và Sóc Sơn
Trang 9 Mô tả các đặc điểm hình thái, sinh học để nhận biết các loài cá ngoại lai
Trang 10Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU Tình hình SVNLXH diễn ra ở các nước trên thế giới trong thời gian gần đây làm cho các chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn ĐDSH đi đến kết luận:
“ Sự lan rộng của SVNLXH đang tạo những thách thức to lớn lâu dài và phức tạp đe dọa đến ĐDSH tự nhiên của Trái Đất và sự thịnh vượng chung của loài người” [17]
1.1 Hiện trạng và công tác quản lý các loài cá ngoại lai trên thế giới
1.1.1 Hiện trạng các loài cá ngoại lai trên thế giới
Từ lâu công tác nhập nội các loài cá ngoại lai đã được thực hiện.Từ thời La
mã, cá chép trên sông Danube đã được nhập vào nuôi ở Ý và Hy lạp Sau một thời gian sinh sống, loài cá này đã trở thành đối tượng nuôi chính Tuy nhiên phải đến gần đây (từ thế kỉ XX đến nay) công tác nhập nội loài cá ngoại lai vào nuôi mới trở nên phổ biến [9] Tính đến nay trên thế giới đã có hơn 610 loài cá được di nhập và riêng các nước ASEAN là 79 loài [43]
Hiện nay, các loài cá ngoại lai được nhập nội theo 2 xu hướng là: các nước đang phát triển nhập các loài cá ngoại lai làm thực phẩm hàng hóa, còn các nước phát triển thường nhập với mục đích làm cảnh, vui chơi giải trí, nghiên cứu khoa học hoặc với mục đích khác:
Sản xuất lương thực- thực phẩm:
Nhiều quốc gia có tiềm năng về nuôi trồng thủy sản đã di nhập các giống loài
cá để phục vụ nhu cầu thực phẩm của người dân và phục vụ sự phát triển kinh tế của đất nước Đã có rất nhiều loài trở thành loài được người dân nuôi như loài bản địa và được được phát tán ngoài thủy vực tự nhiên, và việc di nhập các đối tượng thủy sản cũng góp phần không nhỏ vào việc cải thiện đời sống cho dân nghèo
Ví dụ nhập cá rô phi từ Phi Châu vào các nước Đông Nam Á, Nam và Trung
Mỹ Cá chép nhập vào nuôi ở Madagasca [18]
Những loài cá đó đến nay đã trở thành các loài cá sống tự nhiên ở đây vì chúng thích nghi nhanh với điều kiện nơi ở mới, sinh sản được ở thuỷ vực tự nhiên [9]
Trang 11Ở Philippines, cá rô phi đen đóng một vai trò quan trọng trong khai thác thủy sản nội địa Theo Baluyut, đất nước Philippines có khoảng 230.000 ha ao và hồ chứa, đặc biệt cá rô phi đen được tìm thấy trong hầu như tất cả trong số ao hồ này Theo thống kê vào cuối năm 1990, cá rô phi chiếm khoảng 25 phần trăm tổng sản lượng cá của vùng [27] Hiện nay, cá rô phi đen là loài được nuôi làm thực phẩm chính ở Philippines và chiếm khoảng 31 000 tấn [FAO FishStat]
Ở Thái Lan, tổ chức FAO đã thống kê và xác định có 17 loài cá ngoại lai xâm hại, trong đó có 5 loài đã thành lập đực quần thể ngoài tự nhiên Theo Chavalit Vidthayanon, người dân Thái Lan tiêu thụ 28, 8 kg cá bình quân đầu người, trong
đó 41, 6% là các loài ngoại lai [28]
Campuchia là đất nước có nguồn lợi thủy sản năng suất nhất thế giới Theo Rainboth (1996) ước tính có khoảng 500 loài cá nước ngọt chiếm các hệ sinh thái khác nhau [32] Năm 1997, chương trình Thủy sản của Ủy hội sông Mekong (MRC)
đã đánh giá kiến thức địa phương trong lưu vực sông Mekong đã thống kê và cho biết, có 15 loài cái ngoại lai đã xuất hiện phổ biến trên lưu vực sông Mekong chảy qua Campuchia Trong 15 loài cá ngoại lai, cá chép Ấn Độ và cá rô phi đen xuất hiện rất nhiều, trở thành 1 trong những thực phẩm hàng ngày của người dân [33]
Vui chơi giải trí và làm cảnh
Đời sống kinh tế được nâng cao đồng thời nhu cầu vui chơi giải trí cũng được cải thiện đáng kể, trong đó có nhu cầu nuôi các loài thủy sinh làm cảnh và phục vụ các trung tâm giải trí Việc di nhập các loài cá để nuôi làm cảnh đã trở nên rất phổ biến trên toàn thế giới Ngày càng nhiều các loài cá nói riệng và các loài thủy sinh nói chung được nuôi thuần hóa và lai tạo với nhiều kiểu dáng và màu sắc hấp dẫn VD: cá hoàng đế, cá cọ bể… [18]
Kiểm soát sinh học:
Ngoài các mục đích trên, nhập nội các cá ngoại lai còn để kiểm soát sinh
học, ví dụ nhập cá ăn bọ gậy (Gambusia affinis) để khống chế bệnh sốt rét Nhập cá
trắm cỏ để trừ các loài rong, cỏ nước vì thức ăn của nó là cỏ Nhập một số loài để
Trang 12chúng ăn trai ốc ở đáy sông vì trai ốc mang ký sinh trùng sán lá nên có thể là tác nhân gây bệnh cho loài mới nhập và các đối tượng khác [18]
Năm 1967, ba loài mới của loài cá chép Trung Quốc đã được đưa vào đất nước Myanmar với mục tiêu khác nhau, ví dụ như để diệt trừ cỏ dại thủy sản và để ngăn chặn sự nở sinh vật phù du trong ao cá Vai trò của các loài cá này là để duy trì môi trường ao nuôi, giá trị thị trường của cá là khá thấp do hương vị kém hơn so với người tiêu dùng [36]
Ở các loài cá việc tạo con lai có khả năng sinh sản cao hơn các loài động vật
có vú và các loài chim Điều này làm cho nguy cơ gây tạp giao, mất ĐDSH do cá nhập nội xảy ra rất cao [9] Hiện tượng tạp giao khá phổ biến ở các loài cá đặc biệt
là nhóm cá rô phi ở Châu Phi và Nam Mỹ Chúng tạo ra các con lai có khả năng sinh sản, do vậy hình thành các kiểu di truyền mới Các loài có quan hệ gần gũi thì khả năng gây lai tạp càng cao Theo Welcome (1984) cho biết, ở hồ Itasy thuộc
Madagascar, hai quần thể đàn cá rô phi Oreochromis niloticus và Oreochromis macrochir chúng đã lai tạp với nhau Kết quả là loài Oreochromis macrochir bị mất, chỉ còn lại loài Oreochromis niloticus và con lai [37]
1.1.2 Công tác quản lý các loài cá ngoại lai trên thế giới
Sự phát tán sinh vật ngoại lai xâm lấn đang tạo nên sự phức tạp và thách thức lớn là đe dọa đến ĐDSH và đời sống con người Do vậy, nhiều tổ chức quốc tế đã đưa ra các công ước, các nghị định, các công rình nghiên cứu về các SVNLXH
Công ước ĐDSH là một hiệp ước khung được thông qua tại Hội Nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển bền vững năm 1992 tại Rio de Janero (Brazin), có hiệu lực từ ngày 29/12/1993 Tính đến tháng 5 năm 2009 đã có 191 quốc gia là thành viên của Công ước này Trong điều 8 của công ước ĐDSH có nêu rõ “Ngăn ngừa việc đưa vào lưu hành, kiểm soát hoặc tiêu diệt các loài lạ đe dọa tới các hệ sinh thái, môi trường sống tự nhiên hoặc các loài” [23, 42] Theo khuyến cáo của Công ước đa dạng sinh học, các nước nhập nội các loài mới từ nước ngoài vào (thậm chí từ vùng này sang vùng khác ở một nước) cần phải đánh giá được tác động lên ĐDSH và nghề nuôi cá truyền thống của địa phương để có các biện pháp phát
Trang 13triển bền vững, đồng thời để quản lý phòng ngừa nhằm hạn chế thiệt hại, có giải pháp tổ chức và thực hiện việc loại trừ loài xâm hại theo một quy trình quản lý mang tính chiến lược thích hợp… [23, 42]
FAO- Tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hợp quốc cũng có chương trình kiểm kê đánh giá hậu quả môi trường đối với các loài thủy sinh vật nhập nội trong sự phát triển nuôi trồng thủy sản [43]
Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (IUCN) đã đưa ra danh sách 100 loài sinh vật ngoại lai xâm lấn gây hại cho các loài bản địa, ảnh hưởng xấu đến môi trường và làm thiệt hại đến nền kinh tế [25] Do vậy IUCN đã đưa ra khuyến cáo các nước cần ngăn cấm hoặc có các hình thức bảo vệ Trong số 100 loài này có nhiều loài đang sinh sống ở Việt Nam [7]
Các nước khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau về mức độ tác động đến kinh tế và môi trường tùy theo số lượng SVNLXH đã xác lập được quần thể ngoài
tự nhiên Các nước có ĐDSH ở mức cao đều đã điều tra, đánh giá tác động của các loài cá nhập nội ảnh hưởng đến ĐDSH và nghề nuôi truyền thống một cách đầy đủ
và toàn diện, đồng thời có sự cập nhật thường xuyên các số liệu
Khu vực Châu Úc – Thái Bình Dương: Do sinh vật ngoại lai xâm lấn đã làm tuyệt chủng một số loài sinh vật bản địa, do đó khu vực này đã đề xuất các giải pháp khẩn cấp bao gồm việc loại bỏ và kiểm soát các loài ngoại lai nhằm chống sự tuyệt chủng của các loài bản địa Biện pháp tổng hợp bao gồm việc ngăn chặn, phát hiện sớm, phản hồi nhanh, loại bỏ, kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại và phục hồi môi trường Biện pháp ngăn chặn là ưu tiên đầu tiên Ngoài ra các quốc gia còn ưu tiên thực hiện chiến lược quốc gia về sinh vật ngoại lai như thành lập Uỷ ban quốc gia
về sinh vật ngoại lai, thực hiện các kế hoạch truyền thông, giáo dục để nâng cao hiểu biết của người dân… Hiện nay, khu vực này có hai hiệp ước đặc biệt để quản
lý sinh vật ngoại lai, đó là: “Công ước về Bảo tồn thiên nhiên ở Nam Thái Bình Dương” [20] và “Nghị định thư về bảo tồn và quản lý các khu vực ven bờ và bảo
vệ thủy sinh của khu vực Đông Nam Thái Bình Dương” [22, 47]
Trang 14Khu vực châu Mỹ: Các nước châu Mỹ đã thực hiện kế hoạch hợp tác về quản
lý sinh vật ngoại lai, trong đó công việc ưu tiên hàng đầu là tăng cường năng lực về quản lý sinh vật ngoại lai cho các cấp chính quyền và cộng đồng Nước Mỹ đã thành lập Hội đồng quốc gia về sinh vật ngoại lai xâm lấn và ban hành các luật diệt trừ các loài ngoại lai xâm lấn
Khu vực châu Âu: Để ngăn ngừa sự xâm lấn của các sinh vật ngoại lai, các nước châu Âu đã nỗ lực xây dựng chiến lược quản lý SVNLXH dựa theo nội dung công ước Bern (Công ước bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và động vật, thực vật hoang dã châu Âu) [39] Với chiến lược quản lý SVNLXH thường ưu tiên ngăn chặn là chính Tháng 12/2003, Uỷ ban thường trực Công ước Bern đề nghị các nước xây dựng chiến lược quốc gia về quản lý các loài ngoại lai xâm hại phải tiến hành song song với chiến lược toàn châu Âu với nội dung chính là: hỗ trợ nâng cao nhận thức về SVNLXH, quản lý, thu thập và chia sẻ thông tin; thể chế, chính sách, luật pháp cần phải chặt chẽ đối với SVNLXH, nhằm giảm thiểu các tác hại của chúng, khôi phục lại ĐDSH bản địa [38, 39]
Khu vực châu Phi: Các nước trong khu vực này cũng đã quan tâm đến SVNLXH Trong đó ưu tiên lập ủy ban quốc gia hoặc cơ quan đầu mối quốc gia về SVNLXH, đồng thời đẩy mạnh trao đổi thông tin, nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực ở tầm quốc gia và khu vực về SVNLXH
Khu vực châu Á: Các nước trong khu vực châu Á đang đẩy mạnh công tác quản lý SVNLXH Các quốc gia tăng cường đẩy mạnh công tác quản lý ngay từ khâu nhập khẩu, chú trọng việc ngăn chặn, đồng thời phối hợp với các quốc gia khác trao đổi, chia sẻ thông tin
Ở Nhật Bản việc quản lý các loài nhập nội do Bộ Tài nguyên và Môi trường Nhật Bản quản lý Hàng năm, Bộ đều cấp kinh phí cho các trường Đại học có nghiên cứu quản lý các đối tượng thuỷ sinh vật nhập nội nói chung, các loài cá nhập nội nói riêng từ đó cập nhật danh sách các loài nhập nội mới và đưa ra các hình thức quản lý phù hợp [9]
Trang 15Chính phủ Indonesia đã công bố danh sách các loài sinh vật ngoại lai có tác động tiêu cực tới kinh tế và môi trường gồm 11 loài thực vật, 2 loài côn trùng, 1 loài động vật không xương sống và 9 loài cá, đồng thời vẫn cho phép các công ty nhập khẩu thuỷ sinh vật với mục đích khác nhau nhưng phải được kiểm tra, giám sát chặt chẽ của các cơ quan chức năng Ngoài ra Chính phủ còn thành lập nhóm công tác về Môi trường do Bộ Môi trường điều phối cùng Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp, Bộ Thuỷ sản để thảo ra một văn bản điều chỉnh các vấn đề về sinh vật lạ Họ đã xây dựng chiến lược với mục tiêu: ngăn chặn các sinh vật ngoại lai có biểu hiện xâm lấn các loài bản địa; có sự đánh giá rủi ro về môi trường; kiểm soát hoặc giảm thiểu loài ngoại lai xâm nhập; xây dựng cơ sở dữ liệu về các sinh vật ngoại lai xâm nhập; đồng thời yêu cầu các vấn đề kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm nhập phải được xây dựng trên cơ sở pháp lý phân tích rủi ro và hệ thống chứng nhận [9]
Chính phủ Philippin đã đưa ra được danh sách các loài sinh vật nhập nội ảnh hưởng tiêu cực tới các hệ sinh thái, bao gồm 10 loài thực vật trên cạn, 9 loài động vật không xương sống ở cạn, 2 loài thực vật thủy sinh và 9 loài động vật thủy sinh
Họ đã thành lập được mạng lưới quản lý các sinh vật ngoại lai của Chính phủ bao gồm các cơ quan: Cục Môi trường & Tài nguyên thiên nhiên, Cục Nông nghiệp, Cục Du lịch, Cục Thương mại & Công nghiệp, Cục Ngoại giao [35]
Myanmar là đất nước có nguồn lợi thủy sản tự nhiên phong phú Theo điều 35- luật thủy sản Myanmar, các loài thủy sản được nuôi trồng và xuất nhập khẩu phải nằm trong danh sách đã được Sở thủy sản Myanmar chấp thuận từ trước [36]
Thái Lan thành lập nhóm công tác về sinh vật ngoại lai do Uỷ ban Quốc gia
về môi trường chỉ định để giải quyết các vấn đề liên quan tới các loài nhập nội có ích hoặc xâm hại trên phạm vi quốc gia Việc nhập khẩu các loài thủy sản cũng được kiểm soát bởi Bộ Thương mại Trong Kế hoạch hành động và Chiến lược quốc gia về ĐDSH 1996 - 2001 và 2002 - 2006, Thái Lan cũng đưa vấn đề quản lý và phòng ngừa xâm nhập của sinh vật ngoại lai như một chương trình ưu tiên Hiện nay Thái Lan cũng đang tiến hành các điều tra nghiên cứu về nhóm sinh vật nhập
Trang 16nội có tác động tiêu cực tới ĐDSH và nguồn lợi thuỷ sản, áp dụng các biện pháp quản lý và phòng ngừa [27]
Ở Trung Quốc, việc quảng bá về các giống cá ngoại lai bắt đầu từ năm 1964
và càng được chính phủ ủng hộ và tăng cường đẩy mạnh khoảng từ năm 1991 Đầu tiên người nông dân được khuyến khích nhâp nội nhiều loài cá có giá trị kinh tế, khoa học Sau một thời gian, họ đã nhận ra rằng, việc nhập nội giống loài cá ồ ạt, kiểm soát không chặt chẽ đã dẫn đến nhiều loài lấn át các loài bản địa, phá huỷ hệ sinh thái và tác động xấu đến nghề nuôi truyền thống Cho đến nay đã có khoảng 50 loài cá nước ngọt và hơn 100 loài cá cảnh ngoại lai có mặt trên đất nước Trung Quốc Hiện nay Trung Quốc đã có Luật về nhập khẩu sinh vật ngoại lai Cả nước chỉ có một cơ quan duy nhất là Bộ Nông nghiệp được phép nhập nội các loài cá và cũng chỉ có 03 cơ sở được phép khảo nghiệm loài mới nhập nội [34]
Singapore là quốc gia có diện tích nhỏ, song lại là địa điểm trung chuyển, cho sinh sản cá cảnh để xuất khẩu với số luợng lớn Là một trong bảy trung tâm xuất khẩu cá cảnh lớn nhất thế giới, họ đã khoanh vùng cho sản xuất giống cá ngoại lai ra nơi riêng biệt với sự kiểm soát chặt chẽ và đã đưa vào Luật cấm phóng sinh các loài cá ngoại lai vào khu bảo tồn Hình phạt vi phạm hành chính cụ thể là: nếu thả 01 loài cá ngoại lai vào khu bảo tồn bị phạt 500.000 đô la Singapore, còn thả từ
2 loài trở lên sẽ bị phạt tù đến 6 tháng Chính phủđã vận động người dân phóng sinh những loài cá bản địa ra vực nước tự nhiên [9]
1.2 Hiện trạng và công tác quản lý các loài cá ngoại lai ở Việt Nam
1.2.1 Hiện trạng các loài các loài cá ngoại lai ở Việt Nam
Việt Nam được biết là một quốc gia phong phú, đa dạng về nguồn gen, thành phần loài và các hệ sinh thái nhưng kém bền vững trước sự thay đổi, tác động của các yếu tố môi trường Và một trong những nguyên nhân đó là sự du nhập của các loài SVNLXH SVNLXH có thể xâm nhập vào Việt Nam bằng nhiều con đường như nhập khẩu có chủ đích phục vụ công tác nuôi, trồng, sản xuất, kinh doanh hoặc
du nhập theo con đường tự nhiên và không chủ đích của con người
Trang 17Việt Nam đã nhập rất nhiều loài cá ngoại lai như cá trắm cỏ, cá rô phi đen, cá
tỳ bà, cá chép các dòng… để phục vụ cho công tác vui chơi giải trí, làm cảnh, sản xuất lương thực thực phẩm… Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân, một số loài đã thoát khỏi ra môi trường tự nhiên và trở thành mối đe dọa có thể phá vỡ hệ sinh thái các thủy vực bản địa
Trong quá trình hội nhập, việc tìm kiếm giống loài cá có giá trị kinh tế, giải trí và mục đích thương mại khác đã được các cơ quan nghiên cứu, các nhà doanh nghiệp quan tâm, trong đó nhiều loài cá nhập nội đã có giá trị kinh tế và trở thành đối tượng nuôi quan trọng như: cá trắm cỏ, cá mè hoa, cá rôhu, cá mrigan; nhưng cũng có nhiều đối tượng nhập nội chưa được thống kê đánh giá tác động tới ĐDSH và nguồn lợi thuỷ sản Theo Lê Thanh Lựu và Nguyễn Văn Thanh, hiện nay các loài cá ngoại lai chiếm ưu thế trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt, chúng đã đóng góp hơn 50% tổng sản phẩm nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở Việt Nam [29]
Theo kết quả nghiên cứu của Cục Bảo vệ Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường thì: trong hơn 50 năm qua, đã có 20 loài cá nước ngọt đã nhập vào Việt Nam từ 12 nước trên thế giới và 12 loài cá nước lợ được nhập từ 7 nước trên thế giới Ngoài ra, Việt Nam còn nhập nhiều loài cá cảnh với mục đích nghiên cứu hoặc làm thức ăn cho tôm giống [7, 9, 10] Đặc biệt, Cục còn liên kết với Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội in ấn, phát hành các
tờ rơi giới thiệu về 6 loài sinh vật lạ xâm lấn nguy hại ở Việt Nam Năm 2003, Cục
xuất bản cuốn sách dịch giới thiệu “Danh sách 100 loài sinh vật xâm hại nguy hiểm nhất trên thế giới”, bao gồm 8 loài vi sinh vật, 4 loài thực vật thuỷ sinh, 31 loài thực
vật ở cạn, 8 loài động vật không xương sống ở nước, 18 loài động vật không xương sống ở cạn, 3 loài lưỡng cư, 9 loài cá, 3 loài chim, 2 loài Bò sát và 14 loài thú có mặt tại Việt Nam [7]
Gần đây, ở một số địa phương, có một số loài thủy sinh ngoại lai đã thoát ra
các thuỷ vực tự nhiên như: cá cọ bể (Hypostomus punctatus), cá chim trắng toàn thân (Piaractus brachypomus) thoát ra các sông thuộc hệ thống sông ngòi các tỉnh
Trang 18đồng bằng sông Cửu Long, hệ thống sông thuộc Tây nguyên Trên lưu vực sông Hậu vào năm 2006- 2007, có bè nuôi cá tra, cá basa tại tỉnh An Giang đã thu hoạch được trên dưới 1 tấn cá chim trắng toàn thân phát tán từ vùng nước tự nhiên vào
bènuôi cá tra Cá hoàng đế (Cichla ocellaris) đã thoát ra các thủy vực thuộc lưu vực
sông Đồng Nai, đặc biệt đã phát tán với mật độ quần thể nhiều trên hồ Trị An tỉnh Đồng Nai Tại đây, vào tháng 5 năm 2009, đoàn khảo sát của Cục Khai thác và Bảo
vệ nguồn lợi thủy sản đã xác nhận cá hoàng đế được khai thác với sản lượng khá lớn, đa số cá thể đạt từ 0, 3 đến 1, 1 kg được bày bán ở bến cá và chợ xung quanh
vùng hồ Trị An Cá tiểu bạc (Neosalanx taihuensis) được di nhập vào Yên Bái năm
2002, sau mấy năm không gặp trong sản lượng khai thác thì từ giữa năm 2007, cá đột nhiên xuất hiện Từ các tháng 8, 9, 10 năm 2007 đến giữa năm 2009), hàng ngày ngư dân đã thu hoạch được hàng tạ cá tiểu bạc Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có đánh giá đầy đủ về các mặt tác động của các đối tượng trên đến nguồn lợi thuỷ sản
và ĐDSH ở nước và cũng chưa có mô hình quản lý hữu hiệu [19]
1.2.2 Công tác quản lý các loài cá ngoại lai tại Việt Nam
Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước ĐDSH vào ngày 16/11/1994, Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường làm cơ quan đầu mối, giúp Chính phủ
tổ chức thực hiện Công ước này Cục Bảo vệ môi trường- Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có nhiều đề tài cấp quốc gia về các vấn đề xung quanh sinh vật ngại lai xâm hại, đồng thời phối hợp với Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên Môi trường- Đại học Quốc gia in ấn, phát hành tờ rơi giới thiệu về các loài sinh vật ngoại lai xâm lấn
có mặt tại Việt Nam
Ngày 13/11/2008, Việt Nam ban hành Luật đa dạng sinh học, giao cho hai cơ quan quản lý, kiểm tra, giám sát và tổ chức cô lập tiêu diệt các loài ngoại lai xâm hại tại các địa phương trên cả nước là Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [16]
Cá ngoại lai được nhập nội với nhiều mục đích khác nhau Theo luật Thủy sản (2003), cho phép các cá nhân nhập các loài thủy sản mới về Việt Nam nhưng phải qua kiểm tra, khảo nghiệm Nghiêm cấm nhập những loài thuộc danh mục
Trang 19không được phép nhập phát tán tại Việt Nam [15] Những loài này thường nhập theo đường chính ngạch có sự kiểm tra, cấp phép của các cơ quan có thẩm quyền
Thành phố Hà Nội là địa phương có ĐDSH cao, có 15 hệ sinh thái với nhiều loài động – thực vật bản địa và các loài có nguồn gốc ngoại lai phong phú, đa dạng Đặc biệt, có loài ngoại lai đã phát tán và hình thành được quần thể ngoài tự nhiên, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, kinh tế và nguồn lợi thủy sản tự nhiên Cơ quan quản lý về các vấn đề xung quanh sinh vật ngoại lai là Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hà Nội Hai đơn vị đã có nhiều đề tài cấp thành phố về sinh vật ngoại lai, đồng thời đã
tổ chức tuyên truyền văn bản pháp luật có liên quan đến quản lý sinh vật ngoại lai cho các quận, huyện
Hiện nay, hai huyện Sóc Sơn và Mê Linh chưa được kiểm kê và đánh giá các loài cá ngoại lai Tuy nhiên, hiện nay, Cục Bảo vệ Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường đã và đang phối hợp với một số cơ quan liên quan tiến hành các hoạt động nghiên cứu, điều tra, khảo sát ban đầu về sự phân bố các loài sinh vật ngoại lai
và các tác động của chúng đối với môi trường đối với các huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 20Chương 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu điều tra tại các xã của hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn (Thành phố Hà Nội) Đặc biệt là các xã có nhiều ao, hồ, có các con sông lớn chảy qua như sông Hồng, sông Cà Lồ, sông Cầu, sông Công
2.2 Thời gian nghiên cứu:
2.3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các loài cá ngoại lai ở hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn thông qua việc thu thập tài liệu, khảo sát thực địa và phỏng vấn người dân
2.4 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình phỏng vấn, các câu hỏi được đưa ra từ đơn giản đến phức tạp, từ thông tin tổng quát đến các loài cụ thể Các câu trả lời định tính cho bản câu hỏi của cuộc điều tra thường không đủ chất lượng cần thiết để đưa vào mô hình
Trang 21thống kê Mặt khác các câu hỏi không phải lúc nào cũng dễ hiểu, người được phỏng vấn không phải lúc nào cũng biết đưa câu trả lời cần thiết và tinh thần cuộc điều tra, bản chất của việc đặt câu hỏi không phải lúc nào cũng được lĩnh hội
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận có sự tham gia được áp dụng, tức là tham gia qua hình thức tư vấn, cung cấp thông tin trong đó người dân địa phương tham gia ở 3 mức độ Các phương pháp đánh giá nông thôn sẽ được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu Các phương pháp này giúp thu thập được các thông tin và phân tích của chính người dân địa phương, nên thông tin có thể được sử dụng cho nhiều nhu cầu của địa phương như phát triển các loài cá hay cần có các giải pháp quản lí, bảo vệ và ngăn ngừa
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này có sự kết hợp các phương pháp nghiên cứu trong ngư loại học, xã hội học, nuôi trồng thủy sản, kinh tế học…
a) Phương pháp kế thừa
Tập hợp số liệu về thành phần loài được nghiên cứu từ các đề tài, dự án, từ các chuyến điều tra thực hiện ở các vùng khác nhau của Việt Nam và các tài liệu, báo cáo khoa học liên quan đến các loài cá ngoại lai nói riêng và các loài TSVNL nói chung Ngoài ra còn kế thừa số liệu báo cáo về kinh tế - xã hội địa phương Bên cạnh đó cần tham khảo các thông tin từ các website
b) Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Phương pháp khảo sát phỏng vấn người dân
Khảo sát các cán bộ ở phòng kinh tế huyện và các cán bộ của các hợp tác xã
ở hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn, kết hợp với điều tra thu mẫu và phỏng vấn người dân tại hai huyện trên
Loài cá nhập nội được phỏng vấn chỉ tập trung vào các loài được phát tán
phổ biến theo “Thông tư liên tịch 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT’’
Cuộc điều tra này đã sử dụng cả hai phương pháp định tính và định lượng để thu thập thông tin, trong đó các kỹ thuật PRA (đánh giá nông thôn có sự tham gia
Trang 22của người dân) đã được áp dụng Tuy nhiên, do phương pháp PRA có rất nhiều công cụ thực hiện nên để phục vụ cho mục tiêu và nội dung nghiên cứu, chúng tôi chỉ sử dụng hai công cụ sau:
Lấy phiếu điều tra (phụ lục 1)
Trực tiếp phỏng vấn bằng bảng hỏi (phụ lục 2), đối với các cán bộ của hợp tác xã, cán bộ huyện và dân địa phương về từng loại cá ngoại lai được xác định là có mặt theo phiếu điều tra
Phương pháp thu mẫu
Địa điểm: Các sông, ao, hồ có trên địa bàn hai huyện điều tra khảo sát (chọn điểm)
Dụng cụ thu mẫu:
Ngư cụ các loại (lưới, chài tiêu chuẩn; các loại cần, dây và lưỡi câu, lờ, đó…)
Thùng tôn đựng mẫu, xô, lọ nhựa
Găng tay cao su, túi ni lông
Phương pháp thu mẫu cá:
Để thu mẫu cá, tôi tiến hành đánh bắt cá ở sông, suối, ao, mương Sau đó bảo quản mẫu cá trong êtylic 76o hoặc formalin 8-10%
Trang 23 Nguyên tắc thu mẫu:
Mẫu vật thu được phải nguyên vẹn Ngoài việc trực tiếp đánh bắt, tiêu bản cá còn được thu thập từ một số nguồn khác như thu thập tiêu bản từ các ngư dân, dân địa phương, các chợ tại khu vực thu mẫu Tuy nhiên, trong trường hợp này phải thu thập đầy đủ các thông tin về tiêu bản như địa điểm bắt, môi trường sống…
Xử lý và bảo quản mẫu:
Các mẫu được bảo quản trong formalin 8-10% hoặc cồn êtylic 76o [12] c) Phương pháp chuyên gia
Lĩnh vực cá ngoại lai xâm hại là lĩnh vực mới nên để nhận biết và hiểu rõ các loài, do vậy không thể không tham vấn các chuyên gia là các cán bộ khoa học về phân loại học, sinh học, sinh thái học cá
Trang 24Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Huyện Mê Linh
Theo số liệu do UBND Huyện công bố năm 2013 (cổng thông tin điện tử Mê Linh tháng 8/2013), huyện Mê Linh được thành lập ngày 05 - 07 - 1977 Từ 01 - 08
- 2008, huyện Mê Linh được tách ra khỏi tỉnh Vĩnh Phúc và sáp nhập vào thành phố
Hà Nội Huyện có 18 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 02 thị trấn và 16 xã
Huyện Mê Linh nằm ở phía Tây Bắc của Thủ đô, cách trung tâm Hà Nội khoảng 25km, có tọa độ địa lý như sau:
Từ 105o36’ đến 105o47’ Kinh độ Đông
Từ 21o07’ đến 21o14’ Vĩ độ Bắc
Phía Bắc giới hạn bởi sông Cà Lồ, giáp huyện Bình Xuyên, thị xã Phúc Yên của tỉnh Vĩnh Phúc
Phía Nam giới hạn bởi sông Hồng, giáp huyện Đan Phượng
Phía Tây giáp huyện Yên Lạc- tỉnh Vĩnh Phúc
Phía Đông giáp các huyện Sóc Sơn, Đông Anh
Địa bàn huyện có tuyến đường Bắc Thăng Long – Nội Bài, quốc lộ 23B chạy qua, 8km đường sắt Hà Nội – Lào Cai với ga Thạch Lỗi nằm trên địa bàn thị trấn Quang Minh và được bao bọc bởi 2 con sông là sông Hồng và sông Cà Lồ, nằm kế cận ngay sân bay quốc tế Nội Bài (Hình 1) [1, 40]
Trang 25Chú thích: Tỉ lệ 1: 150 000
Hình 1: Bản đồ huyện Mê Linh
Trang 26 Huyện Sóc Sơn
Theo số liệu do UBND Huyện công bố năm 2013 (cổng thông tin điện tử Sóc Sơn tháng 8/2013), huyện Sóc Sơn được thành lập ngày 05 - 07 - 1977 Từ 29- 12 -
1978, huyện Sóc Sơn được tách ra khỏi tỉnh Vĩnh Phúc và sáp nhập vào thành phố
Hà Nội Huyện Sóc Sơn gồm có 27 đơn vị hành chính trực thuộc gốm 1 thị trấn và
Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên – Thái Nguyên
Phía Nam giáp huyện Đông Anh – Hà Nội
Phía Tây giáp huyện Mê Linh – Hà Nội
Phía Đông giáp các huyện Hiệp Hòa – Bắc Giang, huyện Yên Phong – Bắc Ninh
Địa bàn huyện có tuyến đường Bắc Thăng Long – Nội Bài, đường cao tốc vành đai 4, có các tuyến đường quốc lộ 2, 3, 16, 18 cùng với tuyền đường sắt Hà Nội – Thái Nguyên chạy qua Đặc biệt, trên địa bàn huyện có sân bay quốc tế Nội Bài Trên địa bàn huyện còn có hai con sông lớn chảy qua là sông Cà Lồ và sông Công (Hình 2) [2, 41]
Như vậy, với điều kiện thuận lợi về giao thông đường sắt, đường bộ, đường không và đường sông tạo cho hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn có lợi thế trong giao lưu kinh tế với các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc và cả nước cũng như quốc tế Đây chính là cơ hội cho hai huyện phát triển toàn diện các mặt đời sống kinh tế, xã hội; nhưng đồng thời cũng thuận tiện cho sự di nhập của các loài ngoại lai
Trang 27Chú thích: Tỉ lệ 1: 150 000
Hình 2: Bản đồ huyện Sóc Sơn
Trang 28b Địa hình, địa mạo
Huyện Mê Linh
Huyện Mê Linh là một huyện nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, có diện tích đất tự nhiên 141,64 km2, địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam theo hướng ra sông Hồng Theo đặc điểm địa hình, huyện Mê Linh được chia thành 3 tiểu vùng như sau:
Tiểu vùng đồng bằng:
Có diện tích chiếm 47% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, có địa hình nhấp nhô, lượn sóng với độ dốc khoảng 8o Do phù sa cũ của hệ thống sông Hồng, sông Cà Lồ bồi đắp, nên trong số các xã Vạn Yên, Tự Lập, Tiến Thắng, Thanh Lâm, Đại Thịnh, Kim Hoa, Quang Minh, Mê Linh, Tiền Phong, có đến 6 xã: Tiền Phong, Mê Linh, Đại Thịnh, Thanh Lâm, Quang Minh, Kim Hoa được hình thành trên nền phù sa cổ với nguồn gốc đất bạc màu Cũng vì vậy mà đến nay chỉ thích hợp với trồng màu, hoặc phát triển sản xuất công nghiệp và xây dựng
Tiểu vùng ven đê sông Hồng:
Có diện tích chiếm 22% diện tích đất tự nhiên của huyện, có địa hình tương đối bằng phẳng, bao gồm các xã Tiến Thịnh, Chu Phan, Thạch Đà, Hoàng Kim, Văn Khê, Tráng Việt Địa hình của tiểu vùng này thuộc diện tích đất phù sa giàu hàm lượng dinh dưỡng, được sông Hồng bồi đắp hàng năm do đó rất thích hợp với phát triển sản xuất nông nghiệp Do phân bố ven sông Hồng, nên một số xã có thể phát triển du lịch sinh thái như: Tự Lập, Chu Phan, Tráng Việt…
Tiểu vùng trũng:
Có diện tích chiếm 31% diện tích đất tự nhiên, bao gồm các xã Tam Đồng, Liên Mạc và một phần còn lại của các xã ven sông Hồng Tiểu vùng trũng là vùng đất bãi ngoài đê là đất phù sa có hàm lượng dinh dưỡng trung bình và cao, đã được thủy lợi hóa tương đối hoàn chỉnh, phù hợp với phát triển nông nghiệp kỹ thuật cao (trồng cây lương thực, rau màu thực phẩm) [1,40]
Huyện Sóc Sơn:
Huyện Sóc Sơn thuộc miền đất trung du, nằm ở phía Tây cực Nam của dãy
Trang 29núi Tam Đảo Địa hình đa dạng, có thế cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc, độ cao tuyệt đối phổ biến từ 15m- 17m, cao nhất 463m và thấp nhất là 4,8m Do huyện thuộc vùng bán sơn địa, có những đặc trưng của vùng gò đồi và phù sa cổ kết hợp, cho nên có cả vùng đồng bằng và vùng trũng Căn cứ vào địa hình, có thể chia thành 3 vùng :
Vùng gò đồi:
Vùng này nằm ở phía Tây Bắc, bao gồm hệ thống núi thấp, phần kéo dài về phía Đông của dãy núi Tam Đảo, có độ cao trung bình từ 200m-300m so với mực nước biển Đỉnh núi cao nhất là núi Hàm Lợn (485m), dãy Cánh Tay (332m), núi Đền Sóc (308m)… Điểm thấp nhất của vùng này là 20m
Địa hình của vùng gò đồi thấp dần theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, và bị chia cắt tương đối mạnh Sườn dốc lưu vực ngắn, độ dốc trung bình từ 20o-25o, có nơi độ dốc trên 35o. Đất bị xói mòn, chua và bạc màu nặng, năng suất cây trồng thấp
Vùng gò đồi nằm trên địa bàn các xã: Bắc Sơn, Nam Sơn, Minh Trí, Minh Phú, Phù Linh, Hiền Ninh, Quang Tiến, Tiên Dược, Hồng Kỳ và một phần các xã Tân Minh, Trung Giã, Tân Dân với diện tích khoảng 18.656 ha, chia thành hai khu vực:
Vùng núi thấp và đồi: Tập trung tại các xã Nam Sơn, Minh Trí, Minh Phú, Phù Linh …
Vùng gò đồi bát úp: Gồm các xã Hiền Ninh, Quang Tiến, Tiên Dược, Hồng Kỳ…
Vùng giữa:
Vùng đất giữa gồm các xã chạy dọc theo trục đường quốc lộ số 3, đường 131
và một phần đường quốc lộ số 2, nằm trên địa bàn các xã Tân Minh, Tân Dân, Trung Giã Đây là vùng đất bậc thang gập ghềnh, nghiêng dần về phía Nam và phía Đông Nam, có độ cao trung bình từ 20m- 40m Đất bạc màu và rất thiếu nước nhưng đây là vùng thích hợp trồng cây công nghiệp ngắn ngày (thuốc lá, lạc…)
Vùng đất ven sông:
Trang 30Vùng đất này nằm ở phía Đông Nam của huyện, nằm trên địa bàn 12 xã còn lại Đây là vùng trũng bao gồm các xã chạy dọc theo lưu vực sông Cầu và sông Cà
Lồ, vùng ven sông Cà Lồ đất đai màu mỡ hơn Địa hình khá bằng phẳng, độ cao trung bình từ 10m – 20m Tuy nhiên vùng này thường bị úng lụt vào mùa mưa (kkhoangr 1000ha thường xuyên bị ngập úng), thích hợp cho việc cấy lúa [2, 41]
Ngược lại, huyện Sóc Sơn là huyện mang đậm nét vùng gò đồi với đất đai bạc màu hoặc bị ngập úng thường xuyên không thuận lợi cho việc trồng cây nông nghiệp Đặc điểm địa hình của huyện thuận lợi cho việc phát triển trồng cây công nghiệp dài ngày, phát triển kinh tế trang trại, xây dựng và du lịch sinh thái
Độ ẩm trung bình trong năm dao động trong khoảng 70 – 80%
Số giờ nắng trong năm khá cao, khoảng 1.600 giờ Trung bình một tháng có
35 giờ nắng, tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 7 và tháng 10 (trung bình mỗi ngày có tới 7 giờ nắng) Lượng mưa trung bình của huyện vào khoảng 1.330mm
Trang 31(tương đối thấp), chủ yếu vào mùa hè Mùa khô kéo dài khoảng 4 – 5 tháng (từ tháng 11 đến tháng 3) [1,40]
Huyện Sóc Sơn: nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa
nhiều
Huyện Sóc Sơn có đặc điểm của vùng khí hậu trung du và đồng bằng Bắc bộ, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 6 - tháng 10; mùa khô, lạnh từ tháng
11 tới tháng 5 năm sau
Nhiệt độ không khí bình quân năm là 23,5oC, trung bình cao nhất là 32,9oC (vào tháng 7), trung bình thấp nhất là 13,9oC (vào tháng 1) Nhiệt độ cao tuyệt đối
là 39,5oC, thấp tuyệt đối là 5,1oC, biên độ dao động nhiệt ngày đêm từ 2oC – 6oC
Số giờ nắng trung bình khá dồi dào với 1.645 giờ Trung bình một tháng có khoảng 35 giờ nắng, tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 7 và tháng 10 (trung bình mỗi ngày có tới 7 giờ nắng)
Lượng mưa trung bình năm 1.600 mm- 1700 mm, lượng mưa năm ít nhất là 1.000 mm, lượng mưa năm nhiều nhất là 2.630 mm Lượng nước bốc hơi trung bình năm đạt 650 mm
Độ ẩm không khí trung bình 84% Có 2 hướng gió chính thịnh hành: Gió mùa Đông Nam thổi vào mùa hè và gió mùa Đông Bắc thổi vào mùa Đông [2, 41]
Nhận xét:
Nhìn chung khí hậu hai huyện Sóc Sơn và Mê Linh giúp cho huyện có điều kiện lợi thế phát triển đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi Hạn chế của khí hậu ở đây là lượng mưa lớn tập trung vào khoảng thời gian ngắn dễ gây lũ lụt, đất đai bị xói mòn, rửa trôi làm cho đất bị nghèo kiệt, nhất là đối với những diện tích đất không có thảm thực vật che phủ, độ dốc lớn
d Thủy văn:
Huyện Mê Linh
Huyện có hệ thống sông, hồ và đầm khá phong phú, trong đó có 2 hệ thống sông lớn là sông Hồng và sông Cà Lồ
Sông Hồng:
Trang 32Với chiều dài chảy qua khoảng 19,7 km bao bọc phía Nam của huyện Mê Linh, có lưu lượng nước trung bình khoảng 3.700 m3/s, Sông Hồng chính là tuyến đường thủy nối Hà Nội với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, tạo điều kiện giao lưu phát triển kinh tế cho địa phương
Sông Cà Lồ:
Sông Cà Lồ là phụ lưu cấp 1 của phần lưu vực sông Thái Bình, chảy qua phía Bắc và Đông Bắc huyện Mê Linh, dài 8,6 km Sông Cà Lồ chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc và hội tụ với nhánh đầu tiên tại khu vực thôn Đại Lợi thị xã Phúc Yên
Lòng sông rộng trung bình 50 m – 60 m, tuy nhiên lượng nước của sông không nhiều, trung bình khoảng 30 m3/s (vào mùa mưa là 286 m3/s)
Sông Cà Lồ chủ yếu đóng vai trò tiêu úng mùa mưa của huyện Mê Linh
Hệ thống ao, hồ, đầm:
Mê Linh có trên 200 ha ao hồ, đầm với trữ lượng nước khá lớn, có ý nghĩa quan trọng với việc phát triển nuôi trồng thủy sản và phục vụ nhu cầu nước tại chỗ Đây là nguồn dự trữ nước quan trọng vào mùa khô… [1, 40, 8]
Huyện Sóc Sơn
Huyện Sóc Sơn có 1.217.903 ha mặt nước ao hồ và có ba con sông lớn bao quanh là sông Cà Lồ, sông Cầu, sông Công Ngoài ra, ở huyện Sóc Sơn còn nhiều sông nhỏ như sông Thanh Hoa, Bầu, Ðông Lanh, Cheo Meo Vì vậy, tính chất thủy văn trên địa bàn phụ thuộc vào chế độ thủy văn của ao hồ và sông suối trong vùng Quan trọng nhất là sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Công Chúng không chỉ là nguồn cung cấp nước tưới và nước sinh hoạt mà còn là nơi tiếp nhận nguồn nước thải và tiêu nước khi mùa mưa đến Bên cạnh đó, các suối và nhiều đầm hồ tự nhiên
là nguồn dự trữ nước quan trọng vào mùa khô
Sông Cà Lồ :
Sông Cà Lồ hay còn được gọi là sông Phủ Lỗ, sông chảy qua địa phận huyện Sóc Sơn dài khoảng 25km theo hướng Đông Nam – Tây Bắc Đây là con sông tạo thành ranh giới tự nhiên giữa huyện Sóc Sơn với huyện Mê Linh và giữa huyện Sóc
Trang 33Sơn với huyện Yên Phong (Tỉnh Bắc Ninh)
Hạ lưu sông Cà Lồ (từ Phủ Lỗ) có dòng chảy quanh co Tuy điều này hấp dẫn những người thích ngắm cảnh sông, những người làm phim và những người kinh doanh bất động sản, nhưng nó lại là một trong nguyên nhân gây ra hiện tượng nước sông không thoát nhanh vào mùa mưa Thống kê cho thấy ảnh hưởng của lũ thường từ 30-40 ngày Người ta đã dùng đầm Vạc để thoát lũ cho sông Cà Lồ ở đầu nguồn, nhưng hiệu quả không cao Hiện có ý tưởng nắn dòng Cà Lồ, cắt các đoạn quanh co để có dòng chảy thẳng mà giảm lũ và phục vụ du lịch
Sông Cầu
Sông Cầu còn gọi là sông Như Nguyệt, sông Thị Cầu, sông Nguyệt Đức (xưa kia còn có tên là sông Vũ Bình) Đây là con sông quan trọng nhất trong hệ thống sông Thái Bình
Sông Cầu chảy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, tới xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên nhận tiếp một chi lưu là sông Công Tới ranh giới xã Mai Đình huyện Hiệp Hòa và xã Việt Long huyện Sóc Sơn (Hà Nội) nó nhận một chi lưu nhỏ phía hữu ngạn là sông Cà Lồ rồi chảy tiếp về phía Đông
Sông Cầu được điều tiết bằng hồ Núi Cốc trên sông Công (một chi lưu của nó) với dung tích hàng trăm triệu m³
Chế độ thuỷ văn của các sông trong lưu vực sông Cầu được chia thành 2 mùa:
Mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 9 và chiếm 70-80% tổng lưu lượng dòng chảy trong năm
Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau, chỉ chiếm 20-30% tổng lưu lượng dòng chảy của năm
Lưu lượng dòng chảy trung bình các tháng trong năm chênh lệch nhau tới 10 lần, mực nước cao và thấp nhất chênh nhau khá lớn, có thể tới 5–6 m [2, 41, 8]
Nhận xét:
Điều kiện khí hậu, thủy văn của hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đa dạng hóa các loại vật nuôi, cây trồng, thâm canh tăng
Trang 34vụ Hệ thống sông ngòi, ao hồ là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sản xuất và đời sống nhân dân đồng thời có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường, sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản
e Các nguồn tài nguyên:
Tài nguyên đất:
Huyện Mê Linh: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Mê Linh là
14.226,6ha, với đặc trưng là đất đồng bằng xen kẽ với các vùng trũng, được hình thành do sự bồi lắng của sông Hồng, mang đặc tính của đất phù sa cổ, với khoảng 2.160,6 ha được bồi đắp hàng năm Nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, huyện Mê Linh chia thành 3 vùng có chất lượng đất đai khác nhau, có thể phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú, phù hợp với chất đất và truyền thống sản xuất của nông dân các vùng khác nhau
Huyện Sóc Sơn : Tổng diện tích tài nguyên đất của huyện là 30.651 ha,
chia làm ba loại đất chính:
Đất phù sa: chiếm khoảng 5.061 ha Đất phù sa được hình thành do quá trình bồi lắng của các con sông, đã có sự phân hóa Nhìn chung các vùng đất phù sa tương đối bằng phẳng, giàu chất dinh dưỡng, thích hợp với nhiều loại cây trồng
Đất bạc màu: chiếm khoảng 12.501 ha Nhìn chung các loại đất bạc màu
có hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng thấp Địa hình phần lớn đồi núi thấp và ruộng bậc thang với tầng canh tác mỏng
Đất feralit : chiếm khoảng 9.733 ha Đây là loại đất đặc trưng của vùng
gò đồi Sóc Sơn Đất này có đặc tính chua và nghèo chất dinh dưỡng Địa hình cao,
dễ bị xói mòn
Tài nguyên khoáng sản:
Huyện Mê Linh:
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Mê Linh nói chung là nghèo, chủ yếu là cát và đất sét, các loại tài nguyên khác không đáng kể Cát và đất sét tập trung dọc sông Hồng là nguồn tài nguyên có thể khai thác sử dụng làm vật liệu xây dựng của địa phương Tuy nhiên nguồn tài nguyên này hiện đang bị các doanh
Trang 35nghiệp tư nhân, các cá nhân khai thác bừa bãi, gây nên thất thoát tài nguyên và đặc biệt gây nên xói lở bờ sông [1, 40]
Huyện Sóc Sơn:
Nguồn khoáng sản của huyện chủ yếu là than bùn ở các xã phía Bắc huyện, trữ lượng khoảng 65.661 tấn Vàng sa khoáng ở xã Minh Trí phân bố dài 500m, bề rộng 30m - 50m, kèm theo là một vành đai thiếc sa khoáng bậc 1 có diện tích 2,2km2 Ngoài ra còn có nhiều loại khoáng sản có giá trị là nguyên vật liệu xây dựng như Kaolin, đá ong, cát xây dựng Trong đó nổi bật là tiềm năng về Kaolin ở khu vực Minh Phú, Phù Linh với trữ lượng khá lớn, có thể khai thác để phát triển công nghiệp sứ dân dụng cho địa phương Bên cạnh đó, cát vàng và sỏi phục vụ cho xây dựng có thể khai thác dọc sông Công, sông Cầu Tuy nhiên, hiện nay các nguồn tài nguyên này đang bị tư nhân khai thác bừa bãi, không có tổ chức dẫn đến việc thất thoát tài nguyên và gây hậu quả xói lở bờ sông [2, 41]
Tài nguyên nước:
Tài nguyên nước của huyện Mê Linh bao gồm cả 3 nguồn nước mặt, nước ngầm và nước mưa
Nước ngầm của Mê Linh thuộc tầng chứa nước tương đối sạch và trữ lượng
từ trung bình tới giàu nước, nhưng hiện nay cũng đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm
và khai thác quá mức
Nước mưa:
Với lượng nước mưa trung bình 1.330mm trong năm, có thể bổ sung cho các
ao, hồ đầm và cho các sinh hoạt khác của nhân dân [1, 40]
Giống với huyện Mê Linh, tài nguyên nước huyện Sóc Sơn chia làm 3
Trang 36nguồn: nước mặt, nước ngầm và nước mưa Nhưng ở huyện Sóc Sơn tài nguyên nước có các đặc điểm sau:
Nước mặt:
Huyện Sóc Sơn có trữ lượng nước mặt khá dồi dào, tuy nhiên nguồn nước mặt đang bị nguy cơ ô nhiễm, gây khó khăn cho khai thác phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
Nước mặt của huyện được khai thác từ 3 nguồn chính:
Nước mưa được giữ lại tại các hồ chứa như: Đại Lải qua kênh số II, Đồng Quang, Cầu Bãi, Hoa Sơn, Đạo Đức…
Nước sông chảy qua huyện: sông Công, sông Cầu, sông Cà Lồ
Nước từ sông Hồng qua hệ thống kế tiếp từ huyện Đông Anh
Ở vùng gò đồi của huyện, mực nước ngầm có độ sâu từ 30 m – 40 m với tầng chứa nước khoảng 4 m – 20 m tùy theo các khu vực, tăng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Chất lượng nước tốt thuộc loại nước nhạt, nước mềm đến rất mềm nhưng hàm lượng sắt cao nên khi sử dụng cần phải có biện pháp xử lý
Nước mưa:
Hàng năm huyện tiếp nhận trung bình 50 triệu m3- 60 triệu m3 nước mưa Lượng nước mưa này nghèo, phân bố không đều trong năm [2, 41]
Nhận xét:
Huyện Mê Linh là vùng dồi dào trữ lượng nước, tuy nhiên lượng mưa phân
bố không đều theo không gian và thời gian trong năm Môi trường của Mê Linh đang đối mặt với thách thức do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hoá, đặc biệt là môi trường các khu công nghiệp Ô nhiễm môi trường nước, không khí, rác thải ảnh
Trang 37hưởng khá lớn tới đời sống, sản xuất dân cư quanh các khu vực này
Ngược lại, huyện Sóc Sơn là vùng nghèo nước, đặc biệt ở vùng gò đồi, lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian trong năm đã làm cho huyện trở thành vùng hạn và ngập úng trọng điểm của Hà Nội Huyện cũng đang phải đối mặt với thách thức do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa Ô nhiễm môi trường nước, không khí, rác thải đang là câu hỏi lớn đặt ra cho huyện
Do đó để phát triển lâu bền môi trường tự nhiên, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, cần có chiến lược bảo vệ và phát triển tài nguyên nước bằng cách xây dựng, nâng cấp các hồ, đập để giữ nước phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp, cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân và phát triển du lịch
f Các hệ sinh thái của huyện
Huyện Mê Linh
Theo nghiên cứu tài liệu, phối hợp với điều tra khảo sát thực địa nhận thấy huyện Mê Linh có 7 hệ sinh thái sau:
Hệ sinh thái đô thị: Là các quận, thị xã, thị trấn… nơi sinh sống của người dân ở đây gắn liền với đô thị Ở huyện Mê Linh một số khu vực như thị trấn Quang Minh, thị trấn Chi Đông
Hệ sinh thái nông thôn: Là các thôn, xóm … nơi sinh sống của người dân gắn liền với nông thôn, sản xuất nông lâm ngư nghiệp và nghề tiểu thủ công… Ở huyện Mê Linh, hệ sinh thái nông thôn có rất nhiều ở các xã như xã Chu Phan, Đại Thịnh, Liên Mạc …
Hệ sinh thái nông nghiệp: Là nơi mà người nông dân trồng các cây lương thực, thực phẩm… nơi nuôi gia cầm, gia súc, thủy sản Là huyện thuần nông, lại ở vùng đồng bằng nên cây trồng chính của huyện Mê Linh là lúa, ngô, khoai, đậu, đỗ
Ở đây cũng nuôi các gia cầm gia súc như trâu, bò, lợn, gà…
Hệ sinh thái rừng trồng/ gò đồi: Là các hệ sinh thái mà thảm thực vật là các cây trồng lấy gỗ, cây công nghiệp…
Hệ sinh thái sông : Là các sông lớn, nhỏ khác nhau, thuộc loại hình nước chảy Huyện có con sông lớn chảy qua là sông Hồng, sông cỡ vừa là sông Cà Lồ
Trang 38 Hệ sinh thái đất ngập nước: Là các vùng đất ẩm ướt, lúc có nước, lúc không
có nước Đầm được coi là loại đất ngập nước điển hình
Hệ sinh thái hồ, ao: Là các vực nước tĩnh có các kích thước lớn, nhỏ khác nhau có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo (do đào) Huyện Mê Linh có trên 200 ao,
hồ với kích thước khác nhau [1, 40]
Huyện Sóc Sơn
Huyện Sóc Sơn có 11 hệ sinh thái Ngoài 7 hệ sinh thái là hệ sinh thái đô thị,
hệ sinh thái nông thôn, hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái rừng trồng/ gò đồi, hệ sinh thái sông, hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái hồ, ao; huyện Sóc Sơn còn
có thêm 4 hệ sinh thái sau:
Hệ sinh thái savan hoặc đồng cỏ
Hệ sinh thái rừng núi đất
Hệ sinh thái hồ chứa nước: Đây là các hồ chứa nước khi do được xây đập chắn dòng chảy của sông, suối để chứa nước phục vụ tưới tiêu thủy lợi…
Hệ sinh thái suối: là các suối chảy ra từ vùng núi Ở huyện Sóc Sơn các suối này thường nhỏ và ngắn [2, 41]
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
a Dân số và xã hội
Dân số của huyện Mê Linh tính đến ngày 01/11/2013 có khoảng 197.000 người Mật độ dân số trung bình là 1.387 người/1 km2. Dân số đô thị khoảng 20.000 người chiếm 10,15%, dân số nông thôn khoảng 177.000 người chiếm khoảng 89,85% Số người trong độ tuổi lao động khoảng 102.000 người chiếm khoảng 51,77% số dân
Huyện có những chuyển biến tích cực trong lĩnh vực xã hội mũi nhọn, nhiều chỉ tiêu xã hội đạt cao và về trước kế hoạch như: chất lượng giáo dục được nâng cao; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh (từ 17% năm 2005 xuống còn 9,36% năm 2010); mức hưởng thụ các dịch vụ y tế, VHTT, tỷ lệ dân nông thôn được sử dụng nước [13, 40]
Tính đến ngày 01/01/2010, tổng dân số trung bình trên địa bàn huyện Sóc
Trang 39Sơn là 294.143 người với 69.877 hộ Mật độ dân số bình quân của huyện là 959 người/1 km2, phân bố không đồng đều Mật độ dân số cao ở thị trấn và các xã ven quốc lộ 2, 3, đường 131, trong đó cao nhất ở thị xã Sóc Sơn với 5.063 người/1 km2, Phù Lỗ: 2.116 người/1 km2 Mật độ dân số thấp nhất ở các xã khu vực miền núi như Bắc Sơn: 386 người/1 km2, Nam Sơn: 280 người/1 km2 Dân số nông thôn khoảng 250.198 người chiếm khoảng 85,06%; dân số đô thị khoảng 42945 người chiếm khoảng 14,94% Dân số huyện có cơ cấu trẻ, tỷ lệ dân số dưới độ tuổi lao động và trên độ tuổi lao động ở mức thấp so với cả nước, Số người trong độ tuổi lao động khoảng 199.134 người, chiếm khoảng 67,7% dân số [14, 41]
b Phát triển kinh tế
Huyện Mê Linh:
Quá trình phát triển kinh tế của huyện Mê Linh trong thời gian qua gắn liền với quá trình đô thị hóa theo quyết định 208/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ (Định hướng Quy hoạch chung xây dựng đô thị mới Mê Linh đến năm 2020) và đặc biệt là kế hoạch triển khai xây dựng nông thôn mới đến năm 2014
Tăng trưởng kinh tế đạt mức cao, bình quân 20,8% / năm trong giai đoạn 2006 -
2010, gấp 1,6 lần tốc độ tăng chung của toàn thành phố Hà Nội Năm 2010, tổng GTSX trên địa bàn đạt trên 10.700 tỷ đồng, bình quân đầu người trên 55 triệu đồng/năm
Tuy nhiên quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa làm cho người lao động khó khăn trong chuyển đổi nghề; nhiều thách thức về xã hội và việc làm nảy sinh với người nông dân bị mất đất sản xuất [13, 40]
Phát triển kinh tế của ngành công nghiệp:
Ngành công nghiệp của huyện Mê Linh phát triển với một quy mô lớn, cơ sở
hạ tầng kinh tế – xã hội được đầu tư, nâng cấp Trên địa bàn đã hình thành các khu công nghiệp, trung tâm thương mại hiện đại (khu công nghiệp Quang Minh I, Trung tâm thương mại Mê Linh Plaza và đang xây dựng khu công nghiệp Quang Minh II);
hạ tầng vùng nông thôn được cải thiện đáng kể Một số khu đô thị đã hình thành và đang trong quá trình xây dựng và hoàn chỉnh như Long Việt, Hà Phong, Vinaconex 2… trên địa bàn thị trấn Chi Đông, Quang Minh và xã Tiền Phong, giúp bộ mặt
Trang 40nông thôn của Huyện thay đổi theo hướng hiện đại
Đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng GTSX giai đoạn 2006 – 2010 là ngành công nghiệp, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt đến 26,7%/năm
Giai đoạn 2006- 2010, cơ cấu đã có sự chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng từ 76,3% năm 2005 lên 86,7% năm 2010 Nhiều sản phẩm công nghiệp mới có giá trị kinh tế cao được mở ra và phát triển khá mạnh như: lắp ráp ô tô, linh kiện điện tử, dược, sắt thép, bia…
Phát triển kinh tế của ngành nông nghiệp – thủy sản
Hiện nay huyện Mê Linh có diện tích khoảng 14.000ha, trong đó diện tích sản xuất nông nghiệp hơn 8.000ha, dân số gần 20.000 người Trong công tác xây dựng quy hoạch, Mê Linh chú trọng đến quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp; quy hoạch thủy lợi; chăn nuôi; thủy sản…
Tuy nhiên, trong giai đoạn 2006-2010, cơ cấu ngành đã có sự chuyển dịch, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp từ 19,7% xuống 10,2%
Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp thay đổi theo hướng hình thành các vùng trồng hoa, rau rõ nét hơn Một trong những lợi thế của huyện Mê Linh là phát triển nghề trồng hoa ở xã Mê Linh, Tiền Phong, Tráng Việt… Tuy nhiên, sau khi điều chỉnh quy hoạch, một số diện tích trồng hoa cũ sẽ phải nhường chỗ cho các dự án khác Huyện Mê Linh sẽ quy hoạch khoảng hơn 300ha ở xã Tráng Việt để trồng hoa, nhằm “bù” lại số diện tích trồng hoa sẽ cắt làm dự án khác tại xã Mê Linh và Tiền Phong
Để từng bước nâng cao đời sống người dân, tùy theo đặc điểm, thế mạnh của từng xã mà huyện có những chỉ đạo để phát triển sản xuất Quan điểm phát triển sản xuất của huyện là phát triển sản xuất hàng hóa, đưa các giống mới chất lượng, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Điển hình là mô hình 100ha trồng lúa hàng hóa chất lượng cao ở xã Liên Mạc và mô hình trồng lúa giống mới BC16, PC6, RVT… ở xã Tam Đồng, Kim Hoa, Hoàng Kim, Tiến Thịnh… Ngoài ra, còn có các
mô hình trồng hoa chất lượng cao với diện tích 12ha và mô hình trồng chuối tiêu hồng ở xã Văn Khê [13, 40]