Giỏi văn không chỉ là năng khiếu thiên bẩm... Ông đã biết lách ngòi bút của mình vào chỗ da non nhất của lòng người để từ đó bật lên những tiếng tơ đàn thánh thiện.. th
Trang 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỌN LỌC VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN VĂN Ở CÁC LỚP BAN KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐỂ ĐẠT KẾT QUẢ CAO"
Trang 2
A ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Hơn mười năm ra trường và được phân công về trường THPT Hoằng Hóa 3 làm nhiệm vụ giảng dạy, dù công tác ở một địa bàn đóng xa trung tâm, “xa phủ”, “xa tỉnh” với hơn 80% học sinh bãi ngang, dù vị rí xếp loại toàn đoàn luôn nằm trong Top khiêm tốn của Tỉnh nhưng những năm gần đây, môn Văn luôn đóng góp một lực lượng học sinh giỏi hùng hậu, luôn mang về cho trường 8 đến 9 giải mỗi năm với việc chọn lọc học sinh giỏi ở đa dạng các khối lớp Trong đó có phải kể đến sự góp mặt ngày càng nhiều về lượng và chất của các học sinh giỏi môn Văn đến từ các lớp ban Khoa học Tự nhiên (KHTN) Là ban học của những lớp có học sinh mũi nhọn chủ yếu theo hai khối A, B nhưng bằng nhiệt tình, bằng “con mắt xanh” trong cách nhìn nhận và đánh giá, chỉ trong một thời gian ngắn với vẻn vẹn 3,4 tiết/ tuần trong phân phối cho phép, chúng tôi cũng đã ươm mầm và bồi dưỡng được một số học sinh cùng đứng trong đội tuyển học sinh giỏi (HSG) của trường và đã gặt hái những thành công nhất định
2 Người giáo viên trực tiếp đứng lớp luôn tâm niệm và xác định một điều rằng: Một trong những mục tiêu quan trọng của nghề dạy học là đào tạo ra những học sinh giỏi và một trong những niềm sung sướng, vinh dự, hạnh phúc nhất trong cuộc đời người thầy là đào tạo và bồi dưỡng được những học sinh giỏi Muốn vậy, thì ngoài năng lực, tố chất của học sinh còn cần có những kinh nghiệm để phát hiện, nhìn nhận và có những cách thức bồi dưỡng phù hợp nhất dành cho đối tượng ấy để đem lại hiệu quả tốt nhất có thể
Giỏi văn không chỉ là năng khiếu thiên bẩm Cổ nhân có câu: “ngọc bất trác bất thành
khí” Vậy nên dù lí luận về phương pháp dạy học có đề cao vai trò tích cực chủ động
sáng tạo của học sinh đến thế nào chăng nữa thì người thầy - nhất là người thầy dạy môn Văn vẫn đóng một vai trò cực kì quan trọng
3 Văn học là một loại hình nghệ thuật mà nghệ thuật thì "không phải là bánh mì mà là
thứ rượu của cuộc đời”(Butler) Văn học vốn rất gần gũi với cuộc sống, mà cuộc sống
bao giờ cũng bề bộn và vô cùng phong phú Mỗi tác phẩm văn chương là một mảng cuộc sống đã được nhà văn chọn lọc phản ánh Vì vậy môn văn trong nhà trường có một vị trí rất quan trọng: Nó là vũ khí thanh tao đắc lực có tác dụng sâu sắc đến tâm hồn tình cảm của con người, nó bồi đắp cho con người trở nên trong sáng, phong phú và sâu sắc hơn
M.Goóc-ki nói: ''Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin
vào bản thân mình và làm nảy nở con người khát vọng hướng tới chân lý" Văn học là
“khoa học về lòng người” (Nguyễn Khải) Với bản chất là một môn học vừa có tính nghệ
thuật, vừa có tính Sư phạm như vậy, môn Văn trong nhà trường luôn song hành cùng mọi
Trang 3
học sinh ở mọi khối lớp, mọi phân ban - dù là ban khoa học xã hội (KHXH) hay KHTN trên con đường hình thành nhân cách, hướng các em tới đỉnh cao của chân, thiện, mỹ
Vì thế đến trường thông qua việc đọc - học tác phẩm văn chương, những cảm xúc thẩm mỹ của các em phải được uốn nắn, sửa chữa và bồi dưỡng, nâng lên thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ chân chính Điều đó muốn khẳng định rằng bồi dưỡng học sinh không những là việc làm đúng đắn mà còn là công việc có tầm quan trọng trong nhà trường phổ thông Nó góp phần phát hiện bồi dưỡng để tiến tới đào tạo một phẩm chất, một lực lượng lao động đặc biệt của xã hội, lao động sáng tạo nghệ thuật Nó kích thích cổ vũ mạnh mẽ ý thức tự giác, lòng say mê và ý chí vươn lên trong học tập, tu dưỡng của học sinh nói chung Nó còn là một việc làm thiết thực góp phần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên và tạo nên bề dày thành tích, “thương hiệu” cho các nhà trường Phổ thông hiện nay
Xuất phát từ bản chất bộ môn, thực tế của rất nhiều nhà trường hiện nay có học sinh giỏi văn được chọn lọc ở các lớp khối A, B và từ những kết quả thành công bước đầu của bản thân có được qua hai khóa học liên tiếp với việc phát hiện, chọn lọc và bồi dưỡng học sinh giỏi văn ở các lớp ban KHTN, tôi ấp ủ và mong muốn có một sự sẻ chia nho nhỏ
những kinh nghiệm của mình Tôi chọn đề tài: Một số kinh nghiệm chọn lọc và bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Văn ở các lớp ban Khoa học Tự nhiên để đạt kết quả cao.
II PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Bồi dưỡng học sinh giỏi là một việc làm cần thiết đối với tất cả các cấp học trong nhà trường, ở đây tôi chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp Đó là bàn về một số biện pháp, hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi, cụ thể là bồi dưỡng học sinh giỏi môn Văn ở các lớp ban KHTN
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp tự nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.
- Phương pháp thực nghiệm và đối chứng.
- Phương pháp thống kê tổng hợp.
B NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, đầy những khó khăn, bởi vì học sinh giỏi là những học sinh có tố chất đặc biệt về khả năng cảm thụ, khả năng tư duy và nhất là khả năng viết Người giáo viên phải có quá trình tích lũy kinh
Trang 4
nghiệm, sự chuẩn bị và đầu tư nhiều hơn để có thể đạt hiệu quả và thuyết phục học sinh, làm cho các em thực sự hứng thú và tin tưởng
Một trong những nhiệm vụ trong tâm của các nhà trường là không ngừng nâng cao chất lượng mũi nhọn bởi chính chất lượng đào tạo mũi nhọn hằng năm phản ánh phần nào hiệu quả của công tác quản lí và chất lượng dạy - học nói chung của thầy trò nhà trường Điều đó vừa là trọng trách, cũng vừa là động lực kích thích sự nỗ lực và sáng tạo không ngừng của thầy và tạo ra khí thế hăng say vươn lên học tập giành những đỉnh cao trong học sinh ở các kì thi HSG để mang lại vinh quang cho bản thân, niềm vui cho thầy, cô, bạn bè và nhà trường
II THỰC TRẠNG HỌC SINH GIỎI VĂN Ở CÁC LỚP BAN KHTN
Những năm gần đây, với việc học sinh được lựa chọn học theo chương trình phân ban, nhiều trường THPT trên toàn tỉnh đều đứng trước một thực trạng chỉ có duy nhất ban KHTN hoặc các lớp cơ bản nhưng theo khối A,B Trường chúng tôi may mắn hơn vẫn còn tồn tại những lớp Cơ bản C, D và vì vậy lộ trình tuyển chọn và bồi dưỡng không chỉ ở môn Văn mà các môn xã hội nói chung gặp không ít khó khăn Nhân tài vốn đã ít ỏi
“như lá mùa thu”, thêm nữa một số lớn có năng khiếu văn, có tư chất, có say mê nhưng vẫn buộc phải lựa chọn vào học các lớp ban KHTN vì nhiều lí do nên chúng tôi phải cố gắng để thu nhặt những nhân tố rải rác ở các lớp “không hề theo Văn” ấy Phải khổ công vừa dạy vừa dỗ, vừa làm cho học sinh yêu, tin, say mê và nỗ lực hết mình để có thể không chỉ theo kịp mà còn vượt xa những “con gà chọi” từ học sinh văn ở các lớp chuyên và các lớp Khối C, D để đại diện cho toàn trường “mang chuông đi đánh xứ người” trong kì thi HSG cấp tỉnh
Vậy việc bồi dưỡng học sinh môn Văn không nằm ở trường chuyên, lớp theo khối có môn Văn như vậy, chúng tôi gặp khó khăn gì?
1 Trước hết là việc dạy của người thầy Do phải bám sát việc thực hiện theo phân phối chương trình, người thầy không có điều kiện đầu tư về chiều sâu trong giờ giảng; thời gian tập trung bồi dưỡng cho HSG cũng không nhiều (thường thì những em được chọn đi thi HSG chỉ được tập trung bồi dưỡng 8 - 10 buổi) Về phía học sinh, ngoài vấn đề năng khiếu - chất lượng đầu vào chưa cao, còn có một đặc thù nữa là các em phải dành hết thời gian và tâm sức cho các môn Tự nhiên (Khối A, B) mà sau này sẽ chon để thi Đại học Thiết nghĩ, việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi nếu được đầu tư một cách thích đáng và tiến hành bài bản, kết quả sẽ khả quan hơn, kéo theo đó là hứng thú học văn sẽ phần nào được cải thiện nên phát hiện bồi dưỡng năng khiếu văn chương
Trang 5
2 Về phía học sinh, do nhiều nguyên nhân (chủ quan và khách quan), học sinh
không còn mặn mà với môn văn và số đông đã lựa chọn vào học các môn Tự nhiên để tìm kiếm một cơ hội việc làm tốt hơn cho tương lai
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đời sống con người được nâng cao, chúng ta được tiếp cận với nhiều loại hình giải trí khác nhau và lĩnh hội thông tin bằng nhiều hình thức nhanh chóng qua internet, điện thoại di động làm cho văn hóa nghe nhìn dường như đã lấn át văn hóa đọc khiến học sinh lười đọc sách, lười suy nghĩ, suy nghĩ hời hợt, quan tâm đến những lợi ích vật chất trước mắt hơn những giá trị nhân văn sâu bền, thụ động trong tiếp thu, phụ thuộc vào những bài văn mẫu Nạn “văn mẫu” đã làm thui chột tư duy, thui chột sự sáng tạo trong tiếp nhận văn học của phần lớn học sinh
3 Trường tôi đứng chân trên khu vực bãi ngang tám xã ven biển của huyện Hoằng Hóa nên kinh tế còn nghèo nàn, khó khăn, dân trí thấp Việc đầu tư cho con em học hành còn nhiều hạn chế Chất lượng đầu vào ở những trường vùng biển còn rất thấp so với mặt bằng chung trong huyện và trong tỉnh Đa số học sinh chỉ đạt học lực trung bình, trung bình yếu, lượng khá giỏi thì rất ít Học sinh phần lớn chưa ham học, chưa tự giác Số ít những học sinh khá giỏi, học đồng đều các môn lại chỉ chăm chú giành thời gian nhiều cho các môn KHTN để ưu tiên cho mục tiêu thi Đại học nên có tâm lí đối phó với môn Văn
Trong "cái khó ló cái khôn", làm sao để học sinh từ lơ là đến say mê, từ bằng lòng đến quyết tâm thể hiện khả năng còn tiềm ẩn của bản thân, từ bị thuyết phục đến tự nguyện để rồi điều kì diệu là những học sinh ấy sau lần gặt hái được thành công tại kì thi học sinh giỏi tỉnh đã quyết định thi Đại học bằng những khối thi có môn Văn? Đó là những câu hỏi đặt ra, là những kết quả đã có trong thực tế mà tôi muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp -không ít người đã làm được như tôi và hơn tôi rất nhiều để chúng ta cùng cảm thấy mình được an ủi vì niềm tin mà học sinh đã mang lại cho môn Văn
III GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1 Phát hiện và chọn lọc học sinh giỏi ở các lớp ban KHTN
Muốn bồi dưỡng HSG trước hết người giáo viên phải biết phát hiện, chọn lọc và đặc biệt đối với môn văn ở các lớp ban KHTN thì phải còn cần kiên nhẫn thuyết phục các em chọn mình và có quyết tâm theo đuổi niềm say mê bộ môn Thực tế cho thấy việc đánh giá về học sinh giỏi văn và khả năng nhìn thấy được những tiềm năng để đánh thức ở mỗi một giáo viên là khác nhau vì học sinh giỏi văn ở các lớp ban KHTN thực chất là những viên ngọc thô còn chưa được mài giũa
Trang 6
Một trong những căn cứ quan trọng để phát hiện học sinh giỏi chính là qua những bài kiểm tra của các em Tôi thường ra những đề thi nghị luận văn học ở mức cơ bản nhất theo yêu cầu chung của ban KHTN và đề thi nghị luận xã hội thì tùy theo khối lớp mà mức độ khó khác nhau nhưng luôn cho phép các em được thể hiện quan điểm, mong muốn, những điều ấp ủ, được trải lòng trong trong cuộc sống Qua đó tìm ra được những học sinh có khả năng lập luận, vốn kiến thức văn học và có một đời sống nội tâm sâu sắc với những kiến giải thuyết phục trước một vấn đề nào đó Đó hứa hẹn sẽ là những học sinh có thể đi xa hơn nữa nếu được bồi dưỡng bài bản, dài hơi
Thứ nữa là tôi không chỉ chọn những học sinh tạo ấn tượng ở ngay bài làm đầu tiên hoặc có kiến thức nhưng lại đều đều, không tiến, không lùi qua các bài kiểm tra mà tôi chọn những học sinh có sự trưởng thành rõ rệt theo thứ tự các bài kiểm tra số 1, số 2, số 3 đặc biệt là ở hai năm học lớp 11 và lớp 12 - là năm nội dung học cũng là phạm vi nội dung thi trong chương trình thi học sinh giỏi cấp tỉnh Đó là những học sinh yêu văn và có những nỗ lực trong việc thể hiện mình và biết tìm tòi, trân trọng với các đề bài kiểm tra do cô giáo giao
Thực tế trong các trường THPT hiện nay cho thấy phải rất khó khăn để một giáo viên Văn dạy các lớp ban KHTN có thể động viên, bồi dưỡng để các em chịu “gật đầu” mọt cách tự nguyện và coi việc mình được cô giáo lựa chọn là một trọng trách để nghiêm túc
“bớt chút” thời gian đầu tư cho công tác ôn luyện cùng đội tuyển của trường Bản thân giáo viên dạy cũng phải luôn tạo được hứng thú bộ môn và hiểu học sinh để đánh thức niềm say mê, sự miệt mài trong các em, hướng các em thi đua để tạo được những thành tích Người ta thường nói “khiển tướng không bằng khích tướng”, tôi luôn làm công tác
tư tưởng với các em trong mỗi giờ học, khích lệ các em và kêu gọi lớp học đó cùng tôi cổ vũ và tạo điều kiện cho các bạn tham gia trước hết là dạt mục tiêu thi đua với các bạn khối C, D trong toàn trường, sau đó là vì mục tiêu cao hơn ở kì thi cấp tỉnh
Sau khi đã phát hiện và chọn lọc được HSG, công việc tiếp theo là làm sao để tổ chức tốt các hoạt động bồi dưỡng riêng cho các em cùng với HSG ở các khối lớp khác giúp các
em mạnh dạn khi ôn luyện chung với với các bạn, bỏ được mặc cảm tự ti mình là dân khối A Hoạt động đó bao gồm: Cung cấp kiến thức, hướng dẫn tự học và rèn luyện kỹ năng cho các em
2 Cách thức bồi dưỡng.
2.1 Các giờ dạy chính khóa:
Theo phân phối chương trình bộ môn Văn, số tiết dạy chính khoá trong tuần của giáo viên ở các lớp ban KHTN khối 12 là 3 tiết/ tuần (ở các lớp theo chương trình Nâng cao là
4 tiết/ tuần) và không bằng 1/2 số tiết dạy của giáo viên trường chuyên Thời lượng để
Trang 7
dạy một tác phẩm cũng ít hơn rất nhiều Vì vậy, giáo viên không có điều kiện đi sâu, giảng kỹ tác phẩm; học sinh ít có cơ hội để được ôn luyện bài bản như học sinh ở các lớp Xã hội và ở trường chuyên Đây là một thực tế hết sức bất lợi cho cả thầy và trò trường không chuyên trong những kì thi HSG tỉnh vì cả học sinh trường chuyên và không chuyên đều cùng thi chung một đề (dĩ nhiên, những học sinh trường chuyên là những học sinh đã được tuyển chọn kỹ lưỡng lúc vào trường lại được học tập, bồi dưỡng có hệ thống
sẽ có lợi thế hơn nhiều so với các em ở lớp heo ban KHTN trường không chuyên) Tuy nhiên, dù khó khăn bao nhiêu chúng tôi cũng phải tìm được một cách giải, một lối thoát cho mình
Ở các lớp ban KHTN, vì số tiết giảng dạy trên lớp quá ít, việc Đọc - hiểu sâu kĩ các tác phẩm lại cần nhiều thời gian nên gần như khi lên lớp, giáo viên phải tranh thủ từng giây từng phút để truyền đạt đến các em nội dung cơ bản cô đọng nhất, giúp các em nắm chắc trước hết là những kiến thức cơ bản để về nhà thực hành các bài viết Vì vậy giờ giảng văn trên lớp có một ý nghĩa cực kì quan trọng để tạo hứng thú và niềm say mê cho các em
Lồng vào trong mỗi giờ Đọc - hiểu, người giáo viên phải hướng dẫn các em cách dẫn dắt vào đề, cách hành văn sao cho vừa nhẹ nhàng, uyển chuyển vừa chắc chắn chững chạc mà không rơi vào sáo rỗng Chẳng hạn như khi dẫn vào các tác phẩm, giáo viên có
thể đưa thêm vào những định ngữ, phụ chú sau tên tác phẩm như : "Đây thôn Vĩ Dạ"
-một bài thơ trong trẻo và đầy bí ẩn"; "Việt Bắc" - khúc trữ tình chính trị xuất sắc - -một thứ men say có sức ngấm sâu vào nhiều thế hệ độc giả" Dẫn vào tác phẩm "Chí Phèo"
của nhà văn Nam Cao, ta có thể dùng câu chữ như: Là nhà văn tuy đến với văn đàn hiện
thực phê phán khá muộn nhưng đã sớm tìm cho mình một lối đi riêng Ông đã biết lách
ngòi bút của mình vào chỗ da non nhất của lòng người để từ đó bật lên những tiếng tơ đàn thánh thiện "Chí Phèo" là một tác phẩm tiêu biểu cho lối viết ấy Tác phẩm được
đánh giá là "Một thứ quả lạ của một phong cách chín ngay từ đầu"
Một ví dụ khác: Ta có thể bắt đầu lời dẫn vào "Vội vàng" của Xuân Diệu bằng một
câu nói nổi tiếng của Anhxtanh: "Nếu đi ngang với vận tốc thì tháng ngày sẽ trở lên vĩnh
cửu", hay bằng chính một câu nói của Xuân Diệu : "Thời gian chỉ là sự cử động Nếu tôi đứng - nếu máu tôi ngừng thời gian của tôi không còn nữa" Với "Đây thôn Vĩ Dạ" của
Hàn Mặc Tử chúng ta có thể dẫn vào bằng một câu nói rất nổi tiếng của Pôn Valêri : "Cái
đẹp làm ta tuyệt vọng"
Từ thực tế giảng dạy chúng tôi thấy rằng, khi dẫn vào bài với những câu từ như vậy có thể tạo ấn tượng mạnh cho học sinh, đánh thức những tâm hồn phẳng lặng còn thờ ơ với môn văn, các em sẽ tỏ thái độ trầm trồ xuýt xoa và sau đó là sự hào hứng, hồ hởi bước vào bài mới
Trang 8
Giáo viên cũng nên hướng học sinh giỏi vào việc tư duy trọng tâm các vấn đề trong tác phẩm Ví dụ khi giảng "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử, chúng ta không thể không gieo vào tâm tư suy nghĩ, khơi dậy trong các em những khám phá tìm tòi cắt nghĩa, lí giải về cấu trúc đặc biệt của bài thơ này Bài thơ có ba khổ thơ, mỗi khổ thơ là một câu hỏi gắn liền với đại từ phiếm chỉ "Ai?", "Vườn ai?", "Thuyền ai?", "Ai biết tình ai?" Và để rồi giúp các em hiểu ra rằng: Cả bài thơ là một niềm dõi theo đến đau đáu, một khát khao đến đớn đau mong được giao cảm, được cứu vớt trong chiều sâu của một cõi lòng cô độc,
bơ vơ vv Trong giờ giảng văn, giáo viên còn cần chú ý đến giọng điệu phải như thế nào để có thể trước hết là lôi cuốn, thu hút sự chú ý của học sinh sau đó là góp phần tạo cho các em tâm lí tiếp nhận văn chương một cách tự giác
2.2 Các buổi phụ đạo, bồi dưỡng:
Ngoài thời gian hạn định trên lớp, tôi bố trí sắp xếp lịch cùng các em ôn luyện ở trường vào một số buổi chiều mà lớp các em không ôn thi Đại học theo khối và ở nhà riêng vào các chủ nhật Tôi cung cấp các loại sách tham khảo, tài liệu đã chọn lọc trên mạng theo chủ đề của từng bài và có các đề kèm theo sau đó để các em học, đọc đến đâu xong các
em thực hành luôn đến đó để khắc sâu kiến thức, nhuần nhuyễn kĩ năng và rèn luyện độ trường sức, chữ viết, kinh nghiệm làm bài cho các em Phát huy tối đa tinh thần tự học, tự vận động của học sinh là chính trong thời gian bồi dưỡng Sau mỗi buổi ôn luyện và cung cấp tài liệu, ra đề bài đó, tôi cho các em một thời gian ấn định thu bài về chấm chữa kịp thời để phát hiện những ưu và nhược điểm của mỗi học sinh Chữa lỗi bài làm chủ điểm để các em nhớ lâu và quyết tâm khắc phục Cứ thế qua mỗi lần viết bài các em sẽ trưởng thành rõ rệt và "quen tay" nhanh chóng
Cụ thể công việc như sau:
2.2.1 Ngay sau khi thành lập đội tuyển cuối cùng, tôi tiến hành bồi dưỡng riêng theo
nhóm các em thuộc các lớp ban KHTN và xây dựng khung chương trình bồi dưỡng
theo chuyên đề cho các em
1 Khái quát VHVN từ đầu XX - 1945
3 Khái quát về Phong trào Thơ mới
Trang 9
5 Hàn Mặc Tử với “Đây thôn Vĩ Dạ”
9 Khái quát về Văn xuôi lãng mạn VN 1930 - 1945
10 Thạch Lam với “Hai đứa trẻ”
11 Nguyễn Tuân với “Chữ người tử tù”
12 Khái quát về Văn học hiện thực phê phán 1930
13 Vũ Trọng Phụng - “Hạnh phúc của một tang gia”
16 Các tác phẩm của Hồ Chí Minh
17 Khái quát VHVN 1945 đến hết thế kỉ XX
18 Thơ Tố Hữu : Từ ấy, Việt Bắc
19 Thơ Kháng chiến chống Pháp: Tây Tiến, Đất Nước
20 Thơ Kháng chiến chống Mĩ: Tây Tiến, Đất Nước,
21 Thơ sau 1975: Đàn ghi ta của Lorca
Trang 10
24 Truyện ngắn sau 1975: Chiếc thuyền ngoài xa
25 Các dạng nghị luận xã hội và cách làm bài
2.2.2 Cách rèn luyện các dạng đề HSG:
Thực tế giảng dạy giúp tôi ý thức một cách sâu sắc rằng, việc ra đề là khâu quan trọng đầu tiên của quá trình phát hiện, kiểm tra, đánh giá và lựa chọn HSG Đề đúng và hay sẽ phân hoá được trình độ học sinh, giúp người thầy nắm trúng điểm mạnh, điểm yếu của mỗi học sinh từ đó có thể đánh giá khách quan, chính xác, công bằng năng lực, sự cố gắng vươn lên của học sinh đồng thời tạo được niềm tin và hứng thú học tập cho học sinh, khi hiểu được năng lực của mình Ngược lại, đề thiếu chính xác, sáo mòn không những không đánh giá được chính xác về năng lực học sinh mà còn làm giảm thiểu hứng thú học văn, tính độc lập sáng tạo của các em Và hậu quả là việc rèn kỹ năng sẽ trở nên
vô nghĩa
Trong những năm gần đây, cùng với sự thay đổi chương trình, đề thi HSG cũng đã có nhiều đổi mới Ngoài các tác phẩm quen thuộc đề thi chú trọng nhiều đến các tác
phẩm mới đưa vào chương trình như: Đàn ghi ta của Lorca, Ai đã đặt tên cho dòng
sông?, Chiếc thuyền ngoài xa, Một người Hà Nội Bên cạnh đó, đề thi còn có sự thay đổi
dễ nhận thấy là ngoài phần nghị luận văn học còn có phần nghị luận xã hội, đặc biệt là
nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí trong đó đề cập đến những vấn đề xã hội quan tâm Đây là sự đổi mới thật sự phù hợp với xu hướng đưa văn học gần với cuộc sống để đề thi bớt đi tính hàn lâm và nặng kiến thức sách vở
Tôi thường tìm tòi và cho các em làm quen dần với những dạng đề thi HSG của các năm trước đó hoặc đề hay của các trường khác trong và ngoài tỉnh bạn theo mức độ từ dễ đến khó Nhìn chung, tinh thần nhất quán của đề thi HSG là theo sát chương trình Từ nhận thức đó, trong quá trình ra đề rèn luyện kỹ năng cho học sinh, tôi thường tập trung vào một số dạng đề cơ bản sau:
*Đề kiểm tra khả năng cảm thụ tác phẩm văn học
Dạng đề này phải gắn với những tác phẩm hay, có trong chương trình Sách giáo khoa