Chính vì vậy, việc nghiên cứu, thu thập số liệu, tổng hợp phân tích các thông tin liên quan đến hiện trạng, sự biến động thành phần, độ phong phú, mức độ đa dạng cũng như những tác động
Trang 1đỡ và chỉ dẫn em trong suốt thời gian nghiên cứu khoa học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Em cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Sinh học, đặc biệt là các thầy cô giáo trong Phòng Thí nghiệm Sinh Thái học và Sinh học môi trường, Bộ môn Động vật có xương sống, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã tận tình giảng dạy, dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như đã có những nhận xét và chỉ dẫn quý báu, cung cấp những tài liệu cần thiết giúp em hoàn thành nghiên cứu này
Trong suốt quá trình thực địa tại khu vực hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, em đã được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ủy ban nhân dân các xã Hợp Tiến, Hồng Sơn, Tuy Lai, Thượng Lâm; nhân dân địa phương và đặc biệt là các cán bộ, công nhân thuộc Công ty cổ phần Thủy sản và Du lịch Quan Sơn Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đối với những sự giúp đỡ quý báu ấy
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình và bạn bè, những người đã luôn ủng hộ và động viên em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Mạc Thị Phương Thảo
Trang 21.1 Đa dạng sinh học 3
1.1.1 Định nghĩa và vai trò của đa dạng sinh học 3
1.1.2 Đa dạng sinh học và sự biến động đa dạng sinh học ở Việt Nam 5
1.2 Tài nguyên sinh vật 8
1.2.1 Định nghĩa tài nguyên sinh vật 8
1.2.2 Sự suy giảm tài nguyên sinh vật và nguồn lợi thủy sản ở Việt Nam 8
1.2.3 Những yếu tố tác động đến tài nguyên sinh vật 9
1.3 Phát triển bền vững 14
1.3.1 Quan điểm về phát triển bền vững 14
1.3.2 Căn cứ và nguyên tắc đề xuất giải pháp phát triển bền vững 16
1.4 Khái quát về vùng hồ Quan Sơn và tình hình nghiên cứu trong vùng 19
2 Chương 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
2.1.1 Địa điểm 23
2.1.2 Thời gian 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Phương pháp kế thừa, hồi cứu 23
2.2.2 Phương pháp thu mẫu, khảo sát thực địa 24
2.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học 25
2.2.4 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 26
Trang 33.2 Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật 64
3.2.1 Các nguồn lợi từ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật 64
3.2.2 Tình trạng quản lý sử dụng và các yếu tố tác động tới các nguồn lợi 70
3.2.3 Các yếu tố tác động tới đa đạng sinh học vùng Hồ Quan Sơn 73
3.2.4 Nhận thức của người dân về đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học 77 3.2.5 Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật vùng hồ Quan Sơn 81
4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
Tài liệu tham khảo 94
Trang 5
Bảng 3.2 Độ phong phú các loài cá ở vùng hồ Quan Sơn 29 Bảng 3.3 Thành phần và độ phong phú các loài lưỡng cư ở vùng hồ Quan
Sơn
39
Bảng 3.4 Thành phần và độ phong phú các loài bò sát ở vùng hồ Quan Sơn 40 Bảng 3.5 Độ phong phú các loài chim ở vùng hồ Quan Sơn 43 Bảng 3.6 Thống kê số lượng họ, loài trong các bộ và tỷ lệ phần trăm trên
tổng số loài trong các bộ thú
51
Bảng 3.7 Độ phong phú các loài thú ở vùng hồ Quan Sơn 51 Bảng 3.8 Diện tích và dân số của 4 xã thuộc địa bàn vùng hồ Quan Sơn 63 Bảng 3.9 Danh sách các loài cá kinh tế vùng hồ Quan Sơn 64 Bảng 3.10 Độ phong phú các loài thủy sản thuộc động vật không xương sống
ở khu vực hồ Quan Sơn
Bảng 3.15 Kết quả điều tra nhận thức của cộng đồng đối với các giải pháp
nâng cao năng lực bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học
80
Bảng 3.16 Thống kê các phương tiện cung cấp thông tin và các vấn đề liên
quan đến đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học
80
Trang 6Hình 2.1 Mẫu bò sát bắt tại hiện trường 24
Hình 3.10 Dê được nuôi thả ở khu vực chân núi và trên núi 62
Hình 3.17 Sơ đồ các điểm, tuyến du lịch khu vực hồ Quan Sơn 89
Trang 7hỏi một lượng lớn nguồn tài nguyên Tuy nhiên, tài nguyên đa dạng sinh học lại ngày càng suy kiệt do tốc độ sử dụng các nguồn tài nguyên nhanh hơn tốc độ tái tạo chúng, đồng thời việc hỗ trợ tái tạo cũng như việc bảo tồn các nguồn tài nguyên đó chưa được chú trọng đầu tư nghiên cứu thỏa đáng Bên cạnh đó, những cố gắng để bảo tồn đa dạng sinh học đôi khi lại mâu thuẫn với nhu cần cần thiết cho cuộc sống của con người Vì vậy, nhiều nhà sinh học bảo tồn nhận ra sự cần thiết và đưa ra khái niệm phát triển bền vững, nghĩa là phát triển kinh tế thỏa mãn nhu cầu hiện tại
và tương lai của con người đối với nguồn tài nguyên, nhân lực và hạn chế tối thiểu tác động của nó đến đa dạng sinh học [18, 34, 36, 37] Phát triển bền vững được xem như một tiến trình đòi hỏi sự phát triển đồng thời của 4 lĩnh vực: kinh tế, nhân văn, môi trường, kỹ thuật [19] Tuy nhiên, theo UNEP, khái niệm này còn mới mẻ, những chính sách để thực hiện còn đang hình thành và chưa có một quốc gia nào thực sự đang theo đuổi một chính sách phát triển bền vững [29]
Việt Nam là một trong những quốc gia có tài nguyên đa dạng sinh học vào bậc nhất, với điều kiện thiên nhiên ưu đãi rừng vàng, biển bạc Tuy nhiên, với việc tăng nhanh về dân số và tốc độ đô thị hóa đã làm mất đi rất nhiều tài nguyên sinh vật, đồng thời với đó là sự khai thác bừa bãi thiếu quản lý và quy hoạch cụ thể Trong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đã gia tăng các nghiên cứu khoa học cũng như có những thay đổi về chế tài quản lý, khai thác nguồn tài nguyên hợp
lý hơn Các Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn được đầu tư, phát triển mạnh Điều này đã đóng góp rất lớn trong việc bảo vệ và khôi phục các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam
Khu vực Hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 50km về phía Tây Nam, nằm trên địa bàn 4 xã (Hợp Tiến, Hồng Sơn, Tuy
Trang 8quy hoạch, điều này đã đặt tài nguyên sinh vật ở vùng hồ Quan Sơn vào nguy cơ suy kiệt cao Trong suốt hơn mười năm từ năm 2001 đã có những nghiên cứu bước đầu về nguồn tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học trong khu vực tuy nhiên các nghiên cứu này mang tính đơn lẻ, tại từng thời điểm, chưa có các nguyên cứu tổng hợp phân tích trong thời gian dài
Chính vì vậy, việc nghiên cứu, thu thập số liệu, tổng hợp phân tích các thông tin liên quan đến hiện trạng, sự biến động thành phần, độ phong phú, mức độ đa dạng cũng như những tác động đe dọa tới tài nguyên sinh vật tại khu vực hồ Quan Sơn, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng phù hợp và bền vững tài nguyên
sinh vật nơi đây là vô cùng cấp thiết Vì vậy, luận văn đã chọn đề tài “Hiện trạng, biến động đa dạng sinh học và đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội”
Mục tiêu cơ bản của đề tài là tiến hành tổng hợp, đánh giá hiện trạng, biến động đa dạng sinh học, đồng thời nghiên cứu hiện trạng sử dụng khai thác và các yếu tố tác động tới đa dạng sinh học trong khu vực, từ đó đưa ra các biện pháp sử dụng phát triển bền vững tài nguyên sinh vật trong vùng Nội dung luận văn chủ yếu tập trung vào các nội dung sau:
1 Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học tại vùng hồ Quan Sơn ở hai mức độ:
đa dạng loài ở các nhóm sinh vật chính và đa dạng hệ sinh thái
2 Tổng hợp số liệu nghiên cứu trong 10 năm từ năm 2001 tới năm 2010 để phân tích, đánh giá sự biến động tài nguyên sinh vật trong khu vực
3 Đánh giá nguồn lợi từ tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học, hiện trạng khai thác sử dụng và các yếu tố tác động để từ đó đề xuất các biện pháp quản lý và
phát triền bền vững
Trang 91.1.1.1 Định nghĩa
Đa dạng sinh học (biodiversity) là một thuật ngữ phổ biến trong Sinh thái học và Sinh học bảo tồn Thuật ngữ này được cho là ra đời lần đầu tiên do Norse và McManus (1980) [18], bao gồm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật) Hiện nay, có ít nhất 25 định nghĩa cho thuật ngữ này Dưới đây là một số định nghĩa về Đa dạng sinh học:
- “Đa dạng sinh học” có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thủy vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần…; thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái – Theo Công ước Đa dạng sinh học 1992 [2]
- “Đa dang sinh học” là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường – Theo WWF
Trang 10McNeely và cộng sự 1990
- Là tính đa dạng của sinh vật ở mọi cấp độ, từ những biến dị di truyền trong cùng một loài đến sự đa dạng của các loài, chi, họ và thậm chí ở các mức phân loại cao hơn; bao gồm cả đa dạng hệ sinh thái, gồm cả các quần xã sinh vật trong các sinh cảnh cụ thể và các điều kiện vật lý mà chúng sinh sống trong đó – Theo Wilson
1992
Tựu chung lại, khái niệm Đa dạng sinh học phải được tính trên ba mức độ:
đa dạng loài, đa dạng di truyền và đa dạng quần xã hệ sinh thái Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên Trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động thực vật và nấm Đa dạng di truyền là đa dạng nguồn gen giữa các loài, đa dạng gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các
cá thể cùng chung sống trong một quần thể Đa dạng quần xã hệ sinh thái là sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loại sinh sống, các hệ sinh thái nơi mà các loài cũng như quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau Cả ba mức độ này đều có sự ảnh hưởng tương tác lẫn nhau, nên khi đáng giá về mức độ đa dạng sinh học ở từng khu vực nghiên cứu cần phải đánh giá trên cả ba cấp độ
1.1.1.2 Vai trò của đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học là yếu tố cần thiết cho sự hình thành, phát triển và tồn tại của thế giới, điều này liên quan mật thiết tới sự phát triển và tồn tại của chính con người Các mức độ của đa dạng sinh học đều có những đóng góp khác nhau
Sự đa dạng các loài sinh vật thể hiện tính thích ứng về phương diện tiến hóa
và phương diện sinh thái học của một loài nào đó đối với một môi trường sống nhất định cũng như các biến đổi diễn ra trong môi trường đó Sự đa dạng loài cung cấp cho con người nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú để tồn tại Con người sử
Trang 11Sự đa dạng về gen mang lại khả năng đề kháng với dịch bệnh, khả năng thích nghi với sự thay đổi của điều kiện sống và quan trọng hơn cả là duy trì khả năng sinh sản của loài Độ đang dạng về nguồn gen càng lớn thì khả năng thích nghi khi
có biến động của môi trường càng cao
Sự đa dạng quần xã hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống cho cả trái đất
và con người Các hệ sinh thái đảm bảo cho các vòng tuần hoàn chu chuyển vật chất trên toàn hành tinh từ đó duy trì tính ổn định và sự màu mỡ cho trái đất Độ đa dạng của hệ sinh thái tỷ lệ với tính ổn định và độ mềm dẻo của hệ sinh thái Khi hệ sinh thái bị suy thoái tính mềm dẻo thích nghi của hệ sinh thái sẽ giảm sút dẫn tới nếu có
sự thay đổi xấu của môi trường sống, hệ sinh thái sẽ thích nghi chậm với sự thay đổi hoặc sẽ không thích nghi được mà mất đi
Có thể nói ba mức độ đa dạng sinh học có những vai trò khác nhau nhưng đồng thời chúng cũng liên hệ với nhau trong một tổng thể hài hòa
1.1.2 Đa dạng sinh học và sự biến động đa dạng sinh học ở Việt Nam
1.1.2.1 Đa dạng sinh học ở Việt Nam
Việt Nam được xem là một trong những quốc gia có độ đa dạng sinh học cao Nguyên nhân là do sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo lên sự đa đạng về thiên nhiên
và sinh vật
Về đa dạng sinh thái, Việt Nam có nhiều kiểu rừng khác nhau, từ kiểu rừng rậm thường xanh đến rừng rụng lá ở các độ cao khác nhau, các kiểu rừng núi đất, rừng núi đá vôi, rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng tre nứa… Việt Nam cũng có đất ngập nước khá rộng trải dài khắp đất nước nhưng chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng đồng bằng sông Hồng Đây không chỉ là hai vùng sản
Trang 12các rạn san hô Các rạn san hô ở Việt Nam trải dài từ bắc vào nam tuy nhiên với lợi thế về khí hậu, san hô phát triển mạnh từ vùng biển Đà Nẵng trở vào tới Bình Thuận; vùng xung quanh các đảo ở vịnh Thái Lan ở phía Tây Nam Các đảo và bãi ngầm ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa có các bãi san hô rộng lớn và đa dạng nhất Tại đây, các rạn san hô có thể đạt tới độ sâu nhất là 40 m và có đỉnh cao từ 5 - 15 m Cũng như các rừng nhiệt đới, các rạn san hô là nơi có tính đa dạng sinh học cao, chứa đựng nhiều loại tài nguyên quý giá và có nhiều tiềm năng cho sự phát triển khoa học và kinh tế trong tương lai [18]
Về đa dạng loài, mặc dù có sự tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dài nhưng hệ thực vật rừng ở Việt Nam vẫn còn rất phong phú về chủng loại Cho đến nay đã thống kê được 10.484 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài rêu và 600 loài nấm trong đó có khoảng 2.300 loài đã được nhân dân sử dụng làm nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ tinh dầu và làm nhiều nguyên vật liệu khác Bên cạnh đó, còn rất nhiều loài chưa được nghiên cứu và khám phá hết, hứa hẹn một tiềm năng lớn đặc biệt về dược liệu Hơn nữa, hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao Số loài đặc hữu chiếm tới 33% số loài thực vật ở miền Bắc (theo Pocs Tamas, 1965) [18] tập trung chủ yếu ở khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn Nhiều loài đặc hữu địa phương chỉ gặp trong một vùng rất hẹp với số cá thể thấp, các loài này thường rất hiếm vì các khu rừng ở đây thường bị chia cắt nhỏ hoặc bị khai thác mạnh mẽ Hệ động vật ở nước
ta cũng rất phong phú Thống kê được khoảng 275 loài thú, 828 loài chim, 180 loài
bò sát, 80 loài ếch nhái, 472 loài cá nước ngọt, khoảng 2000 loài cá biển và them vào đó hàng chục ngàn loài động vật không xương sống ở cạn và ở nước (theo Đào Văn Tiến, 1985; Võ Quý, 1975 [14]; Đặng Huy Huỳnh, 1978) Hệ động vật không chỉ giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét độc đáo, với nhiều loài đặc hữu như
Trang 13Trong một thời gian ngắn, dân số Việt Nam đã tăng lên tới hơn 80 triệu dân,
đi kèm với nó là nhu cầu về đất đai, về tài nguyên phục vụ nhu cầu sống và phát triển của con người Chính vì vậy mà một lượng lớn rừng đã bị phá bỏ để lấy đất trồng cấy, lấy gỗ làm nhà, các loài động vật trong tự nhiên cũng được khai thác cạn kiệt Diện tích rừng bị thu hẹp, đất đai bị xói mòn, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng mạnh đã làm mất đi nơi cư trí của nhiều loài động thực vật dẫn tới
sự suy thoái nặng nề của các hệ sinh thái tự nhiên Trước kia, toàn bộ Việt Nam được bao phủ bởi rừng, nhưng chỉ qua mấy thập kỷ, rừng đã bị suy thoái nặng nề Diện tích rừng trên cả nước đã giảm xuống từ 43% năm 1943 còn 28% năm 1991, trong đó chỉ có khoảng 10% là rừng nguyên sinh Miền Bắc có sự giảm sút lớn nhất
về độ che phủ, từ 95% đến 17% chỉ trong vòng 48 năm Ở nhiều tỉnh, độ che phủ còn lại rất thấp như Lai Châu chỉ còn 7.88%; Sơn La 11.95%, Lào Cai 5,38% [18]
Sự suy giảm này là do tăng dân số cao dẫn tới nhu cầu lớn về lâm sản và đất trồng trọt Kết quả dẫn tới việc biến nhiều rừng thành vùng đất cằn cỗi Những khu rừng còn lại cũng bị xuống cấp nghiêm trọng, trữ lượng gỗ giảm thấp và phân cách nhau thành những mảng rừng nhỏ cách biệt Việc suy giảm này không chỉ ảnh hưởng tới
đa dạng hệ sinh thái mà còn làm mất đi nơi sinh sống của rất nhiều loài động thực vật, dẫn tới giảm đa dạng sinh học ở mức độ loài Bên cạnh đó, sự khai thác quá mức đối với một số loài động vật đã dẫn tới mất toàn bộ sự hiện hữu của loài đó trong khu vực Nhận thấy sự nghiêm trọng của vấn đề, chính phủ Việt Nam đã đưa
ra chương trình hành động với mục tiêu trồng mới và khôi phục lại rừng với diện tích đạt 5 triệu ha rừng Tuy nhiên, tốc độ thực tế chỉ đạt khoảng 130.000 – 150.000 ha/ năm (Chương trình Hành động về rừng nhiệt đới – Bộ Lâm nghiệp 1991).So với tốc độ tàn phá trung bình 350.000 ha/ năm thì việc khôi phục là diện tích rừng là
Trang 141.2.1 Định nghĩa tài nguyên sinh vật
Tài nguyên sinh vật là nguồn sống chính của loài người, nền tảng của mọi nền văn minh trong lịch sử phát triển của nhân loại [19] Con người khai thác từ hệ sinh thái mọi thứ để phục vụ các nhu cầu của mình Bên cạnh đó, còn những thứ chưa được hoặc không được con người khai thác Những thứ này lại rất cần thiết cho sự duy trì ổn định, cân bằng của hệ sinh thái và cũng chính là duy trì nguồn lợi
mà con người đang khai thác Vì vậy, muốn duy trì nguồn lợi từ hệ sinh thái, con người cần phải duy trì sự tồn tại của hệ sinh thái tức là duy trì đa dạng sinh học Sự giảm sút các quần thể hay sự mất đi của một loài chính là sự tổn hại hay suy giảm không phục hồi được vốn gen
1.2.2 Sự suy giảm tài nguyên sinh vật và nguồn lợi thủy sản ở Việt Nam
Các hệ sinh thái đất ngập nước bao gồm hệ sinh thái nước ngọt và những vùng nước biển ven bờ đến độ sâu 6m Chúng có những chức năng sinh thái quan trọng trong việc nạp và tiết nước ngầm; khống chế lũ lụt và ổn định đường bờ; thanh lọc cặn bẩn, nhưng duy trì chất dinh dưỡng; xuất khẩu sinh khối Bên cạnh
đó, chúng duy trì mức đa dạng sinh học cao, đồng thời còn là những cảnh quan văn hóa độc đáo Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của mình, hoạt động sống của con người đã gây ra những tổn thất lớn đối với các hệ sinh thái đất ngập nước như làm ô nhiễm, làm suy kiệt, hủy hoại hệ sinh thái Theo FAO, trên thế giới hiện có khoảng
40 triệu ha (20% diện tích đất ngập nước) được tưới tiêu nhưng do úng, phèn hóa, mặn hóa nên phần lớn bị bỏ hoang hàng năm[19] Ở nước ta, hệ sinh thái đất ngập nước bị biến đổi rất mạnh, hàng loạt hồ chứa mới ra đời, nhiều dòng sông bị ngăn chặn bởi đập, hàng trăm ngàn ha bãi triều được bao bởi đê để lấy đất nông nghiệp
và mở rộng các ao tôm, gần 40% diện tích rừng ngập mặn ven biển bị phá hủy [19]
Trang 15quá mức chịu đựng của đại dương Theo WWF (1998) [38], sản lượng hải sản của thế giới trong giai đoạn 1990 – 1995 trung bình đạt 84 triệu tấn một năm, gấp 2 lần năm 1960, đấy là chưa kể 27 triệu tấn bị loại bỏ (là những sản phẩm đánh bắt không
có giá trị kinh tế, không phù hợp với mong muốn của con người) trong khi sức chịu đựng của đại dương chỉ là 82 đến 100 triệu tấn một năm Theo FAO [19], năm
1994, khoảng 60% nguồn lợi cá đại dương đã được khai thác đến giới hạn cho phép hoặc rơi vào tình trạng suy giảm Ở nước ta, trong gần nửa thế kỷ qua nghề cá chủ yếu hoạt động ở vùng nước nông (không quá 30m) do vậy đã rơi vào tình trạng suy sụp với sản lượng khai thác trên đơn vị cường lực (CPUE) giảm từ 1,15 (1982) đến 0,50 (1997) [19] Do vậy, phát triển cá xa bờ là yêu cầu cấp thiết của nghề cá Việt Nam
1.2.3 Những yếu tố tác động đến tài nguyên sinh vật
Tài nguyên sinh vật là đối tượng dễ bị tác động bởi nhiều yếu tố Mặc dù, thiên nhiên luôn có khả năng tự phục hồi nguồn tài nguyên của mình nhưng việc phục hồi này cần nhiều thời gian và không hề đơn giản, trong một số trường hợp khi
bị xâm hại quá lớn, thiên nhiên không còn khả năng phục hồi nguyên vẹn lại nguồn tài nguyên ban đầu nữa Chính vì vậy, cần có những biện pháp quản lý sử dụng hợp
lý nguồn tài nguyên Muốn làm được như vậy thì cần phải xác định được một cách
rõ ràng những yếu tố tác động tới tài nguyên thiên nhiên Những yếu tố tác động này được chia làm 2 nhóm yếu tố tác động trực tiếp và nhóm yếu tố tác động gián tiếp
1.2.3.1 Nhóm yếu tố tác động trực tiếp
1.2.3.1.1 Khai thác quá mức tài nguyên sinh vật
Các cộng đồng dân cư nói chung đều có truyền thống lâu đời về sử dụng tài
Trang 16suy giảm tài nguyên Mà nguyên nhân chính là do có sự thay đổi nhanh về phát triển kinh tế, xã hội và tăng trưởng dân số; hiện tượng đô thị hóa, công nghiệp hóa; mạng lưới giao thông thuận lợi làm cho các vùng tài nguyên trở nên dễ tiếp cận hơn với thị trường bên ngoài; áp lực tài nguyên gia tăng; hiện tượng khai thác tài nguyên vượt mức chịu đựng và khả năng khôi phục của thiên nhiên Tất cả đã dẫn tới sự suy giảm nghiêm trọng nguồn tài nguyên
Khai thác trái phép gỗ và lâm sản ngoài gỗ Hầu hết các loài thực vật có giá
trị kinh tế, trong đó, có nhiều loài được dùng làm thức ăn, làm chất đốt, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng hay nguyên liệu làm đồ thủ công mỹ nghệ đều bị khai thác
ồ ạt Nhằm hạn chế sự suy giảm diện tích rừng, chính phủ đã đưa ra hàng loạt quy định và áp dụng nhiều biện pháp quản lý nhưng hoạt động khai thác gỗ lậu vẫn điễn
ra ngày càng trầm trọng Hầu hết các cây gỗ lớn, gỗ quý đã không còn tồn tại Diện tích rừng nguyên sinh chỉ còn lại với tỷ lệ rất nhỏ và nằm trong khu vực bảo vệ nghiêm ngặt, còn lại là rừng thứ sinh và rừng trồng tuy nhiên sự đa dạng kém rất nhiều
Săn bắt và buôn bán trái phép động vật hoang dã Các hoạt động săn bắt
diễn ra do nhiều yếu tố quan hệ mắt xích với nhau, gồm cả các nhu cầu sống và giải trí Về bản chất, nhu cầu tiêu thụ của các thị trường buôn bán động vật hoang dã quốc tế và nội địa lại là nguyên nhân chủ yếu của nạn săn bắt này Các loài động vật hoang dã bị buôn bán phổ biến là những loài được dùng để bào chế các loại thuốc đông y cổ truyền như gấu, khỉ, cầy cáo, rùa, kỳ đà và trăn, rắn; nhiều loài chim cũng
bị bắt để bán làm chim cảnh
Đánh bắt thủy hải vượt sản lượng cho phép Sự phát triển của khoa học công
nghệ với những trang thiết bị hiện đại, con người có thể dễ dàng khai thác đánh bắt thủy hải sản với tốc độ và số lượng lớn hơn rất nhiều Trong khi đó, tốc độ phục hồi
Trang 17ngày càng đánh bắt được nhiều hơn các loài không mong muốn khác
Mặc dù Việt Nam đã xây dựng kế hoạch hành động quốc gia để tăng cường kiểm soát buôn bán động thực vật hoang dã tới năm 2010 với mục tiêu chung là tăng cường kiểm soát nạn buôn bán trái phép, nhưng năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ động vật hoang dã còn rất thấp
1.2.3.1.2 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất thiếu cơ sở khoa học
Việc chuyển đổi đất rừng và các vùng đất ngập nước thành đất canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản; sự mở rộng đô thị hoá và phát triển cơ sở hạ tầng cũng dẫn đến việc mất hay phá vỡ các hệ sinh thái và các sinh cảnh tự nhiên
Sự chuyển đổi đất lâm nghiệp thành đất nông nghiệp Đây là một hiện tượng
phổ biến Hiện tượng này tận dụng được nguồn đất và thu được giá trị kinh tế tương đối lớn nhưng song song cùng với đó là sự thu hẹp sinh cảnh sống của các loài sinh vật đồng thời các khu rừng cũng bị chia cắt Nhiều vùng bị chia cắt quá bé đến mức các khu rừng không có khả năng hỗ trợ cho nhau và không đủ sức chống lại sự thay đổi của thiên nhiên hoặc các tác động khác
Biến hồ tự nhiên thành hồ nuôi trồng thủy sản Việc này làm thay đổi cấu
trúc thủy sản trong hồ khi chỉ còn lại hầu hết là các loài được nuôi thả Hơn nữa, việc thức ăn cho cá bị dư thừa cũng làm thay đổi môi trường nước hồ tự nhiên dẫn tới ảnh hưởng đến đời sống của nhiều loài thủy sinh khác
Các vùng cửa sông, vùng cát được ngăn thành hồ nuôi tôm Hoạt động này
được diễn ra khá phổ biến trong những năm gần đây ở Việt Nam do khả năng mang lại nguồn lợi kinh tế cao, hỗ trợ xóa đói giảm nghèo cho người dân Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích kinh tế thì những vấn đề lâu dài liên quan chưa được xem xét một cách
Trang 18Trái Đất năm 1992 tại Rio de Janeiro thì sinh vật ngoại lại được định nghĩa như sau:
Sinh vật ngoại lai (Alien species) là một loài, phân loài hoặc taxon phân loại thấp
hơn, kể cả một bộ phận cơ thể bất kỳ (giao tử, trứng, chồi mầm) có khả năng xuất hiện, sống sót và sinh sản, bên ngoài vùng phân bố tự nhiên (trước đây hoặc hiện
nay) và phạm vi phát tán tự nhiên của chúng Sinh vật ngoại lai xâm lấn (Invasive Alien species) là một loài sinh vật lạ đã thích nghi, phát triển, tăng nhanh số lượng
cá thể trong hệ sinh thái hoặc nơi sống mới và là nguyên nhân gây ra sự thay đổi về cấu trúc quần xã, đe dọa đến đa dạng sinh học bản địa [16]
Đến cuối năm 2008, thuật ngữ sinh vật ngoại lai xâm hại mới được cụ thể hóa trong văn bản luật của nước ta Luật Đa dạng sinh học đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ tư Quốc hội Khóa XII và chính thức có hiệu lực kể từ
01/07/2009 Theo đó tại khoản 19, điều 3, chương 1 định nghĩa: Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển Sinh vật
ngoại lai xâm hại có thể gây hại đến các loài bản địa thông qua cạnh tranh nguồn thức ăn; ngăn cản khả năng gieo giống, tái sinh tự nhiên của các loài bản địa do khả năng phát triển nhanh, mật độ dày đặc; cạnh tranh tiêu diệt dần loài bản địa, làm suy thoái hoặc thay đổi, tiến tới tiêu diệt luôn cả loài bản địa
Sinh vật ngoại lai xâm hại có thể bao gồm các loài sinh vật ở tất cả các nhóm phân loại chính, như vi rút, nấm, tảo, rêu, dương xỉ, thực vật bậc cao, động vật không xương sống, cá, lưỡng cư, bò sát, chim và động vật có vú Ở Việt Nam, có rất nhiều trường hợp sinh vật ngoại lai gây nên những tác hại to lớn cho môi trường, đa dạng sinh học Việt Nam như ốc bươu vàng, cây mai dương, bèo Nhật Bản và gần đây nhất là rùa tai đỏ
Trang 19sinh học Các ngành công nghiệp tác động tới đa dạng sinh học thông qua: sự lấn chiếm sinh cảnh sống (để mở rộng các nhà máy rất nhiều nơi đã chặt bỏ hàng trăm hecta rừng, xóa sạch các đồng cỏ tự nhiên); sự ô nhiễm môi trường (ô nhiễm nước thải công nghiệp, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm không khí); và sự khai thác tài nguyên làm nguyên liệu mà không chú trọng tới tái tạo
Hiện tượng đô thị hóa nhanh chóng cũng đang làm mất đi phần lớn diện tích rừng tự nhiên Bên cạnh đó là sự tăng lên chóng mặt của dân số thế giới Theo như nhiều nhà khoa học dự đoán, với tốc độ tăng lên như hiện nay, Trái Đất sẽ nhanh chóng không còn đủ chỗ cho loài người sinh sống
Việc tăng nhanh công nghiệp hóa và đô thị hóa không chỉ tác động tới nguồn tài nguyên sinh vật thông qua việc lấn chiếm diện tích sống mà đi kèm với sự phát triển đó là những hậu quả kéo theo như tốc độ sử dụng tài nguyên, vấn đề rác thải, vấn đề môi trường
1.2.3.2.2 Ô nhiễm môi trường
Nằm trong tình trạng chung với toàn thế giới, Việt Nam cũng chịu tác động mạnh mẽ của ô nhiễm môi trường Sự tăng nhanh dân số, công nghiệp hóa, đô thị hóa đồng thời cũng làm tăng nhanh lượng chất thải ra ngoài môi trường Trong khi
đó, việc xử lý chất thải cũng như việc quan tâm nghiên cứu sản xuất và sử dụng các sản phẩm có khả năng tự phân hủy chưa được chú trọng Các loại nước thải sinh hoạt giờ đây có chứa lượng lớn xà phòng, nước thải công nghiệp không được xử lý
đã đưa vào môi trường lượng lớn hóa chất độc hại làm chết các loài thủy sinh vật, gây ra hiện tượng phú dưỡng, thủy triều đỏ Ngoài ra, hiện tượng ô nhiễm không khí (khói, bụi) và ô nhiễm tiếng ồn cũng tăng nhanh Chúng tiêu diệt các loài sinh vật từ đó gây ra sự mất cân bằng sinh thái
Trang 20Hơn nữa các khu rừng bị chia cắt dẫn tới khả năng phản ứng kém với những sự thay đổi của khí hậu và có thể sẽ không tránh khỏi sự mất mát các loài sinh vật với tốc
độ rất cao Ngoài ra, nhiệt độ trung bình tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần thể sinh vật của nhiều hệ sinh thái Các nhà khoa học đã chứng minh được
sự di cư của một số loài do sự ấm lên của trái đất, nhiều loài cây đang phải chuyển dịch lên cao hơn để tồn tại Nhiệt độ tăng còn làm gia tăng khả năng cháy rừng, điều này vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa gia tăng lượng phát thải khí nhà kính làm gia tăng biến đổi khí hậu Mặc dù không có những biểu hiện nhanh chóng nhưng biến đổi khí hậu là một trong những nguyên nhân tác động lớn tới tài nguyên sinh vật
1.3 Phát triển bền vững
1.3.1 Quan điểm về phát triển bền vững
Sinh học bảo tồn là một khoa học đa ngành được xây dựng nhằm hạn chế các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học [18] Sinh học bảo tồn có hai mục tiêu: một là tìm hiểu những tác động tiêu cực do hoạt động của con người gây ra đối với các loài, quần xã và các hệ sinh thái; hai là xây dựng các phương pháp tiếp cận để hạn chế sự tuyệt diệt của các loài và nếu có thể cứu được các loài đang bị đe dọa bằng cách đưa chúng hội nhập trở lại các hệ sinh thái đang còn phù hợp đối với chúng Sinh học bảo tồn thường cho các yếu tố kinh tế ở vị trí thứ yếu và ít hoặc không quan tâm tới, dẫn đến những cố gắng để bảo tồn đa dạng sinh học đôi khi lại mâu thuẫn với nhu cầu cần thiết cho cuộc sống của con người Vì vậy, nhiều nhà sinh học bảo tồn nhận ra sự cần thiết và đưa ra khái niệm phát triển bền vững - phát triển kinh tế thỏa mãn nhu cầu hiện tại và tương lai của con người đối với nguồn tài nguyên, nhân lực và hạn chế tối thiểu tác động của nó đến đa dạng sinh học [18, 34,
36, 37] Khái niệm phát triển bền vững được dùng rất rộng rãi Như một nhà kinh tế
Trang 21- Giảm đến mức thấp nhất sự khánh kiệt tài nguyên (dạng tái tạo và không tái tạo) để đảm bảo cho sự khai thác lâu dài, tương tự như mối quan hệ vật dữ - con mồi
- Bảo tồn đa dạng sinh học trong mọi khía cạnh, mọi mức độ trên cơ sở quản
lý và sử dụng hợp lý; duy trì các hệ sinh thái thiết yếu và các hệ hỗ trợ đảm bảo cho cuộc sống lâu dài của cộng đồng
- Bảo vệ sự trong sạch và ổn định của môi trường
Các chỉ tiêu của phát triển bền vững được thể hiện ở 2 nhóm mang tính định hướng sau [19]:
- Chất lượng cuộc sống hay chỉ tiêu phát triển của con người:
+ Thu thập quốc dân tính theo đầu người (GDP);
+ Tuổi thọ trung bình của con người;
+ Nằm trong sức chịu đựng của các hệ sinh thái hỗ trợ
Tiếp cận đối với sự phát triển bền vững bao hàm trong 3 khía cạnh về đạo đức, kinh tế và sinh thái:
Về khía cạnh đạo đức: là sự bình đẳng trong mối quan hệ giữa con người với
nhau và với muôn vật Điều đó được hiểu là cuộc sống của cộng đồng không làm
Trang 22+Tăng trưởng kinh tế bền vững được xác định bằng lượng hàng hóa cực đại có thể thu được mà không làm giảm giá trị của nguồn vốn
+ Sử dụng tài nguyên tái tạo theo phương thức sao cho chất lượng cuộc sống là hàm số đồng biến với chất lượng môi trường, nghĩa là cuộc sống càng sung túc thì chất lượng môi trường không những không bị suy giảm mà còn được cải thiện ngày một tốt hơn
+ Sử dụng tài nguyên không tái tạo sao cho giá trị thực của tổng lượng của chúng không bị suy giảm theo thời gian (sử dụng, tái sử dụng, tiết kiệm )
+ Đảm bảo trạng thái bền vững kinh tế, nghĩa là sự phát triển của nó ở trạng thái cân bằng
Về khía cạnh sinh thái trong phát triển bền vững đòi hỏi khi tác động và tài
nguyên tái tạo cần duy trì:
+ Khả năng phục hồi của chúng
+ Sức sản xuất sinh học và năng suất sinh học
+ Tính bền vững của hệ sinh thái
Ở Việt Nam, quan niệm về phát triển bền vững được ghi nhận đầu tiên trong bản “Kế hoạch Quốc gia về môi trường và phát triển bền vững” do Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 12/6/1991
1.3.2 Căn cứ và nguyên tắc đề xuất giải pháp phát triển bền vững
Việt Nam nói chung cũng như khu vực hồ Quan Sơn nói riêng được thiên nhiên ban tặng cho nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú với thảm thực vật và khu
hệ động vật giàu có, không chỉ có giá trị khoa học mà còn có giá trị kinh tế rất lớn Tuy nhiên, việc sử dụng khai thác tài nguyên còn nhiều bất cập, cùng với đó là tác động của các ngành công nghiệp, hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất thiếu
Trang 23bộ luật, nghị định, quy định nghiêm cấm các hành vi khai thác lâm sản, thủy hải sản trái phép, các hành vi buôn bán tàng trữ sử dụng động vật hoang dã; các hành vi phá hoại môi trường; các hành vi xâm hại thiên nhiên, phá hủy đa dạng sinh học Nhưng những bộ luật, quy định, biện pháp quản lý còn lỏng lẻo; các khung hình phạt chưa
đủ sức mạnh răn đe; cán bộ quản lý còn thiếu kiến thức kinh nghiệm; đầu tư cho các Khu Bảo tồn, Vườn Quốc gia chưa thỏa đáng Tất cả đã dẫn tới hiện tượng khai thác, buôn lậu tài nguyên tiếp tục diễn ra và ngày càng có xu hướng mạnh mẽ hơn Khu vực hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội cũng không tránh khỏi xu hướng chung này Nguyên nhân là do các biện pháp được áp dụng mới chú trọng tới bảo
vệ, ngăn chặn, chưa chú trọng tới nhu cầu đời sống cộng đồng và phát triển bền vững Điều đó đã dẫn tới việc xảy ra những trường hợp mẫu thuẫn giữa bảo vệ tài nguyên và lợi ích kinh tế của cộng đồng Chính vì vậy, để bảo vệ quản lý phát triển nguồn tài nguyên sinh vật một cách hiệu quả cần tìm ra một phương phức tiếp cận quản lý phù hợp, không chỉ mang tính trước mắt mà còn mang tính lâu dài Đó chính là bảo vệ tài nguyên sinh vật gắn liền với phát triển bền vững trên cơ sở quản
lý bằng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
Khái niệm Quản lý hệ sinh thái (Ecosystem management) được đề cập trong
Công ước Đa dạng sinh học gồm 12 nguyên tắc (Phụ lục 1) Các nguyên tắc này nhằm xây dựng một chiến lược bảo tồn phối hợp các nguồn tài nguyên và khuyến khích việc bảo tồn với sử dụng bền vững [8] Mục tiêu quản lý hệ sinh thái là tìm cách tổ chức việc sử dụng hệ sinh thái của con người, nhằm đạt được sự hài hòa giữa lợi ích thu được từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có của các thành phần
và quá trình của hệ sinh thái mà vẫn duy trì được khả năng của hệ sinh thái để cung cấp được những lợi ích đó ở mức độ bền vững Nói cách khác, mục tiêu của quản lý
Trang 24Việc xây dựng các biện pháp quản lý và sử dụng tài nguyên tại khu vực hồ Quan Sơn bằng phương thức tiếp cận quản lý hệ sinh thái cũng đi kèm với đó là sự phát triển bền vững Nghĩa là, các biện pháp đưa ra được cân nhắc tới cả 3 khía cạnh đạo đức, kinh tế, và hệ sinh thái Từ đó đảm bảo bình đẳng giữa con người với nhau và con người với sinh vật khác; bảo vệ và khôi phục hệ sinh thái cân đối với lợi ích kinh tế của người dân địa phương Đây cũng là vấn đề mấu chốt trong xây dựng các biện pháp quản lý và sử dụng tài nguyên
Từ những đặc trưng về kinh tế xã hội và hiện trạng sử dụng tài nguyên sinh vật, các biện pháp quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật tại khu vực được đưa ra dựa trên các nguyên tắc sau:
- Bảo tồn cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái nhằm duy trì hoạt động của
hệ sinh thái phải là mục tiêu trọng tâm của các giải pháp Sự phá vỡ cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái như việc phá rừng trong các thung để chuyển sang canh tác nông nghiệp hay việc chuyển đổi rừng tự nhiên thành rừng cây ăn quả nhân tạo sẽ làm giảm đa dạng sinh học gây mất cân bằng hệ sinh thái
- Quản lý, sử dụng bền vững là việc kiểm soát một cách khéo léo các quần thể động thực vật hoang dã, các sinh cảnh, hệ sinh thái và giám sát những tác động của con người nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững Trong nguyên tắc này cần chú ý việc “giám sát” những tác động của con người chứ không phải là ngăn cấm hoàn toàn các tác động của con người
- Quản lý cần có sự vận dụng các phương pháp và kỹ thuật của các nghiên cứu sinh thái, sinh học bảo tồn đã được kiểm nghiệm Đối với khu vực hồ Quan Sơn, mặc dù đã có sự quan tâm đến việc bảo vệ tài nguyên sinh vật tuy nhiên chưa
có nhiều các nghiên cứu chuyên sâu về khu vực nói chung và về bảo vệ tài nguyên
Trang 25năng, các nhà khoa học chuyên môn và cộng đồng địa phương Nói cách khác, các biện pháp quản lý cần xem xét, cân đối, áp dụng trên cơ sở phù hợp giữa các nguyên lý bảo vệ tài nguyên; lợi ích kinh tế của cộng đồng và các chính sách của địa phương
- Công tác quản lý bảo tồn cần sự phối hợp thực hiện đồng bộ trên địa bàn 4
xã Hợp Tiến, Hồng Sơn, Tuy Lai, Thượng Lâm, đồng thời phối kết hợp với các địa phương xung quanh Với địa bàn trải rộng trên 4 xã khác nhau, nếu các biện pháp không được áp dụng đồng bộ thì các khu vực ở các xã khác nhau khó có thể hỗ trợ lẫn nhau và phát huy được hiệu quả tối ưu
1.4 Khái quát về vùng hồ Quan Sơn và tình hình nghiên cứu trong vùng
Khu vực hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 50km về phía Tây Nam, nằm trên địa bàn 4 xã (Hợp Tiến, Hồng Sơn, Tuy Lai, Thượng Lâm) với tổng diện tích mặt nước là 883 hecta, có địa hình phức tạp gồm nhiều thung, đồi núi bao quanh hồ Hệ thống hồ Quan Sơn bao gồm các hồ: hồ Giang Nội (hay còn gọi là hồ Quan Sơn), hồ Sông, hồ Dưới Đăng (hồ Ngoài) thuộc địa phận xã Hợp Tiến; hồ Ngái thuộc xã Hồng Sơn; hồ Tuy Lai 1, Tuy Lai 2, Tuy Lai 3 thuộc hai xã Tuy Lai và Thượng Lâm (Hình 1.1)
Trang 26Hình 1.1.Vị trí vùng hồ Quan Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Hồ Quan Sơn được hình thành từ năm 1959 khi nhân dân huyện Mỹ Đức đắp
đê tại địa phận Cầu Dậm để chặn suối Cầu Đường từ Hòa Bình đổ về, từ đó khu vực này trở thành khu vực ngập nước Năm 1964, nhà nước xây dựng đập tràn Cầu Dậm
và tiếp tục được đầu tư mở rộng tu tạo vào các năm 1978, 1985, 1999, 2010 Lúc đầu, việc đắp đê ngăn suối chỉ nhằm tạo thành hồ lưu trữ nước trong mùa mưa để có nguồn nước tưới vào mùa khô cho khoảng 1000ha đất canh tác nông nghiệp của các
xã trong huyện nhưng đến năm 1999, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra quyết định số 1263 QĐ/UBND-QLN ký ngày 13/04/1999, phê duyệt dự án “Sửa chữa, nâng cấp hệ thống hồ Quan Sơn huyện Mỹ Đức nhằm đáp ứng chức năng rộng lớn hơn: đảm bảo chống lũ an toàn, đảm bảo ổn định tưới trên 1000ha đất canh tác của huyện Mỹ Đức, thực hiện thâm canh tăng năng suất cây trồng, tạo điều kiện phát triển du lịch trong hồ và thả cá trong hồ
Hiện nay, phần lớn hồ Quan Sơn được giao thầu cho Công ty cổ phần Thủy sản và Du lịch quan Sơn quản lý với 3 nhiệm vụ chính là: nuôi trồng thủy sản; sản xuất và cung ứng vật liệu xây dựng; kinh doanh du lịch
Trang 27ruộng đất xấu ven hồ đã được Công ty Cổ phần thủy sản và Du lịch Quan Sơn cho các cá nhân hoặc tổ chức đứng ra cai thầu lấy đất làm nguyên liệu sản xuất gạch Khu vực sản xuất gạch chủ yếu tập trung ở phạm vi hẹp thuộc địa phận xã Tuy Lai, tuy nhiên việc sản xuất gạch cũng ảnh hưởng tương đối lớn tới môi trường tự nhiên nơi đây
- Về kinh doanh dịch vụ du lịch: Khu du lịch Quan Sơn nằm trong phạm vi vùng hồ Quan Sơn, nơi mang nhiều dấu ấn văn hóa dân tộc, đậm sắc lễ hội truyền thống và nếp sống thuần khiết của làng quê Việt Nam cùng với địa hình đa dạng gồm nhiều đồi núi thung sông hồ đã tạo nên một khung cảnh nên thơ trữ tình tạo nên một khu vực lý tưởng cho phát triển du lịch sinh thái Ngay từ những năm 1960, việc khai thác du lịch vùng Quan Sơn được quy hoạch với gần 3.000 ha thuộc địa phận bốn xã: Hợp Tiến, Tuy Lai, Hồng Sơn, Thượng Lâm, gồm diện tích mặt nước
hồ rộng 883 ha (dài 16 km, rộng 2 km); gần 100 ngọn núi đá vôi với độ che phủ rừng tái sinh hơn 80% Theo điều tra quy hoạch rừng năm 1992, vùng này có nhiều loài động, thực vật, đặc biệt là các loài cây làm thuốc, các loại chim, thú, bò sát sống hoang dã trong rừng tuy số lượng cá thể từng loài ít.Khi đến du lịch ở Quan Sơn, du khách sẽ được các thuyền nhỏ chở đi leo núi thưởng ngoạn cảnh thiên nhiên với các địa danh: núi Trâu Trắng, đảo Sư Tử, núi Quai Chèo, đồi Voi Phục… hoặc Cửa Thung Voi Nước, núi Bàn Cờ, Hoa Quả Sơn Bên cạnh đó du khách còn được thăm quan Chùa Linh Sơn nằm ở ngay chân núi Linh Sơn, chùa Cao, chùa Hàm Long nằm bên bờ hồ Tuy Lai Tuy nhiên, trước tình trạng các loài thú hoang dã ngày càng không còn xuất hiện làm giảm giá trị và nét hấp dẫn du lịch, chính quyền địa phương đã và đang nghiên cứu dự án phục hồi các loài động vật vùng núi đá vôi như khỉ, sóc, sơn dương, trăn đất, tắc kè và lập trang trại, vườn sinh thái, khu chăn
Trang 28vùng hồ Quan Sơn Nổi bật nhất là nghiên cứu do Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Hà Tây (cũ) chủ trì triển khai vào năm 2001 Do thời gian nghiên cứu
ngắn (1 năm), nội dung dự án “Điều tra hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường vùng hồ Quan Sơn huyện Mỹ Đức” chủ yếu tập trung điều tra
về hiện trạng môi trường và tổng thể tất cả các dạng tài nguyên để đề xuất giải pháp bảo vệ là chính, các nghiên cứu về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản trong vùng chỉ mang tính tổng quan, điều tra sơ bộ Một số giải pháp bảo vệ môi trường cũng đã được đề xuất trong đề tài này, nhưng thiên về bảo vệ môi trường không khí, đất, nước, ít đề cập đến các khía cạnh khai thác và sử dụng bền vững đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật Trong khi đó, với độ lớn về diện tích, đa chức năng và
có tiềm năng phong phú về đa dạng sinh học, đồng thời là một trong số ít các danh lam, thắng cảnh trong khu vực, hồ Quan Sơn có vai trò rất lớn về kinh tế và môi trường đối với địa phương
Trang 292.1.1 Địa điểm
Khu vực chính tiến hành nghiên cứu là vùng hồ Quan Sơn thuộc 3 xã Hợp Tiến, Hồng Sơn, Tuy Lai thuộc huyện Mỹ Đức, Hà Nội Khu vực này có điều kiện địa hình đa dạng, gồm hệ thống các hồ rộng lớn với tổng diện tích lên tới 833 ha, các thung núi đồi bao quanh và nằm gần khu vực dân cư sinh sống Tuy nhiên, nghiên cứu tập trung khảo sát ở khu trung tâm vùng hồ và các khu vực lân cận, bao gồm hồ Giang Nội, Hồ Ngái, Hồ Ngoài, Hồ Sông và dải hồ dọc theo đê, vùng núi đồi giữa hồ Giang Nội - Hồ Ngái và hai bên Hồ Ngái Khu vực này chủ yếu thuộc địa phận xã Hợp Tiến và Hồng Sơn
Bên cạnh đó còn thực hiện 1 cuộc khảo sát ngắn từ 14/4 đến 16/4/2011
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp kế thừa, hồi cứu
Kế thừa, hồi cứu các nghiên cứu đã có về khu vực hồ Quan Sơn, Mỹ Đức,
Hà Nội từ các báo cáo chuyên đề, báo cáo khoa học từ năm 2001 đến 2010 gồm có:
Báo cáo đề tài “Điều tra cơ bản và đề xuất giải pháp khai thác và bảo vệ bền vững khu hệ động vật có xương sống và các loài thủy sản khu vực hồ Quan Sơn, huyện
Mỹ Đức, Hà Tây” năm 2001 của Nguyễn Xuân Huấn và cộng sự; Báo cáo đề tài
“Điều tra đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ
Trang 30đề xuất biện pháp bảo tồn phù hợp với đặc trưng tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực hồ Quan Sơn
2.2.2 Phương pháp thu mẫu, khảo sát thực địa
Mẫu được thu từ các đợt khảo sát của Đề tài theo các nhóm nghiên cứu Việc thực hiện thu mẫu được diễn ra trực tiếp ngoài thực địa theo các tuyến khảo sát và
có sự hỗ trợ của các dụng cụ thu mẫu như bẫy lồng, bẫy kẹp để bắt thú nhỏ; lưới mờ bắt dơi; chài lưới đánh cá; vợt để thu ếch nhái; lọ, túi nilon đựng mẫu, đèn pin (Hình 2.1) Sau đó mẫu vật được định hình trong dung dịch formalin 4% - 10% (tùy từng nhóm động vật) hoặc ngâm trong cồn 70o và được gắn nhãn thực địa
Ngoài ra, còn thu mẫu gián tiếp bằng việc mua mẫu được bán tại chợ xép gần khu vực hồ hoặc của những người dân làm nghề đánh bắt, hoặc một số loài được ghi nhận qua những mẫu vật được lưu giữ trong nhà như xương, lông, da hoặc các mẫu rắn, bìm bịp ngâm rượu
Hình 2.1 Mẫu bò sát bắt tại hiện trường
Trang 31Đối với chim: tiến hành quan sát bằng ống nhòm để xác định hình dạng, kích thước, màu sắc rồi căn cứ vào cuốn Hướng dẫn điều tra thực địa Chim Đông Nam Á của King.B (1975) để xác định thành phần loài, ngoài ra còn kết hợp với chụp ảnh
và ghi lại tiếng kêu
Đối với lưỡng cư, bò sát: tiến hành điều tra, thu mẫu theo các tuyến khảo sát vào sáng sớm hoặc chiều tối, phân loại qua quan sát kết hợp với tiếng kêu
2.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Sử dụng các bộ câu hỏi khảo sát đã được chuẩn bị sẵn (Phụ lục 6) kèm theo hình ảnh màu về chim, thú , qua đó xác định sự có mặt hay không, sự tồn tại hay biến mất của các loài, đồng thời sử dụng các câu hỏi mở nhằm điều tra chính xác các thông tin mà đối tượng được phỏng vấn đưa ra Nghiên cứu tiến hành điều tra phỏng vấn 50 đối tượng Các đối tượng phỏng vấn được lựa chọn là những người dân đi rừng, thợ săn, dân chài lưới hoặc những người buôn bán lâu năm ở chợ, những công nhân tại công ty du lịch hoặc các chủ thầu nuôi gia cầm, tôm, cá trên hồ (Hình 2.2) Kết quả phỏng vấn được tổng hợp theo phương pháp thống kê
Trang 32liệu nhân sinh xã hội từ các cơ quan ban ngành liên quan trong huyện, số liệu do trực tiếp điều tra Từ các số liệu đó tiến hành phân tích, tổng hợp nhằm đƣa ra kết luận và nhận định một cách xác đáng
Trang 33Nghiên cứu tiến hành đánh giá hiện trạng và biến động thành phần loài của các nhóm thực vật nổi, động vật nổi, động vật đáy, cá, lưỡng cư và bò sát, các loài chim, thú và thực vật Riêng với 3 nhóm thực vật nổi, động vật nổi và động vật đáy thì từ trước năm 2010 không có bất kỳ nghiên cứu nào về đa dạng của 3 nhóm này nên không thể đánh giá biến động mà chỉ dừng lại ở đánh giá hiện trạng và độ phong phú của 3 nhóm này
3.1.1.1 Hiện trạng và độ phong phú các loài thực vật nổi
Kết quả phân tích mẫu thu được tại 18 điểm khảo sát trên vùng hồ Quan Sơn
đã xác định được tổng số 76 loài thực vật nổi, thuộc 5 ngành tảo là ngành tảo Silic
(Bacillariophyta), ngành tảo Lam (Cyanophyta), ngành tảo Lục (Chlorophyta), ngành tảo Mắt (Euglenophyta) và ngành tảo Giáp (Pyrrophyta) (Phụ lục 2) Trong
đó, ngành tảo Silic có số loài chiếm ưu thế (39 loài, chiếm 51% tổng số loài), tiếp đến là tảo Lục (có 24 loài, chiếm 32%), sau tới là tảo Mắt, tảo Lam (cùng có 6 loài, chiếm 8%), cuối cùng là tảo Giáp với 1 loài, chiếm 1% trên tổng số loài thực vật nổi Đa phần các nhóm thực vật nổi phổ biến xuất hiện hầu khắp các thủy vực tự nhiên và không bị tác động mạnh do ô nhiểu bởi chất thải do các hoạt động của con người.Riêng có nhóm tảo Mắt là nhóm thường xuất hiện trong các thủy vực giàu dinh dưỡng do nhiễm bẩn hữu cơ, cũng xuất hiện ở hầu hết các điểm khảo sát.Mặc
dù thành phần loài và mật độ không cao(chiếm 4%) nhưng đây là nhóm chỉ thị cho thủy vực nhiễm bẩn hữu cơ vì vậy cho thấy khu vực này ít nhiều bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường
3.1.1.2 Hiện trạng và độ phong phú các loài động vật nổi
Nghiên cứu tại các trạm khảo sát khu vực hồ Quan Sơn đã xác định được 54
loài động vật nổi thuộc các nhóm Giáp xác Chân chèo Copepoda, Giáp xác Râu ngành Cladocera, Trùng Bánh xe Rotatoria và các nhóm khác như Giáp xác Ostracoda, Tuyến trùng Nematoda, Giun nhiều tơ Polychaeta, Chân bụng Gastropoda, và Ấu trùng côn trùng (Chironomidae,Coleoptera) (Phụ lục 3) Trong
Trang 34trùng côn trùng tại các điểm khảo sát không nhiều Điều này chứng tỏ khu vực có bị ảnh hưởng của các hoạt động của con người nên ấu trùng côn trùng không có điều kiện thuận lợi để phát triển
3.1.1.3 Hiện trạng và độ phong phú các loài động vật đáy
Tại các điểm khảo sát ở các hồ Quan Sơn, đã xác định được 39 loài động vật đáy thuộc các nhóm Thân mềm Mollusca - Gastropoda, Mollusca - Bivalvia, nhóm Giáp xác Crustacea - Macrura, Crustacea - Brachyura và 1 đại diện nhóm Giun nhiều tơ Polychaeta (Phụ lục 4) Trong đó, nhóm ốc (Gastropoda) và nhóm hai mảnh vỏ (Bivalvia) chiếm số loài cao nhất (nhóm ốc: 17 loài, 2 mảnh vỏ: 16 loài), tiếp đến nhóm giáp xác (Crustacea) với 6 loài chiếm 15 % thuộc nhóm tôm (Macrura), nhóm cua (Brachyura) và cuối cùng là nhóm Giun nhiều tơ (Polychaeta) chỉ có 1 loài, chiếm 3 %)
3.1.1.4 Hiện trạng và biến động thành phần và độ phong phú các loài cá
Về hiện trạng: Khu vực hồ Quan Sơn có tổng số 61 loài cá trong 22 họ thuộc
8 bộ (Bảng 3.1) [11, 32] Trong số đó có 3 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam
(2007), bao gồm 2 loài nguy cấp là cá Mòi cờ hoa (Clupanodon thrissa) thuộc bộ cá Trích và cá Chuối hoa (Channa maculta) thuộc bộ cá Vược và 1 loài sẽ nguy cấp là
cá Lăng (Hemibagrus guttatus) thuộc bộ cá Nheo [1]
Do khu vực hồ Quan Sơn vào mùa nước được sử dụng để nuôi trồng thủy sản
vì vậy cấu trúc thành phần các loài cá ở khu vực này mang tính đặc trưng gồm phần lớn là các loài cá lớn, phổ biến ở Việt Nam và có giá trị kinh tế cao Cụ thể là, số lượng loài thuộc bộ cá Chép là cao nhất (34 loài chiếm 55,736%); đứng thứ hai là
bộ cá Vược (với 11 loài chiếm 18,03%); đứng thứ 3 là bộ cá Nheo (với 6 loài chiếm 9,84%) 5 bộ còn lại có số lượng loài chiếm rất ít, từ 1 đến 3 loài Bên cạnh đó, dựa
Trang 35xác định đƣợc ở vùng hồ Quan Sơn
(Tổng hợp dựa trên: Báo cáo tổng kết đề tài QG-10-04, 2012 [11])
TT Tên bộ Tên Việt Nam Số lƣợng họ Số lƣợng loài
Tỷ lệ % trên tổng số loài
Bảng 3.2 Độ phong phú các loài cá ở vùng hồ Quan Sơn
(Tổng hợp dựa trên: Báo cáo tổng kết đề tài năm 2001 [10] và năm 2012 [11] của
Nguyễn Xuân Huấn và cộng sự)
Số
Độ phong phú (Năm 2010)
Độ phong phú (Năm 2001)
1 Họ cá Trỏng Engraulidae
1 Cá lành canh trắng Coilia grayii Richardson, 1844 + +
Trang 362 Họ cá Trích Clupeidae
Phân họ cá Mòi Dorosomatinae
2 Cá mòi cờ hoa Clupanodon thrissa (Linnaeus, 1758) +
8 Cá Mại bầu Rasborinus lineatus (Pellegrin, 1967) ++ ++
9 Cá Mương xanh Hemiculter leucisculus
11 Cá Vền dài Megalobrama Hoffmanni
(Herre & Myers, 1931)
+
Trang 3712 Cá Dầu sông thân
mỏng
Pseudohemiculter dispar
(Peters, 1880)
+
13 Cá Tép dầu Ischikauia macrolepis hainanensis
(Nichols & Pope, 1927)
Acanthorhodeus dayeus Yên, 1978 +++ +++
Phân họ cá Thiểu Cultrinae
22 Cá Thiểu mắt to Erythroculter hypselonotus
Trang 38Phân họ cá Bỗng Barbinae
24 Cá Đòng đong
chấm
Puntius ocellatus Yen, 1978 ++ ++
25 Cá Đòng đong Puntius semifasciolatus
(Gunther, 1978)
+++ +++
Phân họ cá Trôi Labeoninae
26 Cá Trôi ta Cirrhina molitorella
Cuvier & Valencienes, 1842
+++ +++
27 Cá Trôi ấn độ Labeo rohita (Hamilton, 1822) +++ +++
28 Cá Trôi Mrigan Cirrhinus mrigala (Hamilton, 1822) +++
31 Cá Chép Cyprinus carpio Linnaeus, 1758 +++ +++
32 Cá Diếc mắt đỏ Carassius auratus (Linnaeus, 1758) +++ +++
Trang 3937 Cá Trôi Nam Mỹ Prochilodus argenteus
Spix & Agassiz, 1829