1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Nhà nước tại Việt Nam hiện nay

94 480 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước tại Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Pháp luật
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 434,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước đặt ra trong giai đoạn này là phù hợp với tiến trình đổi mới hoạt động ngân hàng để hội nhập kinh tế quốc tế.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

au gần 20 năm thực hiện các chính sách đổi mới đất nước, có thểthấy, bộ mặt nước ta đang thay đổi từng ngày, từng giờ Điều nàychứng tỏ sự đúng đắn trong các đường lối, chính sách của nhà nước

ta Trong đó, việc tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Nhànước là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong cải cách kinh tế.Vấn đề cổ phần hoá cũng như đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá của cácdoanh nghiệp Nhà nước là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quátrình hội nhập và thực hiện mục tiêu cải cách kinh tế

S

Vấn đề cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước đặt ra trong giaiđoạn này là phù hợp với tiến trình đổi mới hoạt động ngân hàng để hội nhậpkinh tế quốc tế Việc xác định mục tiêu cổ phần hoá, điều kiện cần và đủ đểgiải quyết những vấn đề trong quá trình cổ phần hoá và đảm bảo một ngânhàng sau khi cổ phần hoá đáp ứng được các chuẩn mực Hội nhập kinh tếquốc tế, đủ năng lực cạnh tranh được với các ngân hàng trong nước và trênthế giới là một vấn đề hết sức quan trọng

Trong tiến trình cổ phần hoá các Ngân hàng thương mại nhà nước,một yếu tố có vai trò rất quan trọng chính là mảng pháp luật Chính vì lí do

đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài " Pháp luật về cổ phần hóa Ngân hàng

thương mại Nhà nước tại Việt Nam hiện nay".

Kết cấu đề tài bao gồm:

Chương 1: Khái quát về Ngân hàng thương mại Nhà nước và cổ phầnhóa Ngân hàng thương mại Nhà nước

Chương 2: Pháp luật về cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Nhànước

Trang 2

Chương 3: Thực trạng pháp luật về cổ phần hóa Ngân hàng thươngmại Nhà nước và một số kiến nghị.

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC VÀ

Trang 3

CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC

***

I Khái quát chung về Ngân hàng thương mại nhà nước

1 Khái niệm Ngân hàng thương mại nhà nước

Theo điều 1 Điều lệ mẫu về tổ chức hoạt động của ngân hàng thương mại nhà nước (ban hành theo quyết định số 122/2001/ QĐ-NHNN ngày 20 tháng 2 năm 2001 của Thống đố ngân hàng nhà nước): Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập theo Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, được thực hiện hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.

2 Đặc trưng :

Ngân hàng thương mại Nhà nước là một doanh nghiệp nhà nước, nhưng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chịu sự điều chỉnh của Luật các Tổ chức tín dụng, Luật doanh nghiệp nhà nước và các luật có liên quan Ngân hàng thương mại nhà nước là một tổ chức tín dụng nên có các đặc trưng sau:

- Đối tượng kinh doanh trực tiếp là tiền tệ.

- Hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là hoạt động ngân hang cụ thể là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các hoạt động thanh toán Đây là ngành nghề kinh doanh tiềm ẩn, nguy cơ rủi ro cao do tính kéo dài của các hoạt động kinh doanh Những tác động tích cực và tiêu cực của hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng thưòng có tính dây chuyền ( VD: ngân hàng ACB) Đây là điểm khác biệt giữa các

DN là tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp nhà nước khác nên pháp luật điều chỉnh các loại hình này cũng khác nhau

- Là loại hình doanh nghiệp chịu sự quản lí nhà nước của Ngân hàng Nhà nước và thuộc phạm vi áp dụng pháp luật ngân hàng

Trang 4

Ngoài những đặc trưng trên thì ngân hàng thương mại nhà nước còn có những đặc trưng riêng sau:

- Là ngân hàng thương mại do nhà nước thành lập, thuộc sở hữu nhà nước theo điều 4 của điều lệ: Ngân hàng chịu sự quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước, của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp theo chức năng và quy định của pháp luật.

- Nội dung và phạm vi hoạt động bao gồm:

Việc tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại nhà nước vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp nhà nước.

II Thực trạng các ngân hàng thương mại nhà nước trước khi cổ phần hóa và tính tất yếu phải cổ phần hóa :

1 Thực trạng của các ngân hàng thương mại nhà nước :

Trang 5

a Hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam có qui mô nhỏ, năng lực tài chính yếu; mức độ rủi ro cao, chất lượng tín dụng thấp; khả năng sinh lời thấp; năng suất lao động thấp:

Lợi nhuận ròng của các ngân hàng thương mại nhà nước năm 1998 là 538,3 tỷ đồng, lợi nhuận năm 1999 là 645 tỷ đồng, lợi nhuận năm 2000 là 885,5 tỷ đồng Tuy nhiên, nếu tính đến những khoản nợ khoanh và nợ khó đòi thì thực tế hoạt động kinh doanh của một số ngân hàng thương mại nhà nước là đang ở tình trạng thua lỗ.

Vốn tự có của các ngân hàng thương mại nhà nước rất nhỏ bé cả về số tuyệt đối (5600 tỷ đồng) và tỷ trọng trên tổng tài sản có, tỷ lệ vốn tự có trên tài sản có:

1998 là 3,07%, 1999 là  3,12%, năm 2000 là 2,8% Như vậy mức vốn tự có của các ngân hàng thương mại nhà nước là hết sức nhỏ bé so với chuẩn mực quốc tế tối thiểu là 8%.

Nợ quá hạn trên cân đối của các ngân hàng thương mại nhà nước năm 2000 chiếm 10,78% tổng dư nợ, trong đó ngân hàng ngoại thương là 19,47%, ngân hàng công thương là 24,31%, ngân hàng đầu tư là 2,53%, ngân hàng nông nghiệp là 4,15% Tính đầy đủ các khoản nợ chờ xử lý, nợ phải trả thay, nợ thanh toán công

nợ giai đoạn II đã lên lưới thì tổng số nợ xấu (nợ tồn đọng không sinh lời) lên đến 22.299 tỷ đồng, mức độ nợ xấu trên tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại nhà nước là đáng báo động Mặt khác, việc xếp loại nợ quá hạn khó đòi của ta hiện nay chủ yếu là dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn mà chưa tính đến các tiêu chí khác như nợ đang còn trong diện nợ trong hạn hoặc quá hạn thông thường nhưng thực

tế doanh nghiệp đã bị thua lỗ nặng, khả năng trả nợ rất thấp; như vậy nếu phân loại

nợ xấu theo tiêu chuẩn quốc tế thì thực trạng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước sẽ còn cao hơn số liệu nêu trên  (chiếm 25% tổng dư nợ hiện hành).

Hiện nay, mặc dù vốn điều lệ của các ngân hàng đã tăng mạnh so với trước đây nhưng còn nhỏ bé so với thế giới và khu vực Mức vốn tự có trung bình của

Trang 6

một ngân hàng thương mại Nhà nước là 4.200 tỷ đồng, tổng mức vốn tự có của 5 ngân hàng thương mại Nhà nước chỉ tương đương với một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực Hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm đến trên 75% thị trường huy động vốn đầu vào và trên 73% thị trường tín dụng

Trong khi đó, hệ số an toàn vốn bình quân của các ngân hàng thương mại Việt Nam thấp (dưới 5%), chưa đạt tỷ lệ theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước và thông lệ quốc tế (8%) Chất lượng và hiệu quả sử dụng tài sản Có thấp (dưới 1%), lại phải đối phó với rủi ro lệch kép là rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá

Theo PGS.TS Lê Hoàng Nga, Học viện Ngân hàng, nếu trích lập đầy đủ những khoản nợ khoanh và nợ khó đòi thì vốn tự có của nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam, nhất là ngân hàng thương mại Nhà nước, ở tình trạng âm

2 001

2 002

2 003 Tổng tài sản ( tỷ

VND)

1 79.629

2 39.584

2 99.352

3 78.961

4 70.315 Tốc độ tăng

trưởng(%)

2 5,55

3 3,38

2 4,95

2 6,59

2 4,11 Vốn tự có (VĐL và

1 7.018

Tỷ lệ tăng vốn tự có 1

6%

11%

-7

%

6 9%

4 2%

Trang 7

Hệ số CAR 5,

2%

3, 5%

1 1.244

1 3.082

Nguồn: Báo cáo ngân hàng nhà nước

Một trong những vấn để nan giải nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước hiện nay là vấn đề thiếu vốn Bảng 1 cho thấy vốn tự có của các ngân hàng thương mại nhà nước tăng một cách nhanh chóng và liên tục qua 2 năm 2002,

2003, chủ yếu là do việc Chính phủ thực hiện cấp bổ sung vốn điều lệ Mặc dù số vốn được cấp là tương đối lớn, nhưng nếu tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định tại Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN5 ngày 25/8/1999 thì các ngân hàng thương mại nhà nước chỉ đạt được đạt tỷ lệ an toàn vốn bình quân là 5% (so với mức 2,8% vào năm 2000), thấp xa so với tiêu chuẩn quốc tế (8%)

Bảng 2 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước

999

2 000

2 001

2 002

2 003

Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ 1

4,74

1 1,19

8 ,74

7 ,58

5 ,01 Lợi nhuận ròng/ Vốn tự

có(ROE)

8 ,63

1 2,81

1 5,58

9 ,43

6 ,54 Lợi nhuận ròng/Tổng tài

sản có (ROA)

0 ,36

0 ,36

0 ,38

0 ,3

0 ,38

Nguồn: Báo cáo ngân hàng nhà nước

Trang 8

Hiệu quả hoạt động ( Bảng 2 ):

Theo thông lệ quốc tế, các chỉ số của một ngân hàng được coi là hoạt động tốt là: ROA≥ 1 %; ROE≥ 15 %.

So sánh các chỉ số này với ngân hàng thương mại nhà nước, ta thấy:

Hiệu quả hoạt động thấp ( mức ROA bình quân 0,38%, bằng 1/3 so với mức trung bình ) ROE liên tục giảm qua các năm 2001- 2003, do nợ xấu lớn và

do việc mở rộng hoạt động, chi phí quản lý tăng, trong khi chênh lệch lãi suất bình quân giữa huy động và cho vay có xu hướng giảm

Chỉ tiêu nợ quá hạn mặc dù liên tục giảm qua các năm và hiện ở mức thấp, nhưng đây là nợ theo tiêu chuẩn VAS- tiêu chuẩn kế toán Việt Nam chứ chưa theo IAS- tiêu chuẩn kế toán quốc tế

b Hệ thống dịch vụ còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng về dịch vụ ngân hàng truyền thống Các ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động và cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, chiếm trên 80% tổng thu nhập Hoạt động ngân hàng dựa chủ yếu vào "độc canh" tín dụng, còn quá ít các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, mức độ áp dụng công nghệ vào lĩnh vực hoạt động ngân hàng còn thấp xa so với khu vực.

Trong tham luận gửi về hội thảo, TS Lê Quốc Lý, Vụ trưởng Vụ Tài chính tiền tệ, Bộ Kế hoạch Đầu tư, có viết: “Do không thể đa dạng hóa các loại hình dịch

vụ ngân hàng đã khiến các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu dựa vào công

cụ lãi suất để cạnh tranh thu hút khách hàng Tuy nhiên, công cụ này cũng chỉ có tác dụng ở mức giới hạn nhất định”

Trong khi điểm mạnh của các ngân hàng nước ngoài là dịch vụ thì ngân hàng trong nước vẫn chủ yếu là hoạt động tín dụng Tuy nhiên, hoạt động tín dụng vẫn còn thiếu các định chế quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế như quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ, tài sản có, nhóm khách hàng, loại sản phẩm, kiểm toán nội bộ

Trang 9

Sự đơn điệu trong hoạt động dịch vụ khiến hệ thống ngân hàng quốc doanh không tận dụng được lợi thế về mạng lưới, về khách hàng, về kênh phân phối và công nghệ Cũng chính vì sự đơn điệu nên giá thành dịch vụ của các ngân hàng quốc doanh khá cao so với các nước khu vực Nếu như ở các nước phát triển, ngân hàng thương mại thường là những tổ hợp Ngân hàng - tài chính kinh doanh đa ngành nghề (tín dụng, thanh toán, bảo hiểm, chứng khoán ) thì các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn xoay quanh các sản phẩm truyền thống như: Tín dụng, bảo lãnh thanh toán Một số dịch vụ mới ra đời nhưng vẫn ở mức nhỏ bé, chiếm tỷ trọng thấp trong tổng doanh thu

Một chuyên gia của Ngân hàng Thế giới cảnh báo: Nếu dịch vụ ngân hàng không được cải tiến mạnh mẽ, hệ thống phân phối của ngân hàng trong nước sẽ mất dần, nhất là khi sự phân biệt giữa tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài căn bản được xóa vào năm 2010 Mặt khác với điều kiện hạ tầng kỹ thuật như hiện nay, sẽ rất khó có các ngân hàng nội địa cạnh tranh được với ngân hàng nước ngoài về mặt công nghệ Một cuộc thăm dò ý kiến khách hàng gần đây cho biết: 45% số khách hàng được hỏi, kể cả cá nhân và doanh nghiệp trả lời sẽ chuyển sang vay vốn ngân hàng nước ngoài chứ không vay vốn của ngân hàng Việt Nam Nguyên nhân ngoài lý do chênh lệch lãi suất thì cơ bản là do chất lượng dịch vụ và thủ tục hành chính quá rườm rà phức tạp

c Cơ cấu hệ thống tài chính mất cân đối, tình hình nợ xấu:

Tình hình nợ xấu vẫn có xu hướng giảm nhưng chưa chắc chắn, trong đó đáng chú ý là các tổ chức tín dụng nhà nước Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ quá hạn gia tăng tại các ngân hàng thương mại quốc doanh là do:

- Việc cho vay chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo, trong khi thị trường bất động sản và thị trường hàng hóa chưa phát triển và còn nhiều biến động phức tạp.

Trang 10

- Tự do hóa lãi suất có xu hướng làm cho mặt bằng lãi suất trong nước tăng lên, tạo điều kiện thu hút thêm tiết kiệm vào hệ thống ngân hàng

Tuy nhiên, lãi suất tiền gửi tăng lên làm cho lãi suất cho vay cũng tăng, tạo thêm gánh nặng về chi phí cho các doanh nghiệp phụ thuộc nặng nề vào nguồn vay từ ngân hàng Hậu quả là, ngân hàng vẫn tiếp tục cho vay để nuôi nợ, dẫn đến tình trạng mất vốn ngày càng lớn

Một yếu điểm nữa của thị trường tài chính nước ta là, cơ cấu hệ thống tài chính còn mất cân đối, hệ thống ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế chủ yếu Tính chung cả nội tệ và ngoại tệ, thì số vốn vay huy động ngắn hạn chuyển cho vay trung và dài hạn chiếm tới khoảng 50% tổng số

vốn huy động ngắn hạn Như một chuyên gia kinh tế đã nói, việc sử dụng vốn cho

vay trung và dài hạn ở nước ta hiện nay tới 50% là quá cao, nếu duy trì quá lâu sẽ

là yếu tố gây rủi ro lớn và có nguy cơ gây ra thiếu an toàn cho toàn bộ hệ thống

d Sự bất cập của cơ chế là nguyên nhân chính để các ngân hàng quốc doanh khó lớn mạnh

Trong môi trường cạnh tranh, đòi hỏi phải có những phản ứng nhanh nhưng

cơ chế của doanh nghiệp nhà nước còn quá nhiều thứ bất cập Cơ chế tuyển dụng cán bộ, quản lý tài chính, đầu tư thiết bị vẫn tồn tại từ hàng chục năm nay với quá nhiều thủ tục và cửa ải, không thể cạnh tranh được với ngoài quốc doanh.

Ví dụ như : Quy trình bổ nhiệm, đề bạt, miễn nhiệm cán bộ hiện còn phải qua quá nhiều vòng vẫn chưa có gì thay đổi Theo đó, muốn bầu 1 Tổng giám đốc, ứng viên đó phải thuộc diện quy hoạch, sau đó lấy ý kiến của các chi nhánh, đơn

vị trực thuộc, thông qua cấp ủy, hội đồng quản trị, ngân hàng nhà nước, Ban Nội chính, Ban Tổ chức Chính phủ với gần 10 vòng Nhưng đâu là người chịu trách nhiệm cuối cùng về chất lượng cán bộ thì không quy định rõ Trong khi đó, với một ngân hàng cổ phần, chỉ cần đăng thông báo tuyển dụng, sàng lọc hồ sơ và hội đồng quản trị phỏng vấn trực tiếp là có thể tìm kiếm được 1 giám đốc

Trang 11

Mức lương, chính sách đãi ngộ cán bộ cũng là một vấn đề Ông Vũ Viết Ngoạn, Tổng giám đốc Vietcombank cho biết, trong những năm qua, Viecombank liên tục có lãi, năm 2005, lãi ròng hơn 1.000 tỷ, tài chính lành mạnh nhưng việc đãi ngộ nhân viên lại phải do nhà nước quy định Nếu như ở ngân hàng cổ phần, lương tổng giám đốc không dưới 5 ngàn USD thì ở ngân hàng quốc doanh, chỉ được xấp xỉ 10 triệu đồng Cũng chính vì sự thiếu năng động trong chính sách đãi ngộ, nên ngân hàng quốc doanh luôn đối mặt với nguy cơ chảy máu chất xám Một

số ít tâm huyết với nghề, nín thở chờ đợi thời điểm biến thành ngân hàng cổ phần Một số khác, không đủ kiên nhẫn đã chia tay Mỗi năm Vietcombank đã mất vài

ba chục cán bộ giỏi, riêng năm ngoái mất hơn 50 người cũng chỉ vì lý do thu nhập.

TS Nguyễn Văn Nam, cựu thành viên Ban nghiên cứu Thủ tướng cho rằng, thói quen làm việc dưới các chính sách ưu đãi của Nhà nước, vì sự bất tài, hay thói quen dựa vào sự lỏng lẻo của cơ chế quản lý nhà nước để dễ kiếm chác, trục lợi lại thích được tiếp tục duy trì là doanh nghiệp quốc doanh, vừa ổn định, không mất ghế mà vẫn kiếm được Còn khi chuyển sang cơ chế cổ phần, năng lực công tác là một sự cạnh tranh thực sự, và cơ chế tài chính cũng được giám sát chặt chẽ hơn bởi các cổ đông Đó cũng chính là lý do để hệ thống ngân hàng quốc doanh chậm chuyển đổi

e Năng lực quản lý điều hành còn hạn chế

Mặc dù trong thời gian qua, công tác nâng cao năng lực quản trị điều hành của ngân hàng thương mại nhà nước đã được tăng cường, nhưng hiện vẫn còn nhiều tồn tại, đặc biệt là trong công tác quản trị rủi ro tín dụng, dẫn đến tỉ lệ nợ quá hạn có chiều hướng gia tăng, chất lượng tín dụng chưa đồng đều Các phần việc khác như: Xây dựng định chế quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ, tài sản có, kiểm toán nội bộ hiện mới bắt đầu triển khai với sự trợ giúp của các công ty tư vấn trong nước và quốc tế Hệ thống cơ chế khuyến khích bao gồm cơ chế lương, thưởng và xử phạt hiện chưa thích hợp và chưa tạo được động lực Bên cạnh đó,

Trang 12

tính minh bạch thấp là một tồn tại khiến cho công chúng và các nhà đầu tư trong

và ngoài nước thiếu lòng tin vào ngân hàng thương mại nhà nước

Hội nhập kinh tế là một xu hướng tất yếu, do đó, cạnh tranh của một doanh nghiệp không còn bó hẹp trong phạm vi giữa các doanh nghiệp hay phạm vi quốc gia mà nó đã mở rộng phạm vi toàn thế giới Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ

IX của Đảng đã nêu rõ chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế, nhấn mạnh phương châm chủ động hội nhập với các nguyên tắc phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác, giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa Riêng đối với Ngành Ngân hàng, việc Việt Nam gia nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và việc thực hiện Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ sẽ mang lại nhiều cơ hội cho các ngân hàng trong nước Song, những thách thức từ những quá trình này sẽ là rất lớn bởi các ngân hàng thương mại trong nước hiện tại đang thể hiện khả năng cạnh tranh kém hơn so với các ngân hàng nước ngoài trên tất cả các phương diện về năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành, kinh nghiệm kinh doanh.

Vì vậy, các ngân hàng thương mại trong nước nói chung và các ngân hàng thương mại nhà nước nói riêng không còn cách nào khác là phải tăng cường năng lực tài chính cũng như khả năng cạnh tranh để đối mặt với những thách thức từ hội nhập

Vì vậy, cổ phần hóa là giải pháp để các ngân hàng thương mại nhà nước khắc phục tất cả những yếu kém trên, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong tiến trình hội nhập.

2 Sự cần thiết phải cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước:

Hoạt động ngân hàng, trong đó ngân hàng thương mại nhà nước với vai trò chủ đạo đã có sự đóng góp rất lớn vào sự thành công trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đã triển khai thực hiện chính sách tiền tệ một cách tích cực, cơ bản ổn định được giá trị và sức mua của đồng tiền, kìm chế lạm phát, tăng dự trữ ngoại tệ cho

Trang 13

quốc gia và góp phần tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển chung của nền kinh tế, chưa phát huy hết chức năng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả để làm cho kinh tế nhà nước thực sự đóng vai trò chủ đạo.

Việc cổ phần hóa ngân hàng là một khâu trong quá trình đổi mới hoạt động ngân hàng, củng cố và cơ cấu lại các ngân hàng thương mại theo hướng tiếp tục phát huy thành tựu, khắc phục những tồn tại nhằm nâng cao năng lực tài chính, trình độ công nghệ, năng lực tổ chức kinh doanh đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công cuộc đổi mới trong những năm tới.

Ngân hàng thương mại nhà nước đang đứng trước thực trạng nợ tồn đọng lớn, vốn tự có quá thấp so với nhu cầu thực tiễn và so với các ngân hàng trên thế giới, tình trạng này đang làm hạn chế khả năng huy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng.

Do yêu cầu của công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước cần phải có một khối lượng vốn, vì vậy cần phải có ngân hàng thương mại đủ tiềm lực tài chính để thực hiện phân phối và sử dụng vốn một cách hiệu quả Chính vì vậy, đặt ra vấn đề

cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước là rất cần thiết.

Quá trình thực hiện Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và chuẩn bị hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế với việc tự do hóa tài chính đã làm cho môi trường cạnh tranh gay gắt hơn, đầy rủi ro hơn Bối cảnh này đã đặt ra cho ngành ngân hàng cần thiết phải cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước.

Với những yêu cầu hết sức cần thiết và bức xúc như đã nêu trên, đòi hỏi trong hoạt động của ngân hàng Việt Nam phải có một ngân hàng với quy mô lớn, năng lực tài chính mạnh trong khi các ngân hàng thương mại nhà nước cũng như các ngân hàng thương mại cổ phần không thể đáp ứng được thì vấn đề cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước là một yêu cầu cần thiết khách quan.

III Cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước

Trang 14

1 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Là quá trình chuyển đổi từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu thành doanh nghiệp

có nhiều chủ sở hữu ( công ty cổ phần ) Cổ phần hóa nói chung có thể diễn ra tại các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh và các doanh nghiệp nhà nước Cổ phần hóa là quá trình đa dạng hóa sở hữu tại doanh nghiệp.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, trong đó nhà nước có thể vẫn giữ tư cách là một

cổ đông, tức là nhà nước vẫn có thể là chủ sở hữu một bộ phận tài sản của doanh nghiệp Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không chỉ là quá trình chuyển sở hữu nhà nước sang sở hữu của các cổ đông, mà còn cả hình thức doanh nghiệp nhà nước thu hút vốn thông qua hình thức bán cổ phiếu để trở thành công ty cổ phần.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước liên quan chặt chẽ tới việc tôn trọng

và phát huy sở hữu cá nhân không chỉ trong chế độ tư bản chủ nghĩa mà cả trong chế độ xã hội chủ nghĩa Người lao động trong công ty cổ phần sẽ vừa là người làm thuê vừa là cổ đông nên có quan hệ lợi ích chặt chẽ với doanh nghiệp, còn trong doanh nghiệp nhà nước chủ sở hữu là nhà nước, chung chung, mơ hồ, không gắn quyền sở hữu với quyền sử dụng.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một cuộc cách mạng triệt để thay đổi cách tổ chức hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp, thay đổi cơ bản mối quan

hệ doanh nghiệp với nhà nước và tạo điều kiện cho doanh nghiệp thích ứng với hoạt động cạnh tranh trong cơ chế thị trường.

Công ty cổ phần là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất xã hội hóa và nền kinh tế thị trường phát triển Việc chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang công ty

cổ phần là do tính xã hội hóa của sản xuất, do quy luật cạnh tranh trong nền kinh

tế thị trường quyết định và thúc đẩy, đó là quá trình khách quan, không phải do ý muốn chủ quan của bất kì thể chế chính trị hay cá nhân nào.

Trang 15

2 Cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước :

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nói chung, ngân hàng thương mại nhà nước nói riêng là xu thế tất yếu của quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập Nó không chỉ là quá trình đa sở hữu và hữu danh hoá quyền sở hữu, mà còn

là phương thức căn bản để tích tụ, tập trung tư bản và tạo ra thị trường tài chính hoàn hảo Thị trường tài chính phát triển vừa là qui luật của kinh tế thị trường vì nhờ nó mà lưu thông hàng hoá, lưu thông vốn được mở rộng nhanh chóng, song tính dễ bị tổn thương, tính nhạy cảm và nhất là tính lan toả và ảnh hưởng lẫn nhau của thị trường tài chính cũng là thách thức lớn đối với mọi quốc gia có nền kinh tế thị trường Vấn đề là không thể lẩn tránh thách thức, do đó phải chủ động nhận dạng, phân tích và ứng phó thích hợp trên cơ sở tôn trọng và khai thác tối đa những mặt tích cực của các qui luật thị trường cũng như qui luật toàn cầu hoá ngày nay Cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam chưa có tiền lệ, là việc rất phức tạp và diễn ra trong môi trường thị trường tài chính còn sơ khai, nhưng không thể dẫm chân tại chỗ, càng không thể chỉ đưa việc đại sự này vào

"phòng thí nghiệm" để phát tín hiệu dần dần vì chúng ta có kinh nghiệm từ nước ngoài, có chủ trương của Đảng và Nhà nước và trên hết là trong nền kinh tế thị trường không thể tiếp tục duy trì quá lâu qui mô và phương thức hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nhà nước như hiện nay ở môi trường kinh tế mới

Cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước sẽ khắc phục được những vấn đề gì?

Ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) khi chuyển sang ngân hàng thương mại cổ phần sẽ loại bỏ được sự thiếu minh bạch trong các mục tiêu và chiến lược mà ngân hàng theo đuổi, buộc lãnh đạo ngân hàng phải làm việc vì lợi ích của cổ đông và vì vậy buộc họ phải nỗ lực hết sức mình nếu không muốn bị các cổ đông phế truất địa vị lãnh đạo.

Trang 16

Bên cạnh đó, cổ phần hóa giúp các ngân hàng huy động nguồn vốn từ công chúng để phát triển và đảm bảo an toàn kinh doanh, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và tự

do hóa tài chính Ngoài ra, cổ phần hóa còn giảm bớt áp lực đè nặng lên ngân sách nhà nước, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển

Những lợi ích có được từ cổ phần hóa:

Dưới góc độ quản lí vĩ mô:

Cổ phần hoá thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn và thị trường các dịch vụ tài chính Theo con số thống kê mới nhất, tổng giá trị chứng khoán hoá trên thị trường chứng khoán Việt Nam chiếm khoảng 0,5% GDP (trên dưới 2.000

tỷ đồng) với sự tham dự của 28 công ty niêm yết trên thị trường và khoảng 19.000

cổ đông Việc cổ phần hóa một hoặc một số ngân hàng thương mại nhà nước chắc chắn sẽ thổi một luồng sinh khí mới vào hoạt động của thị truờng chứng khoán Sự sôi động của thị trường càng gia tăng khi có các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính cũng được niêm yết và giao dịch cổ phiếu Niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng thương mại cổ phần và cổ phần hóa một bộ phận ngân hàng thương mại nhà nước sẽ được coi là cuộc cách mạng lần thứ hai trong quá trình tiếp tục đổi mới hoạt động ngân hàng ở Việt Nam, được thực hiện sau một thời gian chấn chỉnh và củng cố sắp xếp lại mỗi khối ngân hàng này Nền kinh

tế phát triển nhanh theo cơ chế thị trường thì yêu cầu xây dựng hệ thống trung gian tài chính vững mạnh là tất yếu khách quan.

Dưới góc độ quản lý vi mô của ngân hàng:

- Cổ phần hóa sẽ giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động:

Hiệu quả ở đây thể hiện qua các góc độ:

Thứ nhất, đó là nâng cao hệ số an toàn vốn: Cổ phần hóa các ngân hàng

Trang 17

thống ngân hàng Việt Nam Một trong những trọng tâm của nó là việc nâng vốn của các ngân hàng thương mại nhà nước lên càng sớm càng tốt, để khi tiến hành

cổ phần hóa xong thì tỷ lệ an toàn vốn phải đạt chuẩn quốc tế; Phấn đấu trong thời gian tới, các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam có thể đạt mức trung bình tiên tiến của khu vực Cổ phần hóa thực chất là một giải pháp để có thể đạt được mục tiêu này

Thứ hai, tăng cường năng lực quản trị điều hành và hiện đại hoá ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và sử dụng vốn

Thứ ba, tăng cường năng lực kiểm soát nội bộ, hoạt động kinh doanh an toàn, lành mạnh theo chuẩn mực quốc tế, làm giảm những khoản nợ xấu và tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, buộc ngân hàng phải ứng xử theo quy luật thị trường và cơ cấu lại nhằm tối đa hoá lợi nhuận.

- Cổ phần hóa sẽ thay đổi phương thức quản lý và nhận thức của người lao động :

Ngân hàng thương mại nhà nước khi cổ phần hóa sẽ loại bỏ sự thiếu minh bạch, buộc lãnh đạo ngân hàng phải làm việc vì lợi ích của cổ đông, và vì vậy buộc họ phải nỗ lực hết mình nếu không muốn bị cổ đông phế truất địa vị lãnh đạo Khi cổ phần hóa, giám đốc phải chịu sự giám sát chặt chẽ trong điều hành hoạt động ngân hàng Điều này buộc người lãnh đạo phải trở nên năng động, cầu tiến, có trách nhiệm thực sự đối với công việc

Đối với người lao động, khi quyền lợi riêng đã được gắn kết với quyền lợi chung, người lao động sẽ luôn quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.

- Cổ phần hóa sẽ thu hút được các nhà đầu tư chiến lược:

Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, việc cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước ngoài mục đích tăng cường tiềm lực về vốn, tạo sự chủ động trong hoạt động, còn có một mục tiêu quan trọng là thu hút các nhà đầu tư

Trang 18

chiến lược mà ở đây chủ yếu là các tập đoàn nước ngoài Hiện nay, Dragon Capital của Anh đã đầu tư vào 3 ngân hàng thương mại cổ phần: ACB, VP Bank

và Sacombank; Deutsche Bank của Đức sẽ mua cổ phần của Eximbank dự kiến khoảng từ 20- 30% vốn điều lệ Việc thu hút các nhà đầu tư chiến lược có ý nghĩa quan trọng như:

- Khai thác kinh nghiệm quản lý, điều hành ngân hàng hiện đại

- Khai thác các công nghệ ngân hàng tiên tiến.

- Tận dụng mạng lưới chi nhánh, đại lý của các nhà đầu tư này để mở rộng hoạt động.

Những vấn đề đặt ra trong quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước:

Thực hiện cổ phần hóa đối với ngân hàng thương mại là vấn đề mới của ngành ngân hàng, do đó sẽ có những khó khăn nhất định Việc thực hiện cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước cần rút kinh nghiệm từ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, không thực hiện chủ quan, nhưng cũng không được chậm trễ, do đó khi thực hiện phải đảm bảo :

Về quy mô vốn tự có:

Hiện nay về quy mô vốn hoạt động của một ngân hàng trung bình trên thế giới khoảng từ một tỷ USD trở lên Do đó, trong quá trình hội nhập và để đủ năng lực trong cạnh tranh, các ngân hàng thương mại nhà nước được cổ phần hóa đạt quy mô vốn ít nhất phải tương ứng với một ngân hàng trung bình trên thế giới, tức

là mức vốn tự có của ngân hàng này phải đạt từ 16.000 tỷ đồng trở lên trong đó, vốn sở hữu của nhà nước đạt tối thiểu 8.160 tỷ đồng, phần còn lại gọi vốn từ cổ đông trong và ngoài nước.

Quy mô vốn của ngân hàng cổ phần hóa phải luôn luôn bảo đảm được yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% trên tổng tài sản có, đây là một chuẩn mực quốc

Trang 19

Về mức vốn giữ vai trò chi phối của nhà nước trong ngân hàng được cổ phần hóa.

Ngân hàng thương mại nhà nước khi thực hiện cổ phần hóa tuy hình thức chủ sở hữu có sự thay đổi nhưng vai trò chủ đạo trong việc triển khai thực hiện chính sách tiền tệ vẫn không thay đổi mà vẫn tiếp tục phát huy dưới hình thức mới được điều hành bởi một Hội đồng quản trị theo cơ chế quản lý phù hợp Vì vậy, nhất thiết ngân hàng thương mại nhà nước khi thực hiện cổ phần hóa vốn nhà nước tham gia phải nắm vai trò điều phối với tỷ lệ tối thiểu 51%.

Việc này có thể thực hiện thông qua hình thức :

- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại ngân hàng thương mại nhà nước (xem đó là 51%), phần 41% còn lại sẽ phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn

từ các cổ đông trong và ngoài nước.

- Mức vốn điều lệ tăng đến đâu thì vốn của nhà nước luôn giữ tỷ trọng 51%.

Về góp vốn của cổ đông nước ngoài:

Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia góp vốn để thu hút các nguồn lực ngoài nước, tỷ lệ tham gia của các cổ đông nước ngoài dần dần được mở rộng nhưng tỷ lệ tối đa không quá 30% vốn điều lệ Trong đó, nên tập trung ưu đãi cho các cổ đông nước ngoài là các ngân hàng nước ngoài với tỷ lệ góp vốn tối đa không quá 20% vốn tự có Bởi vì chính các ngân hàng này sẽ là cơ

sở, điều kiện giúp cho ngân hàng được cổ phần hóa mở rộng phát triển mạng lưới hoạt động (chi nhánh, văn phòng đại diện) đến các nước sở tại này.

Về vai trò chủ đạo trong thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng được

cổ phần hóa :

Ngân hàng thương mại nhà nước sau khi cổ phần hóa phải trở thành một ngân hàng cùng với hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước là lực lượng nòng cốt trong lĩnh vực ngân hàng, là ngân hàng triển khai thực hiện tốt chính sách tiền

Trang 20

tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, là một ngân hàng có khả năng huy động tốt mọi tiềm lực kinh tế xã hội trong và ngoài nước để phân phối và sử dụng một cách

an toàn hiệu quả, an toàn góp phần thực hiện thành công công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước.

Việc cổ phần hóa ngân hàng đảm bảo ổn định được hoạt động tiền tệ-tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế.

Về tình hình tài chính:

Mặc dù hiện nay, Chính phủ đã có những chủ trương xử lý nợ tồn đọng và các ngân hàng thương mại nhà nước đã tích cực xử lý nhưng nhìn chung tỷ lệ nợ tồn đọng vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao Kinh nghiệm từ thực tiễn cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước về việc xử lý nợ tồn đọng luôn luôn là vấn đề hết sức khó khăn, phụ thuộc vào các cơ chế chính sách xử lý nợ, sự phối hợp của các cơ quan chức năng trong việc xử lý nợ Ngoài ra, việc xác định thực tế giá trị ngân hàng để

cổ phần hóa cũng không phải là vấn đề đơn giản, hiện nay đã có nhiều phương pháp để xác định giá trị tài sản hữu hình nhưng việc xác định giá trị tài sản vô hình đang gặp vướng mắc trong xác định thương hiệu và vị thế hoạt động:

- Xử lý các khoản nợ tồn đọng, đặc biệt Nhà nước phải có cơ chế xử

lý dứt điểm các khoản nợ theo chủ trương như nợ cho vay thanh toán công nợ, nợ khoanh… Đây là một thực trạng khó khăn của các ngân hàng thương mại nhà nước hiện nay Quá trình xử lý nợ đọng sẽ kéo dài thời gian ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hóa.

- Xây dựng một ngân hàng cổ phần hóa đủ thực lực tài chính cạnh tranh trên thị trường quốc tế Muốn thực hiện được điều này, cần phải xác định chính xác giá trị thực tế của ngân hàng được cổ phần hóa, đưa ra một mức giá phù hợp mà người mua và cả người bán đều có thể chấp nhận được, trên cơ sở đó việc gọi vốn góp cổ đông rất dễ dàng.

Xác định chiến lược kinh doanh ngân hàng:

Trang 21

Các nội dung khác của tiến trình cổ phần hóa mặc dù được chuẩn bị tốt đến đâu nhưng không xác định được mục tiêu, chiến lược phát triển kinh doanh của ngân hàng thì cũng không thể đánh giá được tầm quan trọng của ngân hàng được

cổ phần hóa cũng như không thể làm cơ sở xác định được hiện giá ròng trong tương lai của ngân hàng.

Vì vậy, ngân hàng thương mại cổ phần hóa phải xây dựng được chiến lược kinh doanh mới theo thông lệ quốc tế và là một ngân hàng đa năng với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại như thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, đầu tư tài chính, thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường mua bán nợ…

Đảm bảo được hoạt động kinh doanh của ngân hàng được cổ phần hóa theo nguyên tắc thị trường, đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế.

Việc cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước phải gắn liền với việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mở rộng và phát triển mạng lưới hoạt động ra các nước trên thế giới đặc biệt là các nước có cổ đông góp vốn (đây sẽ là một ưu thế của ngân hàng cổ phần hóa ).

***

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC HIỆN NAY.

***

A- KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT CỔ PHẦN HÓA NGÂNHÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC QUA TỪNG GIAI ĐOẠN.Pháp luật về cổ phần hóa nói chung đã tồn tại từ những năm đầu củathập niên 90 và tiếp tục được sửa đổi bổ sung nhiều lần cho tới nay Tuynhiên, đến tận năm 2005, Ngân hàng thương mại Nhà nước đầu tiên là Ngânhàng Ngoại thương Việt Nam mới thực hiện cổ phần hóa Do vậy, pháp luật

Trang 22

về cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Nhà nước sẽ được áp dụng kể từ năm

2005 Về nguyên tắc, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam áp dụng theo cácvăn bản cũ (trước nghị định 109), đó là

- Nghị định số 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ về việcchuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần

- Thông tư 126/2004/TT-BTC ngày 24.12.2004 của Bộ tàichính

- Thông tư 40/2004/TT-BTC hướng dẫn kế toán khichuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần

- Thông tư 95 /2006/TT-BTC sửa đổi, bổ sung TT số126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của BTC hướng dẫn thực hiện

NĐ số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của CP về chuyển công tynhà nước thành công ty cổ phần

Tuy nhiên, trong quá trình cổ phần hóa, Ngân hàng ngoại thương đãgặp phải một số vướng mắc và đã phải chờ chỉ đạo trực tiếp từ Chính phủ vàNgân hàng Nhà nước Việt Nam Hiện nay, sau khi thí điểm cổ phần hóaNgân hàng ngoại thương, hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện hơn Cụ thểhiện nay, các Ngân hàng thương mại Nhà nước còn lại sẽ áp dụng các vănbản sau khi cổ phần hóa:

- Nghị định 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốnnhà nước thành công ty cổ phần

- Nghị định 110/2007/NĐ-CP về Chính sách cho người lao độngdôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước

- Thông tư 146/2007/TT-BTC Ngày 06 Tháng 12 năm 2007

Trang 23

nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại nghịđịnh 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ.

- Thông tư 20/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện chínhsách đối với người lao động theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26tháng 06 năm 2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhànước thành công ty cổ phần

Bài nghiên cứu sẽ đi sâu vào các quy định hiện hành về cổ phầnhóa Ngân hàng thương mại Nhà nước trong giai đoạn thứ hai

B- PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNGTHƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

I Đối tượng và nguyên tắc cổ phần hóa.

1 Đối tượng cổ phần hóa

Đối tượng cổ phần hóa được quy định tại điều 2 nghị định109/2007/NĐ-CP bao gồm

- Công ty nhà nước độc lập thuộc các Bộ, ngành, địa phương

- Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế (sau đây gọi tắt là tập đoàn),Tổng công ty nhà nước (kể cả Ngân hàng Thương mại nhà nước)

- Công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ - công ty con

- Công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty doNhà nước quyết định đầu tư và thành lập

- Đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty nhà nước độc lập, tậpđoàn, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ, công ty thành viên hạch toán độclập của Tổng công ty

Trang 24

- Công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước nắm giữ 100% vốnđiều lệ.

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, các Ngân hàng thương mạiNhà nước chính là một trong các đối tượng điều chỉnh của pháp luật về cổphần hóa Bởi vậy, việc cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại Nhà nước

sẽ được điều chỉnh bởi các văn bản sau:

- Nghị định 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.

- Nghị định 110/2007/NĐ-CP về Chính sách cho người lao động dôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước.

- Thông tư 146/2007/TT-BTC Ngày 06 Tháng 12 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển danh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ.

- Thông tư 20/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lao động theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 06 năm 2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.

Ngoài việc là đối tượng được nêu ở điều 2, các Ngân hàng thương mạiNhà nước còn phải đáp ứng các quy định tại điều 3 nghị định 109:

- Không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Các Ngân hàng thương mại Nhà nước đều đáp ứng đủ yêu cầu nàytheo kế hoạch cổ phần hóa của Chính phủ Theo đó, tất cả các Ngân hàngthương mại Nhà nước đều thuộc diện cổ phần hóa Chính phủ đã có nhiều

Trang 25

văn bản, chỉ thị đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa Ngân hàng thương mạiNhà nước, cụ thể là Chỉ thị số 04/2005/CT-TT của Chính phủ

- Còn vốn nhà nước sau khi đã được xử lý tài chính và đánh giálại giá trị doanh nghiệp

Đây cũng là điều kiện mà các Ngân hàng thương mại Nhà nước đápứng được Hiện nay, các ngân hàng đều hoạt động tương đối tốt và có vị tríkhá vững trong ngành Cụ thể, đó đều là những ngân hàng có khả năng cạnhtranh và thị phần tương đối cao, lợi nhuận hàng năm đủ đảm bảo để các ngânhàng còn vốn Nhà nước sau cổ phần hóa

2 Nguyên tắc cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại Nhà nước.

Nguyên tắc cổ phần hóa Ngân hàng Nhà nước thành công ty cổ phầnđược quy định tại phần I thông tư 146/2007/TT-BTC hướng dẫn nghị định

109 Có hai nguyên tắc chung đối với quá trình cổ phần hóa được áp dụngđối với Ngân hàng thương mại Nhà nước như sau:

a Nguyên tắc Nhà nước không cấp thêm vốn cho cổ phần hóa khi không còn vốn Nhà nước.

Ngân hàng cổ phần hoá phải kiểm kê, xử lý tài chính và đánh giá lạigiá trị doanh nghiệp, giá trị phần vốn nhà nước tại Ngân hàng Trường hợpgiá trị phần vốn nhà nước tại Ngân hàng không còn thì áp dụng hình thứcsắp xếp khác phù hợp theo quy định của pháp luật

b Nguyên tắc quá trình cổ phần hóa phải đảm bảo chặt chẽ, công khai, minh bạch, không làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước.

Nguyên tắc này còn được quy định tại điều 11.1 nghị định 109 Theo

đó, Ngân hàng cổ phần hóa phải thực hiện công khai, minh bạch các thông

Trang 26

tin về Ngân hàng, về phương án cổ phần hóa, tình hình quản lý và sử dụngđất đai, lao động theo đúng quy định tại Luật Doanh nghiệp và các quy địnhkhác của pháp luật Ngoài ra, tại mục I.4 thông tư 146 còn quy định, các tổchức, cá nhân không chấp hành chế độ nhà nước, gây ra tổn thất hoặc thấtthoát tài sản nhà nước thì tổ chức, cá nhân đó chịu trách nhiệm hành chính,bồi thường vật chất hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định củapháp luật.

c Nguyên tắc kế thừa quyền và nghĩa vụ của công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Nguyên tắc này được quy định tại điều 10 nghị định 109 như sau:

1 Doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm sắp xếp, sử dụng tối đa

số lao động tại thời điểm quyết định cổ phần hóa và giải quyết chế độ cho người lao động nghỉ việc, thôi việc theo quy định hiện hành

Công ty cổ phần có nghĩa vụ kế thừa mọi trách nhiệm đối với người lao động từ doanh nghiệp cổ phần hóa chuyển sang; có quyền tuyển chọn,

bố trí sử dụng lao động và phối hợp với các cơ quan liên quan giải quyết chế độ cho người lao động theo quy định của pháp luật.

2 Doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có liên quan kiểm tra, xử lý những vấn đề về tài chính để xác định giá trị phần vốn nhà nước tại thời điểm chính thức chuyển thành công ty cổ phần

3 Công ty cổ phần được sử dụng toàn bộ tài sản, nguồn vốn đã nhận bàn giao để tổ chức sản xuất, kinh doanh; kế thừa mọi quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp cổ phần hóa đã bàn giao và có các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Trang 27

Các nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp cổ phần hóa được xác định bổ sung sau khi đã quyết toán, bàn giao cho công ty cổ phần không thuộc trách nhiệm của công ty cổ phần

II Xử lí các vấn đề tài chính khi cổ phần hóa Ngân hàng

thương mại Nhà nước.

1 Kiểm kê và phân loại tài sản công nợ

1.1 Thời điểm kiểm kê và xác định giá trị doanh nghiệp

a Thời điểm kiểm kê và xác định giá trị doanh nghiệpThời điểm kiểm kê và xác định giá trị doanh nghiệp được quy định tạimục II.A thông tư 146 như sau:

Khi nhận được thông báo hoặc quyết định cổ phần hoá của cơ quan cóthẩm quyền, doanh nghiệp cổ phần hoá có trách nhiệm kiểm kê, phân loại tàisản doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng tại thời điểm xác định giá trị doanhnghiệp

Thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp do cơ quan quyết định cổphần hoá quyết định phù hợp với thời điểm khóa sổ kế toán, lập báo cáo tàichính và phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp được lựa chọn, cụ thể:

- Đối với trường hợp áp dụng phương pháp xác định giá trịdoanh nghiệp theo phương pháp tài sản, thời điểm kiểm kê và xác định giátrị doanh nghiệp là thời điểm kết thúc quý gần nhất với thời điểm có quyếtđịnh cổ phần hóa

- Đối với trường hợp áp dụng phương pháp xác định giá trị doanhnghiệp theo phương pháp dòng tiền chiết khấu, thời điểm kiểm kê và xác

Trang 28

định giá trị doanh nghiệp là thời điểm kết thúc năm tài chính gần nhất vớithời điểm có quyết định cổ phần hóa.

Ngoài ra, cần chú ý rằng, doanh nghiệp cổ phần hoá sử dụng báo cáotài chính năm đã được kiểm toán để làm căn cứ xác định vốn bằng tiền, cáckhoản công nợ Trường hợp thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp khôngtrùng với thời điểm báo cáo tài chính năm, doanh nghiệp phải lập báo cáo tàichính tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

b Thời điểm công bố giá trị doanh nghiệp và giá trị phần vốn nhànước tại doanh nghiệp

Thời điểm công bố giá trị doanh nghiệp và giá trị phần vốn nhà nướctại doanh nghiệp cách thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp tối đa khôngquá 6 tháng đối với trường hợp xác định giá trị doanh nghiệp theo phươngpháp tài sản và không quá 9 tháng đối với trường hợp xác định giá trị doanhnghiệp theo phương pháp dòng tiền chiết khấu

Trường hợp quá thời hạn trên chưa công bố được giá trị doanh nghiệp,giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp để cổ phần hoá, cơ quan quyếtđịnh cổ phần hoá xem xét, quyết định kéo dài thời gian xác định giá trịdoanh nghiệp nhưng phải đảm bảo nguyên tắc thời điểm công bố giá trịdoanh nghiệp và giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp cách thời điểmxác định giá trị doanh nghiệp không quá 12 tháng

1.2 Kiểm kê và phân loại tài sản, công nợ

Việc kiểm kê và phân loại tài sản công nợ được quy định tại điểm Bmục II thông tư 146 Theo đó, đối với Ngân hàng thương mại Nhà nước,việc kiểm kê, đánh giá, phân loại tài sản là vốn bằng tiền, tài sản cho thuê tàichính và các khoản công nợ được thực hiện như sau:

Trang 29

a Kiểm kê, đối chiếu các khoản tiền gửi của khách hàng, chứngchỉ tiền gửi (tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu) như sau:

- Kiểm kê chi tiết từng khoản trên sổ kế toán

- Đối chiếu xác nhận số dư tiền gửi của khách hàng là pháp nhân

- Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi cá nhân, chứng chỉ tiền gửi có thểkhông thực hiện đối chiếu với khách hàng, nhưng phải đối chiếu với thẻ lưu.Đối với một số trường hợp cụ thể (có số dư tiền gửi lớn hoặc có chênh lệchgiữa số liệu trên sổ kế toán với thẻ lưu) thì thực hiện đối chiếu trực tiếp vớikhách hàng

b Đối chiếu tài sản là dư nợ tín dụng (kể cả dư nợ được theo dõingoài bảng) như sau:

- Căn cứ hồ sơ tín dụng của từng khách hàng tại ngân hàngthương mại để lập bảng kê danh sách những khách hàng còn dư nợ tín dụng

và số dư nợ tín dụng của từng khách hàng, chi tiết theo từng hợp đồng tíndụng

- Đối chiếu giữa số liệu xác định theo hồ sơ tín dụng với số liệuhạch toán trên sổ kế toán của ngân hàng thương mại; đối chiếu dư nợ tíndụng với từng khách hàng để có xác nhận của khách hàng về số dư nợ tíndụng

Đối với khách hàng là cá nhân, trường hợp không tổ chức đối chiếuđược với khách hàng thì ngân hàng thương mại tổ chức tín dụng phải đốichiếu với thẻ lưu

- Trường hợp có sự chênh lệch số liệu giữa hồ sơ tín dụng với sổ

kế toán và xác nhận của khách hàng thì ngân hàng thương mại phải làm rõ

Trang 30

nguyên nhân chênh lệch và xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân cóliên quan để xử lý theo quy định hiện hành của Nhà nước.

Ngoài ra, việc phân loại các khoản nợ phải thu tồn đọng đủ điều kiệnđược xử lý theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

c Đối với các tài sản cho thuê tài chính: phải thực hiện đối chiếuvới từng khách hàng, xác định rõ số nợ còn phải trả của từng tài sản cho thuêtài chính

Trong quá trình kiểm kê, đối chiếu nếu bỏ sót tài sản, công nợ làmgiảm giá trị doanh nghiệp và vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hoá thìGiám đốc, kế toán trưởng và các tổ chức, cá nhân liên quan phải chịu tráchnhiệm bồi hoàn toàn bộ giá trị khoản nợ và tài sản nêu trên theo quy địnhcủa pháp luật

1.3 Xử lí tài chính khi cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Nhà nước.

Vấn đề xử lí tài chính được quy định tại chương 2 nghị định 109 Việc

xử lí được chia ra các giai đoạn: trước khi xác định giá trị doanh nghiệp, từthời điểm xác định giá trị doanh nghiệp tới thời điểm chính thức chuyểnthành công ty cổ phần, khi bàn giao tài sản và vốn

Thứ nhất, trước khi xác định giá trị doanh nghiệp, các Ngân hàng cầnphải làm rõ các khoản như tài sản, nợ phải thu, nợ phải trả, các khoản dựphòng, lỗ và lãi, vốn đầu tư dài hạn vào các doanh nghiệp khác, quỹ khenthưởng và quỹ phúc lợi Xử lí đối với các khoản này được quy định cụ thể từđiều 14 tới điều 20 nghị định 109

Thứ hai, từ thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp tới thời điểmchính thức chuyển thành công ty cổ phần, các Ngân hàng thương mại Nhà

Trang 31

nước sẽ phải tuân theo các quy định tại điều 21 nghị định 109 Theo đó, căn

cứ vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã được cơ quan có thẩm quyềnquyết định, doanh nghiệp có trách nhiệm điều chỉnh số liệu trong sổ kế toán;bảo quản và bàn giao các khoản nợ và tài sản đã loại trừ khi xác định giá trịdoanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 14 và khoản 2 Điều 15 Nghịđịnh 109; lập báo cáo tài chính doanh nghiệp giai đoạn từ thời điểm xác địnhgiá trị doanh nghiệp đến thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thànhcông ty cổ phần

Đối với khoản chênh lệch tăng giữa giá trị thực tế phần vốn nhà nướctại thời điểm doanh nghiệp chuyển sang công ty cổ phần với giá trị thực tếphần vốn nhà nước tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp được xử lýnhư quy định tại điểm 2.4 phần II mục C thông tư 146

Ở đây, nghị định 109 đã có sự điều chỉnh chênh lệch trong khoảngthời gian từ khi xác định giá trị doanh nghiệp đến khi công bố giá trị doanhnghiệp Ngoài ra, nghị định còn xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan và

tổ chức cá nhân có liên quan khi xảy ra các vấn đề về tài chính Đây là mộtđiểm tiến bộ, đã khắc phục được thiếu sót của nghị định 187 và đảm bảođược sự chính xác của giá trị doanh nghiệp

Thứ ba, sau khi có sự điều chỉnh trên, Ban chỉ đạo cổ phần hóa sẽ chỉđạo doanh nghiệp điều chỉnh sổ kế toán, lập hồ sơ bàn giao và tổ chức bàngiao giữa doanh nghiệp và công ty cổ phần Công ty cổ phần được sử dụngtoàn bộ tài sản, nguồn vốn đã nhận bàn giao để tổ chức sản xuất, kinh doanh;

kế thừa mọi quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp cổ phần hóa

đã bàn giao và có các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Các nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp cổ phần hóa được xácđịnh bổ sung sau khi đã quyết toán, bàn giao cho công ty cổ phần không

Trang 32

thuộc trách nhiệm của công ty cổ phần Trường hợp do bàn giao thiếu, dẫnđến việc công ty cổ phần không chịu trách nhiệm kế thừa nghĩa vụ trả nợ củadoanh nghiệp cổ phần hoá thì Giám đốc, Kế toán trưởng của doanh nghiệp

cổ phần hoá và các tổ chức, cá nhân có liên quan hoàn toàn chịu trách nhiệmthanh toán nợ

2 Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp.

Điều 23 nghị định 109 quy định các phương pháp xác định giá trịdoanh nghiệp bao gồm: phương pháp tài sản, phương pháp dòng tiền chiếtkhấu và các phương pháp khác Tuy nhiên, pháp luật lại quy định chủ yếuvới hai phương pháp chình là phương pháp tài sản và phương pháp dòng tiềnchiết khấu

Pháp luật còn quy định, giá trị doanh nghiệp được xác định và công

bố không được thấp hơn giá trị doanh nghiệp được xác định theo phươngpháp tài sản Có nghĩa là, việc định giá có thể xác định bằng nhiều phươngpháp nhưng không được thấp hơn giá trị được tính bằng phương pháp tàisản

2.1 Phương pháp tài sản

Phương pháp tài sản là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệptrên cơ sở đánh giá giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệptại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp theo sổ kếtoán là tổng giá trị tài sản thể hiện trong Bảng cân đối kế toán của doanhnghiệp

Giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo sổ kế toán bằng giá

trị doanh nghiệp theo sổ kế toán trừ (-) các khoản nợ phải trả, số dư Quỹkhen thưởng, Quỹ phúc lợi và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp (nếu có)

Trang 33

Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện

có của doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp có tính đếnkhả năng sinh lời của doanh nghiệp

Giá trị thực tế của doanh nghiệp không bao gồm các khoản quy định

tại Điều 28 Nghị định số 109/2007/NĐ-CP Căn cứ xác định giá trị thực tế

của doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp:

- Báo cáo tài chính tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp;

- Số lượng và chất lượng tài sản theo kiểm kê phân loại thực tế;

- Tính năng kỹ thuật của tài sản, nhu cầu sử dụng và giá thịtrường;

- Giá trị quyền sử dụng đất, khả năng sinh lời của doanh nghiệp(vị trí địa lý, thương hiệu, )

Đặc biệt, đối với các Ngân hàng thương mại Nhà nước khi xác địnhgiá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản được sử dụng kết quả kiểmtoán báo cáo tài chính để xác định tài sản vốn bằng tiền, các khoản công nợnhưng phải thực hiện kiểm kê, đánh giá đối với tài sản cố định, các khoảnđầu tư dài hạn và giá trị quyền sử dụng đất theo chế độ Nhà nước quy định

a Giá trị thực tế tài sản

Giá trị thực tế tài sản được xác định bằng đồng Việt Nam Tài sản đãhạch toán bằng ngoại tệ được quy đổi thành đồng Việt Nam theo tỷ giá giaodịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhànước công bố tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

Cách tính đối với tài sản là hiện vật được quy định tại phần III.4.1thông tư 146.Nguyên tắc khi định giá tài sản hiện vật là chỉ đánh giá lại

Trang 34

những tài sản mà ngân hàng cổ phần tiếp tục sử dụng Còn đối với tài sảnbằng tiền gồm tiền mặt, tiền gửi và các giấy tờ có giá (tín phiếu, tráiphiếu, ) của Ngân hàng được xác định như sau:

- Tiền mặt được xác định theo biên bản kiểm quỹ

- Tiền gửi được xác định theo số dư đã đối chiếu xác nhận vớingân hàng khác nơi ngân hàng mở tài khoản

- Các giấy tờ có giá được xác định theo giá giao dịch trên thịtrường Nếu không có giao dịch thì xác định theo mệnh giá của giấy tờ

Ngoài ra, giá trị tài sản ký cược, ký quỹ ngắn hạn và dài hạnđược xác định theo số dư thực tế trên sổ kế toán đã được đối chiếu xác nhận.Giá trị tài sản vô hình (nếu có) được xác định theo giá trị còn lại đang hạchtoán trên sổ kế toán Riêng giá trị quyền sử dụng đất được xác định theo quyđịnh tại điểm 5 phần A Mục III Thông tư 146

b Giá trị lợi thế kinh doanh

Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp được xác định theo haiphương pháp sau:

- Xác định theo tỷ suất lợi nhuận và lãi suất trái phiếu Chính phủ:

- Xác định trên cơ sở lợi thế về vị trí địa lý và giá trị thương hiệu: Giá trị lợi thế vị trí địa lý của lô đất được xác định bằng chênh lệchgiữa giá đất được xác định sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đấtthực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường (theo quy định tại khoản

12 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ vềsửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất) so

Trang 35

với giá do Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyếtđịnh và công bố vào ngày 01/01 của năm thực hiện xác định giá trị doanhnghiệp

c Giá trị thương hiệu (bao gồm: nhãn hiệu, tên thương mại) đượcxác định trên cơ sở các chi phí thực tế cho việc sáng chế, xây dựng và bảo vệnhãn mác, tên thương mại của doanh nghiệp trong 10 năm trước thời điểmxác định giá trị doanh nghiệp hoặc kể từ ngày thành lập đối với các doanhnghiệp có thời gian hoạt động của doanh nghiệp ít hơn 10 năm (bao gồm cảchi phí quảng cáo, tuyên truyền trong và ngoài nước để quảng bá, giới thiệusản phẩm, công ty; xây dựng trang web )

Ngoài ra, đối với giá trị vốn đầu tư dài hạn của doanh nghiệp tại cácdoanh nghiệp khác được xác định theo quy định tại Điều 32 Nghị định số109/2007/NĐ-CP

d Giá trị quyền sử dụng đất

Việc tính giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị doanh nghiệptheo quy định tại Điều 30 Nghị định số 109/2007/NĐ-CP và Nghị định số123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sungmột số Điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phươngpháp xác định giá đất và khung giá đất, trong đó:

Trường hợp doanh nghiệp thực hiện hình thức thuê đất:

- Đối với những doanh nghiệp cổ phần hoá trả tiền thuê đất hàngnăm thì không tính giá trị tiền thuê đất vào giá trị doanh nghiệp Trường hợpdoanh nghiệp có sử dụng các lô đất thuộc loại đất đô thị thì phải xác định giátrị lợi thế địa lý của lô đất để tính vào giá trị doanh nghiệp như quy định tạitiết a điểm 4.7 Mục A Phần III Thông tư 146

Trang 36

- Đối với những doanh nghiệp cổ phần hoá đã nộp tiền thuê đấtmột lần cho cả thời gian thuê đất hoặc đã nộp trước tiền thuê đất cho nhiềunăm trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành) thìdoanh nghiệp cổ phần hoá căn cứ vào giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnhban hành vào ngày 01 tháng 01 của năm xác định giá trị doanh nghiệp vàcăn cứ tỷ lệ (%) đơn giá thuê đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định đểxác định lại giá trị tiền thuê đất của thời gian đã trả tiền thuê đất còn lại.Phần chênh lệch tăng do xác định lại đơn giá thuê đất tại thời điểm định giáđối với thời gian còn lại của Hợp đồng thuê đất hoặc thời gian còn lại đã trảtiền thuê đất được tính tăng phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp Phầnchênh lệch giữa giá đất được xác định sát với giá chuyển nhượng quyền sửdụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường so với giá do

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định và công

bố vào ngày 01/01 của năm thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp đượcxác định là lợi thế vị trí địa lý và tính vào giá trị doanh nghiệp theo quy địnhnêu trên

Ngân hàng cổ phần có trách nhiệm kế thừa (hoặc ký lại Hợp đồngthuê đất) và sử dụng đất đúng mục đích theo quy định của pháp luật đất đai.Ngân hàng cổ phần không phải nộp tiền thuê đất cho thời gian còn lại củaHợp đồng thuê đất hoặc thời gian còn lại mà doanh nghiệp cổ phần hoá đãtrả tiền thuê đất

Đối với những doanh nghiệp cổ phần hoá được nhà nước giao đất cóthu tiền sử dụng đất và đã nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước naychuyển sang hình thức được nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàngnăm thì giá trị quyền sử dụng đất được giao không tính vào giá trị doanhnghiệp

Trang 37

Doanh nghiệp cổ phần hoá phải hoàn tất thủ tục chuyển từ giao đấtsang thuê đất trước thời điểm chính thức chuyển thành công ty cổ phần.

Trường hợp doanh nghiệp thực hiện hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất

Việc xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính giá trị doanh nghiệpđược thực hiện như sau:

Đối với những doanh nghiệp cổ phần hoá đang thực hiện hình thứcthuê đất nay chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất phải tínhgiá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp

Giá đất để xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp

cổ phần là giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định sát với giá chuyểnnhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bìnhthường theo quy định tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CPngày 27/7/2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghịđịnh số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất

và khung giá các loại đất

Trình tự và thủ tục giao đất, nộp tiền sử dụng đất và cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định tại Luật Đất đai và các vănbản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai

Giá đất để xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp

cổ phần là giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định sát với giá chuyểnnhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thườngtheo quy định tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày27/7/2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và

Trang 38

khung giá các loại đất Nếu giá trị quyền sử dụng đất xác định lại cao hơnchi phí thực tế về quyền sử dụng đất đang hạch toán trên sổ kế toán thìkhoản chênh lệch tăng được tính vào giá trị thực tế phần vốn nhà nước tạidoanh nghiệp

e Giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp

Giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp bằng tổng giá trịthực tế của doanh nghiệp trừ (-) các khoản nợ thực tế phải trả, số dư Quỹphúc lợi, khen thưởng và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp (nếu có) Trong

đó, nợ thực tế phải trả là tổng giá trị các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp

trừ (-) các khoản nợ không phải thanh toán

2.2 Phương pháp dòng tiền chiết khấu

Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) là phương pháp xác định giátrị doanh nghiệp trên cơ sở khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tươnglai Đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh chủyếu trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại, tư vấn, thiết kếxây dựng, tin học và chuyển giao công nghệ, có tỷ suất lợi nhuận sau thuếtrên vốn nhà nước bình quân 5 năm liền kề trước khi cổ phần hoá cao hơn lãisuất của trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 5 năm tại thời điểm gần nhất vớithời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

Việc xử lý các khoản dự phòng theo quy định tại Điều 17 Nghị định

số 109/2007/NĐ-CP thực hiện tại thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyểnthành công ty cổ phần

Căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp:

- Báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong 5 năm liền kề trướckhi xác định giá trị doanh nghiệp

Trang 39

- Phương án hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổphần hoá từ 3 năm đến 5 năm sau khi chuyển thành công ty cổ phần.

- Lãi suất của trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 05 năm tại thờiđiểm gần nhất với thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp và hệ số chiếtkhấu dòng tiền của doanh nghiệp

- Giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được giao

Giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được xác định tạiphần III mục B điểm 4 thông tư 146

Ngoài ra, giá trị thực tế của doanh nghiệp tại thời điểm định giá theophương pháp DCF được xác định tại phần III mục B điểm 5 thông tư 146

Chênh lệch tăng của vốn nhà nước giữa giá trị thực tế và giá trị ghitrên sổ kế toán được hạch toán như một khoản lợi thế kinh doanh của doanhnghiệp, được ghi nhận là tài sản và được phân bổ dần vào chi phí sản xuấtkinh doanh không quá 10 năm kể từ thời điểm chính thức chuyển đổi sang

công ty cổ phần

Quy định riêng đối với Tổng công ty, các ngân hàng thương mại đủđiều kiện thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp dòngtiền chiết khấu thì lợi nhuận và vốn nhà nước được xác định theo quy địnhcủa pháp luật hiện hành về quản lý tài chính đối với ngân hàng thương mạinhà nước

Ngoài hai phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nêu trên, cơquan quyết định giá trị doanh nghiệp và tổ chức định giá được áp dụng cácphương pháp định giá khác đối với Ngân hàng thương mại Nhà nước để xácđịnh giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá Các phương pháp xác định giá trị

Trang 40

doanh nghiệp này phải đảm bảo tính khoa học, phản ảnh thực chất giá trịdoanh nghiệp và được quốc tế áp dụng rộng rãi.

3 Tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp

Lựa chọn phương thức định giá: Nguyên tắc lựa chọn phương thứcxác định giá trị doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2Điều 22 Nghị định số 109/2007/NĐ-CP

a Lựa chọn, thuê tổ chức tư vấn định giá

Tổ chức tư vấn định giá gồm các công ty kiểm toán, công ty chứngkhoán, tổ chức thẩm định giá, ngân hàng đầu tư có chức năng và năng lựcđịnh giá đáp ứng các tiêu chuẩn và điều kiện quy định tại Quy chế lựa chọn

và giám sát các tổ chức tư vấn định giá của Bộ Tài chính

Căn cứ danh sách các tổ chức tư vấn định giá được công bố, cơ quanquyết định cổ phần hoá lựa chọn tổ chức tư vấn định giá và chịu trách nhiệm

về việc lựa chọn của mình.Trường hợp có từ 2 tổ chức tư vấn định giá đăng

ký tham gia cung cấp dịch vụ định giá trở lên thì cơ quan quyết định cổ phầnhoá tổ chức áp dụng hình thức đầu thầu hạn chế để lựa chọn tổ chức tư vấn.Chi phí tư vấn định giá do doanh nghiệp và tổ chức tư vấn thoả thuận, khôngcao hơn kết quả đầu thầu Trường hợp không đấu thầu, Ban chỉ đạo cổ phầnhoá thương thảo với tổ chức tư vấn định giá về chi phí và trình cơ quanquyết định cổ phần hoá quyết định

Trong quá trình thực hiện phương án cổ phần hóa, tổ chức tư vấn địnhgiá có trách nhiệm phối hợp với doanh nghiệp để giải trình các nội dung cóliên quan đến việc định giá

Ngày đăng: 11/04/2013, 09:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Một số chỉ tiêu thể hiện tiềm lực tài chính của các ngân hàng thương mại nhà nước - Pháp luật về cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Nhà nước tại Việt Nam hiện nay
Bảng 1. Một số chỉ tiêu thể hiện tiềm lực tài chính của các ngân hàng thương mại nhà nước (Trang 6)
Bảng 2. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước - Pháp luật về cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Nhà nước tại Việt Nam hiện nay
Bảng 2. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w