1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

22 622 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả Đào Thị Thuỳ Dương
Người hướng dẫn Đỗ Thị Kim Thoa
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 185,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển thị trường trong nước và được sự thống nhất của các thành viên, nhóm 11 lớp KTCT 22 đã quyết định chọn đề tài này để có thể rừ đó đưa ra giải pháp phù hợp

Trang 1

Với mục tiêu phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCNthì việc đẩy mạnh thị trường hàng hoá, dịch vụ đang là mối quan tâm đặc biệtcủa Nhà nước ta Phát triển thị trường hàng hoá dịch vụ là một mục tiêu quantrọng được Nhà nước đặt ra để phát triển nền kinh tế theo định hướng mớitrong thời kì quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội Những vấn đề mà đề tài giảiquyết sẽ giúp chúng ta hiểu thêm những yếu tố liên quan đến việc phát triểnthị trường hàng hoá và dịch vụ trong thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam.Biết rõ thực trạng và những nhân tố chính góp phần xây dựng phát triển thịtrường hàng hoá dịch vụ trong nước để từ đó đưa ra giải pháp cần thiết.

Đề tài gồm có 4 nội dung chính:Những điều kiện phát triển thị trường,những nhân tố tác động đến thị trường hàng hoá dịch vụ, những nhân tố giúpphát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ; việc phát triển thị trường bị ảnhhưởng bởi các vấn đề khác

Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển thị trường trong nước

và được sự thống nhất của các thành viên, nhóm 11 lớp KTCT 22 đã quyếtđịnh chọn đề tài này để có thể rừ đó đưa ra giải pháp phù hợp

Chúng em xin chân thành cảm ơn giảng viên Đỗ Thị Kim Thoa đã nhiệttình giúp chúng em hoàn thành tiểu luận này

Giải pháp phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ trong thời kì quá độ lên

chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trang 2

NỘI DUNG ĐỀ CƯƠNG SƠ BỘ.

1 Điều kiện xuất hiện thị trường hàng hoá và dịch vụ.

a Việc chuyển dần từ mua bán hàng hoá với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang mua bán theo cơ chế thị trường.

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI diễn ra trong bối cảnh sai lầm củađợt tổng cải cách giá - lương - tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế Việt Nam

càng trở nên khó khăn (tháng 12 năm 1986, giá bán lẻ hàng hóa tăng 845,3%).Việt Nam đã không thực hiện được mục tiêu đề ra là cơ bản ổn định tình hìnhkinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân Số người bị thiếu đói tăng, bội chilớn Nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng Đại hội toànquốc lần VI năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặt phát tiển trong nền kinh tế củaViệt Nam Nước ta chuyển hướng phát triển hàng hoá nhiều thành phần theođịnh hướng XHCN Nhận thức rõ vị trí của thị trường trong quá trình chuyểnđổi nền kinh tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương và quyếtsách lớn để thị trường phát triển lành mạnh, đúng hướng Sự thay đổi về quanđiểm và chính sách kinh tế đã đem lại những tác động tích cực trên thị trườnghàng hoá, dịch vụ Thị trường hàng hoá, dịch vụ nước ta từ sau năm 1986 đã

có sự biến đổi về chất và phát triển vượt bậc về lượng

Kế hoạch 5 năm lần thứ 4 (1986-1990) được ủy ban Kế hoạch Nhà nước

tổ chức nghiên cứu ngay từ năm 1982 bằng việc thành lập và tổ chức lại côngtác kế hoạch hóa dài hạn trong nội bộ cơ quan Tháng 4 năm 1986, trước Đạihội Đảng lần thứ VI, ủy ban Kế hoạch Nhà nước đã trình Thường vụ Hộiđồng Bộ trưởng báo cáo "Tư tưởng chỉ đạo xây dựng kế hoạch 5 năm 1986-1990" Báo cáo đã đánh giá toàn diện việc thực hiện kế hoạch 5 năm 1981-

1985, đồng thời xác định những nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch 5năm 1986-1990 là: ổn định và cải thiện một bước đời sống vật chất và vănhoá của nhân dân; đồng bộ hóa sản xuất và tăng cường một bước cơ sở vậtchất kỹ thuật; xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất mới XHCN, sử dụng tốtcác thành phần kinh tế khác, hình thành cơ chế quản lý mới; và bảo đảm nhucầu củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.Chính phủ đã áp dụngcác biện pháp ổn định tài chính và tiền tệ để chống lạm phát; áp dụng cơ chếthị trường trong lĩnh vực giá cả, tỷ giá, lãi suất, xoá bỏ cơ chế nhà nước địnhgiá; xác lập cơ chế giá cả do thị trường định (hiện giá cả hàng hóa và dịch vụhầu hết do thị trường định, chỉ còn một số giá như điện, nước, bưu chính, viễnthông, vận tải, hàng không do các tổng công ty ấn định); thực hiện tự do hóathương mại; bãi bỏ chế độ Nhà nước độc quyền phân phối hàng hóa và dịch

vụ, cho phép mọi doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được kinhdoanh thương mại Việc phát triển hàng hoá, dịch vụ trở thành một nhiệm vụquan trọng trong chính sách thay đổi của Nhà nước

Trang 3

Mục tiêu của việc thay đổi chính sách, cơ chế là: tập trung phát triểnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa; xâydựng cơ cấu kinh tế hợp lý; ưu tiên 3 chương trình kinh tế mới: chương trìnhlương thực- thực phẩm, chương trình hàng tiêu dùng và chương trình hàngxuất khẩu

Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một trong những nộidung quan trọng nhất của đường lối đổi mới của Đảng.Chuyển đổi từ chínhsách đơn thnàh phần sở hữu sang nền kinh tế nhiều thành phần với sự tồn tạicủa nhiều hình thức sở hữu Trong GDP, xu hướng chung là tỷ trọng kinh tếNhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể giảm, trong khi tỷ trọng kinh tế tưnhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên Trước năm 1990, kinh tế

tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gần như chưa có gì, nhưng đếnnay đã chiếm trong GDP tương ứng là 8,9% và 15,9% Trong khi đó, tỷ trọngkinh tế Nhà nước đã giảm từ 40,2% năm 1995 xuống còn 38,4% năm 2005;kinh tế tập thể giảm tương ứng từ 10,1% xuống còn 6,8%; kinh tế cá thể giảm

từ 35,9% xuống còn dưới 30%

Xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới, do những doanh nghiệp

tư nhân tiếp tục được thành lập nhiều trong những năm qua từ khi Luật Doanhnghiệp ra đời (trong 5 năm đã gấp 2,6 lần về số doanh nghiệp và trên 6 lần về

số vốn đăng ký so với 10 năm trước đó); quá trình tác cổ phần hóa, giao, bán,khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh hơn; do năng lực củakhu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được gia tăng sẽ tạo thành lànsóng mới cả về số vốn đăng ký mới, bổ sung vốn và số vốn thực hiện, cả về

cơ cấu nước, đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO Phát triển kinh tế nhiềuthành phần có tác động về nhiều mặt: giải phóng sức sản xuất, huy động và sửdụng có hiệu quả các nguồn lực; tạo ra cạnh tranh - động lực của tăng trưởng;thực hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, huyđộng sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế - xã hội; là con đường xâydựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất

Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ đẩy mạnh phát triển thị trường hànghoá dịch vụ theo cả chiều rộng và chiều sâu Cơ cấu thành phần kinh tế đãtiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh

tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu Công tác của ủy ban Kế hoạch Nhànước đã từng bước được đổi mới theo phương hướng chung của nền kinh tế,nhất là tập trung vào tăng cường kế hoạch hóa vĩ mô, tiếp tục chuyển từ kếhoạch hóa tập trung sang kế hoạch hóa định hướng, bảo đảm những cân đốitổng thể cơ bản của nền kinh tế Hoạt động của các Vụ, Viện trong ủy ban đãchuyển dần sang nghiên cứu các chuyên đề, dự án phân tích Cơ cấu kinh tế

đã có những chuyển biến tích cực Từ năm 1990-2003 tỷ trọng nông lâm ngưnghiệp trong GDP giảm từ 38,7% xuống còn 21,7%, công nghiệp và xây dựng

Trang 4

Chính sách đổi mới đặc biệt ưu tiên 3 chương trình kinh tế: chương trìnhlương thực- thực phẩm, chương trình hàng tiêu dùng và chương trình hàngxuất khẩu Quán triệt các quan điểm đổi mới của Đại hội Đảng, ủy ban Kếhoạch Nhà nước đã triển khai cụ thể hóa thành các kế hoạch và chương trìnhhành động, trong đó nổi bật là ba chương trình kinh tế lớn: chương trìnhlương thực, chương trình hàng tiêu dùng và chương trình xuất khẩu Nền kinh

tế đã thu được một số thành tựu đáng khích lệ như sản lượng lương thực đã đủ

ăn, có dự trữ và còn có phần để xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 2lần hơn so với kế hoạch 5 năm trước, bước đầu đã giải phóng được lực lượngsản xuất xã hội, động viên nhân dân tích cực tham gia vào sản xuất kinhdoanh, các mặt xã hội và đời sống dân cư có nhiều tiến bộ

b Việc chuyển thị trường từ trạng thái chia cắt , khép kín theo địa giới hành chính “tự cấp, tự túc” sang tự do lưu thông.

Cùng với nhiều biện pháp khác , Nhà nước đã thực hiện đổi mới cácchính sách về giá cả, tài chính Về giá cả thì thực hiện chính sách định giácứng cho từng loại hàng, duyệt chiết khấu cho từng khâu lưu thông, ấn địnhgiá bán riêng cho từng đối tượng hưởng thụ, giá cả riêng biệt theo từng chínhsách phân phối cụ thể

Giá cả được hình thành chủ yếu theo quan hệ cung cầu nhưng đối vớimột số vật tư quan trọng để giữ ổn định thị trường, Nhà nước quy định giábán lẻ tối đa xăng dầu, xi măng, thép, phân bón, giấy viết, hoá chất, và quyđịnh giá sàn đối với một số nông sản để tránh ép giá gây thiệt thòi cho ngườinông dân Nhà nước còn bảo đảm cân đối vật tư hàng hoá thiết yếu của nềnkinh tế như xăng dầu, lương thực, đường, xi măng, thép, phân bón, để tránhtình trạng khan hiếm hoặc dư thừa trên thị trường Việc quy giá trần bán lẻ,giá sàn thu mua cũng như các cân đối này chỉ mang tính định hướng để cácdoanh nghiệp chủ động xác định kế hoạch xuất khẩu, nhập khẩu kinh doanhchứ không mang tính pháp lệnh như trước đây

Ngoài ra, các xí nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có quyền tự chủ tronghoạt động sản xuất, kinh doanh, thực hiện hoạch toán độc lập Đại hội đã chỉrõ: đổi mới cơ chế quản lý, bảo đảm cho các đơn vị kinh tế quốc doanh cóquyền tự chủ, thực sự chuyển sang hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa,lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế Sắp xếp lại sản xuất, tăngcường cơ sở vật chất - kỹ thuật và đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật

để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả Trên cơ sở đó ổn định và từngbước nâng cao tiền lương thực tế của công nhân, viên chức, tăng tích luỹ cho

xí nghiệp và cho Nhà nước

Phát triển nhiều chiến lược hướng ngoại ra thị trường khu vực và quốc tếcũng là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình đẩy mạnh tự do hoá lưuthông Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, theo hướng đaphương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù

Trang 5

hợp với điều kiện của nước ta và đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế songphương và đa phương như AFTA, APEC, Hiệp định thương mại Việt Mỹ,tiến tới gia nhập WTO

Đẩy mạnh phát triển dịch vụ, giao thông vận tải, thông tin liên lạc sẽtạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tiếp cận với thị trường trong nước và thếgiới Ưu tiên phát triển các nghành này là mối quan tâm lớn của nước ta nhằmphát triển cơ sở hạ tầng,thúc đẩy dao dịch, chuyển đổi hàng hoá Việc pháttriển giao thông vận tải, thông tin liên lạc có vai trò to lớn thúc đẩy quá trìnhlưu thông hàng hoá, không chỉ trong nước mà còn giữa Việt Nam và các nướckhác trong khu vực

c Doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại, đội ngũ các nhà quản lý được đào tạo theo cơ chế mới

Sau đại hội toàn quốc lần thứ VI đã thực sự mở đầu cho công cuộc đổimới và phát triển doanh nghiệp nhà nước một cách cơ bản, mạnh mẽ và toàndiện Từ đây đổi mới doanh nghiệp nhà nước được đặt trong tổng thể đổi mớinền kinh tế nói chung.Trên cơ sở phát triển thị trường hàng hoá dịch vụ theohướng đa dạng hoá, toàn cầu hoá thì việc phát triển trong chính các doanhnghiệp, các công ty đang là một mối quan tâm sâu sắc

Để tạo sức cạnh tranh, phát triển nhiều loại hình hàng hoá,Nhà nước đãthực hiện sáp nhập khoảng 3.000 doanh nghiệp vào các doanh nghiệp khác

có liên quan về công nghệ, thị trường và giải thể khoảng 3.500 doanh nghiệp.Nhờ đó đã nâng quy mô vốn bình quân của DNNN từ 3,1 tỷ lên 11,5 tỷ đồng,giảm bớt tài trợ của ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp bị thua lỗ và thúcđẩy các DNNN phải hoạt động có hiệu quả hơn Các doanh nghiệp, công tyđẩy mạnh sản xuất, tạo sản phẩm mới phục vụ nhu cầu người tiêu dùng Đây

là yếu tố chính để đẩy mạnh phát triển chất lượng cũng như giảm giá thànhcủa sản phẩm

Mạng lưới của công ty, doanh nghiệp được mở rộng đến nhiều tỉnh thànhtrong cả nước mở rộng hơn thị trường hàng hoá, dịch vụ Phục vụ tốt hơn nhucầu tiêu dùng của người dân, cũng chính vì thế mà số lượng sản phẩm sảnxuất được ngày càng nhiều và chất lượng cũng được khắc phục hơn.Khi đãphát triển được thị trường trong nước, Nhà nước còn quan tâm nhiều hơn đếnviệc phát triển thị trường hàng hoá ở nước ngoài, tạo môi trường cạnh tranh

và thu ngoại tệ Chính vì vậy cần chú trọng hơn đến việc xây dựng thươnghiệu, đổi mới, quảng bá hình ảnh của sản phẩm

Để đáp ứng nhu cầu thực tế của người tiêu dùng cũng như chất lượngcủa hàng hóa, dịch vụ thì đội ngũ quản lý cũng cần phải được quan tâm chútrọng hơn nữa Quản lý được đẩy mạnh, phát triển trình độ theo nhu cầu mới

sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc lưu thông hàng hoá, phát triển dịch vụ

Trang 6

d Ngành du lịch, dịch vụ là một nghành chính được đặc biệt quan tâm đẩy mạnh trong thời kì phát triển CNH- HĐH.

Nước ta có vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu ôn hoà và nhiều danh lamthắng cảnh đẹp đã tạo điều kiện tốt cho việc phát triển du lịch trong nước Đổimới, quan tâm phát triển, khai thác tiềm năng các điểm du lịch trong nước.Các nghành hàng không, vận tải , bưu chính viễn thông…cũng được sựquan tâm phát triển của nhà nước Nhiều chính sách đổi mới đã được áp dụngtriệt để, nhằm đáp ứng nhu cầu phân phối hàng hoá trong nước, đẩy mạnhchất lượng dịch vụ

Nhóm cơ chế và biện pháp chính sách giúp cho các doanh nghiệp, ngànhtăng cường năng lực, khả năng cạnh tranh của sản xuất sản phẩm dịch vụ xuấtkhẩu, thông qua đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện hoạt động vàcông nghệ, tiền vốn để nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm giá thành sảnphẩm Về cơ chế tạo nguồn vốn đầu tư phải huy động bằng nhiều nguồn,nhưng trong đó phải kể đến nguồn vốn từ ngân sách ưu đãi đầu tư của nhànước và các nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại, vốn đầu tư nướcngoài Có nhiều chính sách tạo điều kiện giảm chi ngoại tệ nhập khẩu đối vớimột số ngành dịch vụ có nhập khẩu một số loại trang thiết bị chuyên dụng,thiết bị, vật liệu rẻ tiền mau hỏng, bằng các chính sách tạo điều kiện sản xuất

để thay thế hàng nhập khẩu để giảm nhập khẩu (hàng không, tàu biển)

2 Những nhân tố ảnh hưởng đến thị trường hàng hoá và dịch vụ.

a Thị trường gắn liền với phân công lao động xã hội và sản xuất hàng hoá.

Để phát triển và mở rộng thị trường hàng hoá thì vấn đề nâng cao chấtlượng hàng hoá được quan tâm chú ý, năng suất lao động được đẩy mạnh.Nước ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, cơ hội nhiềuhơn nhưng thách thức cũng không phải là ít Chính vì vậy mà quá trìnhchuyên môn hoá trong sản xuất cần được áp dụng triệt để, tạo chất lượng sảnphẩm cao và đồng bộ Nhưng thực tế quá trình chuyên môn hoá chưa thực sựthu được kết quả như mong muốn Nhà nước vẫn đang nỗ lực để có thể thayđổi được tình hình trên Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá xuấtkhẩu cũng được chú ý Nước ta có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên nênviệc phát triển xuất khẩu hàng nông sản trở thành thế mạnh, đặc biệt là: gạo,

cà phê, hồ tiêu, cá tra, cá ba sa Xuất khẩu hàng lương thực, thực phẩm củanước ta ngày càng phát triển, mở ra một thị trường hàng hoá, dịch vụ rộnglớn Bên cạnh đó, quá trình xuất khẩu còn gặp một số trục trặc khi các nướcnhập khẩu ngày càng sử dụng nhiều rào cản trong quan hệ thương mại quốc

tế, cạnh tranh thương mại ngày càng gay gắt, dẫn đến sản lượng xuất khẩumột số mặt hàng giảm xuống Ngoài ra thị trường giá thế giới biến động phức

Trang 7

tạp, tăng giảm thất thường (gạo, dầu thô ), thông tin thị trường thế giới thiếu

và không chính xác đã tác động nhiều tới kim ngạch xuất khẩu

b Gắn liền nhu cầu cuộc sống xã hội với nhu cầu của nền kinh tế.

Việc đặt nhu cầu của người tiêu dùng lên hàng đầu là yếu tố quan trọngnhất giúp phát triển thị trường hàng hoá, dịch vụ Nhiều mặt hàng mới đượcthay đổi hình thức mẫu mã cũng như chất lượng Đa dạng hoá loại hình dịch

vụ tạo điều kiện cạnh tranh phục vụ nhu cầu cuộc sống

Quan tâm sản xuất nhiều sản phẩm thiết thực, phong phú hơn, gần gũihơn với đời sống của người tiêu dùng Chính sự cạnh tranh của các sản phẩm

đã đẩy mạnh tiêu thụ trong nước, giá thành sản phẩm cũng được thay đổi treochiều hướng tốt cho người tiêu dùng Chính sự cạnh tranh gay gắt giữa doanhnghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài đã thúc đẩy quá trình xâydựng quảng bá hình ảnh, thương hiệu, từ đó Marketing ở Việt Nam được quantâm chú trọng phát triển

Quá trình tiếp cận khách hàng được đẩy mạnh, đây là một dấu hiệu tốtcho quá trình phát triển thị trường hàng hoá trong nước Dịch vụ du lịch được

mở rộng hơn, gắn liền với nhu cầu thiết thực của xã hội, chất lượng dịch vụđược đưa lên hàng đầu Dịch vụ du lịch phát triển góp phần tăng ngoại tệ,phát triển nền kinh tế trong nước

c Công tác quản lý của cơ quan có thẩm quyền ảnh hưởng trực tiếp đến hàng hoá, dịch vụ.

Quá trình quản lý hàng hoá của nhà nước ảnh hưởng một cách trực tiếpđến sự phát triển chất lượng sản phẩm trong nước Hiện nay, sự quản lý vàđiều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với thị trường và thương mại đã có nhiều đổimới Đổi mới trước hết là cơ chế quản lý thị trường Từ cơ chế trực tiếp canthiệp, kiểm tra kiểm soát thị trường là chủ yếu chuyển sang cơ chế tác độnggián tiếp và tạo lập môi trường chính sách cho kinh doanh trên thị trường.Các chính sách quản lý và công cụ quản lý của Nhà nước đối với thịtrường được nghiên cứu kỹ và thông thoáng hơn Nhà nước đã tạo lập đượcmôi trường pháp lý cho các hoạt động trên thị trường Sự tự do, bình đẳnggiữa các chủ thể hoạt động trên thị trường được đảm bảo bằng pháp luật Cácthủ tục hành chính cản trở, gây phiền hà cho sản xuất kinh doanh liên tụcđược sửa đổi và bãi bỏ

Dù những đổi mới trên đây còn chậm và chưa đáp ứng được yêu cầunhưng những tác động tích cực cuả những thay đổi đó với thị trường đã thấy

rõ và đặt ra sự đòi hỏi cấp thiết hơn Vấn đề kiểm soát hàng lậu, hàng trốnthuế, hàng nhái hành giả, hàng kém chất lượng được chú trọng quan tâm Cónhiều biện pháp trong quá trình kiểm tra, thu hồi và sử lý sản phẩm kém chất

Trang 8

lượng sẽ tạo điều kiện an toàn thuận lợi hơn cho thị trường hàng hoá trongnước.

d Quan hệ kinh tế giữa các cá nhân , giữa các doanh nghiệp trên thị trường.

Các doanh nghiệp Nhà nước chi phối phần lớn khâu bán buôn, tỷ trọngbán lẻ giảm xuống trong tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ Lực lượngđông đảo nhất trên thị trường là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tưthương, tiểu thương Khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàicũng đã tham gia vào thị trường nội địa Điều đó đã tạo một môi trường cạnhtranh ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cũng như số lượng hàng hoá

Nhóm cơ chế và biện pháp chính sách giúp cho các doanh nghiệp, ngànhtăng cường năng lực, khả năng cạnh tranh của sản xuất sản phẩm dịch vụ xuấtkhẩu, thông qua đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện hoạt động vàcông nghệ, tiền vốn để nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm giá thành sảnphẩm

Nhóm các chính sách tạo điều kiện giảm chi ngoại tệ nhập khẩu đối vớimột số ngành dịch vụ có nhập khẩu một số loại trang thiết bị chuyên dụng,thiết bị, vật liệu rẻ tiền mau hỏng, bằng các chính sách tạo điều kiện sản xuất

để thay thế hàng nhập khẩu để giảm nhập khẩu Nhiều loại hình sản xuất,phân phối được áp dụng hơn trong quá trình lưu thông hàng hoá

3 Những vấn đề ảnh hưởng đến việc phát triển thị trường hàng hoá dịch vụ.

a Bước đầu còn sơ khai, non trẻ nên chưa có sự thống nhất trong toàn quốc.

Tình hình cơ sở hạ tầng trong nước còn rất thấp kém, rời rạc Đây chính

là yếu tố kìm hãm sự phát triển của thị trường hàng hoá trong nước cũng nhưviệc xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài Sản xuất chưa thực sự được quyhoạch, đầu tư chuyên môn hóa nên chất lượng sản phẩm và cơ sở hạ tầng cònnhiều yếu kém Nền kinh tế ban đầu theo cơ chế kinh tế kế hoạch, giao dịchchỉ là giao dịch chỉ là việc giao và nhận các sản phẩm nhằm thực hiện cácnghĩa vụ có tính pháp lệnh của nhà nước lập kế hoạch

Quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trên thị trường chưa xuất hiện vàgặp nhiều khó khăn trong vấn đề vốn đầu tư

Trước tình hình đó, việc đầu tư vào các khu trung tâm du lịch, giải trícũng chưa được quan tâm phát triển

Việc xây dựng các điểm du lịch, khu du lịch chưa được quan tâm thíchđáng, ngược lại do lợi nhuận trước mắt trong nghề kinh doanh khách sạn dẫnđến đầu tư và cấp giấy phép xây dựng, nâng cấp khách sạn, nhà khách, nhànghỉ tràn lan gây nên tình trạng cung về buồng khách sạn vượt quá cầu, giá

Trang 9

thuê phòng hạ , công suất sử dụng buồng, phòng thấp , đặc biệt là ở Tp HCM

và Hà nội

Công tác tuyên truyền quảng bá du lich còn yếu kém Đến nay, toànngành đã có 90 công ty lữ hành quốc tế, nhưng số công ty có văn phòng, chinhánh ở nước ngoài còn quá ít chưa nói đến quy mô và chất lượng hoạt động.Công tác phối hợp thông tin giữa ngành du lịch Việt Nam với các ngành khác

để tuyên truyền, quảng bá cho du lịch Việt Nam còn chưa chủ động và hiệuquả chưa cao

b Các thành phần kinh tế rất đông đảo, có nhiều hình thức sở hữu khác nhau.

Hiện nay, trên thị trường đã có đủ các thành phần kinh tế, đông đảo

thương nhân với các hình thức sở hữu khác nhau Các doanh nghiệp Nhà

nước chi phối 70- 75% khâu bán buôn, tỷ trọng bán lẻ chỉ còn 20- 21% trongtổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ.Sự liên kết giữa các thành phần kinh tế,các chủ thể kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chưa được chặt chẽ Hệ thống hợptác xã vẫn còn phát huy được vai trò ở nông thôn, miền núi song chỉ cònchiếm trên dưới 1% tổng mức bán lẻ trên thị trường Lực lượng đông đảo nhấttrên thị trường là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tư thương, tiểuthương Khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã thamgia vào thị trường nội địa, chiếm tỷ trọng khoảng 3% trong tổng mức lưuchuyển hàng hoá bán lẻ Số liệu thống kê chi tiết ở bảng 1 bên dưới

Trang 10

Bảng 1: Tổng mức bán lẻ hàng hoá phân theo thành phần kinh tế

Tổng số

Tỷtrọng(%)

Nguồn: Niên giám Thống kê 2001 và kinh tế Việt Nam & thế giới 2003-

c Ảnh hưởng bởi quan hệ cung cầu trên thị trường

Đây là một yếu tố hoàn toàn phù hợp với quy luật của kinh tế thị trường,quy luật cung- cầu trong quá trình tự do hoá.Trước đây nhiều mặt hàng phảinhập khẩu thì hiện nay nước ta đã có thể đáp ứng được các nhu cầu trongnước và còn có thể tiến tới xuất khẩu Nhu cầu đa dạng, phát triển và thu nhậptăng lên đã làm cho cầu thị trường phong phú và biến đổi khôn lường

Tác động cung- cầu đã tác động trực tiếp đến vấn đề phát triển hàng hoá

và dịch vụ trong nước Những nhà kinh doanh thành đạt đều phải xuất phát từđòi hỏi của khách hàng, bảo đảm chất lượng hàng hoá, giá cả phù hợp và códịch vụ tối ưu Cuộc cạnh tranh về chất lượng và giá cả từng bước nhường

Trang 11

chỗ cho cuộc cạnh tranh bằng dịch vụ Từ chỗ dịch vụ chỉ là hoạt động yểmtrợ bán hàng đã phát triển thành địa hạt của các nhà đầu tư kinh doanh Ngànhkinh doanh dịch vụ ra đời đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của nền sản xuất

xã hội Bên cạnh đó, quá trình thương mại hoá cũng ảnh hưởng tích cực đếnthị trường sản xuất

d Việc phát triển thị trường quốc tế cả về chất và lượng.

Sự kiện Việt Nam gia nhập các tổ chức kinh tế trên thế giới là một tiền

đè quan trọng trong quá trình phát triển thị trường hàng hoá, dịch vụ, tạonhiều cơ hội đẩy mạnh sản xuất hàng hoá trong nước Hàng hoá trong nướcđược quan tâm hơn về nhiều lĩnh vực, tạo sức cạnh tranh lớn của hàng hoátrong nước với hàng hoá trên thế giới, chính những điều kiện ấy đã ảnh hưởngmột cách trực tiếp đến giá cả và chất lượng hàng hoá

Dù ở mức độ còn hạn chế nhưng sự tác động của tăng trưởng hay suythoái trên thị trường quốc tế đã bắt đầu ảnh hưởng đến thị trường trong nước.Điều này không chỉ diễn ra đối với những hàng hoá xuất nhập khẩu mà cảhàng hoá nội địa Đó là tín hiệu tốt lành với nền kinh tế vì nó tạo cơ hội chocác nhà kinh doanh Việt Nam, đồng thời nó cũng tạo ra áp lực và nguy cơ lớncho sản xuất và kinh doanh trong nước Điều này cũng cho thấy rằng sự hộinhập của thị trường trong với thị trường khu vực và quốc tế là tất yếu Vấn đề

là chủ động đón nhận và có phương thức ứng xử thích hợp để chuyển từ ngoạilực thành nôị lực

Trong điều kiện hiện tại của nước ta vấn đề chiếm lĩnh thị trường nộiđịa, chính sách thay thế hàng nhập khẩu có vị trí đặc biệt quan trọng Dochính sách của nền kinh tế, hàng hoá ngoại nhập tràn ngập thị trường nội địa.Hàng ngoại đang có ưu thế so với hàng sản xuất trong nước Thêm vào đó là

sự yếu kém về chất lượng, giá cả, quy cách, chủng loại của hàng nội địa vàtâm lý sùng bái hàng ngoại đã làm cho hàng nội yếu thế Vấn đề này tác độngtrực tiếp đến giá cả của hàng hoá trên thị trường

e Sự điều tiết quản lý vĩ mô của nhà nước đối với thi trường.

Trước những năm 1990, quản lý Nhà nước về thị trường và hoạt độngthương mại được kế hoạch hoá tập trung Còn về giá cả thì thực hiện chínhsách định giá cứng cho từng loại hàng, duyệt chiết khấu cho từng khâu lưuthông, ấn định giá bán riêng cho từng đối tượng hưởng thụ, giá cả riêng biệttheo từng chính sách phân phối cụ thể.,chính thức tuyên bố chính sách đổimới, ra đời hệ thống « giá kinh doanh chính thức ».Chế độ tem phiếu đượcxoá br với một số lượng lớn hàng hoá, giá chính thức của hàng hoá khôngthiết yếu được nâng lên mức gâng với thị trường tự do

Chính sách tiền tệ thắt chặt năm 1990-1992 được áp dung, sử dụng sự sailệch về lãi xuất và miễn thuế nhằm hỗ trợ khu vực quốc doanh Các nguồn lực

Ngày đăng: 11/04/2013, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w