1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên

104 310 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu tác động của các chính sách môi trường trong việc phát triển thủy điện ở Phú Yên nhằm mục tiêu đánh giá tác động của các nhà máy thủy điện lên môi trường tại tỉnh Phú Yên

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH 4

DANH MỤC BẢNG 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 10

1.1 TỔNG QUAN VỀĐÁNHGIÁTÁCĐỘNGCỦACHÍNHSÁCH PIR 10

1.1.1 Khái niệm về chính sách 10

1.1.2 Khái niệm về đánh giá tác động của chính sách 11

1.1.3 Khái niệm PIR 16

1.1.4 Quy trình PIR 17

1.2 KINH NGHIỆMVỀĐÁNHGIÁTÁCĐỘNGCỦACHÍNHSÁCH PIR TRÊN THẾ GIỚI VÀ THỰC TẾ TẠI VIỆT NAM 21

1.2.1 Trên thế giới 21

1.2.2 Tại Việt Nam 28

1.3 CHÍNH SÁCH, PHÁPLUẬTVIỆT NAM VỀĐÁNHGIÁTÁC ĐỘNGCỦACHÍNHSÁCH 30

1.3.1 Luật ban hành các VBQPPL 30

1.3.2 Nghị định 24/2009/NĐ-CP 31

1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH PHÚ YÊN 34

1.4.1 Điều kiện tự nhiên 34

1.4.2 Tài nguyên thiên nhiên 38

1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 43

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46

2.1 ĐỐITƯỢNGNGHIÊNCỨU: 46

2.1.1 Chính sách khai thác tài nguyên cho phát triển thủy điện 46

2.1.2 Một số dự án thủy điển hình ở tỉnh Phú Yên 48

2.1.3 Các tác động đối với môi trường của các nhà máy thủy điện tại Phú Yên 49

2.2 PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 50

2.2.1 Phương pháp tiếp cận 50

Trang 2

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 51

2.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 52

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53

3.1 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN TẠI TỈNH PHÚ YÊN 53

3.1.1 Tác động tích cực 53

3.1.2 Tác động tiêu cực 54

3.2 NGUYÊN NHÂNGÂY RA CÁCTÁCĐỘNGMÔITRƯỜNGCỦA CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN 72

3.2.1 Bất cập từ chính sách 72

3.2.2 Bất cập từ việc thực thi chính sách 75

3.3 MỘTSỐGIẢIPHÁP 79

3.3.1 Biện pháp quản lý hoạt động thủy điện tại Phú Yên 79

3.3.2 Đề xuất về đánh giá tác động chính sách sau ban hành 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

1 KẾT LUẬN 85

2 KIẾN NGHỊ: 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 91

PHỤLỤC 1: KẾHOẠCHTRIỂN KHAI THỰCHIỆN 91

PHỤ LỤC 2: PHIẾU ĐIỀU TRA 92

PHỤ LỤC 3: PHIẾU ĐIỀU TRA 96

PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TẾ 99

Trang 3

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Chu trình chính sách ROAMEF 11

Hình 2 Đánh giá tác động chính sách trong chu trình xây dựng chính sách 13

Hình 3 Sơ đồ tỉnh Phú Yên 34

Hình 4 Một đoạn sông Ba - Tuy Hòa – Phú Yên 37

Hình 5 Sông Ba – Phú Yên 40

Hình 6 Một đoạn sông sau đập tràn xả lũ trong dự án thủy điện sông Ba Hạ 55

Hình 7 Thủy điện Sông Ba Hạ làm thay đổi dòng chảy khiến đất sản xuất của người dân khu phố Đông Hòa, thị trấn Củng Sơn, H.Sơn Hòa, Phú Yên bị xói lở và sông Ba trơ đáy vào mùa khô 55

Hình 8 Biểu đồ giá trị BOD trung bình các điểm quan trắc trên sông qua các năm 59

Hình 9 Biểu đồ giá trị trung bình các điểm quan trắc trên sông qua các năm (Nguồn: Trung tâm Quan trắc môi trường Phú Yên) 59

Hình 10 Số hộ phải di dân do xây dựng thủy điện 61

Hình 11: Diện tích mất đát mất rừng do phát triển thủy điện tại Phú Yên 63

Hình 12 Diện tích rừng bị chuyển mục đích sử dụng sang xây dựng thủy điện từ năm 2006-2012 tại Phú Yên 64

Hình 13 Nguyên nhân chuyển mục đích sử dụng sang xây dựng thủy điện 65

Hình 14 Diện tích rừng trồng lại sau khi chuyển mục đích sử dụng sang xây dựng thủy điện 66

Hình 15 Tổng thiệt hại do bão lũ, thiên tai tại Phú Yên 71

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Các bước triển khai thực hiện PIR 19 Bảng 2: Diện tích các loại rừng ở tỉnh Phú Yên từ năm 2006 – 2009 42 Bảng 3 Một số chỉ tiêu kinh tế mà Phú Yên đạt được trong năm 2011: 43 Bảng 4 Chỉ số trung bình một số chỉ tiêu chất lượng môi trường nước mặt sau vượt Quy chuẩn Việt Nam QCVN 08:2008/BTNMT 59 Bảng 5 Diện tích đất bị thu hồi và số dân di dời khi xây dựng thủy điện tại Phú Yên

60

Bảng 6 Đa dạng sinh học tại KBTTN Krong Trai 68 Bảng 7 Một số lớp động vật quý hiếm ở KBTTN Krong trai 68

Trang 5

TNMT Tài nguyên môi trường

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

PIR Đánh giá tác động chính sách (Policy Impact Review) RIA Đánh giá tác động văn bản (Regulatory Impact

Assessment) UBLVS Ủy ban lưu vực sông

VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật

WB Ngân hàng Thế giới

Trang 6

MỞ ĐẦU

Hiện nay, với nguồn tài nguyên nước dồi dào, nước ta đã có chủ trương xây dựng các nhà máy thủy điện nhằm tiết kiệm năng lượng do thủy điện từ lâu đã được tính đến như một nguồn năng lượng rẻ tiền và không gây ô nhiễm Tuy nhiên, việc xây dựng cũng như vận hành các nhà máy thủy điện lại gây ra khá nhiều vấn đề về môi trường, như môi trường ô nhiễm, suy thoái nguồn tài nguyên đặc biệt là tài nguyên đất, tài nguyên rừng và tài nguyên nước, gây suy giảm đa dạng sinh học, chất lượng môi trường sống bị suy giảm, việc di dân ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống cộng đồng dân cư Hiện nay, cả nước có 75 hệ thống thủy lợi lớn, hồ chứa thủy lợi và thủy điện chứa trên 22 tỷ m3, có khoảng 30 vạn ha rừng mất do xây dựng đập thủy điện, nhiều sự cố môi trường gây thiệt hại không chỉ nguồn tài nguyên mà thiệt hại cả tính mạng con người

Phú Yên là địa phương có nhiều dự án thủy điện với mật độ “dày đặc”, các nhà máy thủy điện ở đây sản xuất và cung cấp cho đất nước hàng tỷ kW giờ điện Tuy nhiên, việc phát triển thủy điện ở Phú Yên với tốc độ chóng mặt trong những năm gần đây đã và đang bộc lộ nhiều yếu tố bất lợi, tác động tiêu cực đối với môi trường, môi sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất của người dân Rõ ràng nhất là tỉnh Phú Yên phải mất hơn 10 nghìn ha đất nông nghiệp, lâm nghiệp, trong đó có hơn 1.000 ha rừng tự nhiên, rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn Sau khi các nhà máy thủy điện trên sông Ba tại khu vực tỉnh Phú Yên đi vào hoạt động, dòng sông Ba đã thật sự biến dạng Nghiêm trọng hơn là việc xả lũ bất thường, có thời điểm lưu lượng xả lũ hơn 10 nghìn m3/giây, nước sông Ba lên nhanh đột ngột, làm cho hoa màu, nhà cửa của hàng nghìn hộ dân ngập chìm trong nước

Nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, các nhà quản lý và hoạch định chính sách đã có khá nhiều chính sách và các văn bản pháp luật liên quan trong việc quy định về hoạt động của các dự án thủy điện Tuy nhiên, một số chính sách cũng như việc thực thi chính sách vẫn còn nhiều bất cập, ví dụ như quy định về thông báo xả lũ trước hai tiếng là hơi ngắn nên nhiều khi không kịp xử lý và thông

Trang 7

báo cho mọi người di tản, đã dẫn đến việc không di dân kịp thời gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe cũng như tài sản của họ Ngoài ra việc không tuân theo quy trình xả lũ cũng gây nên lũ lụt và thiệt hại hoa màu, tính mạng người dân

Việc nghiên cứu tác động của các chính sách môi trường trong việc phát triển thủy điện ở Phú Yên nhằm mục tiêu đánh giá tác động của các nhà máy thủy điện lên môi trường tại tỉnh Phú Yên, phân tích những vấn đề môi trường đang tồn tại và nguyên nhân của những tác động đó, đặc biệt là các nguyên nhân từ chính sách và việc thực thi chính sách của Nhà nước ta trong việc phát triển thủy điện và khai thác các nguồn tài nguyên liên quan đến phát triển thủy điện Khó khăn của việc nghiên cứu là hiện nay chưa có một văn bản hướng dẫn cụ thể nào quy định về trình tự hay quy trình đánh giá tác động của chính sách sau ban hành, đo đó việc đánh giá tác động của chính sách sau ban hành còn nhiều bất cập, chưa thống nhất

và còn mang tính thủ tục, thời điểm dẫn đến kết quả đánh giá chưa thật sự đáng tin cậy Hướng nghiên cứu của Luận văn cũng tạo cơ sở tiền để cho việc đề xuất phương pháp luận về đánh giá tác động lên môi trường của chính sách khai thác tài nguyên và việc thực thi chính sách đó sau ban hành Đồng thời, cũng nhằm mục đích góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý tài nguyên môi trường ở các

dự án thủy điện vốn còn đang có nhiều bất cập ở tỉnh Phú Yên

Mục tiêu:

- Nghiên cứu hiện trạng môi trường tỉnh Phú Yên;

- Phân tích các vấn đề môi trường liên quan đến thủy điện và nguyên nhân gây ra tác động;

- Phân tích tác động của chính sách/thực thi chính sách của Nhà nước về khai thác tài nguyên nước trong phát triển thủy điện ở tỉnh Phú Yên;

- Đề xuất quy trình đánh giá tác động của chính sách sau ban hành

Nôi dung:

- Thu thập thông tin về hiện trạng môi trường tỉnh Phú Yên

Trang 8

- Khảo sát thực tế tại một số nhà máy thủy điện tỉnh Phú Yên;

- Tìm hiểu nguyên nhân các vấn đề môi trường liên quan đến thủy điện;

- Phân tích các chính sách khai thác tài nguyên nước cho thủy điện

- Điều tra, phỏng vấn sâu về các bất cập trong chính sách/thực thi chính sách;

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và kinh nghiệm thế giới trong việc đánh giá tác động của chính sách sau ban hành

- Rút ra bài học kinh nghiệm trong việc đánh giá tác động của chính sách sau ban hành

Trang 9

Theo Từ điển mở Wikipedia cho rằng “Chính sách là nguyên tắc hay quy tắc

để hướng dẫn các quyết định để đạt được kết quả”1 Chính sách có thể là chính sách công (của Nhà nước), hay chính sách tư (của doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước )

Theo Từ điển Pháp – Việt về Pháp luật và hành chính thì chính sách là

“Tổng thể các phương sách, các hình thức hoạt động của các giai cấp, các đảng phái, các tổ chức xã hội, các dân tộc với mục đích căn bản là giành chính quyền nhà nước, cầm quyền và sử dụng chính quyền để cai trị, quản lý xã hội theo lý tưởng, đường lối, lợi ích của giai cấp, đảng phái, dân tộc mình; hoạt động của nhà nước để giữ vững chủ quyền, độc lập và lợi ích của quốc gia và phát triển các mối quan hệ quốc tế với các quốc gia khác”2

Trong Giáo trình khoa học chính sách, tác giả Vũ Cao Đàm thì “Chính sách

là tập hợp biện pháp được thể chế hóa mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản

lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động

cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.3

Như vậy, chính sách được quy định, được thể hiện, được công bố bởi các văn bản pháp luật Một văn bản pháp luật có thể chứa đựng một hoặc nhiều chính sách,

ví dụ như Luật Bảo vệ Môi trường 2005 có quy định về có các quy định về chính sách giảm thiểu ô nhiễm môi trường ( môi trường đất, môi trường nước, môi trường

Trang 10

không khí), chính sách khuyến khích bảo vệ môi trường Ngược lại, một chính sách lại có thể được thể hiện qua nhiều văn bản pháp luật, ví dụ, chính sách khuyến khích khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho phát triển thủy điện của Nhà nước Việt Nam được quy định tại Luật Tài nguyên nước 2012 và các văn bản hướng dẫn, cũng như tại Luật điện lực, Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia, Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia

Như vậy, có thể cho rằng “Chính sách là tập hợp các biện pháp can thiệp được thể chế hóa mà Nhà nước đưa ra nhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình; chính sách được thể hiện, quy định qua các văn bản quy phạm pháp luật”

1.1.2 Khái niệm về đánh giá tác động của chính sách

Theo Tài liệu Sách xanh – Thẩm định và Đánh giá ở Chính phủ (The Green Book – Appraiisal and Evaluation in Central Government) của Bộ Tài chính,

Vương quốc Anh, việc xây dựng chính sách thường được thực hiện thông qua một chu trình chính sách được gọi là ROAMEF và được trình bày ở Hình 1 dưới đây

Hình 1 Chu trình chính sách ROAMEF

(Nguồn: The Green Book, Appraisal and Evaluation in Central Government)

Sự cần thiết (Rationale)

(Monitoring)

Trang 11

Trong quy trình ROAMEF này, có hai loại hoạt động đánh giá chính sách là: thẩm định/đánh giá tác động trước khi chính sách được ban hành và đánh giá việc thực hiện chính sách sau khi ban hành Theo đó, thẩm định/đánh giá tác động chính sách (trước khi ban hành) là việc đánh giá xem đề xuất chính sách có thực sự cần thiết, thẩm định các phương án và chọn ra phương án tối ưu Còn đánh giá thực hiện chính sách sau khi ban hành là xác định các kết quả đã đạt được, so sánh với các mục tiêu mong đợi và rút ra các bài học để chỉnh sửa/hoàn thiện chính sách

Chính phủ Vương quốc Anh cũng đã ban hành các tài liệu Hướng dẫn đánh giá tác động (Impact Assessment Guidance), Bộ công cụ đánh giá (Impact Assessment Toolkit) và Tổng quan về đánh giá tác động chính sách (Impact Assessment Overview) Theo đó, “đánh giá tác động chính sách là một quá trình liên tục nhằm xác định nguyên nhân về việc can thiệp (chính sách) của Chính phủ,

so sánh các phương án để đạt được mục tiêu và biết được các hậu quả của một đề xuất chính sách và là công cụ nhằm hỗ trợ việc xây dựng chính sách thông qua đánh giá chi phí-lợi ích và những rủi ro của một đề xuất chính sách có thể có đối với cộng đồng, doanh nghiệp, môi trường và toàn xã hội về lâu dài”.4

Theo Hướng dẫn đánh giá tác động chính sách, đánh giá tác động chính sách là một trong những hoạt động

bắt buộc phải thực hiện trong quá trình xây dựng chính sách Quy trình xây dựng chính sách được giới thiệu cụ thể như ở Hình 2 và bao gồm có hai loại hình đánh giá tác động chính sách, đó là: (i) đánh giá tác động trước khi ban hành chính sách (Regulatory Impact Assessment - RIA) và (ii) đánh giá tác động việc thực hiện chính sách sau khi ban hành (ex-post assessment hay Policy Impact Review –PIR- hay là evaluation)5

4

HM Government, Impact Assessment Overview, 8/2011

Trang 12

Hình 2 Đánh giá tác động chính sách trong chu trình xây dựng chính sách Ghi chú: - RRC: Ủy ban kiểm soát văn bản (Reducing Regulation Committee)

- RPC: Ủy ban chính sách (Regulatory Policy Committee) (Nguồn: Impact Assessment Guidance, HM Government, 2011)

Ý kiến của RPC

tham vấn

Công bố báo cáo RIA

Ý kiến của RPC RRC thông qua

RRC thông qua

Công bố báo cáo PIR Không

Xây dựng chính sách

Xác định lý do can thiệp và các mục tiêu của

chính sách (kết hợp với RRC)

Xây dựng các phương án chính sách

Nhận dạng và phát triển các phương án, chi

phí ban đầu và các lợi ích (Kết hợp với RRC)

Tham vấn các bên liên quan

Chắt lọc các phương án lựa chọn, chi phí và

lợi ích Xây dựng Đề xuất chính sách

Xây dựng Đề xuất cuối cùng

Đánh giá sau khi ban hành (PIR)

Các kết quả rà soát, đánh giá sau ban hành và

Ý kiến của RPC RRC thông qua

Không

Trang 13

Theo H Wollmann, đánh giá chính sách (policy evaluation) bắt đầu được thực hiện từ những năm 1960, qua các giai đoạn phát triển khác nhau Trong nghiên cứu của mình, Wollmann lại phân chia đánh giá chính sách thành 3 loại: (i) đánh giá trước ban hành (ex ante evaluation); (ii) đánh giá khi thực hiện (on-going

evaluation) và (iii) đánh giá sau thực hiện (ex post evaluation) Theo tác giả, đánh giá khi thực hiện là xác định các tác động và kết quả giữa kỳ (interim) khi chính sách đang được triển khai, còn đánh giá sau thực hiện là đánh giá việc đạt được các

mục tiêu cũng như các tác động của chính sách sau khi kết thúc6 Có thể thấy hai loại hình đánh giá khi thực hiện và đánh giá sau thực hiện đều có thể gộp thành đánh giá sau khi ban hành (ex post evaluation/assessment)

Ở nước ta, trong Giáo trình khoa học chính sách, tác giả Vũ Cao Đàm cũng

đã đề cập đến vấn đề này trong hoạt động phân tích chính sách Theo đó “Phân tích chính sách là xem xét chính sách từ nhiều giác độ khác nhau, phát hiện điểm mạnh, điểm yếu của chính sách để phục vụ cho các mục đích sử dụng khác nhau” Tác giả cũng đã phân chia phân tích chính sách thành 4 loại:

(i) Phân tích chính sách trước ban hành, nhằm để thẩm định một chính sách trước khi ban hành;

(ii) Phân tích chính sách sau ban hành, nhằm để đánh giá chính sách sau khi ban hành một thời gian ngắn (có thể là 3-6 tháng) xem kịch bản chính sách có diễn

Theory, Politics and Methods, CRC Press, trang 393-402

Trang 14

Về thực chất hoạt động phân tích chính sách ở đây chính là đánh giá chính sách và như vậy cũng có thể phân thành hai loại trước và sau khi ban hành

Việc thực hiện chính sách sau khi ban hành cần phân biệt rõ hai trường hợp (i) Đánh giá việc thực hiện một chính sách: cần lưu ý, như đã đề cập ở trên, một chính sách có thể được thể hiện, được quy định ở nhiều văn bản khác nhau, do

đó khi xác định vấn đề đánh giá cần xem xét một cách toàn diện và đầy đủ Ví dụ, khi đánh giá việc thực hiện chính sách khai thác tài nguyên nước cho phát triển thủy điện cần phải nghiên cứu các nội dung, khía cạnh của chính sách này được quy định trong các văn bản pháp luật về tài nguyên nước, về BVMT, về năng lượng… có liên quan

(ii) Đánh giá việc thực hiện một văn bản pháp luật: khi đánh giá việc thực hiện một văn bản pháp luật nào đó thì cần phải đề cập đến tất cả các chính sách, các quy phạm đã được quy định trong văn bản đó Ví dụ, khi đánh giá việc thực hiện Luật Tài nguyên nước 2012 cần phải bao quát, xem xét, đánh giá các hoạt động đã triển khai về: bảo vệ tài nguyên nước; khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng chống khắc phục hậu quả lũ lụt và các tác hại khác do nước gây ra; khai thác và bảo

vệ công trình thủy lợi; quan hệ quốc tế về tài nguyên nước; quản lý nhà nước về tài nguyên nước… đã được quy định trong Luật

Vì vậy, khi tiến hành đánh giá chính sách (kể cả trước và sau khi ban hành) một hoạt động quan trọng và phải thực hiện đầu tiên là xác định vấn đề, xác định nội dung, mục tiêu, các khía cạnh của chính sách (hay văn bản) dự định ban hành, hay chính sách (văn bản) đã ban hành

Tóm lại, đánh giá tác đô ̣ng chính sách là hoạt động nhằm luận giải về mục tiêu chính sách, nội dung chính sách, chu trình thực hiện chính sách và các mối quan hệ của chính sách, dự báo hoặc đánh giá thực tế các tác động, qua đó tìm ra phương án tối ưu khi ban hành chính sách, hoặc soát xét lại việc thực hiện chính sách để giúp sửa đổi, bổ sung hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách hiệu quả Đánh giá tác động chính sách là một công cụ để đưa ra các quy định pháp lý tốt hơn, là một công cụ để đánh giá, đo lường các lợi ích , chi phí, những tác động có

Trang 15

thể xảy ra của mô ̣t dự thảo chính sách hay là đánh giá những tác động về kinh tế , xã hội, môi trường đã xảy ra sau khi thực hiện mô ̣t chính sách đã ban h ành

Đánh giá tác động chính sách gồm hai loại Đánh giá tác động chính sách trước khi ban hành (ex-ante assessment hay RIA) là hoạt động phân tích, dự báo những tác động có thể có của chính sách sắp được ban hành, làm cơ sở để các nhà hoạch định chính sách lựa chọn phương án tối ưu để ban hành chính sách Đánh giá tác động sau khi ban hành chính sách (ex-post assessment hay PIR/evaluation) là việc rà soát, xem xét các tác động do việc thực thi chính sách sau khi ban hành đã tạo ra, làm cơ sở để chỉnh sửa, thay thế, hoàn thiện chính sách Trong khuôn khổ nghiên cứu này tập trung vào đánh giá tác động chính sách sau khi ban hành (PIR)

1.1.3 Khái niệm PIR

Đánh giá tác động chính sách sau khi ban hành (PIR) là việc rà soát, đánh giá chính sách sau khi thực hiện, nhằm xác định các tác động trên thực tế, xem xét chính sách đưa ra sau một thời gian thực hiện có đạt được mục tiêu đặt ra không, phân tích nguyên nhân và từ đó rút ra được những sửa đổi, bổ sung để thay thế chính sách nếu cần thiết

Bộ Tài chính của Vương quốc Anh đã ban hành Hướng dẫn về đánh giá chính sách sau khi ban hành (The Magenta Book – Guidance for evaluation) Theo

đó PIR là “một quá trình khách quan để biết một chính sách đã được thực hiện như thế nào, đã có hiệu quả gì, cho ai, như thế nào và tại sao”8 PIR cần được hướng dẫn chi tiết đối với từng loại chính sách và cần được đưa vào trong chu trình xây dựng chính sách Nếu PIR được tính đến và đưa vào trong quá trình xây dựng/hoàn thiện chính sách càng sớm thì sẽ càng tốt hơn cho việc đánh giá Thực hiện một PIR tốt đồng nghĩa với việc sẽ xác định được chính sách đề ra đã tốt chưa, đã được thực hiện theo như dự kiến ban đầu chưa và các nguồn lực có được sử dụng hiệu quả không Từ đó PIR sẽ là cơ sở, nền tảng cho việc hiệu chỉnh lại chính sách Nếu không thực hiện PIR, hoặc thực hiện không tốt thì các nhà hoạch định chính sách sẽ

Trang 16

không thể cung cấp các bằng chứng về mức độ hiệu quả (hoặc không hiệu quả) của chính sách

Theo Tài liệu hướng dẫn này, PIR có thể phân thành 3 loại:

- Đánh giá quá trình chính sách (process evaluation) là xem xét chính sách có được thực hiện như dự kiến không, điều gì đã xảy ra trên thực tế, tốt hơn, xấu hơn

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của chính sách (economic evaluation) là so sánh lợi ích thu được từ chính sách với chi phí của nó

Ở nước ta, Luật ban hành VBQPPL 2008 và Nghị định 24/2009/NĐ-CP cũng

đã quy định sau ba năm kể từ khi luật, pháp lệnh, nghị định có hiệu lực, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đánh giá tác động của văn bản trong thực tiễn, đối chiếu với kết quả đánh giá tác động trong giai đoạn soạn thảo để xác định tính hợp lý, tính khả thi của các quy định Trên cơ sở

đó, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền các giải pháp nâng cao hiệu quả của văn bản hoặc hoàn thiện văn bản

1.1.4 Quy trình PIR

Quy trình PIR được giới thiệu bởi cả hai Tài liệu - Sách xanh – Thẩm định

và đánh giá ở Chính phủ và Sách Magenta, Hướng dẫn đánh giá chính sách của Bộ Tài chính, Vương quốc Anh9 Theo tài liệu Sách xanh – Thẩm định và đánh giá ở Chính phủ, một quá trình PIR thường có các bước sau:

Bước 1: Xác định chính xác vấn đề cần đánh giá:

Trang 17

Cần xác định cụ thể các nội dung, mục tiêu, các khía cạnh của chính sách

Mục tiêu, mục đích và các kết quả dự kiến cần được xác định một cách rõ ràng, định lượng Xác định tính sẵn có của các số liệu về kết quả, mục tiêu của chính sách Nếu không có đủ số liệu thì cần phải thu thập thêm các sô liệu bổ sung Tốt nhất là các số liệu cần thiết đã được tính đến trong giai đoạn thiết kế chính sách Thu thập thông tin và số liệu cần thiết về các kết quả đạt được, các tác động của

chính sách

Bước 2: Xác định các yếu tố ảnh hưởng (alternative states)

Người đánh giá cần phải xác định các mục tiêu đã đề ra trong chính sách là

gì Cần lưu ý rằng kết quả của các hoạt động chính sách thường sẽ không hoàn toàn như dự kiến trong thiết kế ban đầu Vì vậy cần phải phân tích các yếu tố khách quan (ví dụ như khủng hoảng kinh tế trên thế giới; thiên tai; chiến tranh…) và chủ quan (việc đề ra các mục tiêu quá tham vọng, việc quản lý…) đã ảnh hưởng đến việc đề

ra các mục tiêu

Bước 3: So sánh kết quả đạt được và mục tiêu đề ra:

Hoạt động này bao gồm đánh giá, đo lường định lượng kết quả xảy ra, so sánh với mục tiêu và đánh giá/so sánh sự khác biệt đó Có thể so sánh kết quả với nhóm “đối chứng” hay còn gọi là “phương án 0”, khi không có sự can thiệp chính sách Khi đánh giá cần xem xét, so sánh hậu quả/tác động của việc thực hiện các phương án đề xuất khi thực hiện RIA Người đánh giá cũng có thể đề xuất phương

án mới, chưa hề được thẩm định khi thực hiện RIA Việc đánh giá cần xác định xem việc thực hiện chính sách đã đạt được mục tiêu đề ra hay không, nếu đạt được thì đã

có đóng góp đối với các kết quả lớn hơn (outcome) ra sao, nếu chưa đạt được thì nguyên nhân, lý do tại sao

Bước 4: Đánh giá kết quả và đưa ra các khuyến nghị:

Cần xem xét tại sao kết quả thực tế lại khác với dự kiến ban đầu, mức độ hiệu quả của chính sách trong việc thực hiện mục tiêu, tính hiệu quả về chi phí và kết quả đạt được có ý nghĩa như thế nào đối với công tác quản lý, quyết định can

Trang 18

thiệp chính sách trong tương lai Kết quả thu được cần phải có các khuyến nghị chính sách cho tương lai

Bước 5: Phổ biến kết quả đánh giá:

Kết quả và khuyến nghị từ việc đánh giá phải phục vụ cho việc ra quyết định trong thời gian tới Vì vậy kết quả này phải được cấp có thẩm quyền thông qua Kết quả đánh giá cần được phổ biến rộng rãi, vì vậy, nên được tóm lược thành những điểm chính và được đăng tải trên các phương tiện thông tin công cộng10

Theo Sách Magenta, Hướng dẫn đánh giá chính sách, thì các bước của việc

thực hiện PIR được giới thiệu trong Bảng 1

Bảng 1 Các bước triển khai thực hiện PIR

thi của việc đánh giá

- Các bước tương ứng có thể đưa ra để làm tăng khả năng đánh giá hay không?

- Những sửa đổi nào trong thi hành chính sách có thể nâng cao được tính khả thi của hoạt động đánh giá mà vẫn phù hợp với mục tiêu chung của chính sách?

- Mức độ về phạm vi đánh giá?

Lựa chọn phương pháp

đánh giá

- Là đánh giá tác động, đánh giá quá trình

- Có yêu cầu đánh giá kinh tế hay không?

- Phạm vi đánh giá mở rộng như thế nào?

Trang 19

- Mức độ chuyên sâu của việc đánh giá là gì?

Xác định các yêu cầu

về dữ liệu

- Tại thời điểm nào thì tác động được đo lường?

- Các loại dữ liệu nào là cần thiết?

- Các dữ liệu nào đã được thu thâp?

- Các dữ liệu thêm nào cần được thu thập?

- Ai có trách nhiệm thu thập dữ liệu và quá trình thu thập

đã được xây dựng hay chưa?

- Ai là chủ dự án, là người sẽ cung cấp các hỗ trợ để phân tích và tham gia vào ban điều hành dự án?

Tiến hành đánh giá - Đánh giá sẽ được tiến hành nội bộ hay do cơ quan bên

- Có hay không việc kiểm tra các dụng cụ nghiên cứu?

- Đánh giá bắt đầu khi nào và kết thúc khi nào?

Sử dụng và công bố

kết quả đánh giá

- Kết quả đánh giá được sử dụng làm gì? Quyết định nào

sẽ được đưa ra?

- Các kết quả được chia sẻ và phổ biến bằng như thế nào?

- Các kết quả sẽ có tác động trở lại như thế nào tới chu trình ROAMEF?

Nguồn: The Magenta Book, Guidance for evaluation, Bộ Tài chính Anh, 04/2011

Trang 20

1.2 KINH NGHIỆM VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH PIR TRÊN THẾ GIỚI VÀ THỰC TẾ TẠI VIỆT NAM

a Mục tiêu của nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của cải cách chính sách ngành khai khoáng, trong đó tập trung đánh giá ảnh hưởng đối với cộng đồng trong khu vực khai thác mỏ Tarkwa

b Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên các thông tin từ cộng đồng và mở rộng với các thông tin từ cấp quận, huyện và cấp quốc gia Các phương pháp chính là nghiên cứu tại bàn (desk study) và thu thập các dữ liệu

c Nội dung của nghiên cứu

- Rà soát những thay đổi về chính sách triển ngành khai khoáng ở Ghana (3 giai đoạn: trước khi độc lập; sau khi độc lập đến 1986 và; sau năm 1986)

- Lựa chọn khu vực nghiên cứu

- Phân tích các tác động của cuộc cải cách chính sách khai thác khoáng sản đối với khu vực nghiên cứu, bao gồm tác động về kinh tế, xã hội và môi trường

- Đưa ra các khuyến nghị cần thiết

d Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu đã lựa chọn địa điểm khu vực Tarkwa và các vùng phụ cận ở huyện Tây Wassa thuộc phía Tây Ghana, trong đó Tarkwa là thủ phủ hành chính của huyện Tây Wassa

e Các kết quả nghiên cứu

Sự thay đổi chính sách ngành khai khoáng

Trang 21

Cuộc cải cách ngành khai khoáng bắt đầu từ năm 1986, là một phần của các cải cách chính sách kinh tế vĩ mô nằm trong chương trình phục hồi nền kinh tế (ERP) Mục đích chính của cuộc cải cách này là thúc đẩy sự tăng trưởng tiềm năng của kim ngạch xuất khẩu Từ năm 1983, đã có nhiều chính sách được ban hành hoặc sửa đổi nhằm cải cách ngành khai thác khoáng sản Những cải cách lớn nhất bao gồm:

- Ban hành Luật Khoáng sản và Khai thác khoáng sản, 1986

- Thành lập Uỷ ban Khoáng sản, 1986

- Ban hành Luật Khai thác khoáng sản quy mô nhỏ, 1989

- Luật Marketing 1989

- Thành lập Công ty Marketing khoáng sản quý, 1989

- Thành lập Cục Bảo vệ môi trường, 1994

- Xây dựng các hướng dẫn BVMT trong khai thác khoáng sản

- Sửa đổi Luật Khoáng sản và Khai thác khoáng sản 1994

- Rà soát các hướng dẫn BVMT trong khai thác khoáng sản 1999

Nhìn chung, chính sách chính của Nhà nước Ghana trong thời gian này là tăng cường đầu tư cho khai thác khoáng sản nhằm thúc đẩy tăng kim ngạch xuất khẩu

Đánh giá tác động

- Tác động về kinh tế:

Cuộc cải cách kinh tế của Ghana đã khiến đầu tư cho ngành khai khoáng tăng lên nhanh chóng, thông qua đó giúp cho ngành khai khoáng trở thành ngành dẫn đầu về nguồn thu ngoại tệ Từ 1986 đến 1997, ngành này đã thu hút được hơn 3

tỷ đô la Mỹ đầu tư trực tiếp nước ngoài, chiếm hơn 60% trong cả nước Mặt khác ngành khai khoáng cũng tạo ra cơ sở hạ tầng xã hội và phát triển các cộng đồng trong khu vực khai khoáng Bên cạnh đó, ngành khai khoáng còn tạo ra nhiều việc làm cho người dân Tính đến năm 1995, lao động trong ngành này chiếm khoảng 20% lao động trong cả nước, trong đó khoảng 20.000 người làm việc cho các công

Trang 22

ty khai khoáng lớn, khoảng 40.000 người làm việc cho các công ty nhỏ và khai thác thủ công

- Tác động về xã hội:

Sự tập trung các hoạt động khai thác khoáng sản ở Tarkwa đã có tác hại nghiêm trọng đến các giá trị văn hóa, đạo đức, xã hội của khu vực Làn sóng di cư quy mô lớn của rất nhiều người đã làm tốc độ gia tăng dân số của khu vực ở mức cao, trên mức trung bình của cả nước, thậm chí cao gấp đôi Đồng thời là sự kéo theo một loạt các hoạt động, dịch vụ đi cùng như an ninh, ăn uống, vận tải, vật liệu

nổ, thiết bị, Nhiều gia đình đã được các công ty khai khoáng bồi thường tiền giải phóng mặt bằng Điều này đã dẫn đến các vấn nạn về nhà ở, chi phí sinh hoạt ở khu vực cao, nhiều gia đình tan vỡ, thất nghiệp, bỏ học, mại dâm và lạm dụng ma túy

- Tác động về môi trường:

Trong hầu hết các khu vực của Tarkwa, môi trường bị suy thoái nhanh chóng

từ năm này sang năm khác Cụ thể:

- Diện tích đất và thảm thực vật giảm đáng kể do giải tỏa để phục vụ cho các

hoạt động khai thác bề mặt Hoạt động khai thác bề mặt chiếm đến 70% tổng diện tích đất của Tarkwa Ước tính tại thời điểm đóng cửa mỏ, một công ty sử dụng 40-60% tổng diện tích của mình cho các hoạt động như địa điểm mỏ, bãi chứa chất thải, hố lộ thiên, lán trại, đường giao thông, khu tái định cư cho các cộng đồng di dời Riêng bãi thải của một mỏ chiếm tới 6,3ha đất Chỉ riêng đối với Công ty TNHH Ghana Australia Goldfields, khu vực đập chất thải, địa điểm nhà máy và kho

dự trữ thức ăn đã gây ảnh hưởng cho khoảng 315 nông dân canh tác xung quanh khu vực

Nạn phá rừng do hoạt động khai thác bề mặt đã gây những ảnh hưởng lâu dài mặc dù đất được thay thế và cây xanh được trồng sau khi ngừng hoạt động khai thác Các hoạt động khai thác quy mô lớn, nhỏ cùng với một số hoạt động khai thác bất hợp pháp đã đe dọa ba khu bảo tồn rừng chính - Bonsa, Ekumfi và Neung - trong khu vực Những khu bảo tồn này chiếm tổng diện tích 440.15km2, trong đó Bonsa Reserve 209.79km2, Ekumfi Reserve 72.52km2 và Neung Reserve

Trang 23

157.84km2 Ngoài ra, theo thời gian, bốn công ty GAG, TGL, GGL, AGL, khi khai thác hết, 16 dãy núi khác nhau có độ cao từ 120m đến 340m sẽ bị biến thành các miệng hố khổng lồ (ước tính thời gian để khai thác hết một mỏ lộ thiên là 25 năm) Đối với những miệng hố này, bản thân các công ty cũng đã thừa nhận trong đánh giá tác động môi trường của họ rằng không thể phục hồi được

- Gây ô nhiễm nước mặt và nước dưới đất Nhiều hóa chất khác nhau như

xyanua và thủy ngân được sử dụng trong quá trình xử lý quặng Những hóa chất này tạo thành các chất gây ô nhiễm chính cho nguồn nước mặt và nước ngầm của khu vực Ngoài ra, ô nhiễm hóa học còn có thể xảy ra do việc lạm dụng, quản lý hay bảo quản vật liệu nổ kém Bên cạnh đó, kim loại nặng từ các hoạt động khai thác khoáng sản cũng góp phần làm ô nhiễm nước

Mẫu nước thu được từ các giếng khoan, giếng đào, các dòng suối trong khu vực Tarkwa cho kết quả về hàm lượng cao bất thường của chloroform, chất rắn lơ lửng, clorua, độ màu và hàm lượng mangan, đặc biệt ở sông Angbenabe tại Nkwantakrom Dòng sông Angbenabe là nguồn chính cung cấp nước uống cho các cộng đồng Có thời điểm, con sông này đã bị ô nhiễm bởi nước thải được cho là tràn

từ bể chứa phân và nước thải sinh hoạt khác của các lán trại thuộc Công ty Ghana Australia Goldfields (GAG) Phân tích nước mẫu từ con sông này (tháng 12/1998) cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm ở mức rất cao: hàm lượng vi khuẩn Faecal Coliforms 146 vi khuẩn/100ml, mangan 8,89mg/l, chất rắn lơ lửng 138 mg/l và độ màu 700 TCU (trong khi tiêu chuẩn nước uống của EU và WHO lần lượt là Faecal Coliforms 0 và 0-3 vi khuẩn/100ml, mangan 0,02 và 0,5 mg/l, chất rắn lơ lửng 4 và

5 mg/l, độ màu là 20 và 15 TCU)

Các hoạt động khai thác thủ công, bất hợp pháp cũng góp thêm ô nhiễm cho dòng sông do việc sử dụng thủy ngân trong quá trình xử lý quặng lấy vàng Mặc dù, không lấy mẫu để phân tích hàm lượng thuỷ ngân, tuy nhiên, hàm lượng này được cho là khá cao bởi vì những người khai thác bất hợp pháp đã sử dụng một lượng lớn nước sông và thuỷ ngân để xử lý quặng vàng Bên cạnh đó, khu vực khai thác mỏ Tarkwa còn bị ô nhiễm xyanua Sự kiện nổi bật cho thấy rõ vấn đề ô nhiễm xyanua

Trang 24

trong khu vực là vụ tràn xyanua năm 1996 từ ao chứa xyanua của công ty TGL vào dòng sông Angonaben, một phụ lưu của sông Bonsa Sau trận mưa lớn, một khối lượng khổng lồ (36.000 m3) dung dịch xyanua chứa vàng với nồng độ xyanua lên đến 8-100 ppm đã vô tình thải ra từ nơi chứa xyanua nằm trong khu vực hoạt động của công ty TGL Sự cố này được ghi nhận là đã có ảnh hưởng đến 9 ngôi làng dọc theo bờ sông

- Gây ô nhiễm không khí Hoạt động khai thác mỏ đã làm phát tán bụi vào

không khí xung quanh, thải khói đen, gây tiếng ồn và rung động cho khu vực Tarkwa và các vùng phụ cận Các vấn đề về chất lượng không khí trong khu vực Tarkwa bao gồm bụi, lưu huỳnh đioxit (SO2), nitơ đioxit (NO2), carbon đioxit (CO)

và khói đen Những hoạt động tạo ra các khí thải này bao gồm việc giải phóng mặt bằng-làm đường, khoan lỗ-nổ mìn, vận tải, xử lý đá thải và quặng Những hoạt động khác bao gồm khói thải từ việc nung quặng sunfua trong phòng thí nghiệm và từ các quá trình tinh chế

Kết quả quan trắc chất lượng không khí đối với bụi cho thấy giá trị lớn hơn rất nhiều so với giới hạn cho phép đối với sức khỏe Giới hạn cho phép của Uỷ ban Châu Âu (EC) đối với bụi là 50 g/m3 Các giá trị thu được từ trạm quan trắc đặt tại Bệnh viện Trung ương Tarkwa của Cục Bảo vệ môi trường (EPA) cho thấy trong quá trình thực hiện quan trắc 12 ngày, đã có 5 ngày nồng độ bụi vượt quá giới hạn cho phép của EC, trong khi đó trạm quan trắc này nằm cách khu vực có hoạt động khai thác bề mặt gần nhất khoảng 6km Điều này có nghĩa rằng nồng độ bụi sẽ cao hơn đối với những địa phương sống xung quanh các mỏ

Khói đen từ việc đốt nhiên liệu, khói từ các phòng thí nghiệm và khói do nung quặng tại Prestea đã tạo thành nguồn tăng thêm các chất gây ô nhiễm không khí trong khu vực khai thác mỏ Tarkwa Có những trường hợp mà giá trị của khói vượt quá mức cho phép của EC, WHO và EPA-Ghana Giá trị cao nhất được ghi nhận là 207 g/m3 so với mức độ cho phép 100 g/m3

của EC, 85 g/m3 của WHO và

40 g/m3 cho EPA-Ghana Bên cạnh đó, là sự ô nhiễm lưu huỳnh đioxit (SO2) thải ra

từ việc nung quặng sunfua của mỏ Prestea và các phòng thí nghiệm, do xe cộ và các

Trang 25

nguồn nhiên liệu như khí hóa lỏng (LPG) và dầu lửa Điều này đe dọa sức khỏe cho người dân Phòng thí nghiệm SCG là một trong những nguồn khói, nằm gần khu dân cư Phòng thí nghiệm này cung cấp một loạt các dịch vụ cho các công ty khai thác mỏ trong Tarkwa và các nơi khác của đất nước Phòng thí nghiệm có một nhà nung xử lý các mẫu quặng sunfua và do đó phát ra khói

Những nguồn gây ra tiếng ồn và rung động trong khu vực bao gồm thiết bị di động, nổ mìn và các máy móc khác Tiếng ồn từ hoạt động của tất cả các mỏ khai thác bề mặt trong khu vực rất chói tai, cao điểm là từ 2 giờ chiều đến tối muộn

- Tác động đến sức khỏe Các chất ô nhiễm và các tai nạn xảy ra do hoạt

động khai khoáng đặc biệt là trong khai thác và chế biến vàng đã gây ra nhiều bệnh tật trong khu vực: bệnh sốt rét, tiêu chảy, các bệnh đường hô hấp (lao phổi, bụi phổi silic), các bệnh về da, mắt, các bệnh tâm thần,… Một số chất ô nhiễm gây biểu hiện bệnh ngay lập tức (như cyanua), nhưng một số chất khác (như thủy ngân) phải mất nhiều thời gian để biểu hiện bệnh

f Kết luận, khuyến nghị

Nghiên cứu đã đánh giá những tác động của thay đổi chính sách đầu tư ngành khai khoáng nằm trong chương trình điều chỉnh cơ cấu lên tất cả các lĩnh vực (kinh tế-xã hội, môi trường và sức khoẻ) của 1 khu vực lựa chọn Phương pháp để thực hiện đánh giá là phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp khảo sát thực

tế cùng với phỏng vấn sâu Dựa trên thông tin số liệu thu thập được từ quá trình rà soát, khảo sát, nghiên cứu đã có những đánh giá chi tiết về tác động có hại nghiêm trọng của các hoạt động khai thác khoáng sản đến kinh tế-xã hội, môi trường và sức khoẻ người dân ở khu vực Tarkwa Kết quả của nghiên cứu cho thấy chính sách khai thác khoáng sản ở Ghana, đặc biệt ở Tarkwa đã gây tác động tiêu cực đến môi trường khu vực

Nghiên cứu này cho thấy, nhóm tác giả đã đánh giá tác động của các thay đổi chính sách trong một ngành cụ thể đến các lĩnh vực kinh tế-xã hội-môi trường chứ không đánh giá tác động của một chính sách cụ thể Và để đánh giá những tác động này, nhóm tác giả đã lựa chọn một khu vực điển hình nhằm đưa ra được kết quả

Trang 26

đánh giá chi tiết, rõ ràng Ngoài ra, đối với với việc đánh giá, điều quan trọng nhất

là thu thập được đầy đủ các thông tin, số liệu cần thiết thông qua các tài liệu, báo cáo liên quan cũng như thông tin, số liệu thu thập được từ quá trình khảo sát trực tiếp, kết hợp với phỏng vấn sâu các cơ quan chức năng, các tổ chức và nhất là cộng đồng dân cư trong khu vực nghiên cứu và xung quanh

Từ nghiên cứu về tác động của chính sách khai thác khoáng sản ở Ghana, một số kinh nghiệm được rút ra:

- Việc thu thập thông tin, hiện trạng, các số liệu thể hiện chất lượng môi trường thông qua các báo cáo hiện trạng môi trường, kế thừa tài liệu và đặc biệt là khảo sát tại bàn (phỏng vấn, phiếu hỏi ) giữ vai trò quan trọng trong việc đánh giá các tác động môi trường của chính sách, từ việc so sánh số liệu về tình trạng môi trường trước khi đưa ra chính sách (kế thừa tài liệu), đến việc đưa ra hiện trạng môi trường và diễn biến sau khi có chính sách (báo cáo hiện trạng môi trường, bổ sung thêm ý kiến của các Sở, ban, ngành, cộng đồng dân cư ) Những thông tin này sẽ cho thấy các tác động tích cực/tiêu cực của chính sách lên môi trường một cách rõ ràng

- Cần xây dựng được một bộ chỉ số/chỉ thị đánh giá phù hợp nhất để có thể thu thập được số liệu đầy đủ Nhìn chung, bộ chỉ số/chỉ thị sử dụng cho đánh giá nhằm đạt được hiệu quả cao, phải đạt được các yêu cầu sau:

+ Bao quát nhiều mặt của vấn đề;

+ Mang tính định lượng;

+ Nguồn dữ liệu để đánh giá phải dễ thu thập;

+ Phương pháp đánh giá không đòi hỏi nhiều giả định

- Khi đánh giá tác động môi trường của chính sách cần phải đánh giá một cách tổng quát và khách quan, do việc suy thoái tài nguyên hay ô nhiễm môi trường

do nhiều hoạt động mang lại, không nhất thiết nguyên nhân là do chính sách hay việc thực thi chính sách không hợp lý Do đó, khi đưa ra kết luận cần có những nhận định đúng đắn, dựa trên những tiêu chí và theo một quy trình chuẩn mực

Trang 27

- Ngoài ra, hoạt động đánh giá tác động môi trường của một chính sách (sau khi ban hành) cần phải được tính đến ngay từ khi thiết kế, xây dựng chính sách, trở thành một phần của nội dung chính sách và được luật hóa sao cho điều kiện về kinh phí và tổ chức đã sẵn sàng khi quá trình đánh giá bắt đầu

Nhìn chung, trên thế giới hoạt động đánh giá tác động chính sách trước khi ban hành, cụ thể là các hoạt động RIA và ĐMC, đã được thực hiện phổ biến và rộng rãi ở các nước phát triển Phương pháp luận đối với hoạt động này đã được hình thành rõ nét và ở nước ta cũng đã bắt đầu triển khai áp dụng Tuy nhiên, đối với hoạt động đánh giá tác động môi trường của việc thực hiện chính sách sau khi ban hành PIR thì cũng mới chỉ có một số hướng dẫn chung trên thế giới về đánh giá chính sách Ngoài ra, ở mỗi nước các chính sách có sự khác nhau khá lớn, do đó việc áp dụng hoàn toàn quy trình đánh giá chính sách của nước này cho nước khác

là không khả thi Cần phải có một quy trình đánh giá chính sách cụ thể đối với từng nước, phù hợp với điều kiện khách quan cũng như chủ quan của luật pháp tại nước

đó quy định

1.2.2 Tại Việt Nam

Ở nước ta, thông thường để sửa đổi một luật (ví dụ như Luật Đất đai, Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước ), hay để xây dựng Chiến lược quốc gia cho một ngành, lĩnh vực cho một giai đoạn sắp tới, bước đầu tiên mà cơ quan soạn thảo cần thực hiện là rà soát, đánh giá, tổng kết việc thực hiện luật, chiến lược từ trước cho đến thời điểm sửa đổi/xây dựng Ví dụ, năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường giao cho Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường nhiệm vụ xây dựng Chiến lược BVMT quốc gia đến 2020, tầm nhìn đến 2030 để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Theo yêu cầu này, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường đã thực hiện đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược BVMT quốc gia giai đoạn 2003-2010 Tương tự, Tổng cục Môi trường hiện đang tổ chức đánh giá tác động/thực hiện Luật BVMT 2005 để xây dựng Luật BVMT sửa đổi, dự kiến trình Quốc hội năm 2014

Trang 28

Vấn đề là hiện nay là ở nước ta chưa có một quy trình/phương pháp thống nhất hay một hướng dẫn đánh giá việc thực hiện/tác động chính sách sau khi ban hành PIR được thể hiện dưới dạng luật hoặc văn bản dưới luật Khi có yêu cầu phải đánh giá thì mỗi bộ, ngành, địa phương, tổ chức tự xác định cách thức đánh giá, do

đó còn mang tính chủ quan Thông thường quy trình đánh giá vẫn là cấp dưới nộp báo cáo về tình hình triển khai thực hiện lên cấp trên, cấp trên tổng hợp lại làm thành báo cáo để nộp lên cấp trên nữa Cơ quan tổ chức đánh giá thường xây dựng các đề cương báo cáo gửi các bộ, ngành, các địa phương, yêu cầu gửi về cơ quan đánh giá theo một thời hạn cụ thể để tổng hợp Cơ quan đánh giá cũng có thể tổ chức điều tra, khảo sát các đối tượng liên quan trong quá trình thực hiện chính sách,

ví dụ các doanh nghiệp, các cộng đồng dân cư Cơ quan đánh giá cũng thường thực hiện các cuộc khảo sát thực tế để nắm bắt được tình hình triển khai thực hiện chính sách cũng như các tác động của nó tại một địa bàn cụ thể Sau đó là quá trình xây dựng báo cáo đánh giá và tham vấn các bên liên quan thông qua các hội thảo, lấy ý kiến các chuyên gia, ý kiến các bộ, ngành

Nội dung đánh giá thông thường được thể hiện trong đề cương báo cáo do cơ quan đánh giá soạn thảo, có thể khác nhau tùy thuộc vào nội dung của văn bản chính sách, song thường tập trung vào các nội dung: (i) đánh giá tình hình, bối cảnh thực hiện; (ii) những kết quả đã đạt được; (iii) những tồn tại yếu kém; (iv) các nguyên nhân của các tồn tại yếu kém và; (v) đề xuất các giải pháp khắc phục, các đề xuất kiến nghị cho chính sách mới

Đối với hoạt động PIR theo qui định của pháp luật là 3 năm đánh giá 1 lần Tuy nhiên, trên thực tế chưa được triển khai thực hiện một cách bài bản Lý do chính là chưa có một yêu cầu ràng buộc cụ thể nào, hay chưa có bên thẩm định cụ thể về đánh giá nội dung PIR, nhìn chung chỉ dừng lại ở báo cáo định kỳ theo quý hoặc theo năm một cách khái quát chung chung, chưa đưa ra được các nhận định cụ thể, những sai sót, hạn chế ở đâu để sửa đổi Chỉ khi nào có yêu cầu ban hành Luật hoặc văn bản mới thì mới tiến hành đánh giá Tuy nhiên, mức độ đánh giá cũng còn khá chung chung và chưa rõ nét, chưa đánh giá hết được tác động do văn bản, chính

Trang 29

sách/thực thi chính sách mang lại, đồng thời tiếng nói của các địa phương hay của người dân, những người chịu tác động chính do chính sách mang lại lại không được quan tâm và lắng nghe Do đó, nhận thấy việc nghiên cứu, đề xuất ra quy trình đánh giá PIR, vừa đề rà soát những mặt được và đưa ra những tồn tại, yếu kém của nội dung trong chính sách hay việc thực thi chính sách, nhằm bổ sung và chỉnh sửa trong công cuộc bảo vệ đất nước (đánh giá tác động chính sách nói chung) và bảo

vệ môi trường (tác động chính sách đối với môi trường), và được thể chế dưới dạng văn bản, có hướng dẫn theo một quy trình cụ thể là vô cùng cần thiết để đảm bảo việc thực hiện các bước là có tính logic, khả thi và đạt hiệu quả cao

1.3 CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH

1.3.1 Luật ban hành các VBQPPL

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) 2008 đã được Quốc hội ban hành ngày 03/6/2008 tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII nhằm thay thế Luật ban hành VBQPPL năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành VBQPPL năm 2002

Luật ban hành VBQPPL 2008 có 12 chương, 95 điều quy định các nguyên tắc, trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành các VBQPPL ở nước ta Luật cũng đã quy định rõ hệ thống VBQPPL ở nước ta bao gồm 12 loại văn bản như sau:

- Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội

- Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

- Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước

Trang 30

- Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội

- Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

Có thể nói Việt Nam đã có những quy định bước đầu về hoạt động PIR trong quá trình xây dựng VBQPPL Điều này góp phần nâng cao từng bước trình độ, kỹ năng cùng với kinh nghiệm làm luật của các nhà lập pháp Việt Nam Tuy nhiên đây

là vẫn là một vấn đề mới mẻ ở nước ta, để đạt được các báo cáo PIR chất lượng, hiệu quả đòi hỏi phải xây dựng và phổ biến các hướng dẫn kỹ thuật thực hiện cụ thể cũng như quyết tâm thực hiện và tích cực học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm lập pháp từ các quốc gia phát triển trên thế giới

1.3.2 Nghị định 24/2009/NĐ-CP

Nghị định 24/2009/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký và có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 03 năm 2009 có quy định về các đánh giá tác động của chính sách sau khi ban hành tại một số Điều cụ thể như sau:

Tại Điều 39 Đánh giá tác động sau khi thi hành văn bản có quy định như sau:

1 Sau 3 (ba) năm, kể từ ngày luật, pháp lệnh, nghị định có hiệu lực, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đánh giá tác động của văn bản trong thực tiễn, đối chiếu với kết quả đánh giá tác động trong giai đoạn soạn thảo để xác định tính hợp lý, tính khả thi của các quy định Trên cơ

sở đó, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền các giải pháp nâng cao hiệu quả của văn bản hoặc hoàn thiện văn bản

2 Nội dung báo cáo đánh giá tác động của văn bản sau khi thi hành gồm: phân tích các chi phí, lợi ích thực tế và các tác động khác; mức độ tuân thủ văn bản

Trang 31

của các nhóm đối tượng thi hành văn bản và kiến nghị các giải pháp thực thi văn bản hoặc sửa đổi, bãi bỏ văn bản trong trường hợp cần thiết

3 Dự thảo báo cáo đánh giá tác động của văn bản sau khi thi hành phải được đăng tải kèm theo các dữ liệu và cách tính chi phí, lợi ích trên Trang thông tin điện

tử của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản trong thời hạn ít nhất là 30 (ba mươi) ngày

để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến

Cơ quan thực hiện đánh giá tác động có trách nhiệm hoàn thiện báo cáo trên

cơ sở các ý kiến góp ý, gửi đến Bộ Tư pháp để tổng hợp, báo cáo Chính phủ

Tại Điều 63 Trách nhiệm theo dõi, đánh giá việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật

1 Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm định kỳ hàng năm đánh giá việc thi hành văn bản do mình chủ trì soạn thảo hoặc ban hành

để kịp thời đôn đốc, tổ chức thực hiện, hướng dẫn việc thi hành văn bản hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định không còn phù hợp

2 Nội dung đánh giá việc thi hành văn bản tập trung vào các vấn đề sau đây: a) Mức độ tuân thủ văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân và lý do của việc tuân thủ, không tuân thủ văn bản;

b) Hiệu quả của công tác tuyên truyền phổ biến văn bản;

c) Tính hợp lý của các quy định trong văn bản;

d) Việc bảo đảm các điều kiện thi hành văn bản về nguồn tài chính, nguồn nhân lực và tổ chức bộ máy thực hiện văn bản

3 Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá việc thi hành các luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách (có nội dung quy định tại khoản 2 Điều này) đến Bộ Tư pháp vào tháng 10 hàng năm để tổng hợp, trình Chính phủ

4 Tổ chức pháp chế có nhiệm vụ:

a) Phối hợp với các đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan có liên quan trong việc đánh giá việc thi hành văn bản;

Trang 32

b) Theo dõi, đôn đốc các đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc đánh giá việc thi hành văn bản;

c) Tổng hợp, xây dựng báo cáo hàng năm của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về đánh giá việc thi hành văn bản liên quan đến ngành, lĩnh vực do

bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phụ trách, gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp, trình Chính phủ;

d) Đôn đốc các đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư thuộc nhiệm vụ của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

5 Trong công tác theo dõi, đánh giá việc thi hành văn bản, Bộ Tư pháp có trách nhiệm:

a) Hướng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong công tác đánh giá việc thi hành văn bản;

b) Theo dõi, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định;

c) Tổng hợp, báo cáo Chính phủ về tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi cả nước vào tháng 12 hàng năm

Theo yêu cầu của Luật ban hành VBQPPL 2008 và Nghị định

24/2009/NĐ-CP thì các luật, pháp lệnh và nghị định sau 03 năm thực hiện phải được đánh giá (PIR) Trên thực tế, theo báo cáo nghiên cứu của CIEM với sự phối hợp của USAID (đã trích dẫn ở trên) thì cho đến nay vẫn chưa có dự án luật nào triển khai thực hiện hoạt động này mặc dù Luật ban hành VBQPPL có hiệu lực thi hành đã được hơn 3 năm (từ 01/01/2009)

Hiện nay, việc triển khai RIA đã được tiến hành rộng rãi và là điều kiện ràng buộc đối với cơ quan chủ trì soạn thảo, các cơ quan này có nhiệm vụ phải thực hiện

để có đủ hồ sơ trình lên cơ quan phê duyệt Còn đối với PIR, đây là một vấn đề còn khá mới mẻ ở nước ta, ngoài ra cơ chế ràng buộc chưa cao, đặc biệt là quy trình PIR

Trang 33

chưa có hướng dẫn theo một văn bản cụ thể nào, do đó việc triển khai áp dụng trên thực tế gặp không ít khó khăn

1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH PHÚ YÊN

1.4.1 Điều kiện tự nhiên

1.4.1.1 Vị trí địa lý:

Phú Yên là tỉnh nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý 12o42’36’’đến 13o

41’28’’ vĩ độ Bắc và từ 108o40’00’’ đến 109o27’47’’ kinh độ Đông có vị trí tiếp giáp như sau:

Phía Bắc giáp tỉnh Bình Định;

Phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa;

Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc;

Phía Đông giáp biển Đông

Hình 3 Sơ đồ tỉnh Phú Yên

Trang 34

1.4.1.2 Đặc điểm địa hình:

Địa hình Phú Yên đa dạng và phân cách mạnh, từ Tây sang Đông có thể gặp

các dạng chủ yếu như:

- Địa hình núi cao tạo thành vòng cung Đèo Cả, sườn Cao Nguyên Gia Lai – Đắc Lắc và đèo Cù Mông Độ cao trung bình giữa các núi là 1500m – 1600m Địa hình trung du phân bố chủ yếu dọc quốc lộ 1 và rải rác dọc bờ biển với độ cao trung bình 150m - 300m, địa hình trung du thường bị phân cách mạnh, nhưng đôi chỗ còn sót các bề mặt cao nguyên bazan cổ như Sơn Hòa, Sơn Thành, Sông Hinh Trên các cao nguyên đất đỏ này còn sót nhiều nón núi lửa

- Địa hình đồng bằng ven biển phân bố ở vùng cửa sông Đà Rằng, sông Bàn Thạch, sông Kỳ Lộ và sông Cái Đây là các dải đồng bằng hẹp tổng diện tích chừng 6.000ha có nguồn gốc sông – biển hỗn hợp

- Tiếp giáp với đồng bằng là những gò đồi, những cồn cát, đụn cát ở ven biển Giữa hai vùng này có những đầm phá, những vùng đất trũng Bờ biển dài khúc khuỷu, có nhiều dải núi chạy sát ra biển, tạo thành các eo vịnh, đầm phá Dọc bờ biển có các cửa sông, lạch như các cửa: đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài, Tiên Châu (của sông Kỳ Lộ), Tân Quy (đầm Ô Loan), Đà Diễn (cửa sông Đà Rằng), Đà Nông (cửa sông Bàn Thạch) và cửa vịnh Vũng Rô Hai vịnh Vũng Rô và Xuân Đài là vùng nước rộng, sâu và kín gió, thích hợp cho các loại tàu, thuyền lớn hơn 1000 tấn neo đậu, trú ẩn khi có gió bão

Tóm lại, địa hình trong tỉnh Phú Yên thấp dần từ Tây sang Đông, đồi núi chiếm khoảng 70% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phần còn lại là đồng bằng ven biển với tổng diện tích khoảng 816 km2, trong đó đồng bằng Tuy Hòa chiếm 500 km2

Địa hình phức tạp, đa dạng và chia cắt mạnh ở vùng đồi núi là nhân tố chủ yếu gây nên sự biến đổi trong không gian của các yếu tố khí tượng thủy văn khá phức tạp; phần lớn sông suối có hướng chảy từ Tây Bắc-Đông Nam hay từ Tây sang

Đông hay từ vùng đồi núi cao chảy ra biển

1.4.1.3 Đặc điểm sông suối:

Trang 35

Phú Yên là tỉnh khá giàu về nước mặt do có hệ thống sông, suối rất phát triển và phân bố khá đều trong phạm vi toàn tỉnh Sông ở Phú Yên đều phát nguồn

từ dãy núi Trường Sơn ở phía Tây, Cù Mông ở phía Bắc và Đèo Cả ở phía Nam Hướng chính của các con sông là Tây Bắc - Đông Nam hoặc gần Tây Đông, nhưng lượng nước chủ yếu tập trung ở các sông như: sông Ba, sông Bàn Thạch, Kỳ Lộ, sông Cầu Các sông này là nơi thu nước của hầu hết các suối chảy trong vùng Tổng lượng nước các sông, suối chảy qua Phú Yên là 11,8 tỉ m3, riêng sông Ba là 9,7tỉ

m3, chiếm 82,2% Song đáng lưu ý là lượng nước trong các sông, suối phân bố không đều trong năm, có đến 70¸80% lượng nước tập trung vào mùa mưa lũ, còn trong các tháng mùa khô, lượng nước trong các sông, suối giảm thấp, chỉ chiếm 20¸30% cả năm Do các sông ở Phú Yên đều ngắn và dốc nên khi lượng mưa lớn khả năng thoát nước chậm, rất dễ gây nên lụt ở vùng hạ lưu và lũ quét ở vùng thượng lưu Lưu lượng nước sông trong mùa mưa và mùa khô chênh lệch nhau rất lớn

Nước sông ở Phú Yên thuộc loại nước trong, có độ đục bùn cát từ 31,0-51,0 mg/l Riêng sông Ba thuộc loại nước hơi đục, có độ đục bùn cát là 245 mg/l Độ pH thay đổi từ 6,5-7,5, độ tổng khoáng hóa trung bình dưới 100 mg/l, độ cứng toàn phân 1,5 mg/l, thuộc loại nước rất mềm Nước trong các sông, suối ở Phú Yên có chất lượng khá tốt, có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp Loại hình nước chủ yếu là Biacbonat Natri hoặc Clorua Bicacbonat Natri Kali Nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu là nước mưa và một phần

là nước ngầm

Cũng như sông, suối ở Phú Yên có khắp tỉnh, mật độ tương đối dày, đặc biệt

là các huyện miền núi và vùng núi của những huyện miền núi và vùng núi của những huyện đồng bằng Phú Yên là tỉnh có tiềm năng nước khoáng, đã phát hiện các nguồn nước khoáng tại: Phú Sen, Triêm Đức, Trà Ô, Sơn Thành và Mỹ Thành Các nguồn nước khoáng nóng ở Phú Yên đều có độ khoáng hóa thấp từ 0,3-0,7g/l, hàm lượng HCO3, chiếm ưu thế Riêng nguồn nước Phú Sen có hàm lượng Flo tương đối cao, hàm lượng HCO3-

và Na+ đều cao hơn hàm lượng các nguyên tố

Trang 36

khác, hàm lượng các chất độc hại không lớn Một số nguồn nước như Phú Sen, Trà

Ô, Sơn Thành có hàm lượng Silic hơi cao, dao động từ 71,4-102,2 mg/l Hầu hết các nguồn nước khoáng nóng trong tỉnh đều có hàm lượng Flo khá cao, dao động từ 3,5-16,3 mg/l Do đó cần chú ý xử lý khi sử dụng vào mục đích giải khát và ăn uống Ngoài ra còn có nhiều tài nguyên trong lòng đất như Diatomit (90 triệu m3),

đá hoa cương nhiều màu (54 triệu m3), vàng sa khoáng (300 nghìn tấn) (số liệu năm

2006 theo Cẩm nang xúc tiến thương mại du lịch Phú Yên)

Hình 4 Một đoạn sông Ba - Tuy Hòa – Phú Yên

(Nguồn: www.baophuyen.com)

1.4.1.4 Đặc trưng khí hậu

Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8

Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm 26,5 °C ở vùng đồng bằng ven biển, khoảng 22,5 oC ở vùng núi cao Nhiệt độ không khí trung bình tháng dao động không nhiều: (23,3 – 29,3)oC tại trạm Tuy Hòa, (22,1 – 28,8)oC tại trạm Sơn Hòa; các tháng 5 tháng 8 đều có nhiệt độ trung bình tháng 28 – 29,5oC, thấp nhất vào tháng 1(22 – 23)oC, lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.600 - 1.700mm

Độ ẩm tương đối của không khí trung bình năm khoảng 80 – 82% ở vùng

Trang 37

tháng mùa mưa đều có độ ẩm tương đối cao, đạt tới 80 – 90%, còn độ ẩm không khí trong các tháng mùa khô tương đối thấp, nhất là vào các tháng 6, tháng 8

Tốc độ gió trung bình năm khoảng 2 – 2,5 m/s ở vùng đồng bằng ven biển, 1,5 – 2 m/s ở vùng đồi núi Tốc độ gió trung bình tháng cao nhất vào các tháng có gió Tây khô nóng (tháng 6, tháng 8), riêng ở trạm Tuy Hòa do chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới nên tốc độ gió trung bình tháng 11 và tháng 12 đạt tới 3,1 m/s Tốc độ gió trung bình tháng thấp nhất khoảng 1 m/s vào tháng 10 ở trạm Sơn Hòa và 1,7 m/s vào tháng 9, tháng 10 tại trạm Tuy Hòa

Hướng gió thịnh hành là hướng Tây Bắc vào các tháng 1,2,3 và tháng 11, 12, hướng gió Đông Bắc vào các tháng 4, 6 và hướng Tây vào các tháng 7, 9

Chế độ lũ ở Phú Yên khá đặc biệt Đặc điểm thủy văn mùa lũ sinh ra do mưa bao trùm lên một diện rộng Trừ mùa lũ chính (từ tháng 9 đến tháng 12) còn có lũ sớm (vào tháng 8), lũ muộn (vào tháng 1), lũ tiểu mãn (vào tháng 5, 6, 7), có khi xuất hiện dị thường vào các tháng không có lũ Lũ lớn thường xuất hiện vào tháng

10 và tháng 11, trong đó nhiều nhất là tháng 11 Do địa hình lưu vực dốc lớn, cường

độ mưa rào cao, nên tốc độ tập trung nước nhanh, làm cho mực nước trên các triền sông trong thời gian mùa lũ lên xuống đột ngột, lũ thường có đỉnh nhọn Như trận lũ lịch sử xuất hiện vào tháng 10/1993 và 11/2009 gây thiệt hại rất lớn về người và của

1.4.2 Tài nguyên thiên nhiên

1.4.2.1 Tài nguyên nước - thuỷ văn:

Nằm ở hạ lưu các con sông lớn chảy qua địa bàn tỉnh: sông Ba, sông Kỳ Lộ, Bàn Thạch, sông Cầu…cùng với hệ thống các suối: suối Cay, suối Đồng Sa, suối Đồng Dài, suối Bà Nam, suối Bà Bông, suối Bình Ninh…tạo nên nguồn nước ngọt khá dồi dào11 Ngoài ra còn có trên 500 ha mặt nước thuộc các đầm, vịnh, ao, hồ tạo nên một vùng sinh thái ven biển đặc thù cho phát triển thuỷ sản Phú Yên có

thì cần 56,7 nghìn m 3 /ngày cho sinh hoạt và ăn uống Rõ ràng khả năng nước dưới đất vùng ven biển Phú

Trang 38

một mạng sông suối phát triển khá dày đặc với mật độ từ 0,3 đến 1,3km/km2, trung bình là 0,5 km/km2

xấp xỉ mạng lưới sông suối của cả nước (0,5 đến 1,0 km/km2) Nhìn chung các sông, suối của Phú Yên bắt nguồn từ các dãy núi cao như dãy Trường Sơn ở phía Tây, Cù Mông ở phía Bắc và Đèo Cả ở phía Nam Hướng chảy chủ yếu của các sông, suối là Tây Bắc -Đông Nam hoặc gần Tây Đông nhưng khi đến đồng bằng ven biển thì lại có xu hướng chảy hơi lệch về phía Bắc Các sông, suối chảy trong địa phận Phú Yên đều có đặc điểm chung là ngắn và dốc, tốc độ dòng chảy lớn Cả tỉnh có khoảng 50 con sông có chiều dài trên 10 km, trong đó phổ biến từ 10 đến 50 km

- Sông Ba: Còn gọi là sông Eapa ở thượng lưu và sông Đà Rằng ở hạ lưu, đây là con sông lớn nhất miền Trung Sông ba bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô (Kon Tum) chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam về An Khê, Cheo Reo đến thị trấn Củng Sơn được nhận thêm nước của các phụ lưu chính: sông Crông Hơnâng đổ vào bên phải sông Ba tại Đức Bình-Sơn Hoà Ngoài ra còn có các sông nhánh nhỏ khác như: sông Cà Lúi, sông Tha bên phải sông Ba Phần thượng nguồn sông chảy qua địa hình núi non hiểm trở, bị phân cắt mạnh, lòng sông hẹp, lắm thác gềnh, độ dốc dòng sông lớn 20% Phần hạ lưu đoạn gần cuối cùng sông chảy hướng gần Tây - Đông, từ Đồng Bò ra đến biển, sông chảy theo hướng hơi lệch về phía Bắc đổ ra cửa Đà Rằng Đoạn sông Ba chảy qua địa phận tỉnh Phú Yên dài khoảng 90km Diện tích lưu vực 13.043km2, chiều dài 360km, phần qua Phú Yên dài khoảng 90km, đoạn chảy qua Tp Tuy Hoà dài khoảng 5 km, lượng dòng chảy trung bình năm khoảng 9,4 tỷ m3, lưu lượng trung bình 280m3/s Dòng chảy vào mùa mưa lũ chiếm từ 69% - 73% tổng lượng dòng chảy cả năm Tháng 10 và 11 thường xuất hiện lũ ở hạ lưu Lòng sông khá rộng, độ dốc nhỏ chỉ khoảng 10

/00 Dọc theo hai bên

bờ sông là các bãi bồi rộng lớn tạo thành cánh đồng phì nhiêu, trù phú thuận lợi phát triển nông nghiệp kỹ thuật cao12

Trang 39

Hình 5 Sông Ba – Phú Yên

Nhìn chung, mạng sông suối ở Phú Yên khá phát triển, mật độ phân bố khá đều trong toàn tỉnh Song có một đặc điểm cần phải lưu ý đó là: Các sông, suối ở đây đều ngắn, dốc, tốc độ dòng chảy lớn Lưu lượng nước sông, suối phụ thuộc rất lớn vào mùa Những tháng mùa mưa, lượng nước trong các sông, suối tăng lên rất mạnh, lưu lượng nước lớn, dòng chảy xiết rất dễ gây nên những trận lũ lụt ác liệt Ngược lại những tháng mùa khô lượng nước lại giảm rất nhanh, rất nhiều đoạn sông, suối bị cạn kiệt và không có nước chảy

Nguồn nước mặt: gồm nước mưa và nước của hệ thống các sông suối, hồ

đầm Lượng nước hàng năm tuy lớn nhưng phân bố không đều trong năm Mùa mưa lượng nước tập trung lớn thường gây ra lũ lụt, ngập úng Ngược lại mùa khô lượng nước mưa ít, thiếu nước, sông cạn, vùng ven biển nước mặn theo các cửa sông xâm nhập gây mặn tràn, mặn ngấm ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của dân cư

Nguồn nước ngầm: Đến nay chưa có kết quả điều tra, đánh giá toàn diện về

tài nguyên nước ngầm, tuy nhiên qua một số tài liệu nghiên cứu chuyên ngành, kết hợp với khảo sát thực tế nhận thấy rằng tài nguyên nước ngầm của vùng ở mức khá, song phân bố không đồng đều giữa các địa phương

1.4.2.2 Tài nguyên đất

Phú Yên có diện tích tự nhiên khoảng 5.060 km2

, nằm ở sườn Đông dãy Trường Sơn, nằm trên trục giao thông Bắc – Nam cả về đường bộ, đường sắt,

Trang 40

đường biển và đường hàng không Địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi hệ thống đồi núi, sông, suối Đỉnh núi cao nhất là đỉnh núi hòn Dù (1.470m) ở huyện Đông Hòa, thấp nhất là vùng đồng bằng có núi Một, núi Sặc, núi Bà (132m) … Đất

ở Phú Yên phân bố không đều trên 9 đơn vị hành chính, đồi núi chiếm 70% diện tích tự nhiên toàn tỉnh

1.4.2.3 Tài nguyên rừng

Với trên 70% diện tích tự nhiên là đất đồi núi, rừng của Phú Yên trở thành một trong những nguồn tài nguyên rừng rất quan trọng Hiện nay, thực vật rừng của tỉnh tồn tại ở 3 kiểu rừng chính:

- Rừng kín lá rộng thường xanh: Đây là kiểu rừng phổ biến ở Phú Yên với

diện tích chiếm khoảng 83% diện tích rừng tự nhiên

- Rừng rụng lá (khộp): Kiểu rừng này chiếm tỷ lệ nhỏ, khoảng 3% diện tích

rừng tự nhiên toàn tỉnh

- Rừng trồng: Theo số liệu thống kê hiện có 25.868 ha rừng trồng và khoảng 8,4 triệu cây phân tán (tương đương 4.200 ha)

* Động vật rừng: Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ từ số liệu của các dự án

kết hợp với quan sát và điều tra bổ sung thực tế cho biết, hệ động vật rừng Phú Yên

khá phong phú có 43 họ chim với 114 loài (trong đó có 7 loài quý hiếm) Thú có 20

họ với 51 loài (trong đó có 21 loài quý hiếm), Bò sát có 3 họ với 22 loài (trong đó

có 2 loài quý hiếm)

Tổng diện tích các hệ sinh thái rừng tự nhiên khoảng 126.061 ha (Sở NN&PTNT), với các kiểu hệ sinh thái tiêu biểu như: kiểu rừng nhiệt đới núi thấp, kiểu rừng mưa ẩm nhiệt đới, rừng thưa nhiệt đới núi thấp rụng lá và nửa rụng lá, rừng truông gai – cây bụi, kiểu thực vật trên cát Trong đó, đáng chú ý các các khu vực có hệ sinh thái rừng đặc dụng tự nhiên vừa mang tính đại diện cho các hệ sinh thái rừng tự nhiên nhiệt đới như khu bảo tồn Kroong Trai (huyện Sơn Hòa)

Ngày đăng: 05/07/2015, 13:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Đánh giá tác động chính sách trong chu trình xây dựng chính sách  Ghi chú: - RRC: Ủy ban kiểm soát văn bản (Reducing Regulation Committee) - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Hình 2. Đánh giá tác động chính sách trong chu trình xây dựng chính sách Ghi chú: - RRC: Ủy ban kiểm soát văn bản (Reducing Regulation Committee) (Trang 12)
Bảng 1. Các bước triển khai thực hiện PIR - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Bảng 1. Các bước triển khai thực hiện PIR (Trang 18)
Hình 3. Sơ đồ tỉnh Phú Yên - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
i ̀nh 3. Sơ đồ tỉnh Phú Yên (Trang 33)
Hình thành các Vũng, vịnh, đầm phá. Cùng với các vùng bãi triều nước lợ, cửa sông  giàu  dinh  dưỡng,  tạo  nên  vùng  nước  lợ  ven  biển  với  3  vùng  sinh  thái  đặc  trưng:  Vùng cửa sông, vùng đầm phá và vùng vịnh với khoảng 21.000 ha là các bãi đẻ  - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Hình th ành các Vũng, vịnh, đầm phá. Cùng với các vùng bãi triều nước lợ, cửa sông giàu dinh dưỡng, tạo nên vùng nước lợ ven biển với 3 vùng sinh thái đặc trưng: Vùng cửa sông, vùng đầm phá và vùng vịnh với khoảng 21.000 ha là các bãi đẻ (Trang 41)
Bảng 3. Một số chỉ tiêu kinh tế mà Phú Yên đạt được trong năm 2011: - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Bảng 3. Một số chỉ tiêu kinh tế mà Phú Yên đạt được trong năm 2011: (Trang 42)
Hình 6. Một đoạn sông sau đập tràn xả lũ trong dự án thủy điện sông Ba Hạ - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Hình 6. Một đoạn sông sau đập tràn xả lũ trong dự án thủy điện sông Ba Hạ (Trang 54)
Hình 7. Thủy điện Sông Ba Hạ làm thay đổi dòng chảy khiến đất sản xuất của người  dân khu phố Đông Hòa, thị trấn Củng Sơn, H.Sơn Hòa, Phú Yên bị xói lở và sông - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Hình 7. Thủy điện Sông Ba Hạ làm thay đổi dòng chảy khiến đất sản xuất của người dân khu phố Đông Hòa, thị trấn Củng Sơn, H.Sơn Hòa, Phú Yên bị xói lở và sông (Trang 54)
Hình 9. Biểu đồ giá trị trung bình các điểm quan trắc trên sông qua các năm - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Hình 9. Biểu đồ giá trị trung bình các điểm quan trắc trên sông qua các năm (Trang 58)
Hình 8. Biểu đồ giá trị BOD trung bình các điểm quan trắc trên sông qua - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Hình 8. Biểu đồ giá trị BOD trung bình các điểm quan trắc trên sông qua (Trang 58)
Bảng 5. Diện tích đất bị thu hồi và số dân di dời khi xây dựng thủy điện tại - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Bảng 5. Diện tích đất bị thu hồi và số dân di dời khi xây dựng thủy điện tại (Trang 59)
Hình 10. Số hộ phải di dân do xây dựng thủy điện - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Hình 10. Số hộ phải di dân do xây dựng thủy điện (Trang 60)
Hình 12. Diện tích rừng bị chuyển mục đích sử dụng sang xây dựng thủy điện từ - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Hình 12. Diện tích rừng bị chuyển mục đích sử dụng sang xây dựng thủy điện từ (Trang 63)
Hình 13. Nguyên nhân chuyển mục đích sử dụng sang xây dựng thủy điện - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Hình 13. Nguyên nhân chuyển mục đích sử dụng sang xây dựng thủy điện (Trang 64)
Hình 14. Diện tích rừng trồng lại sau khi chuyển mục đích sử dụng sang xây dựng - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Hình 14. Diện tích rừng trồng lại sau khi chuyển mục đích sử dụng sang xây dựng (Trang 65)
Bảng 6. Đa dạng sinh học tại KBTTN Krong Trai - Tác động của chính sách môi trường trong phát triển thủy điện ở tỉnh phú yên
Bảng 6. Đa dạng sinh học tại KBTTN Krong Trai (Trang 67)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w