1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH CÁC PHƯƠNG PHÁP SÁNG TẠO SCAMPER TRONG LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN MÀN HÌNH MÁY TÍNH

28 758 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Máy Univac I 1951.Trong khi hầu hết các máy tính ra đời đầu tiên đều có một máy in kếtquả ra giấy thì thuở sơ khai của màn hình số lại bị hạn chế bởi các bóng đènbáo nhấp nháy.. Máy in đ

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU………2

Phần I: Phương pháp SCAMPER………3

1. Phép thay thế - Substitute………4

2. Phép kết hợp – Combine……… 5

3. Phép thích ứng – Adapt………5

4. Phép điều chỉnh – Modify……… 6

5. Phép thêm vào – Put……….6

6. Phép loại bỏ - Eliminate……… 7

7. Phép đảo ngược – Reverse……… 7

Phần II Lịch sử phát triển của màn hình máy tính……… 8

1 Màn hình bằng các bóng đèn nhấp nháy………8

2 Bìa đục lỗ vừa là đầu ra, vừa là đầu vào……….9

3 Băng giấy thay cho các tấm bìa……… 9

4 Thuở sơ khai của CRT……… 10

5 Máy điện báo trở thành màn hình……… 11

6 Glass Teletype 12

7 Video phức tạp ra đời 12

8 Màn hình video phức tạp nở rộ 13

9 Tivi được dùng làm màn hình máy tính 14

10 Màn hình plasma xuất hiện 15

11 Kỷ nguyên của LCD lộ diện 16

12 Các tiêu chuẩn màn hình của IBM 16

13 Các màn hình của Macintosh 17

14 Các màn hình RGB 18

15 Màn hình LCD cho laptop………19

16 Kỷ nguyên của màn hình VGA………20

17 LCD cho máy tính bàn……….21

18 Các màn hình hiện nay………22

Phần III Phân tích các phương pháp sáng tạo SCAMPER trong sự phát triển của màn hình……….22

I Phép Thay Thế………22

II Phép Kết Hợp……….23

III Phép Thích Ứng……….23

IV Phép Điều Chỉnh ………24

V Phép thêm vào……….24

VI Phép Loại bỏ………25

VII Phép đảo ngược………25

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Từ khi con người có ý thức thì sự tìm tòi học hỏi và khả năng tư duychính là đặc điểm đưa loài người ra khỏi lớp động vật Đặc điểm nổi bật nhấtcủa sự tìm tòi học hỏi hay khả năng tư duy là sự sáng tạo Hơn 2000 nămqua hàng triệu phát minh cải tiến ra đời thay đổi gần như toàn bộ cuộc sốngcủa con người Qua từng thời kỳ các phát minh, sáng kiến có thể khác nhautùy thuộc vào từng bối cảnh xã hội nhưng có thể nói đều dựa trên cácnguyên tắc sáng tạo cơ bản như các nguyên lý của Alshuller, phương pháp

Scamper,… Trong đó Phương pháp SCAMPER là một trong những kỹ

thuật để giúp chúng ta tư duy sáng tạo hiệu quả nhất

Toàn cầu hoá, Công nghệ thông tin và nền kinh tế điện tử … đang làmthay đổi mọi lĩnh vực hoạt động của con người Chúng ta đang chứng kiếnmột sự thay đổi trong xã hội loài người tới mức chóng mặt trong đó kĩ năngtoàn cầu, hiểu biết quốc tế, công nghệ thông tin , tri thức mới và sự uyênthâm mới làm nên sự khác biệt giữa các chủ thể ( quốc gia, con người ).Không như trước đây, sự khác biệt được quyết định bởi tiền vốn và vật tư,bởi đất đai và năng lượng Công Nghệ Thông Tin là ngành ứng dụng côngnghệ quản lý , xử lý thông tin và tập hợp các phương pháp khoa học, cácphương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại Qua từng thời kỳ các phát minh,sáng kiến có thể khác nhau tùy thuộc vào từng bối cảnh xã hội nhưngphương pháp Scamper vẫn là 1 trong những phương pháp tư duy tốt nhất vàđược vận dụng nhiều nhất

Trang 3

màn hình cũng đã vận dụng phương pháp này để phát triển sản phẩm củamình ngày càng đa dạng, hiện đại.

Phần I Phương pháp SCAMPER

Hiện nay, có khá nhiều phương pháp sáng tạo khác nhau nhưng không

có phương pháp nào vượt trội trong mọi tình huống, trong mọi lĩnh vực Tuynhiên, phương pháp sáng tạo SCAMPER tỏ ra có nhiều ưu điểm trong việcphát triển hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Hai trọng tâm sángtạo trong doanh nghiệp là sáng tạo trong phát triển đổi mới sản phẩm vàsáng tạo trong tiếp thị kinh doanh sản phẩm

Phương pháp sáng tạo SCAMPER được giáo sư

Michael Mikalko phát triển, SCAMPER là ghép các chữ

cái đầu của nhóm từ sau: Substitute ( thay thế), Combine

(kết hợp), Adapt (thích nghi), Modify (hiệu chỉnh), Put

(thêm vào), Eliminate (loại bỏ) và Reverse (đảo ngược)

Phương pháp sáng tạo SCAMPER dễ lĩnh hội, dễ vận

dụng nhưng khá hữu hiệu nên ngày càng được sử dụng phổ biến rộng rãi,nhất là trong các doanh nghiệp

Trang 4

Bản đồ tư duy của phương pháp SCAMPER (ảnh: nguồn internet)

Trang 5

* Ví dụ:

- Khai thác khí đá phiến ở Mỹ (quan trọng đối với quốc phòng vìkhông còn phải phụ thuộc vào thị trường Trung Đông),Philippin

- Thay thế các nguyên liệu lẫn nhau trong ngành ẩm thực

- Hạt nêm: thay thế các gia vị khác, thay cho bột ngọt, muối,đường

- Các câu hỏi có thể đặt ra: Nguyên vật liệu cần là gì? Các tính năng?Quy trình? Nhân lực? Cái gì có thể kết hợp lại? Sẽ kết hợp khâu nào? Ởđâu?

Trang 6

- Adapt: Nghĩ xem khi thay đổi, các tính năng này có phù hợpkhông?

- Các câu hỏi có thể đặt ra: chúng ta có thể bắt chước cái gì? Môphỏng cái gì?

*Ví dụ:

Gường cho trẻ em cấu tạo như 1 chiếc xe đua.

4 Phép điều chỉnh – Modify

*Nội dung: Điều chỉnh qui mô thành tố của hệ thống.

- Modify (điều chỉnh): tăng và giảm kích cỡ, thay đổi hình dáng, thuộc tính,

- Chế tạo máy nông nghiệp dựa trên các máy khác

- Chế tạo xe buýt siêu dài, máy bay vận tải siêu lớn

5 Phép thêm vào – Put

*Nội dung: Thêm thành tố mới vào hệ thống.

Trang 7

- Lốp xe có thể dùng làm hàng rào.

- Xe bay như trực thăng, lội nước như thuyền

- Bàn chải đánh răng vừa là lược chải đầu

6 Phép loại bỏ - Eliminate

*Nội dung: Loại bỏ thành tố khỏi hệ thống.

- Eliminate: loại bỏ và đơn giản hoá các thành phần, nghĩ xemchuyện gì xảy ra nếu bạn loại đi hàng loạt các quy trình, sản phẩm,vấn đề và cơ hội(probortunity ), nghĩ xem bạn sẽ làm gì với tìnhhuống này?

- Câu hỏi có thể đặt ra: : chuyện gì xảy ra nếu tôi loại bỏ 1 sốthành phần của sản phẩm? Hướng giải quyết không theo cách thôngthường?

*Ví dụ:

- Điện thoại không dây cố định ra đời  điện thoại di động

- Bàn phím, chuột không dây

- Sạc pin không dây

- Quạt không cánh

- Tàu vũ trụ: loại bỏ các tầng khi phóng

7 Phép đảo ngược – Reverse

*Nội dung: Đảo ngược trật tự các thành tố của hệ thống.

- Reverse: Bạn có thể lật ngựợc vấn đề? Cách suy nghĩ này sẽgiúp bạn nhìn rõ mọi góc cạnh của vấn đề cũng như như cơ hội thấyđiểm mới cho vấn đề

Trang 8

- Câu hỏi có thể đặt ra: Chuyện gì xảy ra nếu tôi làm theo theohướng khác? Nếu tôi lật ngược trât tự cách làm cũng như cách sửdụng?

*Ví dụ:

- Cho ra loại vải không phân biệt mặt phải hay trái

- Giao hàng tận nhà

- Đi siêu thị trên internet, điện thoại, tv

*Kết luận: Bằng cách sử dụng phương pháp SCAMPER, bạn sẽ

có khả năng nhận biết ra các sản phẩm mới cũng như hướng đi mới cho vấn đề Tất nhiên, trong các ý tưởng này còn nhiều cái không khả thi và không phù hợp với trang thiết bị bạn đang có nhưng chắc chắn bạn sẽ chọn ra được 1 vài ý kiến Đó là những

ý tưởng có thể trực tiếp giúp bạn giải quyết vấn đề hoặc là điểm khởi đầu hoàn hảo cho cuộc bàn luận để cho ra 1 sản phẩm mới tiếp theo.

Phần II: Lịch sử màn hình máy tính:

1 “Màn hình” bằng các đèn nhấp nháy

Trang 9

Thiết bị cuối ZUSE 23 (1941) chỉ bao gồm các đèn báo để biểu diễn đầu ra của chương trình máy tính Máy Univac I (1951).

Trong khi hầu hết các máy tính ra đời đầu tiên đều có một máy in kếtquả ra giấy thì thuở sơ khai của màn hình số lại bị hạn chế bởi các bóng đènbáo nhấp nháy Chúng là các bóng đèn chỉ thị bật hoặt tắt khi máy tính xử lýcác câu lệnh hay truy cập đến các vùng nhớ

2 Bìa đục lỗ vừa là đầu ra, vừa là đầu vào

Bên trái: một nữ vận hành máy tính đang cho các tấm bìa đục lỗ vào máy ENIAC (1947) Bên phải: Bộ lập bảng IBM 405 giúp người vận hành tính kết quả của đầu ra.

3 Băng giấy thay cho các tấm bìa đục lỗ

Trang 10

Máy in điện báo CREED 75 (1958) sử dụng băng giấy đục lỗ thay cho các tấm bìa đục lỗ.

Để thay thế cho các bìa đục lỗ, nhiều máy tính sau đó đã sử dụng mộtbăng giấy dài cũng được đục lỗ để biểu diễn cho một chương trình máy tính.Nguyên lí không hề thay đổi, người vận hành máy tính sẽ cho chạy bănggiấy qua một chiếc máy như trong ảnh, kết quả chương trình cũng được lưutrên một băng giấy đục lỗ và dựa trên băng giấy này, một máy đánh chữ điện

tử sẽ đánh ra kết quả bằng ngôn ngữ mà nhà lập trình dễ dàng hiểu được

Trang 11

4 Thuở sơ khai của màn hình CRT

Các thiết bị dùng CRT làm màn hình hiển thị đơn giản: màn hình SWAC 1950), thiết bị cuối Ferranti Mark 1 Star (1951), SAGE (1957) và PDP-1 (1960).

Các ống tia ca-tốt (CRT) xuất hiện lần đầu tiên trong máy tính lạiđược dùng trong bộ nhớ chứ không phải ở bộ phận hiển thị Không lâu sau

đó, người ta đã nhận ra rằng chúng có thể được sử dụng để hiện thị nộidung của bộ nhớ dựa trên CRT (như hai máy tính ở bên trái)

Sau đó, các máy radar và máy hiện sóng đã được lắp vào các ống CRT đểhiện thị một màn hàn hình đồ họa đơn giản (không có màu sắc và chỉ thểhiện được các vec-tơ), điển hình là hệ thống SAGE và PDP-1

Trang 12

Một máy điện báo đánh chữ ASR-33 (1962) được sử dụng làm "màn hình" máy tính.

Trước khi có máy tính điện tử, từ năm 1902, các máy điện báo đánhchữ được sử dụng để trao đổi nội dung các văn bản Đây là dạng máy đánhchữ điện tử có thể giao tiếp (truyền tín hiệu) với các máy khác thông quacác đường dây điện (sau này còn qua sóng radio) và sử dụng một loại mãđặc biệt

Cho đến những năm 1950, các kĩ sư đã nối trực tiếp máy điện báo lên máytính để dùng nó như một thiết bị hiển thị Các máy điện báo sẽ in ra kếtquả liên tục của một phiên làm việc của máy tính Đây vẫn là dạng giaođiện đầu ra rẻ nhất đối với các máy tính cho đến giữa những năm 1970

Trang 13

Uniscope 300 (1964) và ADM-3 (1975) là các glass teletype sử dụng CRT

để hiển thị kết quả chương trình máy tính.

Tại một thời điểm ở những năm 1960, các kĩ sư nhận ra rằng họ cóthể sử dụng các ống CRT để tạo thành một “tờ giấy ảo” thay cho tờ giấythật của máy điện báo Glass teletype là cái tên đầu tiên cho thiết bị đầu radạng này

Dạng màn hình video này hiển thị nhanh và linh động hơn so với dùnggiấy nên nó đã trở thành phương pháp vượt trội để thể hiện giao diện củamáy tính trong nửa đầu những năm 1970

Thiết bị đầu ra được nối với máy tính qua dây cáp, thường chỉtruyền các đoạn mã biểu diễn kí tự văn bản chứ không phải đồ họa Chođến những năm 1980, một số màn hình mới được hỗ trợ màu sắc

Trang 14

7 Video phức hợp ra đời

Các thiết bị cuối hiển thị video đầu tiên: CT-1024 (1974) và sau đó là

Sol-20 và Apple I vào năm 1976.

Những chiếc máy điện báo đánh chữ (kể cả những chiếc có đầu ra làbăng giấy) cũng là cả một gia tài

Tìm kiếm một biện pháp thay thế rẻ hơn, Don Lanscaster, LeeFelsenstein và Steve Wozniak đã cùng lúc đưa ra một ý tưởng: xây dựngmột thiết bị cuối giá rẻ là màn hình video CCTV

Không lâu sau đó, Wozniak và Felsenstein đã lần lượt cho ra mắtcác thiết bị hiển thị đầu ra video là Apple I và Sol-20 Những chiếc máytính đầu tiên có màn hình video được sản xuất vào năm 1976

Trang 15

Màn hình video phức hợp TRS-80 (1977) và Commodore 1702 (1983).

Ngoài các màn hình ti-vi RF, nhiều loại máy tính cá nhân (PC) đãđược hỗ trợ các màn hình video phức hợp cho chất lượng hình ảnh caohơn Cuộc cách mạng PC đem đến luồng gió mới, các nhà sản xuất máytính như Apple, Commodore, Radio Shack, TI đều bắt tay thiết kế và đóngnhãn các màn hình video một màu hoặc có đa màu cho các hệ thống máytính của mình Hầu hết các màn hình như vậy đều có thể thay thế hoàntoàn được cho nhau

9 Ti-vi được dùng làm màn hình máy tính

Trang 16

Vào cuối những năm 1970, bắt đầu nảy sinh ý tưởng sử dụng chínhmàn hình ti-vi làm đầu ra video cho máy tính Một số doanh nghiệp đãmạnh dạn sản xuất các bộ điều biến RF cho Aplle II để chuyển video phứchợp sang một dạng các tín hiệu mà ti-vi có thể “hiểu” được.

Hệ thống Atari 800 ra mắt năm 1979 bao gồm một bộ điều biến RFgắn trong máy tính và một số thiết bị cần thiết khác Tuy nhiên, băngthông cho đầu ra bị giới hạn nên độ phân giải thấp hơn, vì vậy phần lớnmáy tính vẫn tránh làm việc với các màn hình ti-vi

10 Màn hình plasma xuất hiện

Các thiết bị cuối sử dụng công nghệ plasma: PLATO IV (1972), GRID Compass 1101 (1982) và IBM 3290 (1983).

Trang 17

nghệ này chưa bao giờ được áp dụng cho PC nhưng sau này nó lại xuấthiện trong các bộ ti-vi màn hình phẳng.

11 Kỉ nguyên của LCD hé lộ

Máy tính bỏ túi SHARP PC-1211 (1980), TRS-80 Model 100 (1983) và Toshiba T1000 (1987) là các thiết bị sử dụng màn hình LCD đầu tiên.

Một công nghệ màn hình chưa từng có, màn hình tinh thể lỏng (LCD),

đã xuất hiện trong những năm 1960 và ra mắt lần đầu tiên trên thị trường vào những năm 1970 ở trong máy tính bỏ túi và đồng hồ đeo tay

Các máy tính xách tay đầu tiên của những năm 1980 đã tận dụng LCD với việc xuất hiện rất nhiều các màn hình mỏng, nhẹ và tiết kiệm năng lượng Các LCD đời đầu thường chỉ có một màu và có độ tượng phản yếu

12 Các tiêu chuẩn màn hình của IBM

Năm 1981, các máy tính cá nhân của IBM gắn trực tiếp một màn hìnhvideo một màu theo tiêu chuẩn MDA và phải cảnh tranh với một số thiết bị đầu ra video sắc nét khác Với các đồ họa có màu sắc, IBM đã thiết kế bộ điều hợp CGA nối tới một màn hình video phức hợp IBM 5153

Trang 18

Màn hình IBM 5151 (1981) sử dụng thiết kế MDA và UBM 5153 (1983) sử dụng thiết kế EGA.

13 Các màn hình của Macintosh

Trang 19

Chiếc máy tính Macintosh đầu tiên ra đời năm 1987 bao gồm mộtmàn hình Mac đen-trắng 9 inch hiển thị đồ họa ảnh nhị phân 512x342 pixel.Macintosh II ra đời cùng năm đã chính thức hỗ trợ màu sắc đồng thời táchbiệt riêng màn hình với CPU Tiêu chuẩn video của Mac II cũng tương tựnhư VGA Các màn hình Mac tiếp tục phát triển theo thời gian và luôn luônnổi tiếng với màu sắc đẹp và có độ nét cao.

14 Các màn hình RGB

Màn hình Commodore 1084 (1985) và màn hình Atari 5C1224 (1986).

Những năm 1980 chứng kiến sự ra mắt của những màn hình RGBmang đồ họa màu sắc, có độ phân giải cao và sắc nét cạnh tranh với các máytính IBM và Macintosh Các loạt sản phẩm Atari ST và Commondore Amigathuộc số này, người sử dụng đã cảm thấy khá thỏa mãn về đồ họa máy tínhcủa những sản phẩm này

Trang 20

15 Màn hình LCD cho laptop tiếp tục cải tiến

Các laptop Altima NSX (1990) và Extensa 570CDT (1996) có màn hình LCD với màu sắc đẹp hơn nhiều so với trước đó.

Khi các màn hình LCD mới xuất hiện, chúng là các công nghệ đơnsắc có độ tương phản thấp và tốc độ làm tươi chậm Trong suốt các thập kỉ

1980 và 1990, công nghệ LCD được thúc đẩy bởi sự bùng nổ của máy tínhxách tay đã liên tục được cải tiến Chúng đã hiển thị được độ tương phản caohơn, các góc nhìn tốt hơn và màu sắc đẹp hơn Công nghệ LCD sớm muộn

sẽ nhảy sang một thị trường tiềm năng hơn, máy tính để bàn

Trang 21

16 Kỉ nguyên của màn hình VGA

Bên trái là một màn hình có tỉ lệ màn ảnh đặt theo đúng một trang giấy Bên phải là một màn hình màu theo tỉ lệ 4:3.

Vào giữa những năm 1990, đã có thêm nhiều cải tiến và phát triển đốivới màn hình cho PC Đây là kỉ nguyên của màn hình VGA đa đồng bộ hóa,

có màu sắc và giá rẻ, có khả năng xử lí trên một phạm vi rộng độ phân giải.Các nhà sản xuất bắt đầu thử nghiệm với nhiều kích thước (từ 14-21 inch vàhơn nữa) và tỉ lệ màn ảnh (tỉ lệ 4:3 hoặc theo tỉ lệ của trang giấy theo chiềudọc) Một số màn hình CRT phẳng đã ra đời vào cuối những năm 1990

17 LCD cho máy tính bàn

Các công ty máy tính đã có các thử nghiệm về màn hình LCD dànhcho máy tính bàn từ những năm 1980 với một số lượng nhỏ Những mànhình kiểu này có giá thành khá cao và hiệu suất hoạt động cũng kém hơn sovới các màn hình CRT phổ biến lúc đấy

Trang 22

Các màn hình LCD dành cho máy tính bàn của các hãng điện tử ViewSonic (bên trái), IBM (ở giữa) và Apple (bên phải)

Điều này đã bị thay đổi từ khoảng năm 1997 khi một số công ty như ViewSonic, IBM và Apple cho giới thiệu các màn hình LCD màu có chất lượng đã đủ để cạnh tranh với các màn hình CRT và giá thành của chúng đã

ở mức hợp lý

Các màn hình LCD giúp tiết kiệm không gian làm việc, tiêu tốn ít điện và sinh nhiệt cũng ít hơn nên nhanh chóng được nhiều để ý tới

18 Màn hình máy tính ngày nay:

Từ năm 2007, các màn hình LCD dành cho máy tính bàn đã vượt doanh thu bán ra so với các màn hình CRT và thị trường của nó tiếp tục

Ngày đăng: 05/07/2015, 13:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w