Tuy nhiên từ thực tiễn cho thấy, các văn bản luật, chính sách hỗ trợ cho nhóm đối tượng trẻ em có HIV/ AIDS thì nhiều nhưng khi triển khai công tác đảm bảo quyền cho trẻ em co
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
HÀ THỊ THẮNG
BIỆN HỘ THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM CUẢ NHÓM
TRẺ EM CÓ HIV/AIDS TẠI TRUNG TÂM
Trang 2Công trình được hoàn thành ta ̣i: Khoa Xã hội học, trường Đa ̣i ho ̣c Khoa học Xã hội và Nhân văn
Người hướng dẫn khoa ho ̣c: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa
Phản biện 1: TS Mai Thị Kim Thanh
Phản biện 2: TS Nguyễn Thị Trà Vinh
Luâ ̣n văn được bảo vê ̣ trước Hô ̣i đồng chấm luâ ̣n văn Tha ̣c sỹ họp tại văn phòng Khoa Xã hô ̣i ho ̣c , trường Đa ̣i ho ̣c khoa ho ̣c xã hô ̣i và nhân văn, lúc 13h30 phút ngày 22 tháng 12 năm 2014
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm thư viê ̣n Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hồ Chí Minh cũng đã từng nói : “Trẻ em như búp trên cành – Biết ăn biết ngủ biết học hành là
ngoan” Trẻ em khi sinh ra có quyền được bình đẳng; không bị phân biệt đối xử, được học tập, được
chăm sóc y tế, tạo mọi điều kiện để phát triển một cách toàn diện Công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ và trẻ em luôn là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, và đó cũng là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam
HIV/AIDS đã và đang tác động tới toàn bộ các mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là đối tượng trẻ em rất dễ bị tổn thương, phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề do HIV/AIDS gây ra Hiện nay tại nhiều tỉnh thành trong cả nước, vẫn còn xuất hiện tình trạng một số trẻ em sống chung với HIV không được đến trường Các em nhỏ có HIV khi đến tuổi đi học mẫu giáo, tiểu học thì bị các cơ sở giáo dục từ chối nhận vào học với nhiều lí do khác nhau, có những em bị các phụ huynh học sinh, các bạn đồng trang lứa kì thị, gây áp lực buộc nghỉ học Mặc dù trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước đã đưa ra những chính sách
hỗ trợ thực hiện quyền trẻ em, công tác thực hiện đã được nhiều thành tựu đáng kể nhưng nhìn chung còn chưa thật sự hiệu quả
Trung tâm Lao động xã hội 02 Yên Bài – Ba Vì – Hà Nội là một trong những trung tâm trên địa bàn Hà Nội nhận nuôi dưỡng chăm sóc trẻ em nhiễm và chịu ảnh hưởng bởi HIV/ AIDS Hiện nay tại khu chăm sóc trẻ em đặc biệt trong trung tâm có nuôi dưỡng 75 trẻ em nhiễm HIV từ cha mẹ Ở đây trẻ em có HIV/ AIDS về điều kiện sinh hoạt, chăm sóc y tế, giáo dục, vui chơi giải trí đều có phần bị hạn chế,
sự kì thị xa lánh của xã hội, cộng đồng nơi các em sinh sống còn rất lớn
Đảng và nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách, văn bản luật ban hành nhằm đảm bảo cơ hội được tiếp cận quyền cho nhóm trẻ em có HIV trên địa bàn cả nước, quy định các quyền được tham gia khám chữa bệnh, được tham gia học tập, vui chơi giải trí và hòa nhập xã hội, được cộng đồng dân cư tạo cơ hội cho việc thực hiện quyền Tuy nhiên từ thực tiễn cho thấy, các văn bản luật, chính sách hỗ trợ cho nhóm đối tượng trẻ em có HIV/ AIDS thì nhiều nhưng khi triển khai công tác đảm bảo quyền cho trẻ em có HIV/AIDS, sự kì thị của xã hội còn gây nhiều rào cản cho các em trong việc tham gia thực hiện quyền Vì vậy cần có những cá nhân, tổ chức tham gia vào viêc biện hộ, đưa việc thực thi chính sách đến từng tổ chức, cộng đồng Do vậy trong lĩnh vực công tác xã hội, vai trò biện hộ là một trong những vai trò quan trọng nhất của nhân viên xã hội
Với tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn của vấn đề nêu trên, tôi đã chọn hướng nghiên cứu “Biện
hộ thực hiện quyền trẻ em của nhóm trẻ em có HIV/ AIDS tại Trung tâm Lao động 02 Ba Vì - Hà Nội”
làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành công tác xã hội (CTXH) của mình
Thực hiện nghiên cứu này, bản thân tôi mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé vào công tác biện
hộ trong việc đảm bảo thực hiện quyền giáo dcj và hòa nhập xã hộicủa nhóm trẻ em có HIV/ AIDS; là người đại diện cho các em nói lên những nguyện vọng nhu cầu của bản thân Từ đó, giúp các em vượt qua những rào cản, tự ti về tâm lý, cảm nhận được giá trị của bản thân, để vươn lên hòa nhập theo hướng tích cực; trở thành những công dân tốt, ưu tú của đất nước
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Có thể thấy được rằng, Tại Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu nghiên cứu về nhóm trẻ em và các chính sách liên quan đến nhóm trẻ em có HIV, tuy nhiên những nghiên cứu trực tiếp của công tác xã hội trong việc thực hiện các vai trò của nhân viên xã hội cho nhóm đối tượng trẻ em có HIV/ AIDS thì chưa nhiều; đặc biệt là các nghiên cứu về vai trò biện hộ trong việc thực hiện quyền, đảm bảo quyền lợi cho nhóm trẻ em có HIV/ AIDS Nhân viên xã hội là người đại diện phát ngôn của trẻ có HIV/AIDS, giúp các em nói lên những nhu cầu nguyện vọng trong quá trình đẩy mạnh việc thực hiện quyền, đảm bảo quyền lợi cho các em tại các cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư
Do đó, luận văn tốt nghiệp với đề tài “Biện hộ thực hiện quyền trẻ em của nhóm trẻ em có HIV/
AIDS tại Trung tâm Lao động 02 Ba Vì - Hà Nội” không phải là một chủ đề mới trong hoạt động thực
tiễn cũng như hoạt động nghiên cứu khoa học về lĩnh vực HIV/ AIDS Thế nhưng điểm mới ở luận văn này chính là: Đề cập tới việc biện hộ thực hiện quyền của nhóm trẻ em có HIV/ AIDS trên các hoạt
Trang 4hạn chế, gây nhiều rào cản cho các em khi thực hiện các nhóm quyền này, trong việc hòa nhập xã hội Qua đó thấy được những vai trò cụ thể của công tác xã hội, đặc biệt vai trò của nhân viên xã hội tại các
cơ sở bảo trợ có vai trò to lớn trong việc hỗ trợ tâm lý, liên kết các nguồn lực, dịch vụ hỗ trợ nhằm thúc đẩy việc thực hiện quyền giáo dục và hòa nhập xã hội cho nhóm trẻ này Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra một môi trường lành mạnh, an toàn, tạo cơ hội cho các em được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, giảm bớt các cảm xúc tiêu cực để hòa nhập xã hội
3 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
3.1 Lí luận
Luận văn góp phần tìm hiểu làm phong phú thêm kho tàng lý luận về khái niệm, nhận thức, tư tưởng trong vấn đề thực hiê ̣n quyền giáo du ̣c, hòa nhập xã hội liên quan đến nhóm trẻ em có HIV/ AIDS, qua đó góp phần vào viê ̣c nâng cao hiê ̣u quả của công tác thực hiê ̣n các văn bản Luâ ̣t , chính sách của Đảng, Nhà Nước
3.2 Thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa thực tiễn góp phần nghiên cứu thực trạng, đồng thời phân tích tìm ra những
nguyên nhân dẫn đến viê ̣c trẻ em có HIV / AIDS ta ̣i trung tâm lao đô ̣ng 02 Ba Vì – hà Nội không được
tiếp câ ̣n quyền liên quan đến giáo du ̣c, hòa nhập xã hội
Việc triển khai đề tài này sẽ giúp cho những nhà nghiên cứu, các cán bộ làm việc tại trung tâm hiểu rõ hơn về những khó khăn mà nhóm trẻ đang gặp phải trước sự kỳ thị của xã hội đă ̣c biê ̣t trong lĩnh vực tiếp câ ̣n quyền; qua đó có những cách thức tác động, hỗ trợ và huy đô ̣ng các nguồn lực tham gia vào quá trình biện họ thực hiện quyền cho các em , để các em có cơ hội đượ c hưởng quyền và hòa nhâ ̣p xã
hô ̣i
Thông qua nghiên cứu thực tiễn giúp cho nhân viên công tác xã hội có điều kiện để ứng dụng và nâng cao trình độ nghề nghiệp trong việc can thiệp trợ giúp nhóm trẻ em có HIV / AIDS trong viê ̣c tiếp
câ ̣n quyền
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện hộ thực hiện quyền trẻ em của nhóm trẻ em có HIV/ AIDS
4 2 Khách thể nghiên cứu
Nhóm trẻ em nhiễm và chịu ảnh hưởng bởi HIV/ AIDS
Cán bộ tại trung tâm Lao động 02
Người chăm sóc trực tiếp nhóm trẻ em có HIV/AIDS tại Trung tâm
Cán bộ địa phương
Tình nguyện viên tại trung tâm Lao động 02
5 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Khu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt -Trung tâm Lao động xã hội 02 Ba Vì- Hà Nội
Thời gian: 1/2014 – 07/2014
Phạm vi đề tài : Vì thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu tập trung vào một nhóm
quyền cụ thể : Quyền được phát triển ( liên quan đến viê ̣c thực hiê ̣n quyền giáo du ̣c, hòa nhập xã hội cho trẻ em có HIV tại trung tâm)
6 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng việc thực hiện quyền giáo dục và hòa nhập xã hội của nhóm trẻ em có HIV tại trung tâm, qua đó nghiên cứu cách thức biện hộ, xác định, kết nối và huy động các nguồn lực tham gia vào quá trình biện hộ nhằm mục đích giúp trẻ em có HIV/AIDS có cơ hội được thực hiê ̣n quyền giáo dục và hòa nhập xã hội
6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quá trình thực hiện quyền trẻ em đối với nhóm trẻ em có HIV/ AIDS liên quan đến giáo du ̣c và hòa nhâ ̣p xã hô ̣i của trẻ tại trung tâm Lao động xã hội 02
Chỉ rõ những tác đô ̣ng c ủa việc không được đảm bảo thực hiê ̣n quy ền giáo dục và hòa nhập xã hội đến bản thân nhóm trẻ và xã hô ̣i
Trang 5Phân tích các nguyên nhân dẫn tới thực tra ̣ng nêu trên
Nghiên cứu cách thức biện hộ thực hiê ̣n quyền giáo du ̣c, hòa nhập xã hội cho nhóm trẻ tại Trung tâm
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác biện hộ thực hiện quyền giáo dục và hòa nhập xã hội cho nhóm trẻ em có HIV/ AIDS tại trung tâm
7 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng việc thực hiê ̣n quyền giáo du ̣c , hòa nhập xã hội đối với nhóm tr ẻ em có HIV/AIDS tại Trung tâm Lao động xã hội 02 hiện nay như thế nào?
Có những nguyên nhân nào dẫn đến thực tra ̣ng nêu trên?
Cách thức tiến hành biện hộ thực hiện quyền cho nhóm trẻ em có HIV/ AIDS trong công tác xã hội được thực hiện như thế nào?
8 Giả thuyết nghiên cứu
Nhóm trẻ em có HIV/AIDS tại trung tâm không được tham gia tiếp cận quyền đầy đủ theo quy định của công ước quốc tế về quyền trẻ em, đă ̣c biê ̣t là quyền liên quan đến giáo du ̣c và hòa nhâ ̣p xã hô ̣i
Việc tiếp cận quyền giáo du ̣c, vui chơi hòa nhâ ̣p của nhóm trẻ ta ̣i Trung tâm gă ̣p nhiều khó khăn
do dư luận xã hội, nhận thức của người dân trong cô ̣ng đồng còn hạn chế
Việc tiến hành biện hộ thực hiê ̣n quyền giáo du ̣c, hòa nhập xã hội có vai trồ to lớn giúp nhóm trẻ tại trung tâm có cơ hội tiếp cận quyền theo Luật định
9 Các phương pháp thu thập thông tin
9.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong luâ ̣n văn tôi có tham khảo các các số liệu, báo cáo thống kê, khảo sát của cơ quan nhà nước, các dự án nghiên cứu về tình hình trẻ có HIV, những vấn đề khó khăn mà trẻ có HIV gặp phải, sự
kỳ thị, rào cản của xã hội đối với nhóm trẻ em này Mặt khác, tôi còn tìm hiểu các văn bản pháp lý hiện hành, các chính sách hỗ trợ của nhà nước liên quan đến việc hỗ trợ về việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, vui chơi giải trí, làm giảm sự kỳ thị của cộng đồng nhằm tạo cơ hội cho trẻ em có HIV có cơ hội hòa nhập xã hội Ngoài ra luận văn còn sử dụng phân tích tài liệu từ nguồn tài liệu thu thập được như interne, trên cơ sở đó phân tích và sàng lọc những thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu làm cơ sở bổ sung cho luận văn nghiên cứu của mình
9.2 Phương pháp phỏng vấn sâu:
Trong nghiên cứu này, tôi tiến hành phỏng vấn sâu 05 cán bộ tại trung tâm 02 và 05 người chăm sóc trực tiếp trẻ em có HIV/AIDS tại trung tâm
Cụ thể như sau: Trưởng phòng chăm sóc trẻ em ( 01 người)
Cán bộ phụ trách y tế tại trung tâm ( 01 người )
Sinh viên tình nguyện tại trung tâm ( 02 người)
Cán bộ văn hóa xã hội xã Yên Bài ( 01 người)
Các mẹ phụ trách khu nhà trẻ ( 02 người)
Trẻ tại Trung tâm
9.3 Phương pháp quan sát
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tôi đã tiến hành quan sát : Đời sống sinh hoạt của nhóm trẻ
em có HIV/AIDS tại trung tâm: Thông qua việc quan sát chế độ ăn, uống, chế độ dinh dưỡng hàng ngày, viê ̣c nghỉ ngơi việc chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, tham gia vui chơi giải trí,học tập; Theo dõi, quan sát tình trạng thái độ, tâm lý và hành vi của các trẻ em xem xét viê ̣c giao tiếp với người la ̣ của trẻ như thế nào? Quan sát những khó khăn của trẻ trong việc hòa nhập xã hội: viê ̣c tham gia các hoa ̣t đô ̣ng , những cảm xúc, suy nghĩ của trẻ… Những quan sát này góp phần làm sáng tỏ thêm những kết quả nghiên cứu định lượng đã thu thập được, qua đó góp phần làm rõ vấn đề cần nghiên cứu
10 Kết cấu khoa học của đề tài
Ngoài các phần chính của khóa luận như: Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì trong nội dung nghiên cứu khóa luận của tôi
được trình bày theo kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực thực tiễn của nghiên cứu
Chương 2:Thực trạng thực hiện quyền trẻ em của nhóm trẻ có HIV/AIDS tại Trung tâm Lao động xã hội
02 Ba vì – Hà Nội
Chương 3: Biện hộ quyền trẻ em của nhóm trẻ em có HIV/AIDS tại trung tâm
Trang 6NỘI DUNG
Chương 1: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực thực tiễn của nghiên cứu
1.1 Các khái niệm cơ ba ̉ n
Trẻ em:
Theo công ước quốc tế về quyền trẻ em, “trẻ em là người có độ tuổi dưới 18” Trong luật chăm sóc và
bảo vệ trẻ em của Việt Nam cũng quy đi ̣nh “ Trẻ em là những người dưới 16 tuổi”
(http://vi.wikipedia.org/wiki/Tre_em)
Quyền :
Từ góc độ triết học và căn cứ vào những vấn đề cơ bản của quyền con người, có thể định nghĩa: quyền con người là những đòi hỏi chính đáng về tự do và những nhu cầu cuộc sống cơ bản cần được đáp ứng của con người
Quyền trẻ em:
Quyền trẻ em là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện Quyền trẻ em chính là biện pháp nhằm bảo đảm cho trẻ em không những là những người tiếp thu thụ động tình thương hay lòng tốt của bất cứ ai, mà trở thành chủ thể của quyền
Nhóm
Nhóm trong công tác xã hội là một nhóm đối tượng Ví dụ như: Nhóm phụ nữ bị bảo hành, nhóm trẻ em mồ côi, nhóm người khuyết tật, nhóm đồng tính nam… Họ tham gia vào nhóm từ hai người trở lên, họ cùng gặp những vấn đề khó khăn trong cuộc sống, họ tham gia vào nhóm để được chia sẻ, được iểu và có cơ hội cùng nhau giải quyết vấn đề khó khăn trong cuộc sống Họ tham gia vào nhóm với tinh thần tự nguyện
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hiểu là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng Từ định nghĩa này,
Điều 40 đã quy định: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em
bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật”
Nhân viên xã hội:
Nhân viên xã hội là người có kiến thức chuyên môn, kỹ năng làm việc với các đối tượng xã hội; là chiếc cầu nối hỗ trợ giữa thân chủ với cộng đồng xã hội trong việc cung ứng các dịch vụ xã hội giúp cho đối tượng vươn lên hòa nhập theo hướng tích cực
Khi thực hiện vai trò hỗ trợ các đối tượng, nhân viên xã hội có rất nhiều vai trò khác nhau, tùy từng hoàn cảnh, đặc điểm của đối tượng mà nhân viên xã hội xác định vai trò nào là trọng tâm Nhân
Trang 7viên xã hội chính là chiếc cầu nối, đại diện cho đối tượng nói lên nhu cầu, nguyện vọng của mình, nhân viên xã hội vừa kết nối đối tượng đến với các dịch vụ xã hôi, vừa giúp họ được tiếp cận và hưởng các dịch vụ xã hội trên cơ sở tiếp cận bình đẳng trên cư sở đó vận động, thuyết phục, truyền thông trong cộng đồng tạo cơ hội cho các đối tượng trong xã hội có cơ hội hòa nhập, tiếp cận dịch vụ, vươn lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực
Biện hộ
Biện hộ được xác định như quá trình làm việc hay đại diện cho thân chủ để tìm kiếm dịch vụ hay nguồn lực mà thân chủ đã không được hưởng, để tạo ra sự thay đổi về chính sách, thủ tục hành chính đã ảnh hưởng bất lợi cho thân chủ, thúc đẩy chính sách, luật lệ mới nhằm tạo ra nguồn lực và dịch vụ cần thiết cho thân chủ
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi tập trung đi sâu vào cách thức biện hộ thực hiện quyền giáo dục và hòa nhập xã hội cho nhóm trẻ em có HIV tại Trung tâm Lao động 02 Ba Vì – Hà Nội Việc tiến hành biện hộ thực hiện quyền giáo dục và hòa nhập xã hội cho trẻ em có HIV có ý nghĩa vô cùng to lớn, tạo cơ sở pháp lý giúp các em có cơ hôi được đến trường, hòa nhập với cộng đồng Để hoạt động này đạt hiệu quả bền vững, thì công tác xã hội có ý ngĩa vô cùng to lớn, đặc biệt là vai trò của nhân viên xã hội, có vai trò kết nối, huy động các nguồn lực, thành phần tham gia vào quá trình biện hộ
1.2 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu
Thuyết nhu cầu của Maslow có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác xã hội Trong tiến trình thực hiê ̣n hỗ trợ cho đối tượng, viê ̣c xác đi ̣nh được những khó khăn về nhu cầu của đối tượng có ý nghĩa lớn trong viê ̣c xây dựng kế hoa ̣ch để hỗ trợ Viê ̣c tìm hiểu đúng nhu cầu , mong muốn của đối tượng , nhân viên xã hô ̣i sẽ xác đi ̣nh được đâu là vấn đề cần ưu tiên trợ giúp , xây dựng được kế hoa ̣ch hỗ trợ hiê ̣u quả, đáp ứng được yêu cầu, mong muốn
1.2.2 Thuyết hệ thống
Con người không chỉ đơn thuần thực hiện các chức năng các cá nhân của riêng mình, mà con người được sống được tương tác với môi trường, sống trong một hệ thống Thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được vận dụng phổ biến trong công tác xã hội
Vận dụng lý thuyết của hệ thống trong công tác xã hội nhóm giúp cho nhân viên xã hội hiểu và xác định nhóm là một hệ thống của các yếu tố tương tác với nhau Thuyết hệ thống cung cấp mô hình, lý thuyết để giúp hiểu biết và phong cách đáp ứng nhu cầu, giải quyết vấn đề của con người trong môi trường sống
Khi thực hiện tiến hành giúp đỡ cá nhân, nhân viên công tác xã hội cần phải chỉ ra thân chủ của mình đang thiếu và cần đến những hệ thống trợ giúp nào và giúp đỡ cá nhân đó có thể tiếp cận và tham gia các hệ thống Dựa trên lý thuyêt hệ thống, nó sẽ giúp đỡ các nhân viên công tác xã hội có những hiểu biết về các thể chế, sự tương tác của các hệ thống này với nhau Với các cá nhân biết mọi cách thức mà mọi cá nhân tương tác với nhau, những nhân tố nào sẽ giúp hỗ trợ cho sự thay đổi sẽ tham gia vào tiến trình giúp đỡ này Vì thế khi thực hiện vai trò dựa trên hoạt động công tác xã hội chúng ta phải nhìn nhận vấn đề thay đổi trên nhiều phương diện và mức độ khác nhau trên các hệ thống Như vậy, thông qua lý thuyết hệ thống
1.3 Một số văn bản luật, chính sách liên quan đến việc tiếp cận quyền của nhóm trẻ em có HIV/AIDS
Tại một số quốc gia vẫn còn những quy định cấm người nhiễm HIV nhập cảnh và cư trú hoặc tồn tại tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử và bạo hành giới liên quan đến HIV/AIDS Tại Việt Nam , đươ ̣c sự quan tâm hỗ trơ ̣ từ phía Đảng và Nhà nước, hiê ̣n nay có rất nhiều văn bản Luâ ̣t, chính sách lien quan đến công tác chăm sóc và giáo du ̣c trẻ em nói chung , trẻ có hoàn cảnh đă ̣c biê ̣t nói riêng nhằm đảm bảo , tạo
cơ hô ̣i bình đẳng, tạo môi trường sống an toàn , giúp trẻ vươn lên hòa nhập theo hướng tích cực , sau đây là một số văn bản luật, chính sách liên quan:
Bao gồm:
1.3.1 Công ước quốc tế quyền trẻ em
1.3.2 Luật phòng chống HIV/ AIDS
1.3.3 Luật chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em
Trang 81.4 Vài nét khái quát về địa bàn nghiên cứu
Khu chăm sóc trẻ có hoàn cảnh khó khăn là một phần rất quan trọng trong của Trung tâm Lao động 02 Khu chăm sóc trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nằm ở ngay vi trí cổng vào của trung tâm Khu chăm sóc khá rộng gồm có 5 nhà khác nhau với các chức năng khác nhau Trong đó có 4 nhà dành cho trẻ có HIV bao gồm: nhà Bí Ngô, nhà thỏ Để, nhà Bồ Câu, nhà Hoa Mai Tại đây có 75 trẻ em, trong đó: Trẻ sơ sinh đến 18 tháng tuổi: (04 trẻ); trẻ từ 18 tháng tuổi đến dưới 6 tuổi: (10 trẻ); Trẻ từ 6 đến 14 tuổi (60 trẻ) Số trẻ em đang trong độ tuổi đến trường là: 61 trẻ
Trẻ em tại khu chăm sóc đặc biệt ít có điều kiện được tham gia các hoạt động cộng đồng Hàng ngày các em chỉ được vui chơi tại trung tâm, ít có cơ hội tiếp xúc bên ngoài do cộng đồng dân cư nơi các
em sinh sống kì thi, xa lánh
Hầu hết trẻ đến giai đoa ̣n đến trường, nhưng các em không được đến trường , do sức ép từ phía phụ huynh, nhân dân trong xã không cho trẻ đến trường hoặc ngồi gần con cái của họ Điều đó đã gây nhieeuf khó khăn cho nhà trường trong việc tiếp nhận, hỗ trợ dạy học cho các trẻ tại đây Hiện nay, trẻ chỉ được học tập tại Trung tâm do những tình nguyện viên ( sinh viên trường Đại học Sư Phạm dạy) Điều này gây nhiều khó khăn lớn cho các trẻ ta ̣i đây trong viê ̣c tiếp xúc các di ̣ch vu ̣ , hoạt động về giáo dục
Tiểu kết chương 1:
Trong chương 1 này nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu làm rõ một số khái niệm công cụ liên quan đến vấn
đề nghiên cứu, một số lí thuyết có thể ứng dụng trong quá trình nghiên cứu để tìm hiểu nhu cầu của đối tượng và các nguồn lực hỗ trợ trong quá trình trợ giúp đối tượng thực hiện nhu cầu, tác giả đưa ra một
số văn bản chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước ban hành nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền cho nhóm trẻ em Có HIV/ AIDS, qua đó nhà nghiên cứu cũng đi sâu khái quát những nét cơ bản nhất về địa bàn nghiên cứu để thấy được thực trạng những vấn đề mà đối tượng gặp phải
Chương 2: Thực trạng thực hiện quyền trẻ em của nhóm trẻ có HIV/AIDS tại Trung tâm Lao động xã hội 02 Ba vì – Hà Nội
2.1 Thực tra ̣ng thực hi ện quyền giáo dục và hòa nhập xã hội của nhóm trẻ có HIV/AID trên thế giới và Viêt Nam
2.1.1 Trên Thế giơ ́ i
Mặc dù nhiều quốc gia trên thế giới đã phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em (CRC) nhưng trên thực tế còn rất nhiều trẻ em không được bảo vệ khỏi các hình thức bạo lực, lạm dụng, bóc lột và ngược đãi Đối với trẻ em có HIV nới riêng , người nhiễm HIV nói chung sự k ỳ thị, phân biệt đối xử là rào cản lớn đối với việc thực hiện đầy đủ các quyền của người nhiễm HIV/AIDS, bao gồm quyền học hành, lao động đã được pháp luật các quốc gia quy định Trong gia đình, người nhiễm HIV/AIDS thường phải ăn
ở riêng, nếu ở chung thì không được dùng chung các vật dụng sinh hoạt hằng ngày, không được dùng chung nhà vệ sinh và hạn chế tiếp xúc với các thành viên khác trong gia đình Các cơ sở y tế thường miễn cưỡng khi tiếp xúc với người nhiễm HIV/AIDS hoặc bắt họ phải chờ đợi rất lâu mới đến lượt khám của mình, thậm chí có những cơ sở y tế từ chối phẫu thuật hoặc các thủ thuật y tế cho người nhiễm HIV/AIDS Tại nơi làm việc, nếu phát hiện ra một người bị nhiễm HIV/AIDS, người đó sẽ ngay lập tức
bị xa lánh, bị thay đổi công việc, bị gây sức ép để nghỉ việc hoặc bị bắt buộc thôi việc với những lý do không chính đáng Tại trường học, trẻ bị nhiễm HIV/AIDS thường phải ngồi bàn riêng, không được tiếp xúc với các bạn khác và không được tham gia các sinh hoạt chung của trường lớp, có một số trường học không nhận trẻ vào học hoặc gây sức ép bắt trẻ phải nghỉ học
2.1.2 Việt Nam
Công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ sức khỏe của trẻ em từ nhiều năm nay luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Ðảng, Nhà nước Từ khi kí kết tham gia Công Ước, Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực thực hiện những quy định trong Công Ước này Việt Nam có cơ chế kiểm tra giám sát mang tính hệ thống cho việc thực hiện thông qua thu thập, phân tích, đánh giá và phổ biến dữ liệu liên quan đến trẻ
em, Chương trình cũng đưa ra những mục tiêu cụ thể và khung thời gian cho các hoạt động liên quan tới sức khỏe, dinh dưỡng của trẻ, giáo dục… Do nhận thức của về HIV/AIDS còn nhiều hạn chế nên một số gia đình, người thân khi biết con em mình nhiễm HIV/AIDS đã từ chối chăm sóc, nuôi dưỡng và trông
Trang 9chờ sự đón nhận vào nuôi dưỡng tại trung tâm bảo trợ Mặc dù đã có nhiều quy định và chính sách được ban hành về việc chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, nhưng trên thực tế, hiện tượng kỳ thị, phân biệt đối xử với các em vẫn đang xảy ra, đặc biệt trong giáo dục, dẫn đến nhận thức và năng lực hành vi của trẻ bị giảm sút, thậm chí nhiều trường hợp thể hiện rõ sự chán nản, tự cô lập… Ở Việt nam tại nhiều tỉnh thành trên cả nước do nhận thức còn thấp, công tác truyền thông chưa tốt nên nhiều trẻ em có HIV bị kì thị, không được đến trường Nhiều địa phương trên khắp cả nước, hàng trăm bậc phụ huynh đã gọi điện đến trường bày tỏ sự phản đối, nhiều người còn tổ chức tụ tập trước cổng trường để yêu cầu nhà trường không cho những học sinh nhiễm HIV tiếp tục được đi học Những hành động nói trên rõ ràng là những hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam, trong khi pháp luật Việt Nam có những quy định tiến
bộ hơn so với nhiều quốc gia khác trong việc thúc đẩy thực hiện quyền của người sống với HIV Thách thức thực sự đặt ra ở đây là làm thế nào để tăng cường thực thi luật và cung cấp cho các bậc phụ huynh cũng như toàn thể cộng đồng những thông tin chính xác về HIV/AIDS
2.2 Thực trạng thực hiện quyền giáo dục và hòa nhập xã hội của nhóm trẻ có HIV/AIDS tại Trung tâm Lao động xã hội 02 Ba vì – Hà Nội
Xét về phương diện quyền và tham gia hòa nhập xã hội, thì hiện nay nhóm trẻ em có HIV tại trung tâm còn chịu nhiều thiệt thòi, các em không được hưởng các quyền lợi theo quy định của pháp luật, không được hòa nhập xã hội, tiếp cận với quyền giáo dục và bị cộng đồng dân cư kì thị, xa lánh, gây nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện cuả trẻ Hiện nay, trẻ tại Trung tâm không được đến trường, các trẻ chủ yếu học tại trung tâm, do tình nguyện viên dạy vào thứ 7 và chủ nhật hàng tuần nhiều trẻ ở
độ tuổi học Trung học Phổ thông, nhưng mới chỉ được tiếp xúc chương trình học của lớp 1 và 2 Năm
2007 Trung tâm có đưa 5 trường hợp trẻ lớn tuổi nhất trung tâm đến xin học tại Trường Tiểu học cơ sở Yên Bài, tuy nhiên theo học được một tuần, trẻ lại bị trả về Trung tâm, do sức ép từ phía phụ huynh, họ yêu cầu không được cho trẻ đến trường, không cho trẻ có HIV được ngồi gần, học cùng con cái họ, nếu không họ cho con họ chuyển trường Điều này đã gây nhiều trăn trở cho của cán bộ, ban lãnh đạo trung tâm Trong đó có 61 trẻ em đang trong độ tuổi đi học ( 32 em trong đội tuổi học Trung học cơ sở; 29 em đang trong độ tuổi từ 6- 9 tuổi) ; tuy nhiên việc đến trường của các em gặp nhiều khó khăn do sức ép từ phía cộng đồng, người dân tại địa phương, và các bậc phụ huynh tại trường Trong số 61 trẻ em có HIV tại trung tâm thì có hơn 50 % số em trong độ tuổi từ 10- 14 tuổi, đã có nhận thức, hiểu biết về căn bệnh HIV đang mang trong mình, các em có tâm lý tự ti, mặc cảm về hoàn cảnh của bản thân, đến tuổi có những nhận thức nhất định về vị trí xã hội, song các em vẫn không được tham gia tiếp cận, hưởng quyền lợi theo quy định của pháp luật Đang trong độ tuổi học cấp 2, nhưng các em chỉ mới được tiếp cận một vài buổi học của chương trình học tiểu học (nhờ sự can thiệp của các bên liên quan, chính quyền địa phương) Do đó, có thể thấy được rằng nhu cầu được đi học là một vấn đề cấp bách đối với các em Khi trò chuyện với các trẻ các trẻ tại trung tâm, phần lớn trẻ đều nói lên mong muốn đến trường, được gặp gỡ với bạn bè, thầy cô Các em nói về những dự định, mong muốn của bản thân, có em mong ước được trở thành cô giáo, bác sỹ và công an Trong số 61 trẻ em được hỏi về ước mơ của mình, thì: có 26
% các em mong muốn sau này làm bác sĩ, 23% muốn làm giáo viên Trò chuyện với một trong những
em lớn tuổi nhất tại trung tâm, em cho biết: “Em rất muốn được đi học, em muốn được trở thành cô giáo
đứng trên bục giảng, mặc áo dài Hôm nào cũng thấy các bạn cùng tuổi được đến trường mà em thấy buốn lắm.”; „Em rất mong được đi học, được chơi với các bạn, được chia sẻ với thầy cô”
(PVS, NTT, nữ, 13 tuổi)
Việc hòa nhập xã hội của trẻ trong trung tâm cũng gặp rất nhiều khó khăn, do điều kiện cơ sở vật chất tại Trung tâm còn nhiều thiếu thốn Hàng năm việc tổ chức các hoạt động vui chơi của trẻ còn gặp nhiều khó khăn, do đội ngũ cán bộ có chuyên môn tại trung tâm còn thiếu, việc tổ chức các hoạt động giao lưu tai cộng đồng còn gặp phải sự chống đối của nhân dân địa phương Trung tâm cùng với chính quyền địa phương, nhà trường, Trung tâm phòng, chống AIDS Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức giảm sự kỳ thị để các cháu được học hòa nhập Do còn hạn chế về nhận thức của nhiều bậc phụ huynh học sinh nên họ đã phản đối việc các cháu học hòa nhập
Phần lớn các em tại trung tâm ít có cơ hội được tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí ngoài cộng đồng, phần lớn các hoạt động chủ yếu trong trung tâm nên cơ hội giao lưu, tiếp xúc với môi trường bên ngoài còn rất ít, cho nên…việc tổ chức thường xuyên các hoạt động giao lưu ngoài cộng đồng là điều cần thiết giúp cho các em có cơ hội được giao lưu, học hỏi, giao tiếp và phát triển kỹ năng, làm giảm các biểu hiện, hành vi tiêu cực: mặc cảm, tự ti, sống khép kín và ngại giao tiếp… Như vậy việc xây dựng các
Trang 10hội được giao lưu, hòa nhập, tìm hiểu thế giới xung quanh và thể hiện bản thân mình “ Chúng em ở
trung tâm, ít có cơ hội được tham gia các hoạt động ngoài cộng đồng, chủ yếu trong các ngày lễ như: tết thiếu nhi, tết trung thu có các đoàn từ thiện từ các tổ chức về thăm tặng cho quà bánh, và tổ chức một số
trò chơi Vui hơn nữa, vào các dịp nghỉ hè, có các anh chị sinh viên tình nguyện lên thăm, các anh chị tổ
chức các hoạt động vui chơi, thể dục, múa hát tại trung tâm vui lắm” ( Pvs, NTT, nữ, 13 tuổi)
Khi trao đổi sâu về vấn đề thực hiện quyền giáo dục của các trẻ em có HIV tại Trung tâm, cán bộ trung tâm cho biết: hầu hêt số trẻ em có HIV tại trung tâm đều không được tiếp cận về giáo dục và tham gia các hoạt động hòa nhập tại cộng đồng, nguyên nhân là do : nhận thức của người dân tại xã Ba Vì còn hạn chế, họ cho rằng những trẻ em có HIV cần phải xa lánh vì căn bệnh đó dễ lây và gây ra chết người,
do nhận thức hạn chế cho nên họ có cách nhìn không thiện cảm, miệt thị, xa lánh, tạo sức ép từ về trường học, không cho trẻ em có HIV đến trường, không có cơ hội hòa nhập cộng đồng, không cho tiếp xúc với
con cái của họ “Trong nhiều năm qua từ khi nhận công tác tôi cùng với ban lãnh đạo trung tâm đã nhiều
lần đến vận động ban lãnh đạo nhà trường, các thầy cô trong trường nhận các trẻ em tại trung tâm, để các em được đi học, nhưng họ đều nói” chúng tôi không muốn cho con cháu chúng tôi học chung với trẻ nhiễm HIV, nếu để tình trạng này tiếp tục diễn ra thì họ sẽ cho con chuyển học trường khác” (Pvs,
TTT, nữ, 30 tuổi, trưởng phòng chăm sóc trẻ em)
Hoặc nhiều trường hợp trẻ được đến lớp do sự can thiệp của các đơn vị, chính quyền địa phương
nhưng trẻ vẫn bị kì thị xa lánh, không cho trẻ tiếp xúc hòa nhập với môi trường cộng đồng: “Trường
không cho trẻ đến lớp; sau khi có sự can thiệp của các đơn vị liên quan, trường cho phép cháu đến lớp nhưng phải ăn riêng, ngủ riêng Lý do là cô giáo không dám nhận trẻ vì các phụ huynh lớp không đồng
ý Họ sợ rằng trẻ chơi cùng nhau, cào cấu, cắn nhau sẽ bị lây nhiễm HIV Một trường hợp khác, nhà trường bắt buộc phải có giấy chứng nhận trẻ không nhiễm HIV mới cho vào lớp Có trường hợp nếu nhà trường và cô giáo cho trẻ đến lớp, các phụ huynh khác tẩy chay bằng cách không cho con họ đi học để trẻ nhiễm HIV một mình với cô giáo “ (Pvs, N.T M H, nữ, 34 tuổi, Trường Tiểu học Yên Bài, Ba Vì ,
Hà Nội)
Hầu hết các trẻ có HIV tại trung tâm đều không được đến trường, hoặc một số có đến trường vào những
buổi đầu thì ại bị các bạn chê cười, xa ánh, không cho ngồi cùng: “Các bạn đánh em, không muốn chơi
với em, thậm chí còn trêu trọc cháu, xô đẩy em không cho em ngồi cùng, em toàn phải ngồi một mình ở cuối lớp” (Pvs, NTT, nữ, 13 tuổi)
2.3 Những tác động của việc không đảm bảo thực hiện quyền gia ́ o du ̣c , hòa nhập xã hội đến nhóm trẻ em có HIV/ AIDS ta ̣i Trung tâm
Trẻ em có HIV / AIDS cũng có những mong muốn như bao trẻ em bình thường khác , được ho ̣c tâ ̣p, đươ ̣c quan tâm chăm sóc, yêu thương, được vui chơi giải trí, hòa nhập cộng đồng và phát triển mô ̣t cách toàn diện… Tuy nhiên những rào cản từ phía xã hô ̣i , sự phân biê ̣t kỳ thi ̣, đối xử của xã hô ̣i đã gây ra nhiều khó khăn cho nhóm trẻ khi đến trường , chăm sóc y tế , vui chơi hòa nhâ ̣p xã hô ̣i Trẻ em nhiễm HIV có khả năng nhận thức về bản thân thông qua sự đánh giá và cư xử của những người xung quanh Thái độ ái ngại, xa lánh của bạn bè, người xung quanh khiến trẻ cảm thấy bị coi khinh Trẻ dần mất hứng thú trong học tập, mất động lực chiến đấu với bệnh tật, không muốn phấn đấu thành người tốt vì mất niềm tin vào cuộc sống Từ đó trẻ tỏ ra hung tính hay tức giận, gây hấn với người khác Những hành vi gây hấn này là do trẻ cảm thấy xấu hổ và bị tổn thương muốn trả thù, muốn lôi kéo sự chú ý về mình vì trẻ cho là mình không có giá trị Một số trẻ thì ngược lại sống khép mình, mặc cảm, buồn bã, cô đơn Trong nhiều cộng đồng, do sự kỳ thị mà trẻ cảm thấy thất vọng, tự ti về bản thân mình Trẻ có HIV khó có thể đến nhà trẻ, trường học để cùng vui chơi học tập với trẻ khác Điều này làm cản trở sự phát triển của trẻ, hạn chế sự tham gia của trẻ vào đời sống xã hội Hầu hết cha mẹ và những đứa trẻ khác không có HIV thường phàn nàn, tạo áp lực với giáo viên, hiệu trưởng cho rằng họ không muốn con họ ăn cùng, chơi chung đồ chơi… với những đứa trẻ có HIV Họ sợ chúng đụng chạm vào nhau, ngậm đồ vật chung… Các phụ huynh đưa ra nhiều lý do để từ chối sự tham gia của trẻ có HIV trong các hoạt động chung Bị cộng đồng xa lánh, thậm chí bị chính cả những người than trong gia đình, họ hàng ghẻ lạnh và cả việc chứng kiến sự ra đi của bố mẹ, trẻ có HIV càng thấy đơn độc, bị cô lập, không còn niềm tin Trẻ có tâm lý tự ti, mặc cảm, cảm thấy bản thân mình không có giá trị, sống khép kín, giao tiếp xã hội kém
Trang 11Trẻ mặc cảm tự ti về bản thân, không có cơ hội được vươn lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực
“Sự phân biệt, kỳ thị đối xử, các em không có bệnh mà bị coi là có bệnh đã gây ảnh hưởng tác động rất
lớn đến tâm lí của các em, tâm lí tự ti, mặc cảm về bản thân mình.” Em không muốn đến trường nữa vì
sợ rằng các bạn sẽ đánh em” (Pvs, NTT, nữ, 13 tuổi)
Các trẻ em có HIV/ AIDS ta ̣i trung tâm, luôn có mong muốn được đến trường, được hòa nhâ ̣p xã hô ̣i như bao trẻ cùng chăng lứa khác , nhưng…điều đó dường như còn q uá khó vì sự kì thị , xa lánh của cô ̣ng đồng Chính điều đó đã không đem lại cơ hội bình đẳng, giúp các em được phát triển toàn diên “Cứ sáng
sớm nhìn thấy các bạn cùng trang lứa cắp sách tới trường là mấy đứa nhỏ lại hỏi tôi “Cô ơi, bao giờ
người ta cho chúng con đi học ? ” “Cô ơi con muốn được đến trường! ( PVs, NTT, nữ , 13 tuổi) Do đó,
có thể thấy được rằng những rào cản từ phía xã hội đã tạo ra những tâm lí tiêu cực cho trẻ , trẻ luôn thấy tự ti, mă ̣c cảm về bản thân mình và ít có điều kiện hòa nhập xã hội, được phát triển bình đẳng
Về phía xã hô ̣i, viê ̣c trẻ em có HIV/ AIDS còn bi ̣ kì thi ̣, không được đến trường hòa nhâ ̣p xã hô ̣i đã ta ̣o nên mô ̣t xã hô ̣i không công bằng, không ta ̣o điều kiê ̣n cho viê ̣c phát triển thế hê ̣ tương lai của đất nước Mô ̣t môi trường sống, xã hội không an toàn, sẽ gây ra nhiều ác động tiêu cực đén sự phát triển của trẻ Do vâ ̣y, viê ̣c quan tâm và chăm sóc đặc biệt hơn cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS sẽ làm cho các em trở thành trung tâm của sự chú ý và trong nhiều trường hợp làm tăng thêm sự kỳ thị Sự quan tâm chăm sóc của các me ̣ ta ̣i Trung tâm , sự quan tâm của cán bô ̣ và lãnh đa ̣o trung tâm , sự tôn tro ̣ng, không phân biê ̣t đối xử từ phía cô ̣ng đồng sẽ là đô ̣ng lực to lớn giúp các em thay đổi thái đô ̣ , hành vi, sống có ích hơn, các em sẽ không còn tự ti, mă ̣c cảm về bản thân, tham gia tích cực trong các hoa ̣t đô ̣ng, phát huy năng lực của bản thân, trở thành người có ích cho xã hô ̣i
Trẻ em có HIV ta ̣i Trung tâm Lao đô ̣ng 02 đều có các nhu cầu cơ bản sau: Thứ nhất, nhu cầu về thể chất: dinh dưỡng đầy đủ, chỗ ở, quần áo, chăm sóc sức khoẻ bởi các dịch vụ y tế đạt chuẩn, vui chơi, chăm sóc, nghỉ ngơi, phát triển trí tuệ Thứ hai, nhu cầu về tình cảm, tinh thần: yêu thương, hiểu biết, lắng nghe, học cách ứng phó với căng thẳng, bày tỏ cảm xúc, niềm tin, giá trị cuộc sống, có cơ hội được tham dự các hoạt động văn hoá, tinh thần Thứ ba, nhu cầu về xã hội: được xã hội hoặc bạn bè thừa nhận, có các mối quan hệ mở rộng, có cơ hội được bày tỏ hoặc chia sẻ ý kiến trong các hoạt động xã hội, được giáo dục Vì vậy, viê ̣c ta ̣o điều kiê ̣n cho trẻ em có HIVđược đến trường, hòa nhập xã hội là một việc làm cần thiết, thiết thực và hữu ích
1.2 Những nguyên nhân hạn chế việc tiếp cận quyền giáo du ̣c và hòa nhâ ̣p xã hô ̣i của nhóm trẻ em
có HIV tại trung tâm Lao động
Trước đây trong các tuyên truyền, truyền thông đều nhấn mạnh và gây ấn tượng HIV/AIDS là do
nguyên nhân tệ nạn xã hội “Ở xã em cứ khi nghĩ đến HIV là liên quan đến tệ nạn mại dâm ma túy, nói
đến HIV là nói đến cái xấu, là hình ảnh đầu lâu sương sọ và hình ản lở loét” (Pvs, ĐTHN, nữ, 29 tuổi,
cán bộ văn hóa xã hội xã) gây ấn tượng xấu đậm nét với cộng đồng Đánh đồng người nhiễm HIV với người nghiện ma túy Người nhiễm HIV chưa dám bộc lộ thẳng thắn những hiểu biết về HIV, những trải nghiệm và nỗi đau của người bị nhiễm, bị kỳ thị và xa lánh để cộng đồng chung tay giúp đỡ và cũng làm thay đổi thái độ, ý thức của người xung quanh
Công tác truyền thông nâng cao nhâ ̣n thức trong cô ̣ng đồng còn chưa hiê ̣u quả , ít các bài truyền thông về thực hiê ̣n quyền trẻ em trong cô ̣ng đồng Viê ̣c phổ biên luật còn chưa rô ̣ng rãi, nhiều khi người dân biết luật nhưng không thực hiện Sự kì thi ̣, phân biê ̣t đối xử còn nă ̣ng nề , nhất là kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ em có HIV/ AIDS trong trường học Nguyên nhân chính là sự kỳ thị quá lớn từ phía phụ huynh, những người chưa hiểu hết về căn bệnh HIV Họ có thể cho con nghỉ học hoặc thậm chí chuyển trường nếu biết trong lớp có trẻ em có HIV/ AIDS Các gia đình, cha mẹ trẻ khác thường dặn con mình
không cho chơi với trẻ “ Tôi thà để con tôi bị ngu còn hơn đi học mà trong lớp có đứa bị HIV”.
Nhận thức của cấp ủy Ðảng, chính quyền và cộng đồng về công tác phòng, chống HIV/AIDS, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS còn yếu Nhận thức của cán bộ, giáo viên và Học sinh, sinh viên đã được nâng cao nhưng chưa đầy đủ; đội ngũ cán bộ y tế trường học, làm công tác phòng, chống HIV/AIDS còn rất thiếu, bất cập về chất lượng và chế độ đãi ngộ…
Mô ̣t trong những nguyên nhân quan tro ̣ng nữa là chưa có nhi ều các dịch vụ tại cộng đồng, thiếu đội ngũ cán bộ xã hội trong chăm sóc tư vấn tâm lý cho trẻ em nói chung, trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS nói riêng Nhân viên xã hô ̣i ta ̣i các cơ sở bảo trợ xã hô ̣i còn thiếu , chưa có nhiều kinh nghê ̣m thực tế ,
mă ̣t khác người dân, các tổ chức và cán bô ̣ còn hiểu lẫn vai trò của nhân viên xã hô ̣i