1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bộ tài liệu chuyên đề hội nhập kinh tế quốc tê

146 1,2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm, nội dung, bản chất và các hình thức HNKTQT a Khái niệm: HNKTQT HNKTQT là một xu thế vận động tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới trong điều kiện hiện nay, khi toàn cầu

Trang 1

BỘ TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ HỘI NHẬP

KINH TẾ QUỐC TẾ

Hà Nội – 2010

Trang 2

CHUYÊN ĐỀ I+II:

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Trang 3

PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1 Khái niệm, nội dung, bản chất và các hình thức HNKTQT

a) Khái niệm:

HNKTQT (HNKTQT) là một xu thế vận động tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới trong điều kiện hiện nay, khi toàn cầu hóa, khu vực hóa và quốc tế hóa đang diễn ra hết sức nhanh chóng dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

Mặc dù còn có những cách định nghĩa khác nhau, nhưng hiện nay khái niệm tương

đối phổ biến được nhiều người chấp nhận về hội nhập như sau: “Hội nhập kinh tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có sự ràng buộc theo những quy định chung” Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, với sự ra đời của WTO, khái niệm

hội nhập kinh tế ngày nay được định nghĩa một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn: “HNKTQT

là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình kinh tế mở, tham gia vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực hiện tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại và đầu tư”

b) Nội dung của HNKTQT

Trong quá trình hội nhập kinh tế, các quốc gia tập trung đàm phán để nhằm giải quyết 6 nhóm vấn đề cơ bản sau đây:

- Đàm phán cắt giảm thuế quan, tiến tới thực hiện thuế suất bằng 0% đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

- Giảm thiểu, tiến tới loại bỏ những hàng rào phi quan thuế (NTB) gây cản trở đối với thương mại Những biện pháp phi thuế phổ thông (NTM)1 cần được chuẩn mực hoá theo các qui định chung của WTO hoặc các thông lệ quốc tế và khu vực khác;

- Giảm thiểu các hạn chế đối với thương mại dịch vụ, tức là tự do hoá việc cung cấp

và kinh doanh các hình thức dịch vụ Theo phân loại của WTO, hiện nay có 155 phân ngành thuộc 11 ngành dịch vụ được đưa vào đàm phán, từ dịch vụ tư vấn giáo dục, tin học cho đến các dịch vụ ngân hàng, tài chính, viễn thông, giao thông vận tải ;

1Những biện pháp phi thuế phổ thông hiện nay được hiểu là các biện pháp quản lý thương mại

nằm trong khuôn khổ điều tiết của WTO như giấy phép, tiêu chuẩn chất lượng vệ sinh kiểm dịch, kiểm tra trước khi xếp hàng xuống tàu, định giá tính thuế hải quan

Trang 4

- Giảm thiểu các hạn chế đối với hoạt động đầu tư liên quan đến thương mại để tạo điều kiện đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại;

- Điều chỉnh chính sách quản lý thương mại theo những qui tắc và luật chơi chung của quốc tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến giao dịch thương mại như thủ tục hải quan, quyền sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh Tại các diễn đàn quốc tế và khu vực hiện nay, việc điều chỉnh và hài hoà các thủ tục hành chính liên quan đến giao dịch thương mại được gọi là hoạt động thuận lợi hoá thương mại;

- Triển khai những hoạt động hợp tác kinh tế, văn hoá, xã hội khác nhằm nâng cao năng lực của các nước trong quá trình hội nhập

Như vậy có thể thấy, vấn đề HNKTQT trong bối cảnh hiện nay không chỉ đơn thuần giới hạn trong phạm vi cắt giảm thuế quan2 mà đã được mở rộng ra tất cả các lĩnh

vực liên quan đến chính sách kinh tế thương mại, nhằm mục tiêu mở cửa thị trường cho hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản hữu hình và vô hình đối với trao đổi thương mại

c) Bản chất của HNKTQT

Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá là sản phẩm của quá trình cạnh tranh giành giật thị trường gay gắt giữa các nước và các thực thể kinh tế quốc tế Các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế cũng như các thoả thuận thương mại song phương và khu vực ra đời là để giải quyết vấn đề thị trường, với mục tiêu để thị trường khu vực và toàn cầu hoạt động có trật tự và quy củ hơn, giảm thiểu những hành động làm “bóp méo” thương mại Các tổ chức và định chế kinh tế thương mại này đưa ra các chương trình hợp tác và hoạt động riêng của mình, nhưng về cơ bản đều tuân theo những quy định, luật chơi và nguyên tắc chung của WTO Hội nhập kinh tế là việc tham gia vào các tổ chức các định chế này Do

đó, bản chất của HNKTQT là việc giải quyết vấn đề thị trường

Trong tiến trình toàn cầu hoá và HNKTQT này nay, để khỏi bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, ra sức cạnh tranh kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của chính mình Đây thực chất

là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh để phân chia thị trường Nhưng thực ra, tham gia tiến trình này, các quốc gia và vùng lãnh thổ cùng nhau thực hiện chính sách kinh tế mở

của WTO Nói cách khác, đối với các quốc gia, HNKTQT thực chất là sự chuyển đổi cơ

2Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) là tiền thân của WTO trong suốt trong

48 năm hoạt động, qua nhiều vòng đàm phán chỉ tập trung vào đàm phán giảm thuế

Trang 5

cấu kinh tế phù hợp với tình hình quốc tế đang thay đổi Sự chuyển đổi hay đổi mới này

là tự nguyện, nó xuất phát từ nhu cầu nội tại của mỗi nền kinh tế

HNKTQT là việc tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, là xu thế không thể đảo

ngược Tuy nhiên, HNKTQT không phải là mục tiêu mà chỉ là phương tiện để tăng

trưởng kinh tế ổn định và bền vững nhằm gia tăng chất lượng cuộc sống cho nhân dân Nói cụ thể hơn, HNKTQT là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế giới Nó là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật tự công bằng, chống lại sự áp đặt phi lý của các cường quốc kinh tế và các công

ty xuyên quốc gia;

HNKTQT là quá trình xóa bỏ từng bước và từng phần các rào cản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hóa kinh tế

HNKTQT một mặt tạo điều kiện thuận lợi mới cho các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải có những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường

HNKTQT tạo thuận lợi cho công cuộc cải cách ở các quốc gia nhưng đồng thời cũng là yêu cầu sức ép đối với các quốc gia trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh

tế, đặc biệt là các chính sách và phương thức quản lý vĩ mô

HNKTQT chính là tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện mới cho sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở trình độ phát triển ngày càng cao và hiện đại của lực lượng sản xuất

HNKTQT chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lực trong và ngoài nước, tạo

điều kiện mở rộng thị trường, chuyên giao công nghệ và các kinh nghiệm quản lý

d) Các hình thức HNKTQT chủ yếu trên thế giới:

Hiện nay, các nền kinh tế trên thế giới đã và đang tham gia vào tiến trình HNKTQT dưới các hình thức phổ biến sau:

(i) Tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO):

Đây là tổ chức kinh tế thương mại lớn nhất thế giới WTO hiện có 151 thành viên

và khoảng 30 nước đang tiến hành đàm phán gia nhập WTO định ra luật lệ chung cho thương mại quốc tế Các thành viên WTO có nghĩa vụ tuân thủ tất cả các qui định của WTO, trong đó nổi bật là các qui định về không phân biệt đối xử giữa các thành viên;

Trang 6

giảm dần bảo hộ bằng thuế quan; minh bạch hoá chính sách quản lý và chuẩn mực hoá một số qui tắc ứng xử thương mại như chế độ cấp giấy phép xuất nhập khẩu, qui tắc áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch, chính sách đầu tư, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

(ii) Khu vực thương mại tự do:

Tham gia khu vực thương mại tự do (gọi tắt là FTA- Free Trade Area), những thành viên tham gia sẽ thực hiện giảm thiểu thuế quan cho nhau Việc thành lập khu vực thương mại tự do nhằm thúc đẩy thương mại giữa các nước thành viên Những hàng rào phi thuế quan cũng được giảm bớt hoặc loại bỏ hoàn toàn Tuy nhiên, khu vực thương mại tự do không qui định mức thuế quan chung áp dụng cho những nước ngoài khối, thay vào đó từng thành viên vẫn có thể duy trì chính sách thuế quan khác nhau đối với các nước không phải thành viên Các Khu vực thương mại tự do đã trở thành nhân tố quan trọng của hệ thống thương mại quốc tế Cho đến nay, hầu như tất cả các nước trên thế giới là thành viên, hoặc đang đàm phán tham gia, của ít nhất một thoả thuận thương mại khu vực và khoảng 50% tổng giao dịch thương mại toàn cầu được tiến hành thông qua các thoả thuận thương mại khu vực3 Các khu vực thương mại tự do mà chúng ta hay nhắc đến là: Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), Khu vực thương mại tự do Bắc

Mỹ (NAFTA), Khu vực thương mại tự do Trung Mỹ, Hiệp hội thương mại tự do Mỹ La tinh (LAFTA) v.v

(iii) Liên minh thuế quan:

Ngoài việc thực hiện tự do hoá thương mại thông qua cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan như ở khu vực thương mại tự do, các thành viên của Liên minh thuế quan còn cùng nhau xây dựng biểu thuế quan chung áp dụng cho các nước ngoài liên minh Ở đây quá trình nhất thể hoá về thuế quan bắt đầu được thực hiện Khối cộng đồng chung Châu Âu (EC) trước đây thuộc dạng này

(iv) Thị trường chung:

Ngoài việc tự do hoá thương mại hàng hoá như ở khu vực thương mại tự do, các yếu tố khác như vốn, nhân lực, dịch vụ v.v cũng được tự do lưu thông giữa các nước thành viên trong thị trường chung Thị trường chung đầu tiên trên thế giới là Thị trường chung Châu Âu (thành lập từ 01/01/1993) Ngoài ra còn một số thị trường chung khác như MERCOSUR ở Nam Mỹ, Thị trường chung Châu Phi, Thị trường chung Arập

(v) Liên minh kinh tế:

3Báo cáo của AFTA-CER FTA Task force CER, 2000

Trang 7

Cho đến nay, liên minh kinh tế được coi là hình thức cao nhất của hội nhập kinh tế Liên minh kinh tế được xây dựng trên cơ sở các nước thành viên thống nhất thực hiện các chính sách thương mại, tiền tệ, tài chính và một số chính sách kinh tế-xã hội chung giữa các thành viên với nhau và với các nước ngoài khối Như vậy ở liên minh kinh tế, ngoài việc các luồng vốn, hàng hoá, lao động và dịch vụ được tự do lưu thông như ở thị trường chung, các nước còn tiến tới thống nhất các chính sách quản lý kinh tế xã hội, sử dụng chung một đồng tiền Hiện nay liên minh Châu Âu (EU) đang hoạt động theo hướng này

(vi) Diễn đàn hợp tác kinh tế:

Đây là hình thức mới của HNKTQT ra đời vào cuối những năm 1980 trong bối cảnh chủ nghĩa khu vực có xu hướng co cụm Tiêu biểu cho hình thức hội nhập này là Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình dương (APEC) ra đời năm 1989 và Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM) ra đời năm 1996 Đặc trưng của các Diễn đàn này là tiến trình đối thoại với những nguyên tắc linh hoạt và tự nguyện để thực hiện tự do hoá và/hoặc thuận lợi hoá thương mại, đầu tư, góp phần thúc đẩy nhanh hơn tiến trình tự do hoá trên bình diện toàn cầu

(vii) Ký kết các hiệp định thương mại và đầu tư song phương:

Đây là hình thức hội nhập rất tích cực, nhiều khi nó đi nhanh hơn, sâu hơn các hình thức hội nhập khác và còn có tác dụng bổ trợ, thúc đẩy các hình thức hội nhập khác Các hiệp định thương mại và đầu tư song phương được ký kết nhằm tăng cường mối quan hệ hợp kinh tế thương mại giữa hai quốc gia trên cơ sở đôi bên cùng có lợi Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết 87 Hiệp định thương mại song phương (cả ký mới và ký lại), 48 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 42 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Việt Nam cũng đã ký hơn 350 Hiệp định hợp tác phát triển với các nhà tài trợ và 37 Hiệp định hợp

tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế

2 Các nguyên tắc cơ bản của HNKTQT:

Các tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế và khu vực nói chung đều hoạt động theo năm nguyên tắc sau đây:

(1) Nguyên tắc không phân biệt đối xử: nhằm bảo đảm sự đối xử bình đẳng giữa các

nước thành viên với nhau cũng như trong thị trường mỗi nước Nguyên tắc này được thể

hiện qua hai định chế là: dành cho nhau quy chế Đối xử tối huệ quốc (MFN), tức là tất cả

hàng hoá, dịch vụ và công ty của các nước đối tác đều được hưởng một chính sách

chung bình đẳng và dành cho nhau quy chế đối xử quốc gia (NT) tức là không phân biệt

Trang 8

đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ và công ty của nước mình với hàng hoá, dịch vụ, công ty của nước khác trên thị trường nội địa

(2 ) Nguyên tắc tiếp cận thị trường: nhằm tạo ra một môi trường thương mại mà bất

cứ thành viên nào cũng được tiếp cận Nguyên tắc này được thể hiện trên hai khía cạnh:

- Các nước thành viên mở cửa thị trường cho nhau thông qua việc cắt giảm từng bước, tiến tới xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan tạo điều kiện cho thương mại phát triển

- Các chính sách, luật lệ thương mại phải được công bố công khai, kịp thời, minh bạch để môi trường thương mại có tính dự đoán cao

(3) Nguyên tắc cạnh tranh công bằng: yêu cầu các nước chỉ được sử dụng thuế quan

là công cụ duy nhất để bảo hộ thương mại; các biện pháp phi thuế (giấy phép, quota, hạn chế số lượng nhập khẩu ) đều được coi là "làm méo mó thương mại" và không được phép sử dụng Các biểu thuế phải được giảm dần trong quá trình hội nhập tuỳ thuộc thời gian được thoả thuận của mỗi tổ chức hợp tác kinh tế khu vực, liên khu vực hoặc liên châu lục

một ngành sản xuất của một nước thành viên bị hàng nhập khẩu đe doạ thái quá hoặc bị những biện pháp phân biệt đối xử gây phương hại thì nước đó có quyền khước từ một nghĩa vụ nào đó hoặc có những hành động khẩn cấp, cần thiết, được các thành viên khác thừa nhận, để bảo vệ sản xuất và thị trường trong nước

(5) Nguyên tắc ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và chậm phát triển: ưu đãi

này thể hiện ở việc kéo dài thời hạn thực hiện các cam kết so với các nước phát triển và

có thể ở mức độ cam kết thấp hơn, chẳng hạn trong dịch vụ có thể mở cửa ít lĩnh vực hơn; các nước phát triển phải hạn chế sử dụng những hàng rào cản trở mới đối với hàng hoá và dịch vụ, đặc biệt là các hàng hoá, dịch vụ có lợi thế hiện đang nhập khẩu từ các nước đang và kém phát triển

Trang 9

1 Đường lối, chủ trương HNKTQT của Việt Nam

Toàn cầu hoá, HNKTQT và tự do hoá thương mại đang là xu thế nổi bật của kinh

tế thế giới đương đại Thế giới đã và đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và sinh học, làm tăng nhanh lực lượng sản xuất và tạo ra sự thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, phân phối, tiêu dùng, thúc đẩy quá trình quốc tế hoá, xã hội hoá nền kinh tế, cũng như quá trình tham gia của

mỗi quốc gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế Việt Nam chúng ta cũng không

nằm ngoài xu thế chung đó Thực chất, Việt Nam đã HNKTQT từ khá lâu Trước năm

1945, Việt Nam đã hội nhập khá sâu trong hệ thống kinh tế thuộc địa của Pháp Thắng lợi của Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp

ở nước ta, mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã quan tâm đến việc xây dựng và phát triển kinh tế Tư tưởng mở cửa về kinh tế, hội nhập với kinh tế thế giới đã được thể hiện trong lời kêu gọi Liên hợp quốc (tháng 12 năm 1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh Hồ Chủ Tịch đã nêu rõ chính sách đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó có những điểm mà trong bối cảnh hiện nay ta vẫn thấy rất đúng và thích hợp:

“Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

• Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình

• Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế

• Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc…”4

Tuy nhiên, HNKTQT chỉ thực sự trở thành đường lối, chủ trương kể từ khi Đảng

và Nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước Để thực hiện tiến trình đổi mới và đứng trước những đòi hỏi cấp bách của tình hình quốc tế và kinh tế trong nước, Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ VII đã xác định "đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại”, với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, đánh dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong giai đoạn mới của nước ta Trên cơ sở đường lối đó và sau khi phe xã hội chủ nghĩa tan

4Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2000, trang 470

Trang 10

rã, chúng ta đã kiên trì phấn đấu đẩy lùi chính sách bao vây cô lập nước ta, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại song phương và đa phương với nhiều loại đối tác, dưới nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực (trao đổi hàng hoá, đầu tư sản xuất, mở rộng quan hệ tài chính - tín dụng,

hợp tác khoa học kỹ thuật) Sự hợp tác này được thực hiện theo cơ chế mới: cơ chế thị trường Nghị quyết Trung ương 3 (ngày 29/6/1992) về chính sách đối ngoại và kinh tế

đối ngoại nêu rõ chủ trương mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, trong đó nhấn

mạnh “cố gắng khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế, mở rộng hợp tác với các tổ chức khu vực trước hết là ở Châu Á Thái Bình Dương”

Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định xây dựng một nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời đại hội cũng nêu rõ nhiệm

vụ “Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng

cố và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế” Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII

(29/12/1997) đã nêu nguyên tắc hội nhập quốc tế của ta là “trên cơ sở phát huy nội lực,

thực hiện nhất quán lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài”, “tích cực và chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế” Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương “Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động HNKTQT để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” Chủ trương đường lối về HNKTQT một lần nữa được nhấn mạnh tại Đại hội Đảng lần thứ X: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực HNKTQT, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam

là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”

Với quyết tâm đẩy nhanh tiến trình HNKTQT, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 07/NQ-TW ngày 27/11/2001 về HNKTQT và Chương trình hành động của Chính phủ

triển khai Nghị quyết "Nghị quyết này có ý nghĩa rất quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; liên quan tới tất cả các ngành, các cấp, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; là định hướng cho quá trình HNKTQT của nước ta trong thời kỳ mới".5 Nghị quyết đã chỉ rõ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo của quá trình hội nhập và đề ra 9 nhiệm vụ liên quan toàn diện tới: công tác tư tưởng, tuyên truyền, xây dựng chiến lược tổng thể với lộ trình cụ thể, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân

5 Trích Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về HNKTQT Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

Trang 11

lực, kết hợp hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại, gắn chủ trương hội nhập với nhiệm vụ củng cố an ninh quốc phòng, tích cực đàm phán gia nhập WTO và kiện toàn tổ chức

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 5/2/2007 (tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X) về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh

và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nghị quyết này đã nêu rõ các cơ hội và

thách thức đối với Việt Nam, đề ra quan điểm chỉ đạo và 10 chủ trương, chính sách lớn

Để triển khai Nghị quyết này, ngày 27/2/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết

số 08-NQ/TW ngày 5/2/2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới

Chương trình hành động này xác định nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức, đưa nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, nhanh và bền vững

II Uỷ ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế

Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã tham gia và bắt nhịp rất nhanh vào tiến trình HNKTQT Trước đòi hỏi thực tiễn về việc phải có một cơ quan giúp Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ điều phối chung công tác HNKTQT, Chính phủ

đã ban hành Quyết định số 31/1998/QĐ-TTg, ngày 10/2/1998 thành lập Uỷ ban Quốc gia

về hợp tác kinh tế quốc tế nhằm thống nhất sự chỉ đạo của Chính phủ đối với các bộ, ngành và địa phương về công tác HNKTQT Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ ra

Quyết định số 118/1998/QĐ-TTg ngày 08/7/1998, Quyết định 119/1998/QĐ-TTg ngày 09/7/1998 và Quyết định 116/1998/QĐ-TTg ngày 08/7/1998 quy định chức năng nhiệm

vụ, quyền hạn và tổ chức của Uỷ ban, Văn phòng Uỷ ban và Đoàn đàm phán Chính phủ

về kinh tế thương mại quốc tế

Trên cơ sở các quyết định này, Uỷ ban được thành lập do một Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Uỷ ban, Bộ trưởng Bộ Thương mại là Phó Chủ tịch và 13 thành viên là lãnh đạo của 13 Bộ, ngành Bộ máy giúp việc của Uỷ ban là Văn phòng Uỷ ban đặt tại Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) và Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh

tế thương mại quốc tế Về cơ chế, Quyết định số 31/1998/QĐ-TTg đã nêu rõ Uỷ ban có nhiệm vụ và quyền hạn:

Trang 12

+ Giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo và điều phối hoạt động của các Bộ, ngành và địa phương trong việc Việt Nam tham gia các hoạt động kinh tế, thương mại trong ASEAN, ASEM, đàm phán gia nhập và hoạt động trong WTO, APEC…

+ Giúp Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định các chủ trương và phương án đàm phán chung…

+ Giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành thực hiện việc điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về kinh tế, thương mại…

+ Giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc, kiểm tra các Bộ, ngành, các địa phương và đơn vị triển khai thực hiện các cam kết và nghĩa vụ, cũng như bảo hộ các quyền và lợi ích của Việt Nam trong các tổ chức kinh tế, thương mại quốc tế và khu vực

+ Kịp thời báo cáo với Thủ tướng Chính phủ quá trình đàm phán và việc chỉ đạo các Bộ, ngành trong quá trình tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại quốc tế và khu vực

Với chức năng, nhiệm vụ và cơ chế nêu trên, có thể nói trong thời kỳ này Uỷ ban hoạt động rất tốt: đánh giá chung về kết quả những công việc mà Uỷ ban đã làm được trong thời kỳ này, Nghị quyết 07/NQ-TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về HNKTQT đã ghi nhận: “…Chính phủ đã thành lập Uỷ ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế

Quốc tế và Uỷ ban đã có những đóng góp tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế”6

Mặc dù hoạt động tương đối có hiệu quả như đánh giá của Bộ Chính trị, tuy nhiên sau gần 4 năm hoạt động, khi đất nước chúng ta bước vào giai đoạn HNKTQT sâu rộng hơn, đặc biệt là tiến trình đàm phán WTO đã bước vào giai đoạn căng thẳng nhất, để đáp ứng yêu cầu triển khai công tác hợp tác kinh tế quốc tế và thúc đẩy tiến trình đàm phán gia nhập WTO, Bộ Chính trị thấy cần phải kiện toàn lại bộ máy điều phối công tác HNKTQT Tại Nghị quyết 07/NQ-TW về HNKTQT, Bộ Chính trị đã nhấn mạnh nhiệm

vụ thứ 9 về “Kiện toàn Uỷ ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế đủ năng lực và thẩm

quyền giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức, chỉ đạo các hoạt động về HNKTQT: Uỷ ban gồm hai bộ phận: một bộ phận chuyên trách, một bộ phận kiêm nhiệm bao gồm đại diện

có thẩm quyền của các bộ, ban, ngành hữu quan”7 Để triển khai nhiệm vụ này, Thủ

6Trích Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về HNKTQT, Phần thứ nhất, trang 8, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

7 Trích Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về HNKTQT Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

Trang 13

tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 70/QĐ-TTg ngày 06/6/2002 về việc kiện toàn

Uỷ ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế và Quyết định số 30/2003/QĐ-TTg ngày 21 tháng 2 năm 2003 về Quy chế làm việc của Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế thương mại quốc tế; Chủ tịch Uỷ ban ban hành Quyết định số 20/QĐ-UBQG ngày 19/2/2003 về Quy chế làm việc của Uỷ ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế

Trên cơ sở các quyết định này, Uỷ ban được kiện toàn vẫn do một Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Uỷ ban, Bộ trưởng Bộ Thương mại là Phó Chủ tịch và có điểm khác là số lượng thành viên Uỷ ban đã tăng từ 13 lên 19 thành viên là lãnh đạo của 19

Theo Quyết định số 174/2007/QĐ-TTg ngày 19/11/2007, hiện Uỷ ban có các

nhiệm vụ chính sau:

+ Giúp Thủ tướng Chính phủ phối hợp, chỉ đạo các Bộ, ngành trong việc xây dựng

phương án đàm phán kinh tế và môi trường quốc tế trong khuôn khổ WTO, ASEAN, ASEM, APEC…

+ Giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp các Bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong các hoạt động hội nhập kinh tế với các nước, các vùng lãnh thổ, các tổ chức đa phương

+ Nghiên cứu, đề xuất các chính sách về HNKTQT để báo cáo Thủ tướng Chính phủ

+ Giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện cam kết và nghĩa vụ của Việt Nam trong các tổ chức thương mại đa phương8

8 Vậy thì cam kết và nghĩa vụ song phương, trong các FTA và thoả thuận hội nhập khu vực khác giao cho ai?

Trang 14

+ Giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công tác vận động, đàm phán về việc công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường9

Cơ cấu tổ chức của UBQG hiện nay:

• Chủ tịch UBQG là một Phó Thủ tướng Chính phủ

• Phó Chủ tịch UBQG là Bộ trưởng Bộ Công thương

• Tổng Thư ký UBQG kiêm Trưởng Đoàn Đàm phán Chính phủ về Kinh tế - Thương mại Quốc tế là một Thứ trưởng Bộ Công thương

• Các Ủy viên là lãnh đạo cấp Thứ trưởng, Phó Chánh Văn phòng hoặc Phó Chủ nhiệm Văn phòng các Bộ, Ngành

Bộ máy giúp việc của UBQG là Văn phòng UBQG-HTKTQT

• Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

• Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

• Văn phòng Trung ương Đảng

• Văn phòng Quốc hội

III Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế thương mại quốc tế

Theo quyết định số 182/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày

26 tháng 11 năm 2007, Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế - thương mại quốc tế (gọi tắt là Đoàn đàm phán Chính phủ) là cơ quan giúp Thủ tướng Chính phủ tiến hành đàm phán quốc tế về kinh tế và thương mại Đoàn đàm phán Chính phủ là cơ quan phát ngôn

9Thực chất việc công nhận là nền kinh tế thị trường chỉ là một việc nhỏ trong các công việc HNKTQT và nó chỉ có tác dụng trong các vụ kiện bán phá giá, trợ cấp… và cũng chỉ có ý nghĩa khi được các đối tác chính, quan trọng như Hoa Kỳ, EU công nhận

Trang 15

chính thức về tình hình thực hiện các cam kết về kinh tế và thương mại quốc tế của Việt Nam

Đoàn đàm phán Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

1 Bảo vệ và tăng cường lợi ích kinh tế và thương mại quốc tế của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên trường quốc tế

2 Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng chiến lược và phương

án đàm phán trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ASEAN, APEC, ASEM, các hiệp định, thoả thuận song phương và đa phương liên quan đến mở cửa thị trường

3 Đàm phán và vận động các nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, theo sự phân công và chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Công thương

4 Xây dựng phương án đàm phán để Bộ trưởng Bộ Công thương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

5 Tổ chức, thực hiện các cuộc đàm phán ở các cấp độ, phạm vi khác nhau quy định tại các khoản 2, 3 Điều 2 của Quyết định này, trên cơ sở phương án đàm phán đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

6 Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để tiến hành đàm phán và triển khai kết quả đàm phán sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

7 Lấy ý kiến của các ngành, các doanh nghiệp liên quan đến nội dung đàm phán để xây dựng phương án đàm phán

8 Theo dõi, đôn đốc việc thực thi các cam kết về kinh tế và thương mại quốc tế của Việt Nam; cung cấp thông tin và giải thích cho các Bộ, ngành, các tổ chức, doanh nghiệp quan tâm về các cam kết chính thức của Việt Nam

Trang 16

- Các thành viên của Đoàn đàm phán Chính phủ là cán bộ cấp Vụ của các Bộ, cơ quan có liên quan, đại diện cho Bộ, ngành của mình tham gia Đoàn đàm phán Chính phủ,

do các Bộ, cơ quan chủ quản cử và được Bộ trưởng Bộ Công thương chấp thuận

IV Các Ban HNKTQT của các Bộ, ngành, địa phương

Theo công văn số 2146/BNV-TCBC của Bộ Nội Vụ ban hành ngày 10 tháng 9 năm 2003, Ban HNKTQT là bộ phận đầu mối phụ trách về HNKTQT tại các Bộ, ngành, địa phương

Ban HNKTQT ở các Bộ, ngành có các nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau:

- Chỉ đạo và phối hợp hoạt động của bộ, ngành mình trong việc tham gia các hoạt động kinh tế thương mại quốc tế, xây dựng kế hoạch hành động, chương trình và phương

án đàm phán cho các tổ chức kinh tế - thương mại quốc tế (WTO, ASEAN, APEC…) và triển khai các nội dung trong Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ thuộc lĩnh vực bộ, ngành phụ trách

- Đề xuất với lãnh đạo bộ, ngành chỉ đạo việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, biện pháp quản lý kinh tế - thương mại của ngành mình, phù hợp với chủ trương của Chính phủ và các cam kết quốc tế của Việt Nam

- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn các chủ trương đường lối của Đảng

và nhà nước, các nội dung và chính sách của Chính phủ về HNKTQT trong phạm vi của

bộ, ngành, các kế hoạch và chương trình thực hiện cam kết HNKTQT của Bộ, ngành cho các doanh nghiệp trong và ngoài ngành, cũng như các đối tượng liên quan tới các vấn đề nói trên trong xã hội

- Tư vấn, tham mưu và báo cáo cho lãnh đạo các bộ, ngành về tình hình kinh tế quốc tế và khu vực, những vấn đề nảy sinh và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc tham gia HNKTQT của bộ, ngành

- Theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng

và Nhà nước trong lĩnh vực HNKTQT và việc thực hiện các cam kết của Việt Nam tại các tổ chức kinh tế - thương mại quốc tế

Ban HNKTQT ở các địa phương có các nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau:

- Chỉ đạo và phối hợp hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trong việc tham gia các hoạt động HNKTQT

Trang 17

- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn các chủ trương đường lối của Đảng

và Nhà nước, các nội dung và chính sách của Chính phủ, các chính sách của UBND tỉnh, thành phố về thực hiện cam kết HNKTQT trên địa bàn tỉnh, thành phố cho các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn

- Tư vấn, tham mưu và báo cáo Chủ tịch UBND về tình hình kinh tế quốc tế, khu vực và của toàn quốc, những vấn đề nảy sinh và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc triển khai nhiệm vụ HNKTQT trên địa bàn của tỉnh, thành phố

- Theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng

và Nhà nước trong lĩnh vực HNKTQT và việc thực hiện các kế hoạch triển khai cam kết HNKTQT trên địa bàn tỉnh, thành phố

Theo thống kê đến tháng 12 năm 2010, cả nước có 15 Bộ, ngành và 50 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban HNKTQT (HNKTQT) Ban HNKTQT ở Bộ, Ngành do một đồng chí lãnh đạo Bộ, Ngành là Trưởng ban, còn Ban HNKTQT ở địa phương do một đồng chí Phó Chủ tịch UBND phụ trách Bộ phận thường trực là cơ quan giúp việc và trực tiếp điều hành công việc của Ban HNKTQT được giao cho các đơn vị khác nhau tuỳ theo Bộ, ngành và Địa phương, cụ thể như sau:

- Đa số các Bộ, ngành giao cho Vụ Hợp tác quốc tế là cơ quan thường trực của Ban

HNKTQT;

- Ở địa phương cơ quan thường trực Ban HNKTQT được giao cho Sở Công Thương phụ trách Chỉ có một Địa phương giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư và một Địa phương

thành lập Trung tâm WTO;

- Một số Bộ, ngành và Địa phương tuy không chính thức giao cho đơn vị nào làm đầu mối chung, nhưng tùy vào nội dung công việc cụ thể giao cho các đơn vị khác nhau

triển khai;

- Đa số Ban HNKTQT đã được kiện toàn và có quy chế hoạt động

Trang 18

PHẦN III TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

Với đường lối chủ trương đúng đắn và bộ máy quản lý Nhà nước về hội nhập kinh

tế quốc tế được thiết lập từ trung ương đến địa phương, công cuộc đổi mới và HNKTQT của Việt Nam đã có những chuyển biến sâu sắc và đạt được nhiều kết quả quan trọng Từ nhu cầu thực tế phải tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các nước và tổ chức quốc

tế để phá thế bị bao vây, cô lập trong những năm đầu thập kỷ 90, với việc khôi phục quan

hệ bình thường bị gián đoạn từ những năm 1976 với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu ASEAN (ADB) và từ đó thường xuyên nhận được sự hỗ trợ về mặt tài chính của các tổ chức này Tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996 Đây được coi là một bước đột phá về hành động, biến chủ trương đường lối đối ngoại của Đảng ta từ trước đến nay thành hành động thực tế Với việc gia nhập ASEAN, Việt Nam đã chấm dứt một thời kỳ dài khu vực Đông Nam Á bị chia rẽ thành hai nhóm đối lập nhau và đồng thời đã tạo điều kiện để tham gia và nâng cao hình ảnh của mình trong cộng đồng khu vực, mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế sang các nước này Tiếp đó, Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á -

Âu (ASEM) năm 1996, được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) tháng 11/1998

Kể từ những bước đi ban đầu đó đến nay, chặng đường đổi mới và hội nhập kinh

tế quốc tế của Việt Nam đã trải qua 25 năm và đạt được nhiều kết quả quan trọng

- Về quan hệ song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ10, ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế

10 Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế

Trang 19

hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế.11

- Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết hiệp định hợp tác kinh tế đa phương Tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996 Đây được coi là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Tiếp đó, năm 1996 Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)

Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức này Với việc gia nhập WTO, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được khẳng định và nâng cao, đồng thời mở ra một giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập ngày càng sâu và toàn diện hơn với nền kinh tế thế giới Việc gia nhập WTO cũng tạo ra những cơ hội lớn để Việt Nam phát triển toàn diện hơn nhưng cũng đặt ra những thách thức rất gay gắt đòi hỏi sự nỗ lực của đất nước để vượt qua

Nhận thức và đánh giá rõ về vấn đề này, ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, Chính phủ đã ra Nghị quyết 16/2007/NQ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2007 (Nghị quyết 16) ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ

4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO Trong ba năm qua, chương trình hành động hậu gia nhập WTO đã được triển khai sâu rộng tại các

Bộ, ngành, địa phương trên toàn quốc và đạt được những kết quả cụ thể, đáng ghi nhận

11 Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế

Trang 21

MỤC LỤC

I Hội nhập khu vực: Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

(ASEAN) 4

1 Quá trình hình thành và phát triển 4

2 Vị thế của Việt Nam và yêu cầu đặt ra trong tương lai 5

II Tham gia các diễn đàn hợp tác kinh tế quốc tế: Diễn đàn Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (APEC) và Hợp tác Á – Âu (ASEM) 6

1 Diễn đàn hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (APEC) 6

a Quá trình hình thành và phát triển 6

b Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động 7

c Vị thế của Việt Nam và yêu cầu đặt ra 8

2 Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEAM) 9

a Hoàn cảnh ra đời 9

b Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động 10

c Vai trò của Việt Nam và yêu cầu đặt ra 10

III Tham gia các FTA và các kênh hội nhập song phương khác 11

1 Đàm phán và tham gia các FTA 11

a FTA là gì 12

b Xu hướng FTA trên thế giới 12

c Sự tham gia của Việt Nam và yêu cầu đặt ra 13

2 Các kênh song phương khác 15

IV. Hội nhập đa phương: Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO 15

1 Khái quát về tổ chức thương mại thế giới (WTO) 15

a Lịch sử hình thành 15

b Mục tiêu, chức năng và nguyên tắc cơ bản của WTO 16

c Cơ cấu tổ chức của WTO 18

2 Đàm phán gia nhập WTO , lợi ích và nghĩa vụ: 18

a Phương thức đàm phán 18

b Tác động của việc gia nhập WTO đối với Việt Nam 19

c Cơ hội và yêu cầu đặt ra với doanh nghiệp 20

Trang 22

CHUYÊN ĐỀ III

B ẢN CHẤT, NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA

C ỦA CÁC HÌNH THỨC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

VI ỆT NAM ĐANG THAM GIA VÀ KÝ KẾT

Đã hơn 20 năm kể từ khi Đảng ta bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới với dấu mốc khởi đầu là Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 Việt Nam từ một quốc gia với nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, khép mình với thế giới, quay lưng với

xu thế kinh tế toàn cầu, đã vươn mình đứng lên một cách mạnh mẽ, với những bước tiến vững chắc trong quá trình đổi mới nền kinh tế sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước hội nhập một cách chủ động và sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, bất chấp tất cả những khó khăn, trở ngại xuất phát cả

từ trong và ngoài nước Đến nay, Việt Nam chúng ta đã có thể nhìn thấy được giá trị của 2 từ “đổi mới”, thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế: Tăng trưởng GDP toàn quốc đã tăng gấp 4 lần (trung bình 7,5%/năm giai đoạn 1986-2006), đứng thứ hai thế giới về tốc độ tăng trưởng; Giá trị xuất khẩu đã tăng tới 40 lần (32 tỷ USD năm 2005); Việt Nam từ một quốc gia chỉ giới hạn giao thương với các nước xã hội chủ nghĩa, đã mở rộng quan hệ kinh tế với 221/255 thị trường quốc tế; Giá trị kim ngạch thương mại chiếm tới 130% GDP toàn quốc; cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch đáng kể từ sản phẩm thô sang các sản phẩm chế biến… Nhận thức được sâu sắc vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT), Nghị

quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

theo tinh thần phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ mội trường”

Quán triệt tinh thần đó, Việt Nam đã từng bước sâu rộng hóa tiến trình này, trên tất cả các kênh hội nhập kinh tế quốc tế Trên bình diện khu vực, ta đã chủ động tham gia vào Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995 và ngày càng có nhiều đóng góp cho quá trình xây dựng và phát triển của Hiệp hội, đưa ASEAN trở thành một khu vực kinh tế mạnh, có thể đối trọng với các nền kinh tế khác của khu vực Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc Ở phương diện song phương và quốc tế, ta đã ký kết Hiệp định thương mại song phương Viêt Nam – Hoa Kỳ (BTA) năm 2001, là tiền đề tiến tới việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2007…Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chủ động tham gia vào các diễn đàn kinh tế quốc tế như APEC, ASEM cùng với việc tham gia thiết lập các khu vực thương mại tự do (FTA) với 15 nước trong khuôn khổ 6

Trang 23

FTA khu vực (AFTA, ACFTA, AKFTA, AJFTA, AANZFTA, AIFTA) với những phạm vi lĩnh vực và mức độ sâu rộng tự do hóa khác nhau Nhờ đó, vị thế của Việt Nam không ngừng được củng cố và nâng cao trong bối cảnh kinh tế quốc tế đa phương và khu vực Rất nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp nước ngoài đã lựa chọn Việt Nam như là một trong những môi trường kinh doanh, là điểm đến lý tưởng Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Nam cũng ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, từng bước vươn ra hội nhập và cạnh tranh trên các thị trường lớn quốc

tế như Hoa Kỳ, EU …

Tuy nhiên, bản chất, nội dung và yêu cầu của từng hình thức hội nhập kinh tế quốc tế cũng có những sự khác biệt, đòi hỏi các cán bộ quản lý và doanh nghiệp có những hiểu biết, nhận thức cơ bản, nhằm thích nghi và tận dụng được những lợi thế, đồng thời có chiến lược thích hợp để ứng phó với những thách thức mà mỗi quá trình đặt ra

I Hội nhập khu vực: Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

(ASEAN)

1 Quá trình hình thành và phát triển

Đông Nam Á là một khu vực có lịch sử lâu dài và trong quá trình phát triển đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền văn minh nhân loại Các quốc gia trong khu vực là những đất nước có sự tương đồng cao trên nhiều lĩnh vực văn hóa – xã hội cũng như trình độ phát triển kinh tế Chính vì vậy, nhu cầu hợp tác, liên kết các quốc gia trong khu vực luôn được đặt ra ở các thời điểm lịch sử, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi xu thế toàn cầu hóa và đa cực hóa thế giới đang diễn ra nhanh chóng, nhu cầu về sự liên kết giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết

Ngày 8/8/1967, tại Bankok (Thủ đô Thái Lan), các Bộ trưởng Ngoại giao, đại diện cho Chính phủ của 5 quốc gia Đông Nam Á là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapo và Thái Lan đã họp mặt và đi đến ký kết một văn kiện quan trọng, Tuyên bố Bankok, tạo dựng nền tảng cho sự ra đời của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Mục tiêu chung của ASEAN, đã được khẳng định trong Tuyên

bố Bangkok, là hợp tác để phát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực có mối quan tâm

và quyền lợi chung của tất cả các nước trong khu vực: “Để thúc đẩy tăng trưởng

kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần công bằng và phối hợp nhằm tăng cường nền tảng cho một

gian, ASEAN đã dần trở thành mái nhà chung của tất cả các nước Đông Nam Á, với sự gia nhập của Brunei (1984), Việt Nam (1995), Lào và Myanma (1997), Campuchia (1999) Với một diện tích rộng tới 4.464.456 km2 và dân số

1 Tuyên bố Bankok, Mục 1, trang 1

Trang 24

576.557.000 người2 , ASEAN đã thực sự trở thành một khu vực thị trường rộng lớn, vị thế của ASEAN ngày càng đóng vai trò quan trọng trên trường quốc tế và khu vực, trở thành một đối trọng với các quốc gia lớn ở Châu Á như Nhật Bản,

Trung Quốc và Ấn Độ

Các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ ASEAN mang tính toàn diện, sâu sắc trên mọi lĩnh vực chính trị, ngoại giao, an ninh, văn hóa – xã hội, khoa học – kỹ thuật và phát triển kinh tế của 10 quốc gia thành viên, tạo ra một đặc thù liên kết khu vực hoàn toàn khác biệt đối với các tổ chức kinh tế thế giới khác mà Việt Nam tham gia (ASEM, APEC, WTO) cũng như các liên kết quốc tế khác trên thế giới Tính đặc thù liên kết khu vực của ASEAN thể hiện ở cơ cấu tổ chức cũng như nội dung các hoạt động trong khuôn khổ ASEAN

2 Vị thế của Việt Nam và yêu cầu đặt ra trong tương lai

Trên bình diện hợp tác, chính trị và ngoại giao, Việt Nam là một thực thể quan

trọng, có vai trò ngày càng tăng trong cộng đồng ASEAN Trong ba trụ cột chính của Cộng đồng ASEAN, thì ý tưởng thành lập Cộng đồng Văn hóa - Xã hội là sáng kiến của Việt Nam

Ngay sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN (năm 1995), ASEAN đã có những chuyển biến lớn cả về chất và lượng Việc Việt Nam tham gia tổ chức này đã kéo theo Lào, Cam-pu-chia và Mi-an-ma, giúp ASEAN trở thành một hiệp hội hùng mạnh với 10 thành viên Sự tham gia của Việt Nam cũng làm thay đổi bản chất lẫn phương hướng phát triển của ASEAN, khiến tổ chức này trở thành một diễn đàn hữu nghị và hợp tác thực sự Các nỗ lực của Việt Nam đã góp phần biến ASEAN thành một nhân tố quan trọng đối với hòa bình, ổn định, hợp tác, và phát triển ở khu vực và thế giới Việt Nam cũng đã giúp biến Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (TAC) thành một bộ luật hành vi ứng xử, không chỉ phục vụ cho các quan hệ trong nội bộ ASEAN mà còn với cả các thành viên ngoài hiệp hội này

Hiến chương ASEAN (có hiệu lực từ ngày 15-12-2008) đã đánh dấu bước chuyển mình của ASEAN, từ một tổ chức khu vực có mức độ hợp tác lỏng lẻo thành một

tổ chức liên chính phủ, hoạt động dựa trên các quy tắc, nguyên tắc pháp lý và cơ cấu tổ chức bộ máy chặt chẽ; là cơ sở đóng góp hữu hiệu vào quá trình xây dựng Cộng đồng của ASEAN, tăng cường đoàn kết, thúc đẩy hợp tác giữa các nước

trong khu vực Theo Hiến chương ASEAN, mục tiêu ưu tiên trước mắt của Hiệp hội là xây dựng một Cộng đồng ASEAN đoàn kết, vững chắc, dựa trên các luật lệ quy tắc chung, làm động lực cho gia tăng liên kết khu vực, nâng cao vai trò của ASEAN trong các tiến trình khu vực cũng như trên trường quốc tế

Trên bình diện kinh tế - thương mại và đầu tư, Việt Nam cũng đang từng bước

tiến tới tự do hóa thương mại khu vực, khi thực hiện các chương trình cắt giảm thuế trong khuôn khổ CEPT, phối hợp với các nước ASEAN triển khai chương

2 Số liệu thống kê năm 2006 (nguồn: www.aseansec.org )

Trang 25

trình công tác nhằm xác định, phân loại và tiến tới bỏ các hàng rào phi thuế quan Công việc này được Việt Nam thực hiện tương đối nhanh, trước năm 2000, ta áp dụng khá nhiều biện pháp phi thuế để quản lý xuất nhập khẩu nông sản như: đầu mối và hạn ngạch xuất khẩu đối với gạo; Giấy phếp nhập khẩu đối với gạo, cà phê Đến năm 2006, về cơ bản Việt Nam đã hoàn thành việc xóa bỏ các hạn chế định lượng đối với hàng hóa trao đổi trong khuôn khổ Hiệp định CEPT và tiến tới xóa bỏ các hàng rào phi thuế khác Việt Nam cũng rất tích cực đẩy mạnh hợp tác với các nước thành viên trong các lĩnh vực đầu tư, dịch vụ, hải quan cũng như các lĩnh vực hợp tác khác Với việc thống nhất thành lập cộng đồng kinh tế chung (AEC), Việt Nam và các đối tác trong khu vực đang bước tắt từ hình thành liên minh thuế quan sang thành lập thị trường chung Cộng đồng Kinh tế ASEAN nhằm hướng tới xây dựng thị trường duy nhất, cơ sở sản xuất thống nhất của ASEAN, trong đó hàng hóa, dịch vụ, nhân lực và vốn lưu thông tự do ASEAN đã đưa ra một kế hoạch tổng thể bao gồm nhiều biện pháp hợp tác để xây dựng AEC, trong

đó có hướng tới xây dựng thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung; tạo dựng khu vực kinh tế cạnh tranh; bảo đảm phát triển kinh tế cân đối và hội nhập thành công với kinh tế toàn cầu

Trên bình diện văn hóa, Việt Nam và các đối tác đã thống nhất thành lập Cộng

đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC), chiếm một vị trí đặc biệt trong tiến trình xây dựng cộng đồng của ASEAN Kế hoạch Tổng thể về lĩnh vực này hướng tới xây dựng một cộng đồng ASEAN lấy nhân dân làm trung tâm, xây dựng một ASEAN đùm bọc, tương thân tương ái, vượt qua những khó khăn và thách thức của quá trình toàn cầu hóa Mục tiêu quan trọng nhất của ASCC là thúc đẩy tiến bộ xã hội và xây dựng bản sắc chung ASEAN Tuy nhiên, kế hoạch tổng thể ASCC chủ yếu tập trung vào các chương trình giáo dục nâng cao nhận thức và hiểu biết về sự đa dạng

về văn hóa, lịch sử, thể chế của các quốc gia ASEAN Trong khi đó, bản sắc chung ASEAN vẫn chưa được xây dựng thành khái niệm rõ ràng Vì vậy, mục tiêu

"hòa nhập trong đa dạng" của ASCC thì mặt "đa dạng" vẫn rõ nét hơn mặt "hòa nhập"

Để Cộng đồng ASEAN hoàn thành mục tiêu đề ra đòi hỏi sự chung tay đóng góp sức của cả Hiệp hội trong một quá trình dài lâu Việt Nam chúng ta trong tương lai cần tiếp tục giữ vững sự chủ động trong hợp tác và hội nhập, nhằm phát huy tiềm lực sẵn có trong khu vực, làm tiền đề tạo thế và lực vững chắc cho Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế

II Tham gia các diễn đàn hợp tác kinh tế quốc tế: Diễn đàn Hợp tác kinh tế

Thái Bình Dương (APEC) và Hợp tác Á – Âu (ASEM)

1 Diễn đàn hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (APEC)

Trang 26

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) được hình thành với mục đích thực hiện đối thoại chính sách nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của chủ nghĩa cô lập khu vực và thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại, làm động lực thúc đẩy đàm phán trong GATT/WTO

Tháng 11/1989, các Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại của 12 nền kinh tế thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là Úc, Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brunay, Indonexia, Xingapo, Malaysia, Philippin, Thái Lan và Niu Dilan đã nhóm họp ở thủ đô Canberra (Úc), thành lập ra APEC Tháng 11/1991, APEC kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Kong, Đài Loan; tháng 11/1994 kết nạp thêm Chile, Mexico, Papua Niu Ghine Tháng 11/1998, Việt Nam, Nga và Peru chính thức trở thành thành viên của APEC, nâng tổng số thành viên lên 21 nền kinh tế

Với tổng số 21 thành viên, APEC hiện có dân số khoảng 2,6 tỷ người (chiếm 43% dân số thế giới) với tổng GDP là 19,2 nghìn tỷ USD (chiếm 60% GDP toàn cầu) Tổng giá trị giao dịch thương mại của APEC là trên 5,5 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 47% tổng thương mại toàn cầu3 Hiện APEC đã quyết định ngừng việc kết nạp thành viên để chấn chỉnh tổ chức

APEC được thành lập nhằm thúc đẩy thăng trưởng kinh tế và sự thịnh vượng trong khu vực đồng thời thắt chặt các mối quan hệ trong cộng đồng Châu Á – Thái Bình Dương Các biện pháp được thực hiện là cắt giảm thuế và các rào cản thương mại, đảy mạnh xuất khẩu và xây dựng các nền kinh tế hiệu quả Mục tiêu dài hạng

của APEC được nêu rõ trong tuyên bố Bogor 1994 của các nhà lãnh đạo: “thương

mại và đầu tư tự do và thông thoáng trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2010 đối với thành viên APEC phát triển và năm 2020 đối với các thành viên APEC đang phát triển.”

Để thực hiện mục tiêu đó, các nhà lãnh đạo APEC cùng nhất trí hợp tác trên 3 lĩnh vực cơ bản: Tự do hóa thương mại và đầu tư; Thuận lợi hóa kinh doanh và Hợp tác kinh tế và kỹ thuật

Hoạt động của APEC được điều tiết bởi những nguyên tắc cơ bản sau:

- Toàn diện (Comprehensiveness): Thực hiện tự do hóa và thuận lợi hóa toàn

diện ở các lĩnh vực nhằm tháo gỡ những cản trở trong quá trình htuwcj hiện mục tiêu lâu dài về tự doa hóa và thuận lợi hóa thương mại và đầu tư;

- Phù hợp với GATT/WTO (GATT/WTO consistency): Các biện pháp và

chương trình hành động áp dụng thực hiện mục tiêu tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại và đầu tư phải phù hợp với quy tắc, luật lệ và thỏa thuận trong khuôn khổ GATT/WTO;

3 Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế, "Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế", tr160, NXB Tài Chính,

2008

Trang 27

- Đảm bảo mối tương đồng (Comparability): giữa các thành viên trong việc

thực hiện tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư Tuy có sự khác biệt về trình độ phát triển nhưng các nền kinh tế thành viên đều phải tiến hành một cách thích đáng các biện pháp tự do hóa và thuận lợi hóa đối với thương mại và đầu tư;

- Không phân biệt đối xử (Non-discrimination) : các thành viên APEC sẽ áp

dụng hoặc cố gắng áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các thành viên Kết quả thực hiện tự do háo thương mại và đầu tư không phải chỉ áp dụng cho các thành viên mà cả với các nước không phải là thành viên APEC;

- Đảm bảo công khai (transparency): minh bạch hóa mọi luật lệ chính sách

hiện hành tại các thành viên APEC;

- Lấy mức bảo hộ hiện tại làm mốc (standstill): chỉ có giảm chứ không được

tăng thêm các biện pháp bảo hộ;

- Tiến hành đồng thời, liên tục và lộ trình khác nhau (Simultaneous start, continuous process and differentiated timetables): do trình độ và điều kiện phát triển khác nhau, cho nên khi thực hiện mục tiêu tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại, đầu tư, các nền kinh tế thành viên có các lộ trình khác nhau với ưu tiên về thời gian đối với nền kinh tế đang phát triển là 10 năm so với các nền kinh tế phát triển

- Có sự linh hoạt (flexibility): trong việc thực hiện các vấn đề về tự do hóa

thương mại và đầu tư vì trình độ phát triển kinh tế của các thành viên APEC khác nhau;

- Hợp tác kỹ thuật (Technical Cooperation): APEC chủ trương hợp tác kinh

tế, kỹ thuật để thúc đẩy thực hiện tự do hóa, thuận lợi hóa, thương mại và đầu tư

Về cơ bản, APEC là một diễn đàn đối thoại, không phải là một tổ chức Bởi vậy, các cam kết trong khuôn khổ APEC không có tính ràng buộc cao như trong ASEAN và WTO

Thành công nổi bật nhất của Việt Nam sau 10 năm tham gia APEC là sự khẳng định vai trò năng động, đóng góp có hiệu quả vào diễn đàn này, nơi có sự hiện diện của nhiều cường quốc kinh tế như Mỹ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc , thông qua

đó Việt Nam đã đẩy mạnh việc triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế, đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững và duy trì quan hệ hòa bình, ổn định trong khu vực chiến lược châu Á-Thái Bình Dương

Thông qua APEC, Việt Nam có cơ hội xúc tiến và đẩy mạnh các hoạt động hợp tác song phương với các đối tác trong khu vực, tạo đà cho việc vận động các nước ủng hộ Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Trang 28

Trong giai đoạn hiện nay, các hoạt động của APEC đã vượt ra khỏi khuôn khổ của những liên kết kinh tế thuần túy Nhiều lĩnh vực mới đã và đang được các nhà lãnh đạo xác định là những nội dung hợp tác của khu vực này trong thời gian tới

Sự chuyển mình của APEC phản ánh đúng những thay đổi, những thách thức mang tính toàn cầu, đòi hỏi cần có sự hợp tác liên khu vực Đồng thời, đó cũng là thời cơ

để Việt Nam tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa góp phần xây dựng môi trường hợp tác khu vực hòa bình, phát triển kinh tế

Trong thời gian tới, chúng ta cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành để đảm bảo nhất quán trong các nội dung hợp tác APEC nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp và đem lại lợi ích to lớn cho Việt Nam Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cần tích cực tham gia các hoạt động chung của cộng đồng doanh nghiệp khu vực,

để nắm bắt xu hướng phát triển, qua đó quảng bá và kêu gọi hợp tác với Việt Nam cũng như bảo vệ được quyền lợi của doanh nghiệp Việt Nam

2 Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEAM)

Tại Hội nghị Kinh tế Cấp cao Châu Âu – Đông Á lần thứ ba tại Singapo tháng 10/1994, Thủ tướng Singapo Goh Chok Tong đã đưa ra sáng kiến tổ chức một Hội nghị Thượng đỉnh Á – Âu nhằm tăng cường sự hiểu biết và thúc đẩy hợp tác giữa hai châu lục Đề nghị này đã được chính thức đặt ra với Thủ tướng Pháp trong chuyến Pháp năm 1994 của Thủ tướng Singapo, và ngay lập tức nhận được sự hưởng ứng từ nhiều nước Á – Âu Tháng 3/1995, Hội nghị các Nguyên thủ Quốc gia về Hợp tác Á – Âu (Asia Europe Summit Meeting - ASEM) lần đầu tiên được

tổ chức tại Bangkok, Thái Lan với sự tham gia của các Nguyên thủ quốc gia 15 nước thuộc Liên minh Châu Âu và 10 nước Châu Á (bao gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và 7 nước ASEAN là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philipin, Singapo, Thái Lan và Việt Nam) Sau Hội nghị thượng đỉnh này, Hợp tác Á – Âu

đã chính thức ra đời và lấy tên của Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên (ASEM) làm tên cho chương trình hợp tác này

Ban đầu ASEM có 26 thành viên sáng lập, gồm 7 nước ASEAN (trừ Lào, Campuchia), 15 nước EU cùng Ủy ban Châu Âu (EC) và 3 nước Đông Bắc Á (Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc) Tháng 10/2004, Hội nghị Thượng đỉnh ASEM 5 diễn ra tại Hà Nội đã tiến hành lần mở rộng đầu tiên với việc kết nạp 13 thành viên mới, gồm 3 nước ASEAN còn lại (Campuchia, Lào và Myanma) và 10 nước EU mới, nâng tổng số thành viên lên con số 39 Tại Hội nghị ASEM 7 tổ chức tại Bắc Kinh tháng 10/2008 đã chính thức kết nạp thêm 6 thành viên mới là Ấn Độ, Mông

Cổ, Pakistan, Ban Thư ký ASEAN, Bungari và Rumani ASEM hiện đang chiếm

Trang 29

37% dân số thế giới, hơn 50% GDP toàn cầu và có tổng kim ngạch buôn bán hai chiều lên tới 2.718 tỷ USD4

Mục tiêu chủ đạo của ASEM là “hợp tác để tạo sự tăng trưởng hơn nữa ở cả

– Âu (AECF) thành các mục tiêu cơ bản sau:

- Thúc đẩy đối thoại chính trị để tăng cường hơn nữa sư hiểu biết lẫn nhau và thống nhất quan điểm của hai châu lục đối với các vấn đề chính trị và xã hội của thế giới;

- Xây dựng quan hệ đối tác một cách toàn diện và sâu rộng giữa hai châu lục Á, Âu

để thúc đẩy trao đổi thương mại và đầu tư giữa các nước thành viên;

- Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, môi trường, phát triển nguồn nhân lực để tạo sự tăng trưởng bền vững ở cả Châu Á và Châu Âu

Về mặt kinh tế, ASEM đặt ra ba mục tiêu cụ thể là:

- Thúc đẩy giao lưu giữa các doanh nghiệp;

- Cải thiện môi trường kinh doanh nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư;

- Tạo sự tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững

Các mục tiêu nêu trên đã và đang thực hiện thông qua một loạt các chương trình hành động chung của ASEM như chương trình thuận lợi hóa thương mại (TFTA), chương trình xúc tiến đầu tư (IPAD), trung tâm công nghệ môi trường Á – Âu, Quỹ Á – Âu (ASEF), Quỹ tín thác… Trong lĩnh vực kinh tế, tuy ASEM chưa đề ra các mục tiêu về giảm thuế và các nghịa vụ mang tính chất bắt buộc như các tổ chức ASEAN, WTO song ba mục tiêu cụ thể nêu trên đã tạo nền tảng cho việc phát triển quan hệ hợp tác kinh tế chặt chẽ giữa hai châu lục, góp phần thuận lợi hóa thương mại đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung

Về nguyên tắc hoạt động, ASEM về cơ bản là một diễn đàn hợp tác kinh tế

quốc tế, do đó sự tham gia của các thành viên hoàn toàn mang tính chất tự nguyện, các quy định trong khuôn khổ ASEM không có tính chất ràng buộc, quan hệ giữa các thành viên hoàn toàn bình đẳng Ngoài ra, hoạt động của ASEM có đặc trưng

hoạt động đối thoại cấp cao, theo đó mọi vấn đề cơ bản của ASEM sẽ được

thảo luận và thông qua tại Hội nghị cấp cao (Hội nghị thượng đỉnh) Các hội nghị cấp thấp hơn sẽ thực hiện hoặc điều phối thực hiện các quyết định đã được đưa ra trong Hội nghị thượng đỉnh giữa các nguyên thủ quốc gia ASEM hiện nay vẫn chưa được thể chế hóa Các hoạt động hợp tác của được thực hiện thông qua hai nước điều phối viên Châu Á và hai nước điều phối viên Châu Âu với nhiệm kỳ hai

năm

4 Ủy Ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, “Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế”, tr 206, NXB Tài chính

2008

Trang 30

Việt Nam là một trong những nước thành viên sáng lập của ASEM Trong những năm qua, hợp tác giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEM trong nhiều lĩnh vực đã có những bước phát triển tích cực

Từ năm 1996, ASEM đã đóng vai trò quan trọng đối với quá trình hội nhập kinh

tế của Việt Nam Thị trường ASEM đã và đang tạo nhiều cơ hội hơn cho Việt Nam trong thu hút nguồn vốn FDI và gia tăng khối lượng thương mại với các đối tác trong ASEM Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối 2004, Việt Nam đã thu hút được 2.750 dự án đầu tư từ các thành viên ASEM, với tổng số vốn đăng ký 27,03 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện đạt 16,4 tỷ USD Các dự án đầu tư của của các nước thành viên ASEM chiếm 53% tổng dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Ngoài ra, Việt Nam đã thu hút được khá nhiều vốn ODA từ các nước ASEM, nhất là từ Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, trong đó, Nhật Bản chiếm khoảng 40% ODA từ các nước cam kết viện trợ cho các nước thành viên còn kém phát triển Các nhà đầu tư ASEM có mặt ở hầu hết các tỉnh, thành phố của Việt Nam, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tầu Có thể nói, đầu tư của các nước ASEM vào Việt Nam trong những năm qua đã góp phần tích cực vào việc tạo việc làm cho người lao động, tăng một khối lượng đáng kể hàng hóa xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Là một thành viên sáng lập của ASEM, Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trong hoạt động của tổ chức.Việt Nam đã tích cực tham gia ngay từ đầu vào các nỗ lực thành lập Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM), trong đó có sự chuẩn bị về song phương và đa phương trong khuôn khổ ASEAN Mặc dù gặp khó khăn, song được sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã hoàn thành tốt trách nhiệm của một quốc gia thành viên tích cực ngay từ khi ASEM được hình thành tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 3 năm 1996, và ngày càng chủ động hơn trong việc triển khai các thỏa thuận và đóng góp cho ASEM trên cả 3 lĩnh vực đối thoại chính trị, hợp tác kinh tế và hợp tác trong các lĩnh vực khác, đăng cai một số cuộc họp ASEM, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực Đặc biệt, Việt Nam đã đảm nhiệm tốt vai trò điều phối viên châu Á kể từ Hội nghị Cấp cao ASEM 3 đến nay

Với phương châm xây dựng và phát triển nền ngoại giao toàn diện, ngoại giao

đa phương luôn đồng hành và hỗ trợ mạnh mẽ ngoại giao song phương, Việt Nam trong thời gian tới sẽ phải tiếp tục tham gia với tinh thần chủ động, tích cực, có trách nhiệm trong tiến trình hợp tác ASEM và sẽ làm hết sức mình để góp phần đưa quan hệ đối tác giữa hai châu lục lên một tầm cao mới, sống động, thực chất và hiệu quả

III Tham gia các FTA và các kênh hội nhập song phương khác

1 Đàm phán và tham gia các FTA

Trang 31

a FTA là gì

FTA là tên viết tắt của Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement), là Hiệp định thương mại được kí kết giữa hai hay nhiều quốc gia thành viên nhằm dành cho nhau một số đặc quyền nhất định và là một dạng phổ biến của Hiệp định thương mại khu vực5 Các cam kết trong khuôn khổ FTA giữa các nước thường ở mức bằng hoặc cao hơn so với các quy định của WTO

FTA thực chất là sự vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) của hệ thống thương mại đa biên, tuy nhiên, các quy định của WTO chấp nhận FTA khi các yêu cầu sau được thỏa mãn6

:

- Tất cả các lĩnh vực thương mại đều được áp dụng, không có lĩnh vực cụ thể nào bị loại trừ

- Thuế quan và các hạn chế khác sẽ được bãi bỏ về cơ bản trong vòng 10 năm

- Thuế quan và các hạn chế khác đối với các thành viên không tham gia cũng sẽ phải tương ứng hoặc thấp hơn so với những thành viên tham gia trước khi Hiệp định được kí kết

FTA thể hiện những khía cạnh rất khác nhau, tùy thuộc vào các quốc gia liên quan Một FTA giữa một nước phát triển và một nước đang phát triển thường tập trung vào tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và giảm thuế Tuy nhiên,đối tượng của các FTA đã trở nên rất đa dạng kể từ năm 1995 Nó bao gồm các dịch

vụ, ưu đãi đầu tư, bản quyền, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh, phát triển thương mại bằng việc giảm, xóa bỏ các loại thuế Việc giảm thuế bởi FTA được thực hiện giữa nhiều bên trong một phạm vi rộng lớn trên nhiều lĩnh vực

Chủ nghĩa khu vực đại diện bởi các FTA là một xu hướng cơ bản của nền kinh tế quốc tế và ngày càng mở rộng cùng với sự ra đời của WTO Đã có tới 124 hiệp định thương mại khu vực được báo cáo lên GATT trong vòng 47 năm (1948 - 1995) và 176 Hiệp định được công bố trong 9 năm đầu tiên của WTO7 Theo dự báo, tỷ lệ các Hiệp định thương mại khu vực về thương mại quốc tế sẽ còn tăng

55% nữa Vậy, tại sao các Hiệp định thương mại khu vực lại phát triển như vậy?

Xu hướng FTA được phát triển rất mạnh, với xuất phát điểm từ Mỹ: Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 80, các cường quốc kinh tế có xu hướng xây dựng các rào cản thương mại, nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước, tránh các tác động tiêu cực từ khủng hoảng kinh tế thế giới (Điển hình là Mỹ và Nhật Bản) Trước tình hình này, các nước Châu Âu đã sớm hình thành nên khối Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EC) năm 1992, thiết lập một thị trường chung và gấp rút cho ra

Trang 32

đời đồng tiền chung Châu Âu Bối cảnh này khiến Mỹ, cường quốc vốn trước kia ủng hộ đa phương hóa thương mại, do lo sợ Châu Âu trở thành một pháo đài kinh

tế, đã quay sang liên tục đẩy mạnh tiến trình giao kết các FTA, điển hình nhất là FTA Bắc Mỹ (NAFTA) Cho đến tận khi WTO được thành lập (1995), xu hướng này vẫn được thể hiện rất cụ thể trong các quy định của WTO, khi FTA được xem

là một trong những ngoại lệ của nguyên tắc Tối huệ quốc (GATT điều XXIV) Điều này cho thấy vai trò rất lớn của Mỹ đối với sự bùng nổ xu hướng FTA hiện nay

Sau đó, các quốc gia mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin, trước sức ép từ

xu hướng FTA do Mỹ tạo ra, thay vì phản đối kịch liệt trong khuôn khổ WTO như trước kia, đã chuyển sang đẩy nó lên thành một trào lưu mang tính toàn cầu, và đặc

biệt nóng ở Châu Á Đây được xem là phản ứng từ các cường quốc mới nổi, nhằm đáp lại cho xu hướng FTA mà Mỹ đã tạo ra và thao túng từ nhiều năm nay và một phần được cũng được cho là do sự bế tắc của các vòng đàm phán thương mại đa phương, đặc biệt là vòng đàm phán Doha

Trước sự vào cuộc mạnh mẽ của Châu Mỹ và Châu Á, EU cũng không thể đứng ngoài cuộc chơi Với sự tham gia muộn màng vào xu hướng FTA, được khẳng định trong kế hoạch Châu Âu cách đây 4 năm, EU đang gấp rút thúc đẩy nhiều FTA với Châu Á và các đối tác tiềm năng khác8

Như vậy, xu hướng này khởi nguồn từ Mỹ, thực sự bùng nổ nhờ những người khổng lồ kinh tế mới, và trở thành một làn sóng lan rộng không thể cưỡng lại của

cả thế giới FTA hiện nay về bản chất, không chỉ đơn thuần là một phương pháp tự

do hóa thương mại ở mức bằng hoặc cao hơn WTO, mà đã trở thành một trong những công cụ ngoại giao gây ảnh hưởng

Điều đó thể hiện rất rõ ràng trong khu vực ASEAN, khi ASEAN đã tham gia nhiều FTA với các đối tác lớn trong khu vực Châu Á như Trung Quốc (ACFTA), Hàn Quốc(AKFTA), Nhật Bản (AJFTA), Ấn Độ (AIFTA), Úc, New Zilan (AANZFTA) nói chung, và các nước thành viên cũng tiến hành nhiều FTA song phương với các đối tác tiềm năng khác nói riêng

=> Xu hướng FTA không còn là sự lựa chọn có hoặc không, mà đã thực sự trở thành một xu hướng bắt buộc đối với VN, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (cũng giống như yêu cầu bắt buộc gia nhập WTO)

Như đã trình bày ở trên, FTA đã thực sự trở thành một trào lưu toàn thế giới Tại khu vực Châu Á, nơi được xem là một cực kinh tế mới của thế giới, trào lưu này

8 VN hiện nay mới kí kết 1 PCA (Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện VN – EU, kí ngày 4/10/2010 tại Bruxelles,

Bỉ, là tiền đề tiến tới FTA song phương VN - EU

Trang 33

cũng đang bùng nổ rất mạnh mẽ, với sự tham gia của các nền kinh tế lớn trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ

ASEAN cũng đang rất tích cực tham gia vào xu thế này, khi đã thực hiện nhiều FTA, với cấp độ tự do hóa khác nhau, cả trong khuôn khổ ASEAN (AFTA năm 1995), và với các đối tác lớn trong khu vực như Trung Quốc (ACFTA năm 2002), Hàn Quốc (AKFTA năm 2005), với Ấn Độ (AIFTA năm 2003), với Úc và Niu Dilan (AANZFTA năm 2009) với các cấp độ tự do hóa khác nhau9 Việt Nam với

tư cách là thành viên chính thức của ASEAN, cũng tham gia vào các FTA nói trên

Có nhiều đối tác đã đặt quan hệ muốn tiến tới ký kết các FTA song phương với Việt Nam

Như vậy, về mặt bản chất, Việt Nam vẫn chỉ tham gia vào xu hướng này với tính chất bị động, chưa có đường lối và chiến lược cụ thể, chưa có mục tiêu chiến lược

rõ ràng khi tham gia vào xu hướng này Điều này đã gây trở ngại không nhỏ cho các nhà đàm phán trong việc xác định đối tượng, phạm vi, lĩnh vực và mức độ các cam kết nói riêng, và ảnh hưởng tới quyền lợi của Việt Nam trong các FTA đã tham gia

Hiện nay, để phù hợp với tình hình thế giới, Việt Nam đang rất nỗ lực trong việc xây dựng một chiến lược FTA chi tiết và cụ thế trong thời gian tới, trên cơ sở nhiều phân tích đánh giá tác động một cách tổng thể của các FTA đã tham gia đối với nền kinh tế Các Bộ, Ban, Ngành ở tất cả các lĩnh vực, hiện đang phối hợp một cách chặt chẽ để thực hiện mục tiêu này

Bên cạnh đó, trên cơ sở nghiên cứu các mô hình xây dựng FTA tiên tiến trên thế giới, Việt Nam đang từng bước cải cách hệ thống quy trình thủ tục tham gia các FTA, cũng như các quy định có liên quan: Cho đến nay, Việt Nam đã tiến hành 2 phiên tham vấn doanh nghiệp nhằm thu thập, lấy ý kiến các hiệp hội, doanh nghiệp đối với quá trình tham gia các FTA, từng bước nâng cao vai trò của các doanh nghiệp và hiệp hội trong tiến trình xây dựng và đàm phán FTA, nhằm đảm bảo tốt nhất quyền lợi của Việt Nam trong các FTA sẽ tham gia trong thời gian tới

Về phần các doanh nghiệp, FTA vốn được xem là một trong những cơ hội vàng cho các doanh nghiệp Việt Nam nhằm vươn ra các thị trường tiềm năng trên thế giới Cơ hội này đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động nắm bắt, thông qua việc

một mặt tích cực tìm hiểu thông tin về các FTA, nghiên cứu, giúp đỡ các nhà đảm phán, các nhà quản lý xây dựng một lộ trình tham gia FTA phù hợp, đóng góp xây dựng ý kiến đối với những quy định mà Việt Nam sẽ tham gia đàm phán với các đối tác; mặt khác tăng cường nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thích nghi được trong bối cảnh tự do hóa toàn diện như hiện nay Đây chính là con đường tốt nhất

9 Có những FTA đòi hỏi rất toàn diện, điển hình như AANZFTA với phạm vi điều chỉnh trên tất cả các lĩnh vực, thuế, hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ; cũng có những FTA mang tính chất hạn chế, điển hình như AIFTA, với phạm vi điều chỉnh đối với từng lĩnh vực được ký kết một cách riêng rẽ

Trang 34

cho cả doanh nghiệp và Chính phủ, nhằm đảm bảo đáp ứng quyền lợi của các doanh nghiệp nói riêng, và mục tiêu phát triển nền kinh tế của Chính phủ nói chung

2 Các kênh song phương khác

Bên cạnh việc tham gia các kênh hội nhập đa phương, khu vực và xu hướng FTA, Việt Nam cũng tham gia các kênh hội nhập song phương khác như Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2001(BTA); Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam-Nhật Bản năm 2008(EPA); Hiệp định đối tác và hợp tác kinh tế Việt Nam-EU năm 2010(PCA) Về cơ bản, những hiệp định này đều là Hiệp định kinh tế toàn diện cả về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và hợp tác kinh tế Đặc biệt, việc đàm phán các điều khoản trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2001 đã được sử dụng làm cơ sở cho các bản chào của Việt Nam với các đối tác trong khuôn khổ các phiên đàm phán song phương và đa phương gia nhập tổ chức thương mại thế giới của Việt Nam

IV Hội nhập đa phương: Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO

1 Khái quát về tổ chức thương mại thế giới (WTO)

vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ… và cho ra đời một tổ chức mới thay thế cho GATT – Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) WTO đề cập đến một diện rộng các vấn đề, bắt đầu từ việc giảm thuế quan cho tới các biện pháp phi thuế, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, và tìm kiếm một cơ chế quốc tế giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các quốc gia Từ mức thuế trung bình 40% của năm 1948, đến năm 1995, mức thuế trung bình của các nước phát triển chỉ còn khoảng 4% và thuế quan trung bình của các nước đang phát triển còn khoảng 15%10 Năm 1994, nhằm đáp ứng những đòi hỏi mới trong bối cảnh kinh tế quốc tế, các nước thành viên đã nhất trí thông qua Tuyên bố Marakesh tại vòng đàm phán Uruguay thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Hiện nay WTO đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống thương mại đa phương, với 153 thành viên và 29 quan sát viên, chiếm 85% tổng

10 Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế, "Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế", tr19, NXB Tài Chính,

2008

Trang 35

lượng thương mại hàng hóa, 90% thương mại dịch vụ và 95% GDP toàn cầu11

Như vậy việc gia nhập WTO đã trở thành một trong những yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

WTO thừa nhận các mục tiêu của GATT, tức là quan hệ giữa các nước thành viên trong thương mại và kinh tế sẽ được tiến hành nhằm nâng cao mức sống; bảo đảm tạo đầy đủ việc làm, tăng thu nhập và nhu cầu thực tế một cách bền vững; phát triển việc sử dụng các nguồn lực của thế giới; mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hóa

Để thực hiện các mục tiêu đó, WTO có các chức năng cơ bản sau:

- Tạo thuận lợi cho việc thực thi, quản lý, vận hành và thúc đẩy mục tiêu của các Hiệp định của WTO

- Tạo ra diễn đàn đàm phán giữa các nước thành viên về quan hệ thương mại giữa các nước này về các vấn đề được đề cập đến trong các Hiệp định WTO cũng như các vấn đề mới thuộc thẩm quyền của mình, tạo khuôn khổ để thực thi kết quả của các cuộc đàm phán đó

- Giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên trên cơ sở Quy định và Thủ tục Giải quyết tranh chấp

- Thực hiện rà soát chính sách thương mại thông qua Cơ chế Rà soát Chính Sách thương mại

- Nhằm đạt được một sự nhất quán hơn nữa trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, WTO sẽ hợp tác phối hợp với các tổ chức kinh tế quốc tế như IMF, WB…12

Tất cả các văn bản của WTO đều được xây dựng dựa trên năm nguyên tắc nền tảng, là nghĩa vụ bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên nói chung và Việt Nam nói riêng:

- Thương mại không có sự phân biệt đối xử

tất cả thành viên WTO không được phép phân biệt đối xử giữa các nước đối tác thương mại khác nhau WTO cũng dành một số ngoại lệ của nguyên tắc này cho các nước thành viên13 Các ngoại lệ này được áp dụng với những điều kiện hết sức chặt chẽ

một nước phải đối xử bình đẳng và công bằng giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa tương tự sản xuất trong nước Cụ thể, bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới (đã trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu) sẽ

11 TS Trịnh Minh Anh, Hội thảo “Việt Nam gia nhập WTO và Hội Nhập kinh tế quốc tế, đánh giá tác động trong bối cảnh suy thoái toàn cầu”, Huế, ngày 28/04/2009

12 Điều III Hiệp Định Marakesh 1994 về việc “Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới”

13 Điều 24 GATT 1994, Điều 5 GATS

Trang 36

được hưởng sự đối xử không kém ưu đãi hơn sản phẩm tương tự sản xuất trong nước Nguyên tắc này cũng được mở rộng áp dụng trong lĩnh vực dịch vụ và sở hữu trí tuệ (Điều 3 – Hiệp định GATT và Điều 17 – Hiệp định GATS và Điều 3 –

Hiệp định TRIPS)

- Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán

WTO đảm bảo thương mại giữa các quốc gia ngày càng tự do hơn thông qua quá trình đàm phán hạ thấp các hàng rào thương mại để thúc đẩy buôn bán Để thực hiện nguyên tắc thương mại này, WTO đảm nhận chức năng là diễn đàn đàm phán thương mại đa phương để các nước có thể liên tục thảo luận về vấn đề tự do hóa thương mại Cho đến nay, hoạt động trong khuôn khổ WTO (mà trước kia là GATT) đã trải qua 8 vòng đàm phán đa phương, vòng đàm phán thứ 9 (vòng Doha) hiện đang được các bên tiến hành với hy vọng sẽ là một bước đi tích cực

nhằm tự do hóa thương mại toàn cầu một cách toàn diện và sâu sắc hơn nữa

- Có thể dự đoán: thông qua ràng buộc và minh bạch hóa

Một nguyên tắc cơ bản của WTO là các thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định và có thể dự đoán được trong thương mại quốc tế Để đảm bảo nguyên tắc này, các thành viên WTO có nghĩa vụ phải minh bạch hóa các quy định thương mại của mình, phải thông báo mọi biện pháp đang áp dụng và ràng buộc chúng (tức là cam kết sẽ không thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho thương mại, nếu thay đổi phải được thông báo, tham vấn và bù trừ hợp lý) Ngoài ra WTO cũng tăng cường tính ổn định và dễ dự báo trong thương mại quốc tế thông qua việc yêu cầu các nước hạn chế sử dụng hạn ngạch và các biện pháp hạn chế số lượng khác Nhiều hiệp định của WTO còn yêu cầu các chính phủ phải công khai các chính sách và thông lệ trong nước hoặc thông báo các chính sách đó với WTO Chính sách thương mại của các nước được giám sát thương xuyên bởi Cơ chế rà soát chính sách Thương mại của WTO

- Thúc đẩy cạnh tranh công bằng

Mặc dù đôi khi được mô tả là tổ chức về “thương mại tự do”, song hệ thống WTO tren thực tế vẫn cho phép áp dụng thuế quan và một số hình thức bảo hộ khác Do vậy, có thể nói rằng, WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công bằng và không bị bóp méo Tất cả các Hiệp định của WTO nhưu Hiệp định về nông nghiệp, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ… đều nhằm mục tiêu tạo một môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các quốc gia

- Khuyến khích phát triển và cạnh tranh kinh tế

Với các nền kinh tế chuyển đổi, một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO

là khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế, dành những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt cho các quốc gia này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của họ vào hệ thống thương mại đa phương Thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các nền kinh tế chuyển đổi những linh hoạt và

Trang 37

ưu đãi nhất định trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến trợ giúp kỹ thuật cho các nước này

c Cơ cấu tổ chức của WTO

Với tính chất là một tổ chức đa phương trong lĩnh vực thương mại, WTO có cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ, được quy định cụ thể trong Hiệp ước Marakesh về việc thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) WTO được cơ cấu thành ba cấp chính: Hội nghị Bộ trưởng (MC); Đại Hội Đồng (GC); các Hội Đồng và Ủy Ban chuyên môn

Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng Hội nghị Bộ trưởng họp ít nhất hai năm một lần, đóng vai trò đưa ra quyết định đối với mọi vấn

đề của bất kỳ hiệp định cụ thể nào Thông thường, Hội nghị Bộ trưởng đưa ra các đường lối, chính sách chung để các cơ quan cấp dưới tiến hành triển khai

Dưới Hội nghị Bộ trưởng là Đại Hội đồng (GC) Cơ quan này tiến hành các công việc hàng ngày của WTO trong thời gian giữa các Hội nghị Bộ trưởng, đồng thời đóng vai trò là Cơ quan Giải quyết tranh chấp (DSB) và Cơ quan Rà soát chính sách thương mại (TPRB) Cơ quan Giải quyết tranh chấp được phân ra làm Ban Hội thẩm (Panel) và Ủy ban Phúc thẩm (Appellate) Các tranh chấp trước hết

sẽ được đưa ra Ban Hội thẩm để giải quyết Nếu như các nước không hài lòng và đưa ra kháng nghị thì Ủy ban Phúc thẩm sẽ có trách nhiệm xem xét vấn đề

Dưới Đại Hội đồng, WTO có ban Hội đồng về ba lĩnh vực thương mại cụ thể là Hội đồng Thương mại Hàng hóa, Hội đồng Thương mại dịch vụ và Hội đồng về Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại Các hội đồng này có các cơ quan cấp dưới (các ủy ban và các tiểu ban) để thực thi các công việc cụ thể trong từng lĩnh vực

Tương đương với các Hội đồng này, WTO còn có một số ủy ban, có phạm vi chức năng nhỏ hơn, nhưng cũng báo cáo trực tiếp lên Đại Hội đồng, đó là các Ủy ban về Thương mại và Phát triển, Thương mại và Môi trường… Bên cạnh các ủy ban đó là các nhóm công tác và hai ủy ban về các hiệp định nhiều bên

2 Đàm phán gia nhập WTO , lợi ích và nghĩa vụ:

Trải qua 11 năm đàm phán (Từ tháng 6/1994 đến 11/2006), với hơn 200 phiên đàm phán căng thẳng với các đối tác thành viên, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO

Đàm phán gia nhập WTO được tiến hành theo phương thức song song với nhau

, trong

đó đàm phán song phương với 28 đối tác (đối tác nhanh nhất: 3 phiên, đối tác chậm

14 Nguyên Thứ trưởng Lương Văn Tự, Bộ Công Thương, “Các cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới của Việt Nam”, tr41, NXB Lao động xã hội 2007

Trang 38

nhất:13 phiên) Đây là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử đàm phán thương mại Việt Nam từ trước tới nay (đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kì chúng ta mất

4 năm)15

Đàm phán đa phương được thực hiện tại các phiên họp của Ban Công tác về việc gia nhập WTO Trong khuôn khổ đàm phán đa phương, các nước khẳng định quan điểm của mình, đàm phán các cam kết có giá trị áp dụng chung và tổng kết các thành quả của các cuộc đàm phán song phương Đàm phán đa phương nhằm minh bạch hóa các chính sách và đi đến cam kết các chính sách kinh tế vĩ mô

Đàm phán song phương được tiến hành trước hoặc ngay sau các phiên họp đa phương nhằm đi đến các thỏa thuận về mở cửa thị trường hàng hóa dịch vụ Nước xin gia nhập chỉ được kết nạp sau khi đã đạt được thỏa thuận tại tất cả các cuộc đàm phán song phương

Qua 14 phiên đàm phán đa phương, về cơ bản Việt Nam chấp nhận thực hiện đầy đủ các hiệp định định của WTO khi chúng ta gia nhập Chúng ta bỏ các biện pháp trợ cấp không đúng với quy định của WTO: trợ cấp liên quan đến tỷ lệ xuất khẩu; tỷ lệ nội địa hóa, trợ cấp trực tiếp về xuất khẩu…Các trợ cấp mà WTO cho phép, chúng ta vẫn thực hiện: trợ cấp liên quan đến xúc tiến thương mại; đầu tư, du lịch nâng cao chất lượng hàng hóa, cước phí vận tải…

Xét một cách tổng thể, việc gia nhập WTO mang lại cả những tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với nền kinh tế Việt Nam

Về mặt tích cực, thực tế đã chứng minh tính đúng đắn về tổng thể của những nhận

định, kết luận trong Nghị quyết số 08-NQ/TW của Hội nghị lần thứ tư BCHTW Đảng khóa X về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO” và tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết 16/2007/NQ-CP của Chính phủ Về cơ bản, quá trình hội nhập và việc gia nhập WTO đã đem lại những kết quả như Chính phủ và nhiều nhà nghiên cứu kinh tế kỳ vọng16 Áp lực từ việc thực thi các cam kết gia nhập WTO đã trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy các nhà quản lý tăng cường xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật và kinh tế, nâng cao niềm tin vào tiềm năng phát triển

và tiến trình cải cách kinh tế của Việt Nam Tăng trưởng GDP ở Việt Nam đạt mức cao: 8,48%(2007), mức cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây; thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng: 20,3 tỷ USD năm 2007 (tăng 69,2%) và tới năm 2008 đạt 64 tỷ USD Thị trường Việt Nam đã được mở rộng ra khắp thế giới, trên phạm

vi tất cả các quốc gia thành viên của WTO: xuất khẩu năm 2007 đạt 48,56 tỷ USD

15 Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế, "Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế", tr58, NXB Tài Chính,

2008

16 Tiến sĩ Đinh Văn Ân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản Lý Kinh tế TW, Hội thảo “Tác động hội nhập đối với nền kinh tế sau hai năm Việt Nam gia nhập WTO”, Hà Nội, tháng 4/2009

Trang 39

(tăng 21,9%), năm 2008 đạt 63 tỷ USD (tăng 29,5%), sản xuất trong nước đã phát triển đa dạng cả về số lượng và chất lượng17

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận một số tác động tiêu cực của việc gia nhập WTO đã vượt xa những dự báo (như tốc độ gia tăng kim ngạch nhập khẩu, qui mô các luồng vốn trực tiếp và gián tiếp đổ vào Việt Nam; sự bùng phát mạnh mẽ các hoạt động tài chính ngân hàng…) Việc gia nhập WTO cũng làm lộ rõ những yếu kém, bất cập của nền kinh tế Việt Nam, nhất là đối với việc đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững Kinh tế Việt Nam thời gian qua đã phát triển quá nóng, dẫn đến tình trạng lạm phát gia tăng, thâm hụt thương mại và những cơn sốt bong bong bất động sản Những yếu tố đó đã làm giảm sút đáng kể chất lượng các nguồn vốn đầu tư đổ vào Việt Nam Bên cạnh đó, việc hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế khiến cho kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều hơn vào biến động của kinh tế thế giới (Thị trường tài chính, tiền tệ có nhiều biến động, xuất hiện nhiều yếu tố khó khăn, gây bất lợi cho sản xuất kinh doanh như giá cả nhiên liệu, vật liệu, chi phí đầu vào tăng) Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tăng nhanh chóng mặt (62,7 tỷ USD năm 2007, nhập siêu 14,1 tỷ USD; năm 2008 ước đạt 79,9 tỷ USD, tăng 27,5%); tỷ

lệ lạm phát tăng mạnh từ mức 12,6%(2007) lên mức 22,6% năm 200818

Đối với các doanh nghiệp, gia nhập WTO là một cơ hội lớn, mang lại lợi ích từ nhiều mặt Trước hết, các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị trường ra tất cả các nước thành viên WTO, với một thị phần chiếm trên 85% tổng thương mại hàng hóa và khoảng 90% thương mại toàn cầu

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có được một vị thế bình đẳng trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế: Tranh chấp quốc tế là điều không thể tránh khỏi trong quan hệ kinh doanh, nhất là trong thời kì hiện nay Với việc là thành viên của WTO, Việt Nam có quyền bình đẳng với tất cả mọi quốc gia thành viên, trong việc đảm bảo quyền lợi của các doanh nghiệp Việt Nam trong các quan hệ kinh doanh quốc tế, thông qua đảm bảo từ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Gần đây nhất, Việt Nam đã kiện Hoa Kỳ lên WTO để bảo vệ các nhà xuất khẩu tôm Việt Nam vào thị trường Mỹ Đây có thể xem là một trong những minh chứng cụ thể nhất cho việc bảo đảm vị thế bình đẳng của các doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế

Tham gia WTO đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ phải thực hiện đúng các cam kết gia nhập WTO trong việc tự do hóa thị trường trong nước Nền kinh tế Việt Nam

17 TS Trịnh Minh Anh, Hội thảo “Việt Nam gia nhập WTO và Hội Nhập kinh tế quốc tế, đánh giá tác động trong bối cảnh suy thoái toàn cầu”, Huế, ngày 28/04/2009

18 TS Trịnh Minh Anh, Hội thảo “Việt Nam gia nhập WTO và Hội Nhập kinh tế quốc tế, đánh giá tác động trong bối cảnh suy thoái toàn cầu”, Huế, ngày 28/04/2009

Trang 40

trước kia vốn bị coi là trì trệ do sự kiểm soát của nhà nước thì nay đã thực sự rộng

mở về mọi mặt, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển một cách sâu rộng

và toàn diện Các cơ chế, chính sách đang được cải cách một cách triệt để, nhằm phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của WTO như công khai, minh bạch, có thể

dự báo…Những nỗ lực đó sẽ đem lại cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Việt Nam một nền tảng vững chắc đảm bảo cho sự phát triển

Bên cạnh đó, việc mở cửa đối với quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam tận dụng được các lợi thế về vốn, công nghệ, kỹ năng quản trị, kinh doanh, tiếp thị… của quốc tế, qua đó nâng cao năng lực sản xuất và tăng cường hiệu quả kinh doanh

Vì vậy, các doanh nghiệp trong thời gian tới cần chủ động hơn nữa trong việc tận dụng những cơ hội sẵn có, đồng thời sớm xây dựng một chiến lược phát triển hợp

lý, dựa trên lộ trình cam kết của Việt Nam, để luôn chủ động và phát triển ổn định trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

*****&*****

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Các cam kết gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới của Việt Nam

2 Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế

3 Sổ tay doanh nghiệp, APEC và những vấn đề doanh nghiệp cần quan tâm

Ngày đăng: 05/07/2015, 06:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Biểu đồ so sánh lộ trình cắt giảm thuế của Việt Nam và các nước trong  khuôn khổ các FTA giữa ASEAN và đối tác - Bộ tài liệu chuyên đề hội nhập kinh tế quốc tê
Bảng 1 Biểu đồ so sánh lộ trình cắt giảm thuế của Việt Nam và các nước trong khuôn khổ các FTA giữa ASEAN và đối tác (Trang 86)
Bảng 2 Kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN có sử dụng Mẫu D - Bộ tài liệu chuyên đề hội nhập kinh tế quốc tê
Bảng 2 Kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN có sử dụng Mẫu D (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w