1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa doanh nghiệp và đọa đức kinh doanh Đạo đức của doanh nghiệp với nhà cung cấp

21 270 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 140,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà cung cấp là những cá nhân hay tổ chức cung ứng các loại yếu tố đầu vào cho doanhnghiệp như: nguyên liệu, vật liêu, bán thành phẩm hay dịch vụ cho doanh nghiệp, laođộng, máy móc thiết

Trang 1

Văn hóa doanh nghiệp và đọa đức kinh doanh

Đạo đức của doanh nghiệp với các nhà cung cấp

Nhóm 5 - Liberty

1 Khái niệm nhà cung cấp là gì?

Nhà cung cấp là những cá nhân hay tổ chức cung ứng các loại yếu tố đầu vào cho doanhnghiệp như: nguyên liệu, vật liêu, bán thành phẩm hay dịch vụ cho doanh nghiệp, laođộng, máy móc thiết bị kỹ thuật hay tiền vốn cho doanh nghiệp để phục vụ cho hoạt độngsản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thuận lợi và ổn định

Các nhà cung cấp của doanh nghiệp:

- Nhà cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị công nghệ kỹ thuật, hàng hóa là yếu tố đầu vàocho doanh nghiệp

- Nhà cung cấp tài chính, dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm cho doanh nghiệp

- Nhà cung cấp nguồn nhân lực cho doanh nghiệp

Để đem lại lợi ích lớn nhất cho doanh nghiệp mình trong khâu thu mua các yếu tố đầuvào, doanh nghiệp nên lựa chọn nhà cung ứng phù hợp theo các tiêu thức sau:

- Đánh giá được phạm vi, quy mô của nhà cung ứng lớn hay nhỏ, có đáp ứng được nhucầu biến động của thị trường hay không?

- Đánh giá về mẫu mã, chủng loại phong phú đa dạng? Chức năng công dụng của sảnphẩm dịch vụ như thế nào?

Trang 2

- Đánh giá về khả năng cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ ( những yếu tố đầu vào) củacác nhà cung ứng cho doanh nghiệp, chỗ đứng của sản phẩm trên thị trường Kiểu dángmẫu mã, chất lượng, giá cả sao với các sản phẩm cùng loại Khả năng cạnh tranh của cácdoanh nghiệp khác Thương hiệu và uy tín của nhà cung ứng là sự đảm bảo về chất lượng,

số lượng và thời gian cung ứng hàng cho doanh nghiệp giúp doanh nghiệp chủ động vàthuận lợi trong việc sản xuất và kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

- Đánh giá về khả năng chủ động tài chính của nhà cung ứng: nhà cung ứng đang ở giaiđoạn nào trong quá trình phát triển Nên ưu tiên các nhà cung ứng đang ở giai đoạn ổnđịnh và phát triển với tình hình tài chính lành mạnh

- Đánh giá về sự ưu đãi đặc biệt về các dịch vụ đi kèm của các nhà cung ứng như: giá cả,vận chuyển, lắp đặt, bảo hành, bảo dưỡng, bảo hiểm, thanh toán…Những ưu đãi này làmgiảm chi phi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với nhà cung cấp trong liên kếthợp đồng

Nhà cung cấp cung ứng các loại yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp để có thể đảm bảo đượccác hoạt động của mình sẽ được diễn ra theo đúng kế hoạch, đảm bảo về chất lượng, sốlượng hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường Vì vậy, doanh nghiệp phụ thuộc khánhiều vào các nhà cung cấp

Những ưu thế và đặc quyền của các nhà cung cấp cho phép họ có những ảnh hưởng nhấtđịnh đối với doanh nghiệp và những áp lực đối với doanh nghiệp.Họ có nhiều cách để tácđộng vào khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp, như có thể nâng giá, giảm chất lượngsản phẩm mà họ cung ứng hoặc không đảm bảo đúng tiến độ cung cấp theo yêu cầu củadoanh nghiệp

2 Một số khía cạnh đạo đức của doanh nghiệp và các nhà cung cấp

“ Đạo đức kinh doanh giưã doanh nghiệp với nhà cung cấp là tất cả những quy tắc, tiêuchuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực

và sự trung thực của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp,của nhà cung cấp đối với doanhnghiệ trong kinh doanh.”

Trang 3

2.1.Doanh nghiệp đối với nhà cung cấp

- Đối xử công bằng với nhà cung ứng

- Quy định về việc nhận quà hay bồi dưỡng

- Tôn trọng sở hữu trí tuệ của người khác

- Bảo vệ dữ liệu thuộc sở hữu của người khác

- Sử dụng phần mềm có bản quyền

- Đòi hỏi các nhà tư vấn và cung ứng phải hành động một cách hợp pháp và theochuẩn mực đạo đức

Trang 4

2.2.Nhà cung cấp đối với doanh nghiệp:

Nhà cung cấp đảm bảo hoạt động tuân thủ luật pháp để không ảnh hưởng đến uy tín củadoanh nghiệp

Bên cạnh đó các nhà cung cấp tuân thủ quy tắc đạo đức mà doanh nghiệp họ đề ra như:

- Nhà cung cấp không được sử dụng người lao động dưới 14 tuổi Người lao độngdưới 18 tuổi không được thực hiện những công việc có thể gây nguy hại đến sứckhỏe, sự an toàn và học vấn của họ

- Nhà cung cấp không được tham gia vào các hành vi buôn người, sử dụng ngườilao động bị cưỡng bức, không tự nguyện hoặc nô lệ; hay mua vật tư hoặc dịch vụtừ những công ty sử dụng người lao động bị cưỡng bức, không tự nguyện hoặc nôlê

- Nhà cung cấp phải tuân thủ các quy định và luật lao động về tiền công và giờ làmhiện hành, đang chi phối mức thù lao và giờ làm việc của nhân viên

- Nhà cung cấp phải tạo ra môi trường làm việc lành mạnh và an toàn cho người laođộng

- giảm thiểu được tác động đến tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, kháchhàng cũng như nhân viên Họ phải đảm bảo hoạt động của mình phù hợp với cácđiều luật có liên quan đến khí thải, nước thải, chất độc hại và rác thải độc hại

- Nhà cung cấp phải bảo vệ tất cả các thông tin, dữ liệu của doanh nghiệp và tài sảntrí tuệ hoặc công nghệ của doanh nghiệp bằng những hình thức bảo vệ thích hợp

- Nhà cung cấp cung ứng các sản phẩm đáp ứng các yêu cầu theo quy đinh về chấtlượng,số lượng,mẫu mã……

- cung cấp sản phẩm đúng thời hạn,không làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất củadoanh nghiệp

3 Đạo đức của các nhà cung cấp và doanh nghiệp

3.1 Nhà cung cấp vốn

Để hoạt dộng được thì trước tiên doanh nghiệp cần phải có vốn hoạt động, nguồn vốn nàyđến từ nhiều nguôn khác nhau, mỗi nguồn lại có nhứng đặc trưng riêng, có thể là nguồn

Trang 5

vốn tự co, đi vay hoặc nguồn tài trợ từ ngân sách nhà nước Có thể nói để sử dụng nguồn

có hiệu quả nguồn vốn là không hề đơn giản đối với bất cứ doanh nghiệp nào và điều tấtyếu nảy sinh là sử dung một cách kém hiệu quả, gâp lãng phí, thất thoát ảnh hưởng tớicác nhà tài trợ, điều đó đã vi phạm một chuẩn mực đao dức cơ bản đó là “”, Chúng ta xétxem chuẩn mực đạo đức đã bị vi phạm như thế nào

Trang 6

3.1.1 Nguồn tài trợ từ ngân sách nhà nước.

Theo Tổng cục Thống kê, tổng tài sản năm 2011 của DNNN là hơn 3,1 triệu tỷ đồng,chiếm trên 40% tổng tài sản của toàn bộ DN cả nước và lớn hơn cả tổng GDP hàng năm

Trong điều kiện kinh tế hiện nay, DNNN nắm giữ một nguồn lực vô cùng lớn Vậy thì,việc sử dụng khối tài sản và nguồn lực đó như thế nào chắc chắn sẽ ảnh hưởng chung tớihiệu quả kinh tế quốc gia

Đa số các tổng công ty – tập đoàn nhà nước làm ăn kém hiệu quả, đây là thực trạng đángbáo động cho nện kinh tế Việt Nam năm 2011 Cụ thể, tổng số nợ phải trả của tập đoànkinh tế, tổng Cty lên tới 1.292.400 tỷ đồng, tăng 18,9% so với năm 2010, Đặc biệt, cóđến 30 tập đoàn, tổng công ty tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần Trong đó có

8 đơn vị có tỷ lệ trên 10 lần, 10 doanh nghiệp từ 5 – 10 lần, 12 tập đoàn, tổng công ty từ 3

- 5 lần,

Ảnh hưởng tới nền kinh tế.

Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước một thời được kỳ vọng là quả đấm thép, là đầu tàu nềnkinh tế Nhưng sau các đánh giá tổng kết, dư luận lại chỉ thấy nợ lớn, lỗ khủng Thanhtra, kiểm toán vào cuộc là đụng đâu cũng có vấn đề

Trước đó, đã có không ít vụ việc được đưa ra ánh sáng như vụ EVNTelecom thua lỗ cảnghìn tỷ đồng ở Tập đoàn Điện lực Việt Nam- theo Kết luận kiểm toán của Kiểm toánNhà nước Trước nữa, là vụ đỗ vỡ Vinashin với 86.000 tỷ đồng nợ phải trả Hệ quả sau

đó, nhiều Tập đoàn bị vạ lây, hệ số tín nhiệm do các tổ chức quốc tế đánh giá bị đánh tụtbậc, vay vốn nước ngoài khó khăn Rồi đến Vinalines với con số nợ lên đến hàng chụcngàn tỷ

Và gần đây nhất là Petrolimex với nghịch lý lỗ nợ mà lương cao thật khó giải thích với

dư luận

Trang 7

Cho đến bây giờ, những "thiểu số" đó đã làm xấu đi rất nhiều hình ảnh của DNNN, gâyhoài nghi về những trọng điểm kinh tế của Việt Nam Chỉ một Tập đoàn, một Tổng công

ty có "vấn đề" thì coi như cả ngành kinh tế bị vạ lây theo Vì họ bao sân toàn bộ, nhưngành điện thì gần như là "độc quyền" của EVN, ngành xăng dầu với sự "thống lĩnh" củaPetrolimex, ngành vận tải biển, đóng tàu "nổi danh" với Vinalines, Vinashin

Không phủ nhận những đóng góp to lớn của các DNNN trong chặng đường 20 năm đổimới kinh tế vừa qua Việt Nam đã dẫn đầu thế giới, liên tục ở ngôi vị số 1, số 2 thế giới

về gạo, cà phê thay có những bứt phá siêu hạng về xuất khẩu ở ngành dệt may, nănglượng dầu khí

Những điều đó cũng không thể dùng để hỏa lấp những "lỗi lầm" ở nhiều Tập đoàn, Tổngcông ty gây ra Kỳ vọng Việt Nam Nam sẽ có những Tập đoàn, Tổng công ty lớn mạnh,dẫn dắt nền kinh tế, sánh vai với bạn bè năm châu là đúng đắn Nước nào cũng cần nhữngđầu tàu như vậy

Nhưng thực thi chủ trương lớm mà giám sát quản lý lỏng lẻo nên đã gieo mầm cho nhữngnguy cơ Vì thế, mới có những chuyện đau lòng xảy ra ở Vinashin, Vinalines Nhưng chođến bây giờ, các chủ sở hữu Nhà nước đánh giá về câu chuyện này ở chừng mực nào đóvẫn còn nương nhẹ

Trong khi đó, Thanh tra Chính phủ đã tổng kết 5 sai phạm chủ yếu ở các Tập đoàn, Tổngcông ty là: sai quy trình, thủ tục đầu tư, thu chi theo các quy định của nhà nước; sai vềthẩm quyền; sai về đối tượng cho phép; hạch toán không đúng nguồn dẫn đến phản ánhkết quả sản xuất kinh doanh, lợi nhuận không đúng với bản chất và thứ 5 là trình độ quản

lý doanh nghiệp còn nhiều yếu kém nên đã dẫn đến một số vi phạm về kinh tế, vi phạmpháp luật

Có thể thấy rõ, về cơ bản, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã góp phần quan trọngvào tăng trưởng và giữ ổn định kinh tế vĩ mô trong năm 2010 Tuy nhiên, những tồn tại

Trang 8

của khối doanh nghiệp này mà kiểm toán đã chỉ ra về vấn đề hiệu quả sử dụng nguồn vốncòn thấp, việc lệ thuộc quá nhiều vào vốn vay ngân hàng, về tình trạng đầu tư ngoàingành không hiệu quả… cần sớm được chấn chỉnh và giải quyết song song với quá trìnhtái cơ cấu thị trường tài chính, tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước Đồng thời, các cơquan quản lý cũng cần có chế tài để không lặp lại những tồn tại, kiểm soát và đánh giánhững dấu hiệu bất ổn mới có thể nảy sinh để kịp thời chấn chỉnh để các hoạt động củacác tổ chức tài chính, tập đoàn, tổng công ty nhà nước lành mạnh và hiệu quả hơn

Điển hình nhất là tập đoàn kinh tế VInashin

- Vinashin làm thất thoát hàng chục tỉ đồng của Nhà nước

+ Trong năm 2009, Vinashin thực lỗ gần 5000 tỉ đồng, nhiều hơn 3300 tỉ so với báocáo tài chính của Vinashin

+ Nhiều năm liền, Vinashin báo cáo không trung thực về vốn cũng như đầu tư khiếncho sự thất thoát của nhà nước ngày càng lớn

+ Đóng tàu vốn là ngành chủ lực của Tập đoàn nhưng Vinashin lại tập trung vào đóngmới, bỏ qua khâu kiểm tra, sửa chữa, nâng cao chất lượng đóng tàu Do tàu mới khôngbán được dẫn vốn bị tồn đọng lớn

+ Không những thế, Tập đoàn còn đầu tư vào những lĩnh vực không hề có kinhnghiệm (như điện, thép, tài chính,…) dẫn đến nhiều dự án hiệu quả thấp, chưa hoàn thành

vì thiếu vốn, gây đình trệ và thất thoát lớn

Ví dụ:

• Dự án mua tàu Hoa Sen gây thiệt hại cho nhà nước số tiền hơn 469,5 tỷ đồng

• Dự án đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Sông Hồng (tỉnh Nam Định) là hơn 316,5

Trang 9

• Việc bán vỏ tàu Bạch Đằng Giang gây thiệt hại hơn 27,3 tỷ đồng.

Toàn bộ nền kinh tế cũng như uy tín của chính phủ Việt Nam giảm sút trầm trọng Contàu Vinashin chìm đã khiến chỉ số tín nhiệm nợ của chính phủ Việt Nam giảm xuốngmạnh mẽ Mặc dù chính phủ không đứng ra bảo lãnh nợ cho Vinashin nghĩa là không cótrách nhiệm trả nợ cho Vinashin nhưng vẫn phải bằng cách này hay cách khác choVinashin vay để trả nợ nếu không chúng ta sẽ khó đi vay trên thị trường tín dụng quốc tếhoặc chịu lãi suất cho vay rất cao Và sự thật là Chính phủ đã đứng ra bảo lãnh khoản nợnày trên hình thức tái cơ cấu Vinashin

+ Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin nợ như chúa chổm với tổng nợ khoảng86.000 tỷ đồng tức 4 tỷ USD tính đến cuối năm 2010, theo các báo cáo chính thức Trong

đó Vinashin nợ 750 triệu USD từ nguồn trái phiếu quốc tế do chính phủ phát hành và chovay, dĩ nhiên chính phủ có trách nhiệm trả nợ khoản này Ngoài ra Vinashin còn cókhoản vay khác 600 triệu USD do Ngân hàng Credit Suisse bảo lãnh phát hành trên thịtrường quốc tế, phần còn lại là các món nợ ngân hàng thương mại nước ngoài và các tổchức tín dụng trong nước

+ Không những thế, do chính phủ Việt Nam không để Vinashin phá sản, nên hậu quảcủa vụ án không dừng lại ở Vinashin vì 21 công ty con của Vinashin cùng là bị đơn, naymột số lớn đã được chuyển sang các tập toàn công ty mẹ khác Những tập đoàn, doanhnghiệp Nhà nước tiếp nhận những công ty con của Vinashin đương nhiên bị liên lụy Hậuquả của nó sẽ lan tỏa ra toàn khối doanh nghiệp quốc doanh, lan tỏa đến nền kinh tế và cảchính phủ

Vinashin trở thành biểu tượng tiêu biểu cho mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước

thua lỗ ở Việt Nam.

Trang 10

3.1.2 Nguồn vốn từ hệ thông ngân hàng.

Nguôn tín dụng ngân hàng là mạch máu của cả nền kinh tế, không chỉ là nơi cung cấpvốn cho nền kinh tế mà ngân hàng còn là nơi điều tiết hoạt động của cả nền kinh tế nênngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế, ngân hàng cung tiềncho nền kinh tế nhưng việc sử dụng không hiệu quả nguồn tiền đã gây cho ngân hàng rấtnhiều khó khăn, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế và bây giờ đang phải vật lôn để giảiquyết đó là tình trạng nợ xấu bất động sản và chứng khoán

Dư nợ tín dụng bất động tính đến 31/8/2012 khoảng 203.000 tỷ đồng Nếu tính dư nợ liênquan đến bất động sản như cho vay kinh doanh BĐS, vay thế chấp BĐS, vay sản xuấtkinh doanh,…thì con số rất lớn khoảng 1 triệu tỷ đồng tương đường khoảng 57% tổng dư

nợ tín dụng toàn hệ thống

Còn theo số liệu của NHNN tính đến tháng 6 năm 2012 nợ xấu của hoạt động kinh doanhbất động sản cỡ khoảng 13.900 tỷ đồng tương đương khoảng 12% dư nợ, nợ xấu củangành xây dựng khoảng 17.300 tỷ đồng tương đương khoảng 9,7% dư nợ

Tổng nợ ngân hàng là 2 triệu tỉ đồng thì bất động sản chiếm 1 triệu tỉ đồng Chính vì vậy,

nó kéo theo các ngành khác như xây dựng, ximăng, sắt thép không bán được, trong khivẫn nhập sắt thép về ầm ầm gây ảnh hưởng tới nền kinh tế

Cùng với đó là thực trạng thị trường BĐS đóng băng kéo dài gần 2 năm qua, dự án ngừngtrệ, DN gặp quá nhiều khó khăn thậm chí phá sản,…do đó vấn đề xử lý nợ xấu thế nàođang là “điểm nóng” được dư luận, Chính phủ quan tâm, đặc biệt là ưu tiên là vấn đề nợxấu BĐS tại các TCTD

Trang 11

Nguồn vốn đầu tư vào bất động sản phần lớn phải đi vay, chỉ có một phần nhỏ là vốn tự

có Cơ cấu sản phẩm chủ yếu là căn hộ hoặc chung cư cao cấp, trong khi đó, đại bộ phậnngười có nhu cầu thực lại chỉ nhắm tới căn hộ có quy mô nhỏ, giá rẻ

Hiện có những dự báo khác nhau về khả năng phục hồi của thị trường bất động sản Theonhiều dự báo, phải tới năm 2014, thị trường bất động sản mới thoát đáy, vượt dốc đi lên;nếu có ấm, nóng thì phải từ năm 2015 hoặc sau đó

Nhiều khoản vay để đầu tư, kinh doanh bất động sản và được thế chấp bằng bất động sản

đã qua thời hạn trả, trong khi lãi suất tiền vay rất cao và giá lại giảm rất mạnh, nên khôngbán được hàng Nếu khách hàng không có tiền trả nợ, thì việc ngân hàng xiết nợ là bìnhthường, theo đúng hợp đồng đã ký giữa ngân hàng và khách hàng

Khi bị ngân hàng xiết nợ, khách hàng vay buộc phải đẩy mạnh bán sản phẩm ra thịtrường Đáng lưu ý, điều này lại diễn ra trong điều kiện người có nhu cầu thực không đủtiền mua, hoặc do cơ cấu và giá bán sản phẩm không phù hợp với túi tiền, hoặc kháchhàng có đủ tiền mua, nhưng có tâm lý chờ giá giảm nữa mới mua

Cung (bao gồm cả sản phẩm đã và đang xây dựng, sản phẩm đã mua bằng tiền vay ngânhàng ) tăng, trong khi cầu tăng chậm hơn, thậm chí có loại còn giảm, thì giá bất độngsản lại càng bị sụt giảm Giá bất động sản giảm trung bình khoảng 30 - 40%, có loại còngiảm mạnh hơn

Khi giá bất động sản bị sụt giảm mạnh, thì tài sản thế chấp ngân hàng cũng bị bốc hơi,giá trị tài sản thế chấp cũng bị giảm mạnh theo, thậm chí còn xuống dưới cả mức giáđược tính thế chấp khi vay Đó là chưa kể một tài sản được thế chấp ở nhiều ngân hànghoặc được “thổi giá”

Ngày đăng: 05/07/2015, 06:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w