Nghĩa là hiện chúng ta chưa biết cụ thể có bao nhiêu loài thuộc chi thực vật này ở nước ta và chúng phân bố ở đâu, cũng như trong số đó, loài nào thường được thu hái để làm thuốc với tên
Trang 11.1.1 Một vài quan điểm phân loại chi Lonicera và họ Caprifoliaceae 3
1.1.2 Kết quả nghiên cứu phân loại chi Lonicera ở một số quốc gia và vùng
1.2 Nghiên cứu phân loại và sự phân bố của các đại diện thuộc chi
1.3 Vài nét về việc nghiên cứu Kim ngân làm thuốc 10 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
3.1 Kết quả về việc giám định và chỉnh lý tên khoa học 14
3.1.1 Số mẫu thuộc chi Lonicera L đã được nghiên cứu và thu thập thêm 14
3.2 Đặc điểm chung của chi và xây dựng khóa phân loại các loài thuộc chi
3.2.1 Đăc điểm hình thái nổi bật của chi Lonicera ở Việt Nam 15
3.2.2 Khóa phân loại chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae ở Việt Nam 25
Trang 23.3 Một số thông tin về 11 loài Kim ngân đã biết ở Việt nam 27
3.4 Sự phân bố của các loài thuộc chi Lonicera L hiện có ở Việt Nam 45
HÌNH ẢNH MỘT SỐ LOÀI CHÚNG TÔI THU THẬP ĐƯỢC TRONG QUÁ
Trang 3MỞ ĐẦU Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, vì thế mà tài nguyên cây thuốc của nước ta vô cùng phong phú, trong đó có nhiều loài giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người
Từ lâu đời, các dân tộc ở Việt Nam đã biết sử dụng cây cỏ làm thức ăn, làm thuốc chữa bệnh và còn dùng vào nhiều việc khác Chỉ tính riêng về cây thuốc ở Việt Nam, hiện đã biết tới trên bốn ngàn loài Mỗi vùng miền, mỗi dân tộc lại có các loài cây thuốc, cũng như cách sử dụng cây thuốc theo các kinh nghiệm truyền thống khác nhau Mặc dù vậy, do kết quả của quá trình giao lưu, quảng bá và học tập lẫn nhau, đã có rất nhiều cây thuốc và bài thuốc được nhiều người và nhiều nơi cùng biết tới – Kim ngân là vị thuốc như vậy
Dược liệu Kim ngân hoa là hoa của loài Kim ngân hoa (Lonicera japonica
Thunb.) được phơi hay sấy khô Đây là vị thuốc cổ truyền, trong Y học cổ truyền dùng riêng hay dùng phối hợp, để chữa các bệnh như mụn nhọt, mẩn ngứa, dị ứng, sởi, cảm cúm, viêm phổi, viêm gan [3] Tuy nhiên, trên thực tế người ta sử dụng hoa
khô của nhiều loài thuộc chi Kim ngân (Lonicera L.), họ Kim ngân
(Caprifoliaceae), với tên “Kim ngân hoa” Ở Việt Nam, trong số các loài Kim ngân
đã biết, loài Kim ngân hoa (L japonica Thunb.) được nhắc tới nhiều nhất [7]
Song, kể từ công bố đầu tiên của H Lecomte (1922-1923) cho đến nay, chưa
có bất cứ một công trình nào trở lại việc nghiên cứu phân loại chi Lonicera L, họ
Caprifoliaceae Nghĩa là hiện chúng ta chưa biết cụ thể có bao nhiêu loài thuộc chi thực vật này ở nước ta và chúng phân bố ở đâu, cũng như trong số đó, loài nào thường được thu hái để làm thuốc với tên gọi là “Kim ngân”, ở Việt Nam
Xuất phát từ tình hình thực tế trên đây, chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Điều tra
sự phân bố và phân loại các loài thuộc chi Kim ngân – Lonicera L., họ Kim
ngân - Caprifoliaceae ở Việt Nam”, làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ khoa học, chuyên ngành Thực vật học
Với mục đích:
Trang 4- Xây dựng được khóa phân loại và bản mô tả đặc điểm hình thái của các loài
Kim ngân, thuộc chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae hiện có tại Việt Nam
- Chỉ ra được một cách khái quát vùng phân bố chủ yếu của các loài Kim ngân đã biết ở nước ta
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Phân loại chi Lonicera L trên thế giới và một số vấn đề khác có liên quan 1.1.1 Một vài quan điểm phân loại chi Lonicera và họ Caprifoliaceae
Trong bộ“Species plantarium” năm 1753, Carl Von Linnaeus đã đề cập
Danh pháp loài thực vật gồm 2 từ ghép của tên chi và từ tính ngữ chỉ loài Đồng
thời cũng trong tài liệu này, lần đầu tiên C Von Linnaeus đã đặt tên chi Lonicera,
gồm 15 loài và được xếp vào họ Caprifoliaceae [37]
Năm 1760, trong tạp chí “ Definitiones Generum Plantarum”, tác giả Boehmer, Georg Rudolf cũng đặt tên chi là Lonicera Boehm., nhưng lại xếp chi
này vào họ Loranthraceae [28]
Năm 1763, trong tập 2 “Familles naturelles des Plantes”, Adanson và Michel xếp chi Lonicera vào họ Rubiaceae, bởi các đặc điểm lá mọc đối, có lá kèm, bầu hạ [5] Đến năm 1818, Trong “Anleittung zum Gründlichen Studien der Botanik”, Vest, Lorenz Chrysanth von lại nâng chi Lonicera L lên thành họ Loniceraceae và trong đó vẫn giữ lại chi Lonicera L [46] Gần chục năm sau (1827), trong “Systema vegetabilium” Vol IV”, Carol Linniei đã căn cứ vào các
đặc điểm cơ bản, như tràng liền, nhiều hạt …để quay trở lại quan điểm lập Lonicera
L là một chi riêng và Ông cũng mô tả có 16 loài [29] Trong đó, loài Lonicera japonica Thunb cũng có ở Việt Nam
Trong cuốn “Genera plantarum secundum ordines naturals disposita” năm
1789, A.L de Jussieu dựa trên các đặc điểm tương đồng giữa 3 họ là Diervillaceae, Linnaeaceae, Loniceraceae nên đã gộp 3 họ này vào thành một họ là Caprifoliaceae [17] Quan điểm này được các nhà Thực vật học sau này ủng hộ và cũng giữ nguyên quan điểm này trong các công trình ra đời sau đó, kể cả sau này Takhtajan, nhà thực vật học lỗi lạc của Nga cũng vậy A.L de Jussieu xếp các chi trong họ Caprifoliaceae dựa vào những đặc điểm chính như sau:
(.) Ống đài hoa dạng cốc ở phần ngực hoa Tràng liền, đơn Gồm có các chi:
Linnaea L., Triosteum L., Ovieda L., Symphoricarpos, Diervilla, Xylosteon, Caprifolium, Lonicera
Trang 6(.) Ống đài hoa dạng cốc ở phần ngực hoa Tràng hoa nhiều, rời gồm các chi
như sau: Loranthus, Lonicera, Viscum, Rhizophora L
(.) Đài hình mũi mác, tràng liền đơn Gồm có các chi như sau: Viburnum, Hortensia, Sambucus
(.) Đài phức tạp, có vòi nhụy rõ rệt Tràng hoa nhiều, rời Gồm có các chi
như sau: Cornus, Hedera
Từ 1824 đến 1841, Augustin Pyramus de Candolle cho ra series công trình
mang tên “Prodromus systematis naturalis regni vegetabilis”, tác giả mô tả chi Lonicera có 54 loài, trong đó có 3 loài sau này cũng biết có ở Việt Nam, như Lonicera macrantha, L confusa, L acuminata [19]
Trong cuốn “Annales Musei Botanici Lugduno-Batavi”, năm 1863, tác giả Rijksherbarium để chi Lonicera thuộc họ Lonicereae Các loài trong chi Lonicera
được đề cập là 10 loài, trong đó cũng có 3 loài sau này biết có ở Việt Nam là
Lonicera japonica, Lonicera cofusa, L hypoglauca [41]
Năm 1865, Trong cuốn sách “Annales Musei Botanici”, tác giả F A Guil Miguel xếp chi Lonicera L vào họ Lonicereaceae gồm có 10 loài, trong đó có loài
L japonica Thunb., L confusa DC., L hypoglauca Miq là thấy có ở Việt Nam
[30]
Công trình “The Journal of the Linnean Society, vol XXIII” ra đời năm 1888 của các nhà khoa học thuộc Vườn Thực vật Missouri, mô tả chi Lonicera L có 34 loài, trong số đó có những loài cũng có ở Việt Nam như Lonicera japonica Thunb ,
L bournei Hemsl., L macrantha (D Don) Spreng., L hypolauca Miq., L confusa
DC [39]
Ba năm sau, năm 1891, trong cuốn “The Journal of the Linnean Society”, vol XXVIII, các nhà khoa học thuộc Vườn Thực vật Missouri bổ sung loài L hildebrandiana Coll & Hemsl thuộc chi Lonicera L Đáng chú ý là loài L hildebrandiana Coll & Hemsl được tìm thấy ở độ cao khoảng 5000 feet Điều đặc
biệt là các nhà Thực vật học mới chỉ thấy 1 cây của loài này Hoa của loài này cũng
đã được so sánh với các loài hiện có và thấy rằng nó có kích thước lớn nhất [40]
Trang 7Năm 1992, trong cuốn "Vascular Plant families and genera" của tác giả Brummit cũng chỉ đề cập chi Lonicera L là chi lớn nhất trong họ Caprifoliaceae với
khoảng 180 loài [27]
Trong cuốn“Flowering plants of the world” năm 1993, V.H.Heywood mô tả chi Lonicera L có khoảng 200 loài, phần lớn là các cây bụi nhỏ và cây leo [44] Năm 1997, trong công trình “Diversity and Classification of Flowering plants” Armen Takhtajan đã đưa ra quan điểm xếp chi Lonicera trong hệ thống
phân loại thực vật của ông như sau:
Adoxales
Family: 1.Sambucaceae
2 Adoxaceae Order III:
Trong họ Caprifoliaceae lại chia ra các phân họ:
+ Diervilleae: gồm các chi Weigela, Diervilla
+ Lonicereae: gồm các chi Leycesteria, Lonicera
+ Triostomeae: gồm các chi Triosteum
Trang 8+ Linnaeeae: gồm các chi Symphoricapos, Linnaea, Dipelta, Heptacodium, Kolkwitzia, Abelia, Zabelia [22]
Trong “Flowering Plants”, Năm 2009, tái bản lần thứ II có sửa chữa, của
Tác giả A Takhtajan vẫn theo quan điểm của các nhà Thực vật học đi trước, đặc biệt là việc ra đời hệ thống phân loại của A.L de Jussieu năm 1789 [ 23 ] A Takhtajan đặt tên họ Caprifoliaceae trên cơ sở hợp nhất 3 họ Diervillaceae Pyck 1998; Linnaeaceae Backlund 1998 và Loniceraceae Vest 1818 với tổng số gồm 275-
300 loài của 12 chi [23,24,25] Mặc dù vậy, Ông có đôi chút thay đổi trong quan điểm của mình về hệ thống phân loại họ Caprifoliaceae, khi vẫn chia họ này ra thành các phân họ, tuy nhiên các chi thuộc mỗi phân họ có sự thay đổi Cụ thể như sau:
+ Diervilleae: Weigela, Diervilla
+ Lonicereae: Leycesteria, Lonicera, Heptacodium, Symphoricarpos
+Triostomeae: Triosteum
+ Linnaeeae: Linnaea, Dipelta, Kolkwitzia, Abelia, Zabelia
Sự thay đổi đó là ông xếp chi Heptacodium và Symphoricarpos từ phân họ Linnaeeae sang phân họ Lonicereae Trong đó tiêu chí để phân ra chi Lonicera là
tập hợp những loài có đặc điểm chung như sau: Bầu hạ, vòi nhụy dài, chủ yếu với một đầu nhụy hình đầu Chủ yếu là cây thân gỗ, hiếm khi thân thảo Dạng cây chủ yếu là cây bụi hoặc cây leo gỗ
Trong “Pollen flora of Pakistan-LV Caprifoliaceae” năm 2007 của tác giả Anjumperveen và Muhammad Qaiser mô tả chi Lonicera L có 10 loài, không thấy
có loài nào trùng với các loài có ở Việt Nam
Trong hệ thống phân loại của APG III năm (2009), Bộ Dipsacales gồm có các họ sau:
- Adoxaceae gồm có các chi Adoxa, Moschatellina, Sambucus, Sinadoxa, Tetradoxa, Virbunum
- Diervillaceae
Trang 9- Caprifoliaceae gồm có các chi Heptacodium, Leycesteria, Lonicera, Symphoricarpos, Triosteum Trong đó chi Lonicera có 180 loài
xếp chi Lonicera vào họ nào, phân họ nào, ngay cả họ Caprifoliaceae có những
phân họ nào cũng có những sự khác nhau rất rõ rệt Nhưng theo quan điểm của đa
số các nhà thực vật học nổi tiếng trên thế giới thì vẫn ủng hộ quan điểm của
Linnaeus và Jussieu đó là xếp chi Lonicera nằm trong họ Caprifoliaceae Chúng tôi lựa chọn hệ thống phân loại của A.Takhtajan năm 1997 để làm cơ sở nghiên cứu phân loại các loài thuộc chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae ở Việt Nam Đây cũng
là hệ thống phân loại được các Trường đại học, Viện nghiên cứu, các nhà thực vật học ở Việt Nam lựa chọn và sử dụng trong việc phân loại họ Caprifoliaceae, cũng như cho toàn bộ hê thực vật ở nước ta
1.1.2 Kết quả nghiên cứu phân loại chi Lonicera ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ
Theo một số tài liệu đã công bố, chi Lonicera L trên thế giới có khoảng hơn
200 loài, phân bố chủ yếu ở khu vực ôn đới và vùng núi cao của Bắc bán cầu
Trong Flora of China, vol 19 mô tả chi Lonicera L có khoảng 180 loài, phân
bố ở Nam Phi, Châu Á, Châu Âu, Bắc Mỹ Ở Trung Quốc có 57 loài, trong đó có 23 loài là đặc hữu của quốc gia này [46]
Trong Thực vật chí Pakistan có đề cập chi Lonicera L có 20 loài, trong đó
có 18 loài là loài bản địa của Pakistan, còn 2 loài là do du nhập về trồng Trong số các loài có mặt ở Pakistan thì có tới 14 loài có hình vẽ kèm theo, tuy nhiên cũng chưa có khóa phân loại cho các loài và chưa mô tả về khu vực phân bố [42]
Trang 10Trong Thực vật chí Missouri đề cập chi Lonicera L có 11 loài, tuy nhiên
không có bản mô tả về khóa phân loại và khu vực phân bố [33]
Trong Thực vật chí Taiwan, chi Lonicera L có 7 loài, có khóa phân loại và
hình vẽ mô tả nhưng chưa nói rõ khu vực phân bố [43]
Trong thực vật chí Trung Quốc, khóa phân loại cho các loài thuộc chi
Lonicera, trong đó có 7 loài cũng có ở Việt Nam là Lonicera calcarata, L acuminata, L japonica, L macrantha, L hildebrandiana, L bournei, L hypoglauca Khóa phân loại này dựa trên các đặc điểm đặc trưng của các loài và
khá dễ dàng thực hiện Chính vì vậy, khóa phân loại này được áp dụng để phân loại cho các loài hiện có ở Việt Nam
Như trên đã đề cập, mặc dù có vài quan điểm khác nhau trong việc xếp đặt vị
trí của chi, song về cơ bản các tác giả khi nghiên cứu phân loại chi Lonicera đều thống nhất mô tả đặc điểm chung của chi Lonicera, họ Caprifoliaceae như sau:
Cây bụi đứng hay bụi trườn, đôi khi là dạng leo; rụng lá hoặc thường xanh Cành rỗng với lõi màu trắng hoặc nâu; có chồi ngủ mùa đông, với 1 hoặc vài cặp lá vảy Lá mọc đối, hiếm khi mọc vòng, nguyên, hiếm khi xẻ răng cưa, lá kèm ở giữa cuống lá vắng hoặc hiếm khi phát triển tốt Cụm hoa dạng chùy, mọc ở nách lá hoặc đầu cành, dày đặc hoặc thưa thớt, cụm hoa dạng xim 1 -, 2 - , hoặc 3 hoa Cụm hoa dạng xim đôi khi có cuống; hoặc không cuống, đôi khi hình thành cụm hoa dạng đầu Đài hoa 5 thùy Cánh hoa màu trắng, màu vàng, đỏ, tím đỏ, thường xuyên thay đổi màu sắc sau khi nở hoa, hình chuông, được mở rộng dần dần, 5 thùy, cánh hoa chẻ đôi và trên 4 thùy; ống dài hay ngắn Nhị hoa 5, bao phấn đính lưng Buồng trứng 2 hoặc 3 (-5) ngăn; có lông hoặc nhẵn Trái cây mọng, màu đỏ, đen, hoặc màu xanh, đôi khi có phủ phấn trắng, thỉnh thoảng còn giữ lại lá bắc con cùng với quả
Hạt từ 1 đến rất nhiều [1,2,6,7,13,46] Lonicera là chi lớn nhất trong họ Cơm cháy
(Caprifoliaceae), với khoảng 180 - 200 loài, phân bố ở Nam Phi, Châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ [48]
1.2 Nghiên cứu phân loại và sự phân bố của các đại diện thuộc chi Lonicera L
ở Việt Nam
Trang 111.2.1 Nghiên cứu phân loại
Ở Việt Nam, người đầu tiên đề cập tới phân loại chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae là H Lecomte, trong tập 3 “Flora ge′nerale de L’indo-chine”, năm 1922-1923 Trong tập tài liệu này, Ông đã xây dựng khóa phân loại chi Lonicera L
và mô tả 8 loài cho cả khu vực Đông Dương Trong đó, ở Việt Nam gồm các loài
Lonicera hildebrandiana, L cambodiana, L macrantha, L bournei, L dasystyla, L confusa, L japonica Tài liệu này cũng không có hình vẽ kèm theo ứng với mỗi loài Trong tập III của bộ “Cây cỏ Việt Nam” năm 2000, Phạm Hoàng Hộ có đề cập thuộc chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae ở Việt Nam có 7 loài gồm Lonicera japonica, L acuminata, L annamensis, L dasystyla, L hildebrandiana, L hypoglauca, L macrantha [6] So với công trình của H Lecomte (1922-1923), kết
quả nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ đã bổ sung cho Việt Nam được 3 loài là
Lonicera hypoglauca, L annamensis, L acuminata, nhưng lại thiếu 3 loài là Lonicera cambodiana, L confusa, L bournei Tuy nhiên, trong tài liệu của Phạm
Hoàng Hộ (2000), các loài mới chỉ được mô tả tóm tắt, kèm theo hình vẽ có tính phác họa để nhận dạng Mặc dù vậy, đây vẫn là công trình thứ 2, chính thức đề cập
về phân loại chi Lonicera L ở nước ta [6] Đến năm 2005, trong bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” tập II các Tác giả đã tổng hợp được ở nước ta có cả thảy 9 loài Kim ngân thuộc cho Lonicera L
Bên cạnh các công trình về thực vật học trên đây, trong các công trình về cây
thuốc Việt Nam đều có đề cập tới các loài Kim ngân như: Trong cuốn “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam”, của nhóm Tác giả ở Viện Dược liệu, năm 1993 có ghi rõ ở Việt Nam có 6 loài Kim ngân [12] Trong bộ “Selected medicinal plants in Viet Nam”, volume II, 1999 cũng đề cập 6 loài thuộc chi Lonicera L nhưng chỉ mô tả 3 loài [ 41 ] Hay trong cuốn “Cây thuốc và động vật làm thuốc tỉnh Kon Tum”, 2007 cũng nêu tên 2 loài, trong đó lần đầu tiên loài L hypoglauca được công bố có ở Việt Nam [11] Gần đây, trong bộ “Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam” tập II,
2004, các Tác giả tiếp tục đề cập 3 loài làm thuốc (L bournei Hemsl.; L daystyla Rehd.; L japonica Thunb.) [13]
Trang 12Như vậy, qua các tài liệu trên đây cho thấy, tính đến nay ở Việt Nam đã biết
tới 9 loài của chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae
1.2.2 Nghiên cứu về phân bố:
Theo các tài liệu hiện có ở Việt Nam, các loài thuộc chi Lonicera phân bố ở
khắp Việt Nam Một số loài phổ biến ở cả đồng bằng, trung du miền núi từ Bắc vào
Nam là Lonicera japonica Thunb và L dasystyla Rehd Loài mới chỉ thấy ở Trung
bộ Việt Nam là loài L acuminata Wall in Roxb., L annamensis Fukuoka, L cambodiana Pierre Loài L hypoglauca Miq mới chỉ thấy ở vùng đồi núi của tỉnh Phú Yên Loài L macrantha (D Don) Spreng là loài phân bố ở khắp các tỉnh miền núi từ miền núi phía Bắc tới Lâm Đồng Loài L hildebrandiana Coll & Hemsl
phân bố ở một số vùng đồi núi cao của tỉnh Lai Châu, Lào Cai (Sa Pa), Hà Giang
[1,6,11] Trong các loài thuộc chi Lonicera L., đặc biệt có loài kim ngân rừng (Lonicera bournei Hemsley) thuộc diện hiếm trên thế giới, cây mới chỉ được phát
hiện ở vùng Sầm Nưa (Lào) và Lai Châu (Việt Nam), độ cao phân bố của cây khoảng trên 1000m
Qua một số tài liệu trên cho thấy, các điểm được gọi là phân bố trên, đơn giản là sự ghi nhận nơi phát hiện hay thu được mẫu Xét về thực chất, hiện chưa có
công trình nào đi sâu nghiên cứu về sự phân bố địa lý của chi Lonicera ở Việt Nam
1.3 Vài nét về việc nghiên cứu Kim ngân làm thuốc
Trên thế giới, vị thuốc Kim ngân đã được người Trung Quốc dùng từ lâu đời như một thuốc hạ sốt, làm dễ tiêu và trị lỵ, hoa phơi khô dùng để lợi tiểu Kim ngân
có tác dụng cải thiện chuyển hóa chất béo trong điều trị bệnh lipid máu, nước cất có
tác dụng kháng khuẩn Ở Trung Quốc, kim ngân dại (Lonicera dasystyla Rehd) còn
được dùng chữa viêm thận cấp tính [4,5,7,12,13] Trên thế giới, chủ yếu là các
nghiên cứu về loài Lonicera japonica Thunb, có 7 chất chủ yếu là luteolin,
luteoloside, quercetin, quercetin-3-0-beta-D-glucoside, glucoside, rutin, chlorogenic [47]
quercetin-7-0-beta-D-Theo Dược điển Việt Nam IV, vị thuốc Kim ngân gồm có Kim ngân cuộng và Kim ngân hoa Kim ngân cuộng là cành và lá phơi hay sấy khô của cây Kim ngân
Trang 13(Lonicera japonica Thunb.) và một số loài khác cùng chi như L dasystyla, L confusa, L cambodiana Kim ngân hoa là nụ hoa có lẫn một số hoa phơi hay sấy khô của cây Kim ngân ngân (Lonicera japonica Thunb.) và một số loài khác cùng chi như L dasystyla, L confusa, L cambodiana, họ Caprifoliaceae
Ở Việt Nam, trong Y học cổ truyền, vị thuốc Kim ngân có vị ngọt, đắng tính hàn, không độc vào 4 kinh tâm, phế, vị và tỳ, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng nên nó có mặt trong rất nhiều bài thuốc để chữa các bệnh như chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, dị ứng, sốt cảm, cảm cúm, sởi, viêm phổi, viêm gan virus, viêm gan mạn tính, viêm cầu thận cấp tính, viêm khớp dạng thấp, sốt xuất huyết… Vị Kim ngân
gồm một số loài thuộc chi Kim ngân như Lonicera japonica Thunb., L dasystyla Rehd., L confusa DC., L macrantha (D Don)
Với một số dẫn liệu trên đây, chắc chắn là chưa đầy đủ, song về cơ bản đã
cho thấy, việc phân loại chi Kim ngân (Lonicera L.) và họ Cơm cháy
(Caprifoliaceae) trên thế giới đã được quan tâm nhiều Về giá trị tài nguyên thì đây cũng là nhóm loài đã trở thành vị thuốc quí được dùng lâu đời trong Y học cổ truyền Trong khi đó, theo các tài liệu đã công bố, Việt Nam cũng là quốc gia có
khá nhiều loài thuộc chi Lonicera L được dùng làm thuốc, nhưng dường như, kể từ
sau nghiên cứu của H Lecomte, năm 1922-1923 đến nay, không có công trình nào
nghiên cứu về thực vật học chi Lonicera L được công bố Chính vì vậy, việc đi sâu
nghiên cứu bổ sung về chi thực vật này là việc làm cần thiết
Trang 14
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các loài thuộc chi Lonicera L hiện có tại Việt Nam, bao gồm từ các
nguồn:
- Các mẫu tiêu bản hiện có, đang lưu trữ ở các bảo tàng thực vật và Phòng thực vật ở Hà Nội: Phòng tiêu bản của Viện Dược liệu; Bảo tàng thực vật của trường Đại học Khoa học Tự nhiên; Phòng thực vật của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Phòng thực vật của trường Đại học Dược Hà Nội
- Các mẫu tiêu bản thuộc chi Lonicera L mới thu thập, trong các đợt điều tra
gần đây: Tỉnh Hà Giang (Quản Bạ, Vị Xuyên, Đồng Văn); Lạng Sơn (Bình Gia, Lộc Bình, Chi Lăng, Đình Lập, Bắc Sơn, Hữu Lũng); Thái Nguyên (Đại Từ); Ninh Bình (Tam Điệp); Hà Nội (TT Trồng và Chế biến cây thuốc Hà Nội, Viện Dược liệu); Thanh Hóa (Quảng Thành); Kon Tum (xã Hòa Bình, Tp Kon Tum)
2.2 Nội dung nghiên cứu
(1) Hệ thống hóa các mẫu hiện có thuộc chi Lonicera L., tại các Bảo tàng và
phòng tiêu bản ở Hà Nội, về: thành phần loài; mùa hoa quả và nơi phân bố
(2) Kết hợp với các đợt điều tra, tiếp tục thu thập tiêu bản thực vật, cùng các
thông tin khác có liên quan của các loài thuộc chi Lonicera L., tại các địa phương
đã nói ở trên
(3) Phân tích và liệt kê các đặc điểm hình thái điển hình, xây dựng khóa phân
loại và mô tả chi tiết các loài hiện có, thuộc chi Lonicera L ở Việt Nam
(4) Tổng hợp thông tin, phân tích và khái quát hóa về sự phân bố, cùng một số đặc điểm sinh học khác của các loài Kim ngân đã biết ở Việt Nam
2.3 Phương pháp nghiên cứu
(1) Phương pháp kế thừa được áp dụng trong quá trình thống kê, tổng hợp thông tin từ các mẫu tiêu bản Kim ngân hiện có, đang lưu trữ tại các Bảo tàng và Phòng tiêu bản Các thông tin được kế thừa gồm: Tên loài, nơi lấy, người lấy và ngày lấy mẫu
Trang 15(2) Xác định tên khoa học các loài Kim ngân: Theo phương pháp so sánh hình
thái, bởi các khóa phân loại chi Lonicera L trong các bộ Thực vật chí, như Flore Ge′nerale de L′Indo-chine, T.III, 1922-1923 [36], Flora of China, Vol 19, năm
Trang 16Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả về việc giám định và chỉnh lý tên khoa học
3.1.1 Số mẫu thuộc chi Lonicera L đã được nghiên cứu và thu thập thêm
* Các mẫu nghiên cứu tại các Bảo tàng: Gồm tổng số 363 tiêu bản, cụ thể:
(1) Bảo tàng Dược liệu, Viện Dược liệu: 209 tiêu bản (2) Bảo tàng Thực vật của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật: 20 tiêu bản (3) Bảo tàng Thực vật trường Đại học khoa học Tự nhiên: 30 tiêu bản (4) Phòng tiêu bản trường Đại học Dược
Hà Nội: 35 tiêu bản Các mẫu đã nghiên cứu, phần lớn là không có lý lịch rõ ràng, chỉ một số ít mẫu có đầy đủ hoa, quả còn lại là các mẫu không có hoa quả và chưa được giám định tên khoa học (Phụ lục 1 & 2)
* Mẫu mới thu thập: Trong quá trình tham gia điều tra cây thuốc tại một số
địa phương (Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Giang, Tam Đảo-Vĩnh Phúc, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Kon Tum ), từ năm 2011 đến nay, đã thu thập bổ sung thêm 69 tiêu bản mới của các loài Kim ngân (Phụ lục 3)
Như vậy tổng số mẫu thuộc chi Lonicera L đã được nghiên cứu là 402 tiêu bản Đây là một khối lượng mẫu khá lớn, mà qua đó, phần nào đã nói lên tính khách quan và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu phân loại chỉ gồm hơn chục loài, trong 1 chi (Lonicera L.), thuộc họ Caprifoliaceae ở Việt Nam
3.1.2 Kết quả phân loại và giám định loài
a) Chỉnh lý, xác định bổ sung tên khoa học loài trên những mẫu lưu trữ cũ:
- Chỉnh lý tên khoa học cho các tiêu bản bị sai xót gồm 25 tiêu bản của các
loài Lonicera cambodiana DC, L hildebrandiana Hemsl (có các số hiệu 2027; 2186; 5007A,B; 8699A,B,C,D; 7652A,B,C,D,E,F,G,H,I,J, tại VDL ), L japonica Thunb (mang số hiệu 15348/07, tại ĐHDHN), L aff macrantha (D Don) Spreng
(số hiệu 848, tại VST&TNSV)
- Giám định tên khoa học cho những mẫu tiêu bản chưa có tên gồm 26 tiêu
bản chưa có tên thuộc các loài L japonica Thunb (không có số hiệu, tại ĐHDHN, 5386A,B,C tại VDL), L dasystyla Rehd (không có số hiệu, tại ĐHDHN), L
Trang 17hypoglauca Miq (mang các số hiệu 5385A,B; 7645A,B; 7644A,B,C; 7643A,B,C; 9524A,B và 2 tiêu bản không có số hiệu tại VDL), L macrantha (D Don) Spreng (mang số hiệu 9071A,B, tại VDL), L hildebrandiana (mang số hiệu 1371, tại
VST&TNSV)
b) Xác định mới :
- Các mẫu mới thu thập đã xác định, gồm các loài Lonicera japonica Thunb.,
L calcarata Hemsl., L hypoglauca Miq., L macrantha (D Don) Spreng., L dasystyla Rehd., L acuminata Wall in Roxb., Lonicera confusa DC
- Trong các loài mới thu thập được và trong các mẫu tiêu bản được giám định tên và chỉnh lý lại tên khoa học, có một loài chưa được mô tả trong bất cứ tài liệu nào ở Việt Nam, chưa có bất cứ dẫn liệu khoa học nào về loài cây này Dựa vào các đặc điểm đặc trưng về hình thái hoa, quả, thân, lá, đã giám định được tên khoa
học cho loài này là loài Lonicera calcarata Hemsl Loài Kim ngân này được đặt tên
Việt Nam là Kim ngân cựa vì đặc điểm đặc trưng là có phần phụ ở phía cuối tràng hoa phình ra kéo dài ra thành dạng cựa giống như cựa gà
Như vậy, tổng số loài Kim ngân thuộc chi Lonicera L đã biết ở Việt Nam
đến nay là 11 loài Trong đó: (*) 10 loài đã được đề cập bởi các tài liệu về thực vật
và cây thuốc gồm các loài Lonicera acuminata, L annamensis, L bournei, L cambodiana, L confusa, L dasystyla, L hildebrandiana, L hypoglauca, L japonica, L macrantha [1,5,6,7,8,36] Và (*) 1 loài do chúng tôi mới xác định bổ sung: Kim ngân cựa (Lonicera calcarata Hemsl.) – Đây là đóng góp mới cho chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae nói riêng và cho hệ thực vật Việt Nam nói chung
3.2 Đặc điểm chung của chi và xây dựng khóa phân loại các loài thuộc chi Kim
ngân (Lonicera L.) hiện có ở Việt Nam
3.2.1 Đăc điểm hình thái nổi bật của chi Lonicera ở Việt Nam:
* Đặc điểm nổi bật của một số bộ phận:
- Thân: Tất cả các loài thuộc chi Lonicera L ở Việt Nam là cây bụi trườn
hoặc dây leo nhỏ (leo bằng thân quấn) Thân, cành rỗng, vỏ màu nâu đỏ, phần lớn
có lông màu vàng, rậm Mọc thành các bụi đứng nhỏ như Lonicera macrantha (D
Trang 18Don) Spreng., Lonicera acuminata Wall in Roxb., L bournei Hemsl.; mọc thành bụi rất to như L calcarata Hemsl, L hildebrandiana Coll & Hemsl.; hoặc leo lên
thân các cây khác tạo thành giàn hoặc cũng có thể mọc bò dưới mặt đất như
Lonicera dasystyla Rehd, L japonica Thunb., L confusa DC
- Lá: Hầu hết lá của các loài Kim ngân là lá thường xanh, không bị rụng lá vào mùa đông Lá mọc đối, hiếm khi mọc vòng, nguyên, hiếm khi xẻ răng cưa, có loonghay không lông
+ Lá một số loài có lông nhiều như Lonicera macrantha (D Don) Spreng., L hypoglauca Miq., L acuminata Wall in Roxb., L confusa DC Một số loài có lông thưa hơn như L japonica Thunb Lá một số loài không lông, bề mặt trơn nhẵn như Lonicera hildebrandiana Coll & Hemsl., Lonicera calcarata Hemsl., L dasystyla Rehd
+ Lá thay đổi từ phiến lá hình trứng, hình thuôn đến hình mác ở Lonicera japonica Thunb., L hildebrandiana Coll & Hemsl., L acuminata Wall in Roxb., L bournei Hemsl., L confusa DC., L hypoglauca Miq., L calcarata Hemsl… Gốc lá thường hình tim, tròn hoặc bằng Riêng L dasystyla Rehd có 2 dạng lá là lá không
xẻ thùy và lá có xẻ thùy, đặc biệt trên những cây có cả 2 loại lá này cùng tồn tại Lá
nhiều lông như L macrantha (D Don) Spreng., L hypoglauca Miq., L japonica Thunb đến ít lông như L bournei Hemsl., L dasystyla Rehd., L annamensis Fukuoka, L confusa DC Lá nhẵn bóng 2 mặt như ở L hildebrandiana Coll & Hemsl., L calcarata Hemsl., L annamensis Fukuoka, Lá đài thay đổi, từ lá đài giống lá như Lonicera japonica Thunb., lá đài hình đầu như ở L calcarata Hemsl đến lá đài tù như L hildebrandiana Coll & Hemsl., đến lá đài nhọn như ở Lonicera acuminata Wall in Roxb., L Lonicera macrantha (D Don) Spreng., Lonicera hypoglauca Miq., L bournei Hemsl., L confusa DC Dưới đây là hình ảnh lá của
một số loài Kim ngân:
Trang 19Mặt dưới lá loài Lonicera annamensis
Fukuoka
Mặt dưới lá loài Lonicera annamensis
Fukuoka
Loài Lonicera bournei Hemsl
Lá của loài Lonicera acuminata Wall in Roxb
Trang 20Loài Lonicera calcarata Hemsl Loài Lonicera confusa DC
Trang 21Loài Lonicera dasystyla Rehd
Lá của loài Lonicera hildebrandiana Hemsl
Loài Lonicera hypoglauca Miq
Trang 22Loài Lonicera japonica Thunb
Loài Lonicera macrantha (D Don) Spreng
Hình 1 Hình ảnh lá một số loài Kim ngân
Trang 23- Lá kèm: lá kèm ở giữa cuống lá vắng hoặc hiếm khi phát triển tốt
- Cụm hoa: Cụm hoa dạng chùy, mọc ở nách lá hoặc đầu cành, dày đặc hoặc thưa thớt, cụm hoa dạng xim 1 -, 2 - , hoặc 3 hoa Hoặc cụm hoa dạng xim đôi khi
có cuống; hoặc không cuống, đôi khi hình thành cụm hoa dạng đầu
- Dạng hoa và các bộ phận của hoa: Đài hoa 5 thùy Hoa màu trắng, sau ngả dần sang màu vàng Tràng hoa hình ống dài, đầu xẻ thành 2 môi, môi trên 1 thùy, môi dưới gồm 4 thùy nông Nhị hoa 5, bao phấn đính lưng Buồng trứng 2 hoặc 3 (-5) ngăn; có lông hoặc nhẵn Nụ hoa hình ống hơi cong queo, chiều dài thay đổi từ
1cm như ở L calcarata Hemsl đến hơn 10cm như ở L hildebrandiana Coll & Hemsl., đầu to, đường kính khoảng 0,2 - 0,5 cm Mặt ngoài trắng, màu vàng đến nâu, ít lông hoặc phủ đầy lông ngắn Riêng loài L hildebrandiana Coll & Hemsl.,
mặt ngoài và mặt trong của tràng hoa nhẵn Dưới đây là hình ảnh hoa của một số loài Kim ngân:
Lonicera acuminata
Wall in Roxb
Lonicera annamensis Fukuoka
Trang 24Lonicera hypoglauca
Miq
Lonicera japonica Thunb Lonicera macrantha (D Don)
Spreng
Hình 2 Hình ảnh hoa của một số loài Kim ngân
- Quả: quả mọng, màu đỏ, xanh - đen, đen, xanh, hoặc màu trắng đôi khi có phủ phấn trắng, thỉnh thoảng còn giữ lại lá bắc con cùng với quả Quả hình quả lê
và hình trứng lớn, đường kính 2,5cm (L hildebrandiana Coll & Hemsl.), Quả mọng màu xanh đen và có phủ phấn trắng, hình trứng, đường kính 6-7mm (L accuminata Wall in Roxb.); Quả màu đỏ, hình cầu, đường kính 5mm (L bournei Hemsl.); Quả màu đen, hình elip hoặc gần hình cầu, 6-10mm (L confusa DC.); Quả màu đen (L dasystyla Rehd.); Quả màu đen khi chín, thỉnh thoảng có phủ phấn trắng, gần như nhẵn, đường kính 7-8mm (L hypoglauca Miq.); Quả màu đen, hình cầu hoặc elip, 8-12mm (L macrantha (D Don) Spreng.); Quả vàng đến đỏ, đường
kính lên đến 1,5cm., có lá bẹ do lá bắc hình thành không rụng; hạt nhiều, dẹt, với 2
rãnh lõm bên, viền dày (L calcarata Hemsl.) Dưới đây là hình ảnh quả một số loài
Kim ngân:
Loài Lonicera hypoglauca Miq
Trang 25Chùm quả loài Lonicera hypoglauca
Loài Lonicera calcarata Hemsl
Hình 3 Hình ảnh quả của một số loài Kim ngân
- Hạt: Hạt hình trứng hoặc hình elip, từ 1 đến rất nhiều Hạt màu nâu, hình trứng hoặc hình elip, khoảng 3mm, lõm không sâu Hạt hình elip đến tròn hơi bị
nén, 4-4,5mm, hơi lõm (L acuminata Wall in Roxb.); hạt màu nâu đen, hình elip, dài 4mm (L hypoglauca Miq.); hạt nhiều, dẹt, với 2 rãnh lõm bên, viền dày (L calcarata Hemsl.)
Trang 26Loài Lonicera hypoglauca Miq Loài Lonicera macrantha (D Don)
Spreng
Loài Lonicera calcarata Hemsl Loài Lonicera japonica Thunb
Hình 4 Hình ảnh hạt của một số loài Kim ngân
Từ các đặc điểm nổi bật trên, cho phép xây dựng bản mô tả chung về chi
Lonicera L., họ Caprifoliaceae; đồng thời cũng để xây dựng khóa phân loại của chi
này với 11 loài đã biết ở Việt Nam, cụ thể trình bày ở phần sau
*) Đặc điểm chi Lonicera L
Chi Lonicera L có đặc điểm chung như sau: Cây dạng đứng hay bụi lùn, rất
hiếm khi nhỏ, đôi khi dạng leo, cây thường xanh Cành rỗng với lõi màu trắng hoặc nâu, chồi mùa đông với 1 hoặc vài cặp vảy bắc Lá mọc đối, mọc đối hoặc mọc
Trang 27vòng, nguyên hoặc xẻ răng cưa, lá kèm ở giữa cuống lá vắng Cụm hoa dạng chùy, mọc ở nách lá hoặc đầu cành, dày đặc hoặc thưa thớt, cụm hoa dạng xim 1 -, 2 - , hoặc 3 hoa Cụm hoa dạng xim đôi khi có cuống; hoặc không cuống, đôi khi hình thành cụm hoa dạng đầu Đài hoa 5 thùy Cánh hoa màu trắng, màu vàng, tía đỏ, thường xuyên thay đổi màu sắc sau khi nở hoa Hoa hình chuông, được mở rộng dần dần, 5 thùy, cánh hoa chẻ đôi thành 2 môi, môi trên 4 thùy và môi dưới 1 thùy; ống dài hay ngắn Nhị hoa 5, bao phấn đính lưng Buồng trứng 2 hoặc 3 (-5) ngăn;
có lông hoặc nhẵn Trái cây mọng, màu đỏ, màu đen, hoặc màu xanh đôi khi có phủ phấn trắng, thỉnh thoảng còn giữ lại lá bắc con cùng với quả Hạt từ 1 đến rất nhiều
Hình 5 Hoa đồ chung của các loài thuộc chi Lonicera L
3.2.2 Khóa phân loại chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae ở Việt Nam
Dựa vào các đặc điểm phân loại của các loài thuộc chi Lonicera L., chúng tôi
xây dựng được khóa phân loại cho các loài thuộc chi này Chúng tôi xây dựng khóa
Trang 28phân loại lưỡng phân cho loài này, vì đây là khóa so sánh các đặc điểm tương xứng nhau, giúp người đọc dễ dàng tra cứu
Khóa phân loại các loài thuộc chi Lonicera L hiện có ở Việt Nam
1a Cây bụi trườn, lá nhẵn
2a Ống hoa có chiều dài trên 7cm, hoa không có phần phụ dạng cựa ở gốc
tràng L hildebrandiana
2b Ống hoa có chiều dài dưới 7 cm (khoảng 3-6 cm), hoa có phần phụ dạng
cựa dài đến 12mm ở gốc tràng hoa L calcarata
1b Cây bụi trườn, lá có lông
3a Lá có điểm tuyến màu vàng cam ở mặt dưới lá L hypoglauca
3b Lá không có điểm tuyến màu vàng cam ở mặt dưới lá
4a Có hai dạng lá trên cùng một cây gồm lá nguyên và lá
xẻ L dasystyla
4b Lá chỉ có dạng lá nguyên
5a Lá bắc lớn dạng mác hẹp, chiều dài lớn hơn 4 lần chiều rộng
6a Lá thường mọc vòng 3 lá L acuminata 6b Lá không mọc vòng 3 lá L macrantha
5b Lá bắc lớn dạng lá, chiều dài không lớn hơn 3 lần chiều rộng
7a Mỗi cụm hoa có từ 4 hoa trở lên L confusa 7b Mỗi cụm hoa có 2 hoa L japonica
8a Các thùy hoa không bằng nhau 9a Phát hoa ngắn ở chót nhánh; hoa vàng có sọc
đỏ hay cam L annamensis
9b Cụm hoa xim hai hoa ở nách các lá gần
ngọn, hoa không có sọc đỏ cam L cambodiana
8b Các thùy hoa bằng nhau L bournei
Trang 293.3 Một số thông tin về 11 loài Kim ngân đã biết ở Việt nam
Qua việc nghiên cứu các đặc điểm về hình thái của các loài Kim ngân hiện
có ở Việt Nam, có thể thấy rằng các loài có đặc điểm rất đa dạng về hình dạng lá, từ
lá nguyên đến lá xẻ, lá có lông đến không lông, kích thước lá cũng thay đổi từ 3cm đến hơn 10cm; hình thái hoa cũng thay đổi từ xẻ 5 thùy đều nhau đến xẻ 5 thùy không đều nhau, có ít lông hay nhiều lông, kích thước thay đổi từ hơn 1cm đến hơn 7cm, màu sắc đa dạng từ trắng đến vàng, đỏ tía; có lá bắc tồn tại và rụng sớm, lá bắc có thể dạng lá, nhọn hoặc hình mác
(1) Lonicera japonica Thunberg in Murray, Syst Veg., ed 14 216 1784., Lonicera chinensis Watson, 1825., Lonicera cochinchinensis G Don, 1834 Có tên
Việt Nam là Kim ngân, Nhẫn đông, Kim ngân nhật
- Loc class.: Japan, Nippon, in littore Shiogama Typus: Royal Botanic
Garden Edinburgh (E): E00265290
- Đặc điểm: Cây leo, thường xanh Cành rỗng Cành, cuống lá, cuống hoa quả có phủ đầy lông cứng màu vàng nâu, có lông tuyến dài rải rác Cuống lá dài 3-8mm; lá hình trứng hoặc hình thuôn đến hình mác, 3-8 x 1,5-4cm, lông phân bố rải rác đến dày đặc, lông hướng theo các gân, gốc lá tròn đến gần hình tim, mép lá có lông mịn, hiếm khi lượn sóng, chóp tù đến nhọn Hoa thơm, xếp thành cặp, mọc ở nách cành nhỏ hướng theo đỉnh cành; cuống hoa dài 2-40mm, ngắn hơn hướng theo đỉnh của cành, lá bắc giống lá, hình trứng đến hình elip, dài 1-3cm; lá bắc con khoảng 1mm, có lông tơ, ở xung quanh đỉnh hoặc có lông mịn và ngắn cụt Hai bầu nhụy cạnh nhau; bầu nhụy khoảng 2mm, nhẵn Thùy đài hoa hình tam giác, khoảng 1mm, lông dày đặc và dọc theo mép lá, đỉnh nhọn Tràng hoa gồm 2 môi, màu trắng sau chuyển màu vàng, hoặc màu tía ở ngoài và màu trắng ở trong, dài 3-5cm, có lông phân bố rải rác, ống tràng dài 1,5-3cm, không có lông ở gốc; môi trên xẻ 4 thùy, mỗi thùy 2-8mm; môi dưới uốn ngược lại Vòi nhụy và nhị hoa không lông, gần dài bằng hoặc dài hơn tràng hoa Quả mọng màu đen khi chín, bóng, hình cầu Hạt màu nâu, hình trứng hoặc hình elip, khoảng 3mm, lõm không sâu
- Mùa hoa: tháng 4-7; mùa quả: tháng 10-11
Trang 30- Phân bố trên thế giới: có ở Trung Quốc, Đài Loan, Triều Tiên, Nhật Bản
- Đặc điểm nơi mọc: trồng trong vườn gia đình làm cảnh và sử dụng, cây mọc leo lên giàn hoặc các giá thể khác
- Đặc điểm sinh thái: mọc rải rác ven rừng, lùm bụi, các bãi đất hoang, ở độ cao tới 1500m
Hình 6 Cành mang hoa loài Lonicera japonica Thunb
1 Cành mang hoa; 2 Lá; 3 Thân; 4 Hoa; 5 Nhị
Trang 31(2) Lonicera hildebrandiana Collett & Hemsley, J Linn Soc., Bot 28: 64
1891., có tên Việt Nam là Kim ngân lá to, Kim ngân hildebrand
- Loc Class.: Laos, Chieng Kwang Typus: P03298671
- Đặc điểm: Cây leo, thường xanh, hiếm khi có lông Cành màu đỏ tối hoặc hơi nâu, thỉnh thoảng có lông cứng ngắn Cuống lá từ 1-2,5cm; phiến lá hình elip, trứng elip, hình thuôn hoặc hình trứng elip thuôn, 7-15 x 4-7,5cm, thịt lá dai, gốc lá đầy đủ, nhỏ men xuống cuống lá, chóp lá nhọn mũi Cặp hoa cô độc ở nách lá hoặc chùm mọc thành chùm hoa ngắn ở đỉnh ngọn của cành; cuống hoa 4-15mm; lá bắc hình tam giác, đường kính 1,5mm; lá bắc con hình trứng tam giác, 1-1,5mm Ống đài 6-8mm; có thùy hình tam giác, 0,5-1,5(-2)mm, đỉnh nhụt Tràng hoa màu trắng sau chuyển màu vàng, lớn, (9-)10-12cm; ống (5-)6-7cm, đường kính 4mm, có hai môi; có 2 lá bắc ở 2 bên cao hơn môi dưới gần tới 3/8 của môi dưới; lá bắc giữa 5-6mm Nhị hoa ngắn hơn ống tràng; chỉ nhị có lông tơ ôm sát; bao phấn thuộc đường
kẻ, 7-8mm Vòi nhụy bằng với tràng hoa, có lông tơ Quả hình quả lê và hình trứng lớn, đường kính 2,5cm
- Mùa hoa: 3-7; Mùa quả: 5-8
- Phân bố trên thế giới: có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Thái Lan
- Đặc điểm sinh thái: mọc rải rác ven rừng, lùm bụi, các bãi đất hoang, vùng núi đá vôi, mọc ở độ cao khoảng 1000m trở lên
Trang 32Hình 7 Cành mang hoa loài Lonicera hildebrandiana Hemsl
1 Cành mang hoa; 2 Đài hoa; 3 Hoa; 4 Lá
(3) Lonicera acuminata Wallich in Roxburgh, Fl Ind 2: 176 1824., có tên Việt
Nam là Kim ngân nhọn
1
4
Trang 33- Đặc điểm: Cây leo, thường xanh Thân và cành thường rỗng Thân, cành, cuống lá, cuống hoa, cuống quả phủ rải rác lông cứng màu nâu vàng hoặc phủ dày đặc, đôi khi có rải rác lông tuyến dài, có khi nhẵn hoặc trở lên nhẵn Lá thường mọc vòng gồm 3 lá, cuống lá dài 2-15mm; phiến lá hình trứng hoặc hình thuôn đến hình mác, 2,5-13x1,3-4,5cm, cả bề mặt phủ đầy lông màu vàng nâu hoặc nhẵn, gốc tròn đến hình tim, mép lá thường có lông mịn, đầu nhọn mũi Hoa mọc thành từng cặp, ở nách lá ở phía ngọn của các cành, đôi khi hình chùy Cuống hoa từ 0-23mm, càng hướng về đỉnh của cành càng ngắn; lá bắc hình dùi, thường giống lá, 2-4mm, có lông tơ và lông mịn, lá bắc con hình trứng, khoảng 1mm, nhẵn hoặc rải rác lông tơ Các bầu nhụy nằm gần nhau tự do, khoảng 2mm, nhẵn, đôi khi có lông rải rác, hoặc
có phủ phấn trắng Thùy đài hoa hình trứng đến hình tam giác, khoảng 1,5mm, ở mép có lông tơ, đôi khi nhẵn hoặc có tuyến Tràng hoa chẻ hai môi, màu trắng hơi
đỏ, sau trở lên vàng cam hoặc tía, kích thước 1,5-2,4cm, bên ngoài nhẵn hoặc có lông rải rác; ống tràng mở rộng dần dần từ gốc đến đỉnh, hình phễu, 9-12mm, bên trong phủ lông cứng, ống tràng lồi rộng ra ở phía đỉnh và hẹp dần về phía gốc Môi trên xẻ thành 4 thùy không đều nhau và dựng đứng, thùy hình trứng, 1-2mm; môi dưới uốn ngược lại, 1-2mm Nhị hoa dài bằng hoặc dài hơn tràng hoa; chỉ nhị có lông cứng ở gốc Vòi nhụy thò ra, có lông cứng ít nhất ở nửa môi dưới hoặc nhẵn Quả mọng màu xanh đen và có phủ phấn trắng, hình trứng, đường kính 6-7mm, hạt hình elip đến tròn hơi bị nén, đường kính từ 4-4,5mm, hơi lõm
- Mùa hoa: tháng 5-7; mùa quả: tháng 10-11
- Phân bố trên thế giới: có ở Mianma, Malaixia
- Đặc điểm nơi mọc: mọc rải rác ở các vùng đồi núi đá vôi, núi đất, nơi bị chặt phá còn lại những cây nhỏ
- Đặc điểm sinh thái: mọc rải rác ven rừng
Trang 34Hình 8 Loài Lonicera acuminata Wall in Roxb
1 Các dạng lá khác nhau 2 Cành mang hoa 3 Cành mang hoa dạng khác
4 Hai dạng đài và lá bắc khác nhau 5 Lông ở mép lá 6 Mặt trong của tràng
hoa có nhiều lông
Trang 35(4) Lonicera bournei Hemsley, J Linn Soc., Bot 23: 360 1888 Tên Việt Nam
- Mùa hoa: tháng 3-4, quả tháng 5
- Phân bố trên thế giới: có ở Sầm Nưa (Lào), Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc), Myanmar
- Đặc điểm sinh thái: Mọc trong rừng, độ cao 800–2000 m
Trang 36Hình 9 Loài Lonicera bournei Hemsl
1 Cành mang hoa; 2 Hoa; 3 Lá
(5) Lonicera confusa DC (Sweet) de Candolle, Prodr 4: 333 1830, có tên Việt
Nam là Kim ngân rối, Kim ngân lẫn, Sơn ngân hoa
- Loc class.: China Typus: Royal Botanic Garden Edinburgh (E),
E00369089
- Đặc điểm: Cây leo, thường xanh Cành non, cuống lá, cuống hoa quả, lá bắc, lá bắc con và cả ống đài có rải rác lông tơ màu vàng xám và rải rác lông tuyến; cành có màu hơi đỏ nâu hoặc hơi nâu Cuống lá 5-10mm; phiến lá hình trứng đến hình trứng thuôn, kích thước từ 3-7x2-4cm, mỏng như giấy, cả hai mặt có lông cứng khi còn non, mặt trên lá không lông khi già, gốc lá tròn hoặc tù, gần như cắt ngang hoặc hình tim, đầu lá nhọn hoặc hơi nhọn và ngắn Hoa mọc thành cặp ở nách lá
1
2 3
Trang 37hoặc mọc thành cụm khoảng 2-4 vòng ở ngọn của những cành ngắn, với tổng bao
lá bắc nhìn rõ; cuống hoa 2-8mm; lá bắc hình ngọn giáo, 1-2mm; lá bắc con hình
trứng - tròn hoặc hình trứng, dài 1mm, mép lá có lông, đỉnh nhọn Ống đài
1,5-2mm, có lông cứng, lá kèm hình ngọn giáo hoặc hình trứng tam giác, khoảng 1mm,
bên ngoài có lông tơ rải rác Hoa màu trắng, sau chuyển màu vàng, 3,2-5cm, hai
môi; ống thẳng hoặc đôi khi hơi uốn ngược lại, có hoặc không có lông tuyến và
lông cứng rải rác, bên trong có lông ngắn, môi dưới hơi ngắn hơn ống Nhị hoa và
vòi nhụy thò ra ngoài, hơi dài vượt hơn môi, chỉ nhị nhẵn Quả màu đen, hình elip
hoặc gần hình cầu, 6-10mm
- Mùa hoa: tháng 6-9, quả: tháng 10-11
- Phân bố trên thế giới: Thấy ở Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải
Nam (Trung Quốc); Nepal
- Đặc điểm sinh thái: Mọc rải rác ven rừng, lùm bụi, các bãi đất hoang trong
rừng, độ cao 800–2000 m
Hình 10 Loài Lonicera confusa DC
1 Cành mang hoa ; 2 Hoa ; 3 Cành mang hoa ; 4 Lá
2
3
4
4
Trang 38(6) Lonicera dasystyla Rehder, Syn Lonicera 158 1903 Có tên Việt Nam là
Kim ngân vòi nhám, Kim ngân dại
- Loc class.: Vietnam, Bắc Ninh Muséum National d'Histoire Naturelle (P),
- Mùa hoa: tháng 3-4, quả: tháng 8-10
- Phân bố trên thế giới: Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc)
- Đặc điểm sinh thái: Mọc trong rừng, độ cao 800–2000 m
Trang 39Hình 11 Cành mang hoa loài Lonicera dasystyla Rehd