Trong quá trình học tập, nghiên cứu, người viết nhận thấy có sự liên hệ giữa các Vì vậy, trong bài tiểu luận này, người viết sẽ trình bày 2 nội dung: + Phân tích phương pháp sáng tạo SCA
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Bài tiểu luận môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học
và tư duy sáng tạo
Phân tích phương pháp sáng tạo
Trang 2Tp.Hồ Chí Minh, tháng 04/2013
Trang 3Lời nói đầu
Phương pháp giải quyết vấn đề sáng tạo SCAMPER được Bob Eberle đề xuất từ nhữngnăm đầu thập niên 70 của thế kỷ trước Trải qua thời gian, phương pháp này đã được kiểm
nghiệm và chứng tỏ là một phương pháp hiệu quả dùng để phát triển các ý tưởng mới, sản
phẩm mới, dịch vụ mới
SCAMPER là một trong những phương pháp được giảng dạy trong môn học Phương
pháp
nghiên cứu khoa học và tư duy sáng tạo thuộc chương trình cao học của trường ĐH CNTT,
bên cạnh các phương pháp khác như TRIZ, 6 mũ tư duy, bản đồ tư duy, …
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, người viết nhận thấy có sự liên hệ giữa các
Vì vậy, trong bài tiểu luận này, người viết sẽ trình bày 2 nội dung:
+ Phân tích phương pháp sáng tạo SCAMPER từ góc nhìn của phép biện chứng duy vật.Mục này sẽ cho thấy tính đầy đủ, tính sáng tạo và sự phù hợp của tinh thần SCAMPER so với
các luận điểm cơ bản của phép biện chứng duy vật
+ Đề xuất một phương pháp sử dụng SCAMPER hiệu quả Người viết sẽ vận dụng kết hợp
một số luận điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học đã được học và trường phái TRIZ
để phát hiện vấn đề trước khi sử dụng SCAMPER để giải quyết vấn đề
Người viết xin chân thành cám ơn GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm, người đã giảng dạy mônhọc Phương pháp nghiên cứu khoa học và tư duy sáng tạo Thầy đã biên soạn giáo trình vượt
ra khỏi khuôn khổ của các giáo trình phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống, đưa
vào nhiều nội dung thuộc các phương pháp sáng tạo tiên tiến trên Thế giới để giới thiệu với
các học viên Trước đây, người viết đã có thời gian ngắn tìm hiểu TRIZ, qua môn học này lần
đầu tiên người viết đã biết tới SCAMPER và đã trải nghiệm được sự hiệu quả của nó.Qua bài tiểu luận này, người viết mong thầy và các bạn thẳng thắn góp ý những luận điểm
còn chưa đúng, những chỗ còn thiếu sót để người viết sửa chữa, hoàn thiện để có thể sử
Trang 4dụng tốt hơn phương pháp SCAMPER trong thực tiễn.
Trang 5tạo 83.3 Tính đầy
Trang 6Diệp Thanh Nguyên, 2013
trang 2
Trang 71 Giới thiệu phương pháp SCAMPER
SCAMPER là một kỹ thuật giúp khơi nguồn sự sáng tạo cho người sử dụng, giúp họ giảiquyết được những vấn đề khó khăn gặp phải và phát huy các ý tưởng mới
SCAMPER thực chất là một bảng danh sách khoảng 60 câu hỏi Khi lần lượt trả lời các câu
hỏi đó, người dùng có thể sẽ phát ra được các ý tưởng giải quyết vấn đề mà nếu không được
các câu hỏi gợi ý thì việc nghĩ ra ý tưởng sẽ khó khăn hơn
Các câu hỏi của SCAMPER được chia thành 7 nhóm, tạo thành 7 phép biến đổi Viết tắt ký
tự đầu của các phép biến đổi đó tạo thành chữ "S.C.A.M.P.E.R"
1.1 Các phép biến đổi (phép sáng tạo) của SCAMPER
+ Subtitude (Phép thay thế): Thay thế một phần của sản phẩm, vấn đề, quá trình
VD: Kết hợp cục tẩy và cây bút chì, ta được cây bút chì có gắn cục tẩy
+ Adapt (Phép thích ứng): Sử dụng giải pháp cho vấn đề tương tự vấn đề của bạn ở
thì tính năng của sản phẩm sẽ được tăng cường
VD: Chế tạo điện thoại có màn hình cảm ứng lớn để dễ xem phim thay vì màn hình tiêu
VD: Dùng điện thoại để điều khiển từ xa thay vì chỉ để nghe gọi
+ Eliminate (Phép loại bỏ): Loại bỏ những thành phần không cần thiết trong sản
phẩm,
quá trình Sau khi loại bỏ các thành phần không cần thiết thì sản phẩm có thể có tác dụng
Trang 8hiệu quả hơn Phép loại bỏ không phải là một trường hợp con của phép điều chỉnh – trường
hợp điều chỉnh giảm bớt quy mô Phép điều chỉnh là làm tăng giảm quy mô của một sốthành phần mà thành phần đó vẫn được giữ lại, trong khi phép loại bỏ là loại bỏ một sốthành phần ra khỏi sự vật
VD: Máy tính ngày nay đã loại bỏ hoàn toàn ổ đĩa mềm, vì nó không còn cần thiết nữa
+ Reverse (Phép đảo ngược): Đảo ngược các thành phần của sản phẩm, đảo ngược
trật tự, thay đổi cấu trúc, thay đổi cách sắp xếp so với ban đầu
VD: Thay vì để khách đến cửa hàng mua hàng, người ta cho nhân viên tiếp thị đến tận nhà
giới thiệu hàng cho khách
Trang 91.2 Bảng câu hỏi của SCAMPER
- Phép thay thế:
+ Có thể thay thế những phần nào ?
+ Có thể thay thế những ai liên quan ?
+ Có thể thay đổi luật lệ, quy luật ?
+ Có thể dùng công thức khác hay vật liệu khác ?
+ Có thể dùng quá trình khác hay quy trình khác ?
+ Có thể thay đổi hình dáng ?
+ Có thể thay đổi màu sắc, độ nhám, âm thanh hay mùi vị ?
+ Cái gì xảy ra nếu đổi tên ?
+ Có thể thay thế một phần này bằng phần khác ?
+ Có thể dùng ý tưởng này ở nơi khác ?
+ Có thể thay đổi cảm xúc hay thái độ về vấn đề ?
- Phép kết hợp:
+ Những ý tưởng nào hay bộ phận nào có thể kết hợp được với nhau ?
+ Có thể kết hợp hay tái hợp những mục đích của các phần ?
+ Có thể kết hợp hay pha trộn với những đối tượng nào khác ?
+ Những gì có thể kết hợp để tối ưu hóa giá trị sử dụng ?
+ Những nguyên vật liệu nào có thể kết hợp với nhau ?
+ Có thể kết hợp các kỹ năng khác nhau để cải tiến ?
- Phép thích ứng:
+ Nó trông giống cái gì khác ?
+ Có cái gì tương tự với đối đối tượng ta đang xem xét nhưng trong một ngữ cảnh khác
?
+ Quá khứ có đem lại bài học tương tự nào hay không ?
+ Ý tưởng nào khác có thể đề xuất ?
+ Cái gì tôi có thể sao chép, mượn hay đánh cắp ý tưởng ?
+ Tôi có thể tương tác với ai ?
+ Ý tưởng nào tôi có thể hợp nhất ?
+ Quá trình nào có thể được thích ứng ?
+ Có thể đặt ý tưởng của tôi trong những ngữ cảnh nào khác ?
+ Ý tưởng nào ngoài lĩnh vực của tôi có thể hợp nhất ?
- Phép điều chỉnh:
+ Yếu tố nào có thể điều chỉnh lớn hơn ?
+ Yếu tố nào có thể cường điệu hoặc cực đoan ?
+ Yếu tố nào có thể cao hơn, to hơn hay mạnh hơn ?
+ Tôi có thể gia tăng tần số của hệ thống ?
+ Yếu tố nào có thể lặp lại ? Có thể tạo ra nhiều bản sao ?
+ Tôi có thể bổ sung thêm những đặc trưng mới hoặc giá trị mới ?
Trang 10- Phép dùng vào việc khác:
+ Đối tượng đang xem xét có thể dùng vào mục đích khác ?
+ Đối tượng đang xem xét có thể dùng bởi người khác với mục đích khác ?
+ Trẻ em hay người già sử dụng đối tượng đang xem xét như thế nào ?
+ Làm thế nào những người thiểu năng có thể dùng nó ?
+ Có cách nào khác sử dụng đối tượng trong hình dáng hiện tại ?
+ Có thể có những lợi ích gì nếu nó được điều chỉnh ?
+ Nếu tôi không biết gì về nó, tôi có thể tưởng tượng ra mục đích của ý tưởng ?
+ Có thể sử dụng ý tưởng này trong lĩnh vực khác, thị trường khác ?
- Phép loại bỏ:
+ Tôi có thể đơn giản hóa đối tượng như thế nào ?
+ Bộ phận nào có thể loại bỏ mà không làm thay đổi tính năng hệ thống ?
+ Bộ phận nào không mang tính cốt lõi hay không cần thiết ?
+ Quy tắc nào có thể hạn chế hoặc loại bỏ ?
+ Tôi thực hiện với qui mô nhỏ hơn sẽ ra sao ?
+ Tính chất nào của hệ thống tôi có thể giảm thiểu hoặc loại bỏ ?
+ Tôi có thể chia tách hệ thống thành các bộ phận khác nhau ?
+ Tôi có thể làm cho đối tượng tinh gọn hơn ?
- Phép đảo ngược:
+ Có phương án cấu trúc khác tốt hơn phương án hiện hành ?
+ Có thể hoán đổi bộ phận này với bộ phận khác trong hệ thống ?
+ Có những hình mẫu, cách bày trí hay trình tự khác để dùng ?
+ Có thể hoán đổi giữa nguyên nhân và kết quả ?
+ Có thể thay đổi nhịp điệu hay lịch trình của kế hoạch ?
+ Có thể hoán đổi giữa yếu tố tích cực và yếu tố tiêu cực ?
+ Có thể xoay nó sang chiều khác ? Trên thay vì dưới ? Dưới thay vì trên ?
+ Xem xét vấn đề/bài toán theo chiều hướng ngược lại ?
+ Điều gì xảy ra nếu tôi thực hiện ngược lại với dự định ban đầu ?
tra cứu (tham khảo phụ lục)
+ Công cụ sinh câu hỏi ngẫu nhiên theo phương pháp SCAMPER (SCAMPER Random
Question Tool): Là một trang web có tính năng đưa ra các câu hỏi ngẫu nhiên rong danh
Trang 11Thanh Nguyên, 2013
trang 5
Trang 121.4 Phạm vi áp dụng SCAMPER
SCAMPER được cho là phương pháp dùng để giải quyết các vấn đề khó khăn gặp phảihoặc để phát ra các ý tưởng mới Tuy nhiên, nhiều tác giả khi giới thiệu về SCAMPER chorằng phương pháp này đạt hiệu quả cao khi dùng để sản sinh ra các ý tưởng mới, sản phẩm
mới, dịch vụ mới; tức là không mạnh về khâu giải quyết vấn đề khó khăn
Bản thân người viết cũng nhận thấy SCAMPER không thiên về phát hiện và giải quyết các
vấn đề mâu thuẫn Phương pháp giải quyết các bài toán kỹ thuật bằng cách phát hiện và giải
quyết mâu thuẫn vật lý thuộc trường phái TRIZ tỏ ra hiệu quả hơn SCAMPER trong lĩnh vực
này
2 Tóm tắt các nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật (PBCDV) là khoa học nghiên cứu về các quy luật chung nhất của
tự nhiên, xã hội và tư duy Đó là các quy luật về các mối liên hệ và sự phát triển của sự vật,
hiện tượng Sự sáng tạo cũng là một sự phát triển trong thế giới vật chất Vì vậy luận điểm
của các phương pháp sáng tạo cũng phải có liên hệ với luận điểm về sự phát triển củaPBCDV
Các nội dung cơ bản của PBCDV bao gồm 2 nguyên lý, 3 quy luật và 6 cặp phạm trù
2.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất không tồn tại độc lập mà luôn có nhữngliên hệ, ràng buộc, tác động lẫn nhau Các mối liên hệ có ở tất cả các sự vật, hiện tượng trong
tự nhiên, xã hội và tư duy Có những mối liên hệ giữa những sự vật, hiện tượng với nhau (mối
liên hệ bên ngoài) và có những mối liên hệ giữa những mặt, những thành phần bên trongcủa sự vật, hiện tượng (mối liên hệ bên trong)
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến được thể hiện qua 6 cặp phạm trù:
+ Nội dung, hình thức
+ Bản chất, hiện tượng
+ Nguyên nhân, kết quả
+ Tất nhiên, ngẫu nhiên
+ Cái riêng, cái chung
+ Khả năng, hiện thực
2.2 Nguyên lý về sự phát triển
Sự vật hiện tượng không bất biến mà luôn tồn tại trong sự vận động, phát triển Sự vậthiện tượng luôn vận động từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Trong quá trình phát triển,
sự vật, hiện tượng cũ mất đi và sự vật, hiện tượng mới ra đời có khác nhau về chất và có kế
thừa từ sự vật, hiện tượng cũ Quá trình phát triển là một đường xoắn ốc đi lên, đôi lúc sựvật,
Trang 13hiện tượng mới dường như lặp lại sự vật, hiện tượng cũ nhưng ở cơ sở cao hơn.
Nguyên lý về sự phát triển được thể hiện qua 3 quy luật:
- Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Sự vận động, phát triển của thế giới vật chất và tư duy được thực hiện bằng con đườngđấu tranh, phủ định, chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt có xu hướng phát triển đối lập nhau
Chúng đấu tranh là để giải quyết những mâu thuẫn giữa chúng và tạo ra động lực bên trong
Trang 14cho sự thay đổi, sự phát triển Như vậy, con đường đi đến nhận thức bản chất của sự vật, hiện
tượng là con đường phát hiện ra sự thống nhất, sự mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn giữa
các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng
Trong bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại các mặt đối lập và mâu thuẫn giữachúng, nhưng điều đó không có nghĩa là trong mỗi sự vật, hiện tượng chỉ tồn tại một mâuthuẫn Mỗi sự vật, hiện tượng đều do nhiều mặt, nhiều mối liên hệ khác nhau tạo nên Điều
đó có nghĩa là trong bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại nhiều mâu thuẫn khác nhau,
có vị trí, vai trò khác nhau trong sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng đó.Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập phản ánh quá trình đấu tranh giải
quyết mâu thuẫn và khẳng định đấu tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn Theo đó,
mọi sự vật, hiện tượng đều có những mặt đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn bêntrong, việc giải quyết mâu thuẫn đó là nguyên nhân, là động lực nội tại của sự vận động và
phát triển, dẫn tới sự mất đi của sự vật, hiện tượng cũ và sự ra đời của sự vật, hiện tượngmới
- Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và
ngược lại
Theo quan niệm của PBCDV, những thuộc tính nào chỉ rõ sự vật, hiện tượng này và bảnchất của nó là cái gì được gọi là chất của sự vật, hiện tượng, còn những thuộc tính nào chỉ rõ
thể tích, chiều dài, chiều rộng, tốc độ phát triển, trình độ thể hiện của những thuộc tính nào
đó của sự vật, hiện tượng được gọi là lượng Như vậy, mỗi sự vật, hiện tượng đều có những
đặc điểm về chất và lượng, là sự thống nhất giữa chất với lượng
Phạm vi, trong đó những thay đổi về lượng chưa gây ra những thay đổi về chất của sự vật,
hiện tượng được gọi là độ Những thay đổi về chất không phải ở bất cứ lúc nào, mà chỉ diễn
ra khi nào sự thay đổi về lượng vượt quá giới hạn của độ, vượt qua một độ nhất định
Sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích luỹ
dần về lượng đến một giới hạn nhất định (đến độ), qua đó sẽ thực hiện bước nhảy để chuyển
hoá về chất
- Quy luật phủ định của phủ định
Theo quan niệm của PBCDV, phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân
Trang 15Trong sự xuất hiện của sự vật, hiện tượng mới có lặp lại tương đối một số đặc tính của sự
vật, hiện tượng cũ và kết quả là trong sự vật, hiện tượng mới, tồn tại một số đặc tính của sự
vật, hiện tượng cũ đã được cải tạo cho phù hợp
Trong quá trình của những phủ định biện chứng đó, có những lúc các sự vật, hiện tượng
mới xuất hiện dường như lặp lại những giai đoạn đã đi qua trên cơ sở mới, cao hơn và như
vậy, phát triển không thể đi theo con đường thẳng, mà theo con đường “xoáy ốc”, mỗi vòng
tròn kế tiếp dường như lặp lại vòng tròn trước đó, nhưng trên cơ sở cao hơn
Sự quan hệ giữa các quy luật
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chỉ ra nguyên nhân bên trong
xu hướng và kết quả của sự phát triển.
Trang 16Các quy luật chung nhất của phép biện chứng duy vật định hướng cho việc nghiên cứunhững quy luật đặc thù của các ngành khoa học cụ thể Mối quan hệ qua lại giữa các quyluật chung nhất với các quy luật đặc thù tạo nên cơ sở khách quan của mối liên hệ giữa chủ
nghĩa duy vật biện chứng với các ngành khoa học cụ thể
3 Phân tích phương pháp SCAMPER từ góc nhìn của phép biện chứng duy vật
Sự sáng tạo trong SCAMPER, nếu khái quát hơn, thì nó chính là sự phát triển của sự vật,
hiện tượng trong PBCDV Sự phát triển trong PBCDV là sự thay đổi tiến lên từ kém hoàn thiện
đến hoàn thiện hơn của vật chất Sự sáng tạo trong SCAMPER là sự xuất hiện của sản phẩm
mới, quá trình mới tốt hơn sản phẩm cũ, quá trình cũ
Trong phần này, người viết sẽ vận dụng những luận điểm của PBCDV để giải thích, phân
tích phương pháp SCAMPER nhằm cho thấy SCAMPER là một phương pháp tích cực hóa tưduy có tính hợp quy luật, tính sáng tạo và tính đầy đủ Tức là trả lời các câu hỏi sau:+ Triết lý chung của các phép sáng tạo trong SCAMPER có phù hợp với quy luật phát triển
của sự vật, hiện tượng ?
+ Liệu rằng các phép biến đổi trong SCAMPER có thực sự đem lại sự sáng tạo ?
+ Các phép biến đổi trong SCAMPER đã đầy đủ chưa, có thể bổ sung hay loại bỏ phépnào hay không ?
3.1 Tính hợp quy luật
Triết lý chung của các phép sáng tạo trong SCAMPER là : Mọi cái mới đều là sự biến
đổi từ
những cái đang tồn tại.
Từ đây có thể suy ra, cái mới phải có liên hệ với những cái đang tồn tại và cái mới phảikế
thừa những cái đang tồn tại
Thực vậy, phép thay thế, kết hợp, điều chỉnh, loại bỏ, đảo ngược đều giống nhau ở chỗmột phần của sự vật, quá trình được thay đổi còn một phần vẫn được giữ lại Riêng phépthích ứng và phép dùng vào việc khác thì chỉ đem giải pháp từ lĩnh vực này sang cho lĩnh vực
nhận việc có thể “tự nhiên” nghĩ ra một cái gì đó mới mà không có điểm xuất phát
Tinh thần này cũng phù hợp với quy luật phủ định của phủ định Qua quá trình đấu tranh
giải quyết mâu thuẫn, sự vật mới ra đời phủ định sự vật cũ nhưng không phủ định hoàn