DANH MỤC BẢNG 1.1 Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần đây 93.1 Một số chỉ tiêu chất lượng mạ của các giống lúa thuần chất lượng 393.2 Thời gian trải qua các giai đoạn sinh tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN VĂN HOẠT
ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT MỘT SỐ GIỐNG LÚA THUẦN CHẤT LƯỢNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ ĐỐI VỚI GIỐNG LÚA HT1 VỤ XUÂN NĂM 2013, TẠI LẠNG GIANG - BẮC GIANG
Chuyên ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Mã số : 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VĂN PHÚ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả Các
số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hoạt
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi luôn nhận được sự quan tâm của nhà trường, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- TS Nguyễn Văn Phú, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
- Tập thể các thầy cô giáo Khoa Sau Đại học; Khoa Nông học, đặc biệt
là các thầy cô trong Bộ môn Sinh lý thực vật - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã đóng góp nhiều
ý kiến quý báu về chuyên môn cho tôi hoàn thành luận văn
- Cảm ơn Lãnh đạo và cán bộ nhân viên Công ty CP Giống cây trồng Bắc Giang, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hoạt
Trang 41.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam 5
1.1.3 Nghiên cứu di truyền mùi thơm, độ dẻo 12 1.1.4 Nghiên cứu các chỉ tiêu về chất lượng 14
1.2.1 Một số nghiên cứu và sử dụng phân bón lá trên thế giới 18 1.2.2 Một số nghiên cứu và sử dụng phân bón lá ở Việt Nam 20 1.2.3 Cơ sở khoa học của việc sử dụng dinh dưỡng qua lá 22 Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
Trang 52.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 26
2.4.3 Quy trình kỹ thuật áp dụng chung cho 2 thí nghiệm: 31
2.5.4 Theo dõi về một số đặc trưng hình thái của giống 35
2.5.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống 36 2.5.7 Một số chỉ tiêu về phẩm chất của các giống tham gia vào quá trình thí
3.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất một số giống lúa thuần chất
lượng tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013 39 3.1.1 Một số đặc điểm sinh trưởng phát triển giai đoạn mạ của một số giống lúa
thuần chất lượng tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013 39 3.1.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa
thuần chất lượng tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013 40 3.1.3 Chỉ số diện tích lá (LAI) của một số giống lúa thuần chất lượng tại Lạng
3.1.4 Khả năng tích lũy chất khô của một số giống lúa thuần chất lượng tại Lạng
Trang 63.1.5 Một số đặc tính nông học khác của một số giống lúa thuần chất lượng tại
3.1.6 Khả năng chống chịu với một số đối tượng sâu bệnh hại chính của một số
giống lúa thuần chất lượng tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013 48 3.1.7 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của một số giống lúa thuần
chất lượng tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013 52 3.1.8 Một số chỉ tiêu về chất lượng gạo của một số giống lúa thuần chất lượng
tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013 57 3.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến giống lúa HT1 tại huyện Lạng Giang –
3.2.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian sinh trưởng và phát triển của
giống lúa HT1 tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân năm2013 60 3.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ số diện tích lá của giống lúa HT1 tại
Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân năm2013 61 3.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng tích lũy chất khô của giống lúa
HT1 tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân năm2013 63 3.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng chống chịu sâu bệnh của giống
lúa HT1 tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân năm2013 65 3.2.5 Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống
lúa HT1 tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân năm 2013 65 3.2.6 Ảnh hưởng của phân bón lá đến năng suất của giống lúa HT1 tại Lạng
3.2.7 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân bón lá cho giống lúa HT1 tại Lạng
Trang 7DANH MỤC BẢNG
1.1 Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần đây 93.1 Một số chỉ tiêu chất lượng mạ của các giống lúa thuần chất lượng 393.2 Thời gian trải qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các
3.3 Chỉ số diện tích lá của các giống lúa thí nghiệm 433.4 Khả năng tích lũy chất khô của các giống lúa thí nghiệm 453.5 Một số đặc tính nông học khác của các giống lúa(điểm) 463.6 Tình hình sâu bệnh trên các giống lúa thí nghiệm (điểm) 493.7 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa nghiên cứu 53
3.9 Một số chỉ tiêu về chất lượng gạo xay xát của các giống thí
3.10 Một số chỉ tiêu về chất lượng gạo thương phẩm và nấu nướng
3.11 Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian sinh trưởng và phát
3.12 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ số diện tích lá của giống
3.13 Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng tích lũy chất khô của
3.14 Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng chống chịu sâu bệnh
3.15 Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất
của giống lúa HT1 tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013 66
Trang 83.16 Ảnh hưởng của phân b ón lá đến năng suất của giống lúa HT1 68 3.17 Hiệu quả kinh tế khi phun phân bón lá cho giống lúa HT1 tại
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza Sativa) là một trong những cây cung cấp nguồn lương
thực quan trọng nhất của loài người, với 40% dân số thế giới sử dụng lúa gạo làm thức ăn chính và có ảnh hưởng đến đời sống của ít nhất 65% dân
số thế giới
Đối với Việt Nam, cây lúa có một giá trị đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu lương thực cho nhân dân Để đảm bảo an ninh lương thực trong hoàn cảnh dân số tăng, diện tích nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do
mở rộng diện tích đất ở, xây dựng khu công nghiệp, đường giao thông thì việc
sử dụng các giống có năng suất cao chất lượng tốt là yếu tố tất yếu
Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp truyền thống, trong đó cây lúa được coi là cây trồng chủ đạo Trên thị trường gạo xuất khẩu, Việt Nam là nước đứng thứ 2 trong khu vực và thế giới sau Thái Lan
Ở Một số địa phương phía Bắc, trong đó có tỉnh Bắc Giang, những năm gần đây kinh tế phát triển, Nhu cầu về gạo ngon của đại bộ phận nhân dân cũng tăng rõ rệt Các loại gạo kém như Syn6, Nhị ưu 838, Q5, DT10… rất khó bán chủ yếu dành cho chăn nuôi Một số loại gạo chất lượng trung bình như C70, KD18, ĐV108… được sử dụng theo phương thức tự sản, tự tiêu là chính, có giá bán thấp, dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao Các loại gạo chất lượng như HT1, LT2, Bắc Thơm 7… có giá bán thường cao hơn từ 3000- 5000đ/kg, giá cao một phần là do chất lượng gạo ngon một phần là do nguồn cung không đủ cho nhu cầu ngày càng lớn về loại gạo này
Đối với huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, để đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất lúa gạo cần phải định hướng sản xuất theo hướng hàng hoá, đáp ứng yêu cầu thị trường cần có bộ giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt và có thời gian sinh trưởng tương đương giống KD18, ĐV108 để
Trang 10đưa vào cơ cấu sản xuất và gieo trồng vụ đông
Trong những năm gần đây, diện tích lúa ở Lạng Giang từ 2008 - 2012
có xu hướng giảm dần từ 10756 ha năm 2008 còn 8330 ha năm 2012 nghĩa là mỗi năm giảm bình quân 485,2 ha (nguyên nhân chủ yếu do xây dựng hệ thống giao thông, mở rộng thêm khu công nghiệp, khu dân cư, một số diện tích lúa chuyển đổi sang cây trồng khác ) Diện tích lúa lai ở vụ xuân hàng năm chiếm khoảng 40% diện tích lúa của huyện Giống lúa Q5, Khang Dân
18 là giống lúa chiếm diện tích gieo cấy lớn, tỷ lệ gieo cấy bình quân hàng năm chiếm từ 18,34 % - 39,44% Tỷ lệ gieo cấy các giống dài ngày như Xi23
có xu hướng giảm, diện tích gieo cấy các giống lúa ngắn ngày, chất lượng như HT1, Bắc Thơm 7 ngày càng mở rộng
Vụ mùa, các giống lúa Q5, Khang dân 18, Hương thơm số1, lúa lai có
xu hướng giảm từ năm 2008- 2012 (riêng các giống lúa lai chiếm 12,8% cơ cấu giống lúa năm 2009 đến năm 2012 không còn diện tích cấy, giống lúa Q5 giảm từ 51,80% năm 2008 xuống còn 5,92% năm 2012, giống BC15 từ chỗ không có diện tích cấy năm 2008, 2009 đến năm 2010, 2011 diện tích gieo cấy các giống tăng lên, giống BC15, năm 2010, 2011 được coi là giống chủ lực trong cơ cấu giống lúa vụ mùa của huyện như BC15 năm 2010 chiếm 51,02%, năm 2011 chiếm 48,17%, giống HT1 năm 2008 chiếm 6,44% đến năm 2012 diện tích chiếm 16,12% Như vậy cùng với xu thế phát triển kinh tế chung của đất nước, nhu cầu gạo chất lượng cao ngày càng tăng đã tác động đến cơ cấu giống lúa, việc sản xuất lúa đang trở thành vấn đề thời sự cấp bách đáp ứng yêu cầu về năng suất cũng như chất lượng lúa gạo Mặt khác diện tích canh tác một số giống lúa thuần bị giảm như Q5, Xi23…cũng phản ánh
xu thế chuyển dịch cơ cấu giống trên (Nguồn: Sở NN&PTNT Bắc Giang, năm 2012)
Để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đẩy mạnh phát triển sản xuất lúa hàng hóa tại các địa phương tỉnh Bắc Giang cần phải có nghiên cứu và tuyển chọn
Trang 11giống tốt, phù hợp trước khi đưa vào sản xuất là hết sức cần thiết Cùng với việc giống tốt phù hợp thì việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa cũng đóng vai trò rất quan trọng Phân bón lá và chế phẩm phân bón lá là tiến
bộ kỹ thuật giúp tăng năng suất cây trồng Phân bón lá và chế phẩm phân bón
lá làm tăng năng suất cây trồng đã được khẳng định trong nhiều nghiên cứu tại Việt Nam và thế giới, tuy nhiên việc sử dụng phân bón lá cho cây trồng nói chung và cho cây lúa nói riêng còn rất mới đối với nhiều địa phương trong
đó có Bắc Giang Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên
cứu: “Đặc diểm sinh trưởng phát triển, năng suất một số giống lúa thuần chất lượng và ảnh hưởng phân bón lá đối với giống lúa HT1 vụ xuân năm
2013, tại Lạng Giang - Bắc Giang”
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
- Xác định được một số giống lúa thuần chất lượng cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện huyện Lạng Giang để bổ sung bộ giống lúa vừa có năng suất cao, phẩm chất tốt đưa vào cơ cấu sản xuất của tỉnh Bắc Giang
- Cũng như xác định được loại phân bón lá thích hợp nhất góp phần vào việc xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất, tăng thu nhập cho người trồng lúa
- Đánh giá được ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón lá đối với cây lúa
để xác định được loại phân bón lá tốt nhất đến sinh trưởng, phát triển và năng
Trang 12suất của giống lúa HT1
- Đề xuất được một số giống tốt cho sản xuất thông qua việc đánh giá các đặc điểm nông sinh học của các giống tham gia thí nghiệm
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài tăng thêm hiểu biết về giống lúa chất lượng thích hợp trong điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang
- Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo, nghiên cứu về loại phân bón lá cho giống lúa HT1 trồng tại vụ xuân tại Bắc Giang
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, cho năng suất cao Hiện nay trên thế giới hiện nay có trên 100 quốc gia trồng lúa, diện tích lúa gạo tương đối lớn, đứng thứ 2 sau lúa mỳ Trong đó Châu Á là châu lục đứng đầu thế giới về diện tích cũng như sản lượng, tiếp theo là Châu Phi, Bắc Mỹ đến Nam Mỹ Vùng trồng lúa tương đối rộng: có thể trồng ở các vùng có vĩ độ cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 530B; Tiệp 490B, Nhật, Italia, Nga (Krasnodar) 450B đến nam bán cầu, New South Wales (Australia): 350N Vùng phân bố chủ yếu ở Châu Á từ 300B đến 100N
Sản xuất lúa gạo trong những thập kỷ gần đây đã có mức tăng đáng kể, nhưng do dân số tăng nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển (Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh) nên vấn đề lương thực vẫn là yêu cầu cấp bách phải quan tâm trong những năm trước mắt và lâu dài
Theo thống kê của tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc (FAO) thì trong vòng 30 năm từ năm 1970 đến năm 2000 diện tích trồng lúa tăng từ 134.390 nghìn ha lên 154.377 nghìn ha Tổng sản lượng lương thực tăng từ 308,76 triệu tấn lên 598,98 triệu tấn
Nhìn tổng quan về diện tích và năng suất thì năm 2008 có diện tích trồng lúa thấp nhất đạt 148.730 ha nhưng lại có năng suất cao nhất là 42,1 tạ/ha Sở dĩ có sản lượng cao như vậy là do áp dụng được các tiến bộ về khoa học kỹ thuật như: Đầu tư phân bón, sử dụng các giống lúa mới có năng suất cao và phẩm chất tốt, xây dựng cơ sở vật chất, hoàn chỉnh về biện pháp kỹ thuật Năng suất bình quân trên thế giới trong mấy năm gần đây có xu hướng tăng lên rõ rệt Năm 2005 diện tích sản xuất lúa gạo thế
Trang 14giới là 154,987 triệu ha, năng suất đạt 40,935 tạ/ha, sản lượng đạt 634,444 triệu tấn; năm 2011 tương ứng diện tích 164,125 triệu ha, năng suất đạt 44,037 tạ/ha, sản lượng đạt 722,757 triệu tấn; năm 2012 đạt 734,834 triệu
tấn ( Nguồn: FAOSTAT, 2013)
Tốc độ tăng năng suất và sản lượng lúa của các nước trong khu vực Châu Á đã góp phần đảm bảo lương thực, thực phẩm, cung cấp cho toàn cầu một cách tích cực và có vai trò quan trọng Năm 2008, tổng sản lượng lương thực về lúa của Châu Á là 582,39 triệu tấn, chiếm 94,9% sản lượng lúa toàn thế giới Như vậy Châu Á có thể coi là nguồn cung cấp lương thực cho toàn cầu
Theo số liệu dự đoán về sự phát triển dân số thế giới đến năm 2050 thì đến năm 2010 dân số thế giới sẽ là 6,795 tỷ người với tỷ lệ tăng hàng năm 1,2% Đến năm 2050 là 8,9 tỷ người với tỷ lệ tăng hàng năm 0,4% Với tốc độ tăng dân số nhanh chóng, diện tích đất trồng trọt ngày càng bị thu hẹp thì vấn
đề an ninh lương thực vẫn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu với nhiều quốc gia trên thế giới
Những tiến bộ trong sản xuất lúa trên thế giới trong vài ba thập kỷ qua rất đáng khích lệ Việc đầu tư thâm canh, áp dụng giống mới, xây dựng cơ sở vật chất, hoàn chỉnh các biện pháp kỹ thuật… là những lý do để đạt được kết quả trên
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước có điều kiện khí hậu nhiệt đới nên rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, trong đó đặc biệt là cây lúa Từ lâu cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu và có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế xã hội của đất nước Với địa bàn trải dài trên
15 vĩ độ Bắc bán cầu, đã hình thành những vùng đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu trong đó đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là 2 vựa lúa lớn nhất của nước ta, cung cấp nguồn lương thực chủ yếu nuôi sống
Trang 15cả mấy chục triệu con người
Theo Nguyễn Đình Giao và cộng sự: Trước năm 1945, diện tích trồng lúa của hai đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ là 1,8 triệu ha và 2,7 triệu ha với sản lượng tương ứng là 2,4 triệu tấn và 3 triệu tấn, năng suất bình quân là 13 tạ/ha Khoảng hai thập kỷ sau, vào những năm của thập kỷ 60 miền Bắc có phong trào phấn đấu đạt 5 tấn/ha/năm cho đến năm 1974 đạt được mục tiêu này
Sau năm 1975, trong điều kiện đất nước thống nhất sản xuất lúa ở nước
ta đã có những thuận lợi mới và đã có những bước phát triển đáng kể Bình quân lương thực tiêu thụ của Việt Nam năm 1975 đạt 200 kg/người/năm, năm
1985 đạt 300kg/người/năm và đến năm 2001 đạt 420 kg/người/năm
Theo đánh giá của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), hiện tại trong 10 nước trồng lúa lớn nhất thế giới, Việt Nam xếp hạng thứ 5 với 7,5 triệu ha gieo trồng, sản lượng khoảng 43 triệu tấn lúa/năm, xếp sau Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia và Bănglades
Những năm gần đây sản xuất lúa gạo ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất ấn tượng với cộng đồng quốc tế Từ một nước thiếu lương thực, Việt Nam
đã từng bước vươn lên trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới
Kể từ năm 1989, năm đầu tiên Việt nam có gạo xuất khẩu đến nay Việt Nam đã đóng góp với thế giới trên 40,7 triệu tấn gạo với giá trị trên
90 tỷ USD, từng bước vươn lên trở thành quốc gia đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo
Năng suất và sản lượng lúa tăng do nhiều nguyên nhân, trong đó trước tiên là những thay đổi về cơ chế chính sách mới trong nông nghiệp nông thôn, sau đó là những thay đổi trong kỹ thuật trồng lúa Nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với chủ trương của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, tình hình sản xuất lúa của nước ta mấy chục năm gần đây đã có sự tăng trưởng mạnh
Trang 16Diện tích trồng lúa những năm gần đây của nước ta không ổn định và
có xu hướng giảm xuống, biến động từ 7,41 triệu ha xuống còn 7,31 triệu ha, năm 2008 có diện tích thấp nhất là 7,31 triệu ha Diện tích trồng lúa của nước
ta trong năm gần đây có xu hướng giảm qua các năm và nguyên nhân gây ra
sự biến đổi đó là do dân số tăng, các khu công nghiệp và đô thị hình thành Đây là xu hướng không có lợi cho việc phát triển nông nghiệp nói chung và nghành trồng lúa nói riêng
Năng suất lúa có xu hướng ngày càng tăng được thể hiện qua các năm Năm 2004, năng suất đạt 47,9 tạ/ha và năm 2008 năng suất đạt 51,1 tạ/ha Có được sự tăng trưởng trên là do nhà nước đã có những chính sách đúng đắn trong việc phát triển ngành nông nghiệp, đặc biệt là đối với nghề trồng lúa cùng với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Cùng với sự tăng năng suất thì sản lượng lúa của Việt Nam trong những năm gần đây cũng có xu hướng tăng nhanh từ 35,5 triệu tấn năm 2004 lên tới 37,55 triệu tấn năm 2008, mặc dù diện tích trồng lúa từ năm 2004 đến năm 2008 giảm xuống chỉ còn 7,31 triệu ha Tốc độ tăng trưởng sản lượng lương thực lúa như vậy là một dấu hiệu đáng mừng cho ngành nông nghiệp nước nhà
Năng suất và sản lượng lúa của nước ta trong những năm qua và mấy năm gần đây tăng lên cũng là do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó trước tiên là những thay đổi về chính sách trên phạm vi vĩ mô từ thời kỳ đổi mới mở cửa, sau
đó là những thay đổi về cơ cấu giống chuyển đổi mùa vụ, giải quyết tưới tiêu, cải tạo đất phèn Đặc biệt từ năm 1961 với cuộc cách mạng xanh, việc đưa giống mới và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã từng bước nâng cao năng suất cũng như sản lượng của nước ta ngày càng tăng nhanh
Trên đồng ruộng cây lúa chịu ảnh hưởng tổng hợp của các điều kiện khác nhau Sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa phụ thuộc rất nhiều vào các yếu
tố khách quan và chủ quan như điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai, giống, phân
Trang 17bón, chế độ nước và kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh…trong đó chế độ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố quan trọng để tăng năng suất lúa
Bảng 1.1 Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần đây
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
(Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2013)
Mặc dù sản lượng lúa tăng nhưng lợi nhuận từ sản xuất lúa những năm gần đây không cao hơn so với năm trước do chi phí sản xuất tăng cao Tốc độ tăng giá lúa chỉ bằng 1/2 tốc độ tăng giá của các loại vật tư đầu vào, trong đó phần lớn chi phí do đầu tư vào phân bón
1.1 Nghiên cứu về cây lúa
1.1.1 Nguồn gốc cây lúa
Cây lúa (Oryza sativa L.) thuộc họ hoà thảo (Gramineae) chi Oryza có
2 loài được trồng chủ yếu là O.sativa trồng phổ biến ở Châu Á và loài O
Trang 18Glaberrima trồng ở Tây Phi với diện tích không đáng kể Cây lúa là cây trồng xuất hiện sớm và tồn tại lâu đời, đặc biệt ở Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước Châu Á trong đó có Việt Nam, G.Second (1986) khi nghiên cứu tiến hoá
của chi Oryza cho rằng hai loài phụ của loài O.sativa là O.Indica và O.Japonica đã xuất hiện cách đây 2 đến 3 triệu năm ở dãy núi Himalaya, sau
đó theo di thực, phát tán đến các nơi khác trên thế giới Wei, Si, 1995 dựa trên phân tích mẫu hoá thạch Hemudu cho rằng lúa trồng xuất hiện ở Trung Quốc khoảng 7100 năm, Lu B.R và cộng sự 1996, xác nhận lúa trồng ở Châu Á xuất hiện cách đây khoảng 8000 năm Công bố của Khush GS (1997) chi
Oryza có thể đã phát sinh 130 triệu năm trước đây ở trung Ấn Độ sau đó do
sự phân rã lục địa đã hình thành các loài khác nhau theo vùng sinh thái
Theo Nguyễn Thị Trâm (1998) cho rằng tại Việt Nam qua Khảo sát về nguồn gen cây lúa cho thấy có 5 loại lúa dại mọc ở các vùng Tây Bắc, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long đó là các loài:
O.Granulata, O Nivara, O.Officilalis, O Rufipogon, O Ridleyi
1.1.2 Nghiên cứu về lúa ở Việt Nam
Công tác chọn tạo giống mới ở nước ta được đánh dấu bằng sự nhập nội giống IR8 mà nhân dân ta thường quen gọi là lúa "thần nông" Đây là giống thấp cây, dáng khoẻ, chịu phân, kháng bệnh tốt và cho năng suất cao Ở miền Bắc cùng với một số dòng mới được tách ra và nhân lên từ IR8 và một số giống lúa thấp cây được lai tạo ra đã làm cho sản lượng thóc tăng lên đáng kể
từ 10,8 triệu tấn năm 1976 đã tăng lên 26,3 triệu tấn năm 1996 trong cả nước
Do Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến công tác chọn tạo giống nên sau khi đất nước thống nhất nhiều trung tâm giống cây trồng đã được thành lập trong cả nước Một số trung tâm đã thu được những kết quả nhất định Trung tâm giống cây trồng Ma Lâm, Bình Thuận đã chọn tạo được hai tập đoàn lúa với khoảng 800 giống Trong đó có hai giống lúa ML48 và TH6 được rất nhiều nông dân các tỉnh miền Trung và miền Đông Nam Bộ ưa chuộng và đưa vào gieo cấy
Trang 19Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam được thành lập vào năm 1952 nhưng ngay từ giai đoạn 1954-1963 Viện đã tuyển chọn được nhiều giống lúa mới: Nam Ninh, Trà Trung Tử, 828, 813, NN1 Trong thời kì đổi mới nhờ sử dụng công nghệ sinh học trong nghiên cứu phân loại, đánh giá tính đa dạng di truyền Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã tạo ra các giống cây trồng chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu như các giống BM 9895, Xi 23, AYT 77, giống lúa lai HYT 57 Bằng các phương pháp chọn tạo giống mới như nuôi cấy bao phấn, nuôi cấy tế bào sôma, lai xa, đột biến, ưu thế lai, lai tạo kết hợp với đột biến, lai tạo kết hợp với nuôi cấy bao phấn được áp dụng nhiều hơn vào kêt quả bước đầu đã tạo nhiều dòng, giống mới có giá trị như OM 3007-16-
27, OM 3007-42-94, DT 122, BM 9963 Đây là những dòng giống mang nhiều đặc điểm quí như tiềm năng năng xuất cao, chất lượng gạo tốt, chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất thuận như phèn, mặn, hạn, úng
Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long cũng đã tạo ra được một số giống lúa mới giống AS 1007 và AS 996 thông qua cặp lai IR64/ oryza rufifogon Nhóm nghiên cứu lúa tổ tài nguyên cây trồng thuộc Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long cũng đã tăng cường chọn lọc giống lúa năng suất cao chống chịu bệnh cháy lá phù hợp với nhiều vùng sinh thái ở đồng bằng sông Cửu Long như: MTL364 có nguồn gốc từ tổ hợp lai IR64/ MTL14 MTL384 được lai tạo từ tổ hợp lai MTL142 và lúa thơm cực ngắn
Vừa qua Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long công bố đã nghiên cứu ứng dụng thành công công nghệ chuyển nạp gen tạo ra giống lúa mới giàu vi chất dinh dưỡng từ ba giống lúa IR64, MTL250 và Taipei 309, đặc tính ưu điểm vượt trội của giống lúa mới này là có hàm lượng cao các vi chất như: vitamin A, E, sắt, kẽm những vi chất rất cần thiết đối với con người Ngoài ra dòng lúa biến đổi gen còn gia tăng đáng kể chất oryzanol chất quan trọng hơn cả vitamin E có tác dụng chống oxi hoá, giúp làm giảm hàm lượng cholesterol trong máu Dòng lúa biến đổi này còn có cả các ưu điểm kháng sâu bệnh, đảm bảo tính an toàn
Trang 20sinh học, dễ trồng có thể đưa vào sản xuất lúa hàng hoá vì chúng khắc phục được những khiếm khuyết về tính không ổn định thường gặp ở cây biến đổi gen Với
sự phát triển ngày càng cao của xã hội yêu cầu đặt ra đối với các nhà chọn tạo giống là không những chỉ chọn tạo giống có tiềm năng năng suất cao mà còn phải cần có chất lượng tốt Mục đích không chỉ phục vụ cho tiêu dùng trong nước mà còn để đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế Đáp ứng yêu cầu đó Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành chọn tạo và đã thành công với ba giống BM9603, HT1, N97, bên cạnh đó còn nhiều Viện, trường, các công ty ngành giống cây trồng đã và đang nghiên cứu chọn tạo ra nhiều giống lúa mới chất lượng
Theo Phạm Văn Tiêm (2005), cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật mới, công tác chọn lọc lai tạo các giống lúa mới đã ra đời đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của con người Xu hướng trong nghiên cứu của các nhà khoa học nông nghiệp hiện nay là tập trung nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên các vùng đất bằng cách đưa thêm một số loại cây trồng mới vào hệ canh tác nhằm tăng sản lượng nông sản/ 1 đơn vị diện tích canh tác/ 1 năm với mục đích xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển bền vững
1.1.3 Nghiên cứu di truyền mùi thơm, độ dẻo
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng gạo, nhưng nổi bật nhất là: ảnh hưởng của yếu tố giống, điều kiện môi trường sinh thái, kỹ thuật canh tác
và các công đoạn sau thu hoạch, bảo quản Trong các yếu tố trên giống lúa là
yếu tố tiên quyết Các yếu tố như điều kiện môi trường gieo trồng, phân bón, công đoạn sau thu hoạch cũng ảnh hưởng khá lớn đến tỷ lệ gạo nguyên, nhiệt
độ hoá hồ, tỷ lệ trắng bạc và hàm lượng dinh dưỡng trong hạt
Chỉ tiêu nấu nướng và ăn uống của gạo xát chủ yếu được xác định được bởi tỷ số aymylose/amylopectin Một trong những chỉ tiêu quan trọng của chất lượng nấu nướng là nhiệt độ hoá hồ của tinh bột gạo Người ta đã chia
Trang 21gạo của các giống lúa khác nhau thành các loại sau đây: giống có nhiệt độ hoá
hồ thấp <690C; trung bình từ 70 - 740C ; cao > 740C
Hàm lượng amylose được coi là thành phần quan trọng bậc nhất để xác định chất lượng nấu nướng
1.1.3.1 Di truyền mùi thơm
Mùi thơm là một trong tính trạng quan trọng nhất quyết định đến giá trị thương phẩm và chất lượng gạo Mùi thơm, khi nấu cơm mùi vị bốc hơi cho thấy một hợp chất chính của formaldehydes và hydrogen sulfide Emmanual (1993) khi đánh giá mùi thơm của gạo IR64, Azucena và Basmati đã chứng minh các hợp chất pentanol, hexanol, benzaldehyde, 2-acetyl-1-pyrroline và 2-acetyl-1-pyrroline là thành phần chính trong mùi thơm của gạo
Theo Nguyễn Thị Lang và Bùi Chí Bửu (2006), tính trạng mùi thơm rất
dễ bị thay đổi bởi điều kiện môi trường Mùi thơm của Basmati cần nhiệt độ lạnh của môi trường gieo trồng Mùi thơm của Khaodawkmali và các giống lúa thơm cổ truyền ở Việt Nam có thể bị ảnh hưởng bởi điều kiện đất đai Nàng thơm chợ Đào chỉ duy trì mùi thơm khi trồng tại chợ Đào (Long An), tám thơm chỉ thích hợp khi trồng tại đồng bằng sông Hồng và sẽ mất mùi thơm khi trồng tại đồng bằng sông Cửu Long (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2000) Tuy vậy người ta vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân Khai thác tính trạng thơm của các giống cổ truyền vẫn là hướng ưu tiên trước mắt Cải tiến dạng hình cây lúa thơm bằng phương pháp chọn dòng thuần đã được áp dụng thành công ở Việt Nam đối với một số giống như: Nàng Hương, Tám Xoan (Bùi Chí Bửu và cs, 1995)
1.1.3.2 Di truyền độ dẻo của lúa gạo
Theo Nguyễn Thị Lang và Bùi Chí Bửu (2006), sự nở dài hạt cơm là một tính trạng đặc biệt sau khi nấu chín Giống lúa nào có khả năng nở dài hạt cơm nhiều thì cho phẩm chất cơm mềm và xốp hơn Một số giống lúa như Basmati (Ấn Độ, Pakistan), Bahra của Afghanistan, Domsia của Iran
Trang 22có khả năng nở dài gấp đôi so với chiều dài hạt gạo làm cho phẩm chất cơm mềm và xốp
Độ bền thể gen quyết định độ dẻo của cơm, độ bền của gen biến động rất lớn giữa các vụ gieo trồng và vùng gieo trồng khác nhau Điều này có thể giải thích vì sao các giống lúa đặc sản khi được gieo trồng ở vùng có điều kiện sinh thái khác thì chất lượng thay đổi (Tang, Khush và Juliano, 1991)
1.1.4 Nghiên cứu các chỉ tiêu về chất lượng
Chất lượng lúa gạo là một trong những mục tiêu mà công tác cải tạo giống đặt ra Chất lượng được đánh giá thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau bao gồm: màu sắc vỏ trấu, kích thước hạt, hình dạng hạt, độ đồng đều của hạt,
tỷ lệ gạo xay, tỷ lệ gạo xát, tỷ lệ gạo nguyên, tỷ lệ bạc bụng, chất lượng nếm thử và đặc điểm trong quá trình chế biến
Theo Juliano (1985) có thể tổng hợp lại để đánh giá chất lượng gạo theo nhóm chỉ tiêu sau :
- Chất lượng thương trường: là các tiêu chuẩn liên quan đến giá cả mua bán, trao đổi trong nước và quốc tế Các chỉ tiêu chất lượng thương trường gồm có: chiều dài, chiều rộng hạt gạo xát, màu sắc nội nhũ, độ bạc bụng, độ trong hạt gạo
- Chất lượng xay xát hay chất lượng cơ lý gồm các chỉ tiêu: Tỷ lệ gạo xát, tỷ lệ gạo nguyên, tỷ lệ trắng trong nói chung là hệ số thu hồi sản phẩm sau chế biến
- Chất lượng nấu nướng, ăn uống hay nếm thử đánh giá bằng cảm quan nên phụ thuộc vào tập quán của từng nhóm dân cư: căn cứ chủ yếu vào hàm lượng amyloza, nhiệt độ hoá hồ, độ bền thể gen, độ nở cơm, sức hút nước và hương thơm…
- Chất lượng dinh dưỡng: được thể hiện thông qua hàm lượng protein, hàm lượng lysine…
Trang 231.1.4.1 Chất lượng thương phẩm
Đánh giá của IRRI về phân loại hạt chất lượng theo chỉ tiêu hình dạng
và kích thước hạt theo hạt gạo xay: loại rất dài: > 7,5mm; loại dài: 6,61 - 7,5mm; loại trung bình: 5,51 - 6,60mm; loại ngắn < 5,50mm Dạng hạt được đánh giá theo tỉ lệ dài/rộng (D/R): hạt thon D/R > 3,0; trung bình D/R khoảng 2,1-3,0; bầu D/R khoảng 1,1 - 2,0; tròn D/R < 1,1
1.1.4.2 Chất lượng xay xát
Theo Lê Doãn Diên (2003), chất lượng xay xát được xem xét ở 2 chỉ tiêu chủ yếu sau: tỷ lệ gạo xát và tỷ lệ gạo nguyên Xay xát thóc thực chất là quá trình loại bỏ trấu, phôi và vỏ cám Khi loại bỏ các bộ phận này hàm lượng cellulose và lipip sẽ bị giảm rõ rệt Loại bỏ cellulose sẽ làm tăng tỷ lệ tiêu hoá còn khi loại bỏ lipid sẽ làm tăng khả năng bảo quản gạo Sản phẩm xay xát gồm có trấu, cám, tấm, gạo Thóc có chất lượng xay xát tốt là thóc sau khi xát cho tỷ lệ % tổng số gạo và gạo nguyên hạt cao Màu sắc của nội nhũ cũng phản ánh tính chất của gạo, gạo trong thường ngon hơn gạo đục
Tỷ lệ gạo nguyên là tính trạng di truyền bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi môi trường, đặc biệt là nhiệt độ và ẩm độ trong suốt thời gian lúa chín đến thu hoạch (Nagato và Kono, 1963) Theo Mahadevappa (1969) thời gian thu hoạch thường phải ước đoán để thu hoạch nhằm đạt năng suất cao và tỷ lệ gạo gẫy ít vì lúa chưa chín Nếu thu hoạch muộn, do có nhiều hạt quá chín sẽ bị rụng và nứt vỡ Banguaek (1994) cho biết thời điểm tốt nhất cho thu hoạch là sau khi hạt phơi màu 33-36 ngày Lê Doãn Diên (1995) cũng có nhận xét tỷ lệ gạo nguyên thay đổi nhiều tuỳ theo bản chất giống và phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ khi lúa chín và điều kiện bảo quản phơi sấy sau thu hoạch Cũng theo ông tỷ lệ gạo nguyên phụ thuộc vào kích thước, hình dạng hạt và hàm lượng protein trong hạt
Ngoài ra các nghiên cứu của Dilay (1988), Hou (1988), A.Ali và cộng
sự cho thấy tỷ lệ gạo nguyên còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như mức
Trang 24phân bón, thời điểm tiêu nước và mật độ cấy
Quá trình tạo ra bạc bụng chủ yếu trong quá trình chín (thời kỳ tích luỹ chất khô vào nội nhũ) nếu thiếu nước ở giai đoạn sau trỗ hoặc xuất hiện bệnh đạo ôn cổ bông, bọ xít chích hút giai đoạn lúa ngậm sữa đều làm tăng tỷ lệ gạo bạc bụng (Del Rosario và CTV, 1968)
Phơi thóc làm giảm độ ẩm từ từ hạt gạo sẽ trong hơn là làm giảm độ ẩm đột ngột (Bùi Chí Bửu và CTV, 1999)
1.1.4.3 Chất lượng dinh dưỡng
Chất lượng dinh dưỡng của lúa gạo được đánh giá bằng các chỉ tiêu
sau: hàm lượng protein đặc biệt là 8 aminoacid không thể thay thế, hàm
lượng amylose, nhiệt độ hoá hồ, lượng của các vitamin và các nguyên tố khác của gạo
* Hàm lượng protein
Theo Lê Doãn Diên (2003), Protein của lúa gạo là loại dinh dưỡng cao, cao nhất trong tất cả các loại protein của các hạt ngũ cốc khác như lúa mì, ngô, cao lương Protein của gạo được đặc trưng bởi tính dễ đồng hoá và tính cân bằng của 8 aminoacid không thay thế đối với sức khoẻ của con người Hàm lượng protein là một thông số quan trọng trong giá trị dinh dưỡng hạt gạo Protein trong hạt gạo có giá trị cao hơn so với các loại hạt cốc khác, bởi vì hàm lượng lysin của nó khá cao (3,5- 4%) (Juliano, 1985) Do đó hàm lượng protein của lúa gạo tuy thấp khoảng 7 - 10% nhưng nó vẫn được xem như là một protein có phẩm chất cao nhất Các nhà chọn giống đã cố gắng nâng cao hàm lượng protein trong các giống lúa mới nhưng ít thành công, bởi
vì di truyền tính trạng protein trong hạt rất phức tạp và bị ảnh hưởng của điều kiện môi trường khá mạnh mẽ (Juliano, 1993)
Hàm lượng protein thay đổi theo môi trường canh tác và yếu tố phân bón khá rõ Phân đạm có vai trò làm tăng cường quá trình tổng hợp protein
mà không làm thay đổi đặc tính phẩm chất của giống Hàm lượng protein của
Trang 25các giống có xu hướng tăng lên tỷ lệ thuận với lượng N bón tới mức 120 kg/ha Lượng N bón cao tới 150 kg/ha làm giảm lượng protein của tất cả các giống (Vũ Tuyên Hoàng và cs, 2001)
Nâng cao hàm lượng và phẩm chất protein trong hạt gạo là mục tiêu chọn giống của không ít các chương trình nghiên cứu trên thế giới Năm
1970, bộ môn trồng trọt thuộc IRRI khẳng định: trong vụ khô hàm lượng protein của các giống IR20, IR22 cao hơn hẳn giống IR8 khi bón ở mức 150kg N/ha làm nhiều lần và bón vào lúc cấy, phân hoá đòng Còn trong vụ mưa thì hàm lượng protein không ảnh hưởng đáng kể ở các giống Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiển trên các giống lúa địa phương và nhập nội thì bón phân phối hợp NPK có hiệu lực làm tăng hàm lượng protein trong hạt hơn là bón riêng rẽ
Tuy nhiên, có sự tương quan nghịch giữa năng suất hạt và hàm lượng protein trong hạt do sự phân phối năng lượng trong quá trình tổng hợp protein hoặc tổng hợp tinh bột trên cơ sở sự ưu tiên theo quá trình nào của một giống lúa Giống lúa năng suất cao thì protein trong gạo có xu hướng thấp Đó là thách thức cho nhà chọn giống lúa cải tiến, vừa đạt năng suất cao, vừa có hàm luợng protein cao (Bùi Chí Bửu, 2005)
* Hàm lượng amylose
Sản phẩm chính của gạo là cơm, chất lượng cơm được đánh giá qua các chỉ tiêu: độ dẻo, độ chín, độ bóng, độ rời, mức độ khô lại khi để nguội, mùi thơm, và chất lượng cơm phản ánh thị hiếu người tiêu dùng ở các khu vực (Viện công nghệ sau thu hoạch, 1998)
Tinh bột chiếm tỷ lệ trên 90% trong hạt gạo Nó được hình thành do hai đại phân tử amylose và amylopectin Hàm lượng amylose có thể được xem là hợp phần quan trọng nhất, bởi vì nó có tính chất quyết định trong việc làm cho cơm dẻo, mềm hoặc cứng (Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang, 2000)
Gạo ở vùng đất phèn có xu hướng amylose cao hơn (Bùi Chí Bửu và
Trang 26cs, 1999) Do điều kiện khí hậu các giống lúa gieo trồng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có hàm lượng amylose trung bình cao hơn các giống được sử dụng ở đồng bằng sông Hồng (Nguyễn Thanh Thuỷ, Nguyễn Thị Hương Thuỷ, 1999)
* Nhiệt độ hoá hồ
Nhiệt độ hoá hồ là một tính trạng biểu thị nhiệt độ cần thiết để gạo thành cơm và không hoàn nguyên Gạo có nhiệt độ hoá hồ cao khi nấu tốn nhiệt, cơm không ngon, độ trở hồ trung bình 70- 740C là tiêu chuẩn tối ưu cho phẩm chất gạo tốt (Lê Cẩm Loan, Khush, 1998) Tương quan giữa độ trở hồ
và amylose cũng chỉ ghi nhận tương quan âm ở môi trường Điều này cũng khẳng định 2 tính trạng amylose và độ trở hồ có tương quan chặt với kiểu gen, kiểu hình và môi trường (Nguyễn Thị Lang và Bùi Chí Bửu, 2006)
Nghiên cứu của Heu và CTV (1976) cho thấy độ hoá hồ còn là tính trạng rất dễ thay đổi theo sự thay đổi trong giai đoạn hạt vào chắc Nghiên cứu của Lê Doãn Diên (1995) đã kết luận: Các giống lúa mùa ở nước ta đặc biệt là lúa Tám đều có độ hoá hồ thấp hoặc trung bình, nhiều giống lúa chiêm
và các giống lúa mới có nhiệt độ hoá hồ cao
1.2 Nghiên cứu phân bón lá cho cây trồng
1.2.1 Một số nghiên cứu và sử dụng phân bón lá trên thế giới
Theo Ikeda và cộng sự (1991), Nguyễn Văn Phú (2001), phun phối hợp
Mg và N làm tăng sản lượng chất khô và đặc biệt bón phối hợp N + Mg, N +
Mg + Mn, N + Mg + Zn làm tăng năng suất của lúa mỳ 30 - 30,9%
Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Phú (2003), bón Mg và N + Mg làm tăng hàm lượng diệp lục trong lá, tăng sản lượng chất khô của lúa mỳ, tăng năng suất của rau trong hai điều kiện đất nghèo Mg++ và giầu Mg++ và K+ , bón đạm qua lá không làm tăng năng suất nhiều với lúa mỳ và rau ăn lá nhưng
nó làm tăng hàm lượng protein ở cây này, cải thiện chất lượng nông sản
Theo Lam và Moranhan (1993), năng suất và hàm lượng đường của củ
Trang 27cải đường trong điều kiện thiếu đạm đã tăng lên khi sử dụng hỗn hợp đạm nitrate phun qua lá nhưng không làm tăng năng suất trong điều kiện đủ đạm Biểu hiện thiếu Mg là biểu hiện rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới (Liu và Hutl, 1991), đặc biệt là vùng đất cát và đất chua, đất có hàm lượng K+
dễ tiêu hao Vì vậy, việc cung cấp Mg để ổn định và nâng cao năng suất cây trồng là rất cần thiết Hai nguyên tố Mg++ và K+ có mối quan hệ đối kháng với nhau trong đất, nếu hàm lượng Mg++ và K+ đều cao, Mg++ có thể trở thành nguyên tố bị thiếu đối với cây nhưng bón Mg++ vào đất có thể gây mất cân bằng ion và gây ngộ độc đối với cây, do đó việc bón Mg++ qua lá là phương pháp tốt nhất để điều chỉnh sự mất cân bằng dinh dưỡng và cải thiện
sự sinh trưởng của cây (Bolton, 1992)
Theo Ciler (1991), khi sử dụng magesunphat (MgSO4 7H2O) phun qua lá có ảnh hưởng tốt đến sự hấp thu Mg++, làm tăng hàm lượng diệp lục, năng suất chất khô của cây kiều mạch
Theo Matula và công sự (1996), việc bón Mg++ vào đất có thể không hiệu quả vì sự hấp thu Mg++ trong đất phụ thuộc vào nhiều tỷ lệ Mg++/K+ ở trong đất, nếu hàm lượng của hai ion này không được tối ưu hóa Chitosan là một hợp chất hữu cơ tự nhiên giàu cacbon, nito, được phối trộn với các nguyên tố khoáng khác dạng phế phẩm dinh dưỡng qua lá
Kết quả nghiên cứu của Hiroko (2002), khi sử dụng Chitosan cho cây lúa ở Thái Lan với nồng độ 20 ppm đã làm tăng khả năng sinh trưởng tích lũy chất khô, đặc biệt tăng số bông và tăng năng suất lúa
Nghiên cứu của Vasconuelo (2003), cho thấy Chitosan xử lý cho cây là tăng quá trình ligin hóa thành tế bào và làm tăng sự tích lũy axit ascorbic có tác dụng điều hòa gen tự vệ của cây, do đó Chitosan làm tăng tính đề kháng của thực vật, nhất là đối với các vấn đề nấm (mốc sương, phấn trắng, ) trên cây cà chua, dưa chuột Theo Punnja (1994), tưới chitosan nồng độ thấp cho cây phong lan làm tăng khả năng phân hóa mầm hoa và tăng khả năng kháng
Trang 28virut gây bệnh
Các công trình nghiên cứu khoa học cũng như thực tiễn sản xuất cho thấy phân bón qua lá có tác dụng rõ rệt trong việc àm tăng năng suất, phẩm chất nông sản, tăng giá trị của nông sản hàng hóa như người ta phun ure lên lá với nồng độ 0,5- 1,5% Tuy nhiên, phần lớn các loại phân bón qua lá là những hỗn hợp các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng ở dạng hòa tan trong nước,
để nâng cao hiệu quả của phân bón lá, người ta thường bổ sung thêm các chất kích thích sinh trưởng, các phytohocmon, các enzym
Những năm gần đây, chúng ta biết thêm rằng cây còn có thể nhận các chất dinh dưỡng qua lá Từ những năm 1950, các nhà khoa học Mỹ đã chứng minh được rằng cây trồng có thể tiếp nhận nhiều chất dinh dưỡng qua lá cao hơn nhiều qua khí khổng của lá Hiệu quả sử dụng của các chất dinh dưỡng phun qua lá hơn so với bón qua đất Sau này, các nhà khoa học Ý còn thấy rằng nhiều chất dinh dưỡng hữu cơ khác ví dụ như các axít amin cũng có thể
đi vào cây qua lá và hiệu quả của nó rất bất ngờ
1.2.2 Một số nghiên cứu và sử dụng phân bón lá ở Việt Nam
Bón phân qua lá là một tiến bộ kỹ thuật được dùng nhiều trong thời gian gần đây Tuy vậy, bón phân qua lá không thể hoàn toàn thay thế được 100% bón phân qua đất Các loại phân bón qua lá là những hợp chất dinh dưỡng, có thể là các nguyên tố đa lượng, trung lượng hoặc vi lượng, được hoà tan trong nước và phun lên cây để cây hấp thu Bón phân qua lá, phân phát huy được hiệu lực nhanh và tỉ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng thường đạt ở mức cao, cây sử dụng đến 95% chất dinh dưỡng bón qua lá, trong khi bón qua đất cây chỉ sử dụng 45-50% (Nguyễn Văn Uyển, 1995)
Các công trình nghiên cứu khoa học cũng như thực tế sản xuất cho thấy
là bón phân qua lá có tác dụng rõ rệt trong việc làm tăng năng suất và phẩm chất nông sản, tăng giá trị thương phẩm của nông sản hàng hoá
Ở Việt Nam, hiện nay đã có nhiều các loại phân bón qua lá Có những
Trang 29loại do Việt Nam sản xuất như: Đầu trâu 502, Đầu trâu 902 Thiên Nông HVP301 N, Comix, HB101, Biofact, BK104, CSF 002, Humid, các loại nhập ngoại: Sweet, Atonix, lục thủy phần, Vạn Niên Hồng, Open all, (Tăng Thị Hạnh và cộng sự 2013)
Phân bón lá phức hữu cơ pomior đã được thử nghiệm trên diện rộng, từ năm 1995 ở các vùng: Yên Hưng (Quảng Ninh), Phù Yên (Sơn La), Yên Dũng, Hiệp Hòa (Bắc Giang), Tiên Sơn (Bắc Ninh), Ngọc Lặc (Thanh Hóa),
Mỹ Hào (Hưng Yên), Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm (Hà Nội), Nghệ An, Nha Trang, Huế, Trên tất cả các loại cây trồng: Lúa, màu, cây ăn quả, hoa cây cảnh Ở các địa phương trên đều có nhận xét tốt: Năng suất tăng nhanh, cây sinh trưởng tốt, ít sâu bệnh, tiết kiệm phân bón và nhân lực, phẩm chất rau, hoa, quả đạt chất lượng cao (Hoàng Ngọc Thuận và cs, 1996)
Phân vi sinh qua lá Biogro là chế phẩm được chiết rút từ vi sinh vật nên
có nguồn gốc hữu cơ Cũng do được chiết rút từ vi sinh vật, nên tác dụng của
nó có thể được đẩy nhanh hơn (5- 7 ngày) so với vi sinh vật bón qua rễ Phân
vi sinh Bogro bón qua lá, giúp cây trồng phát triển nhanh hơn, năng suất cao hơn, rút ngắn thời gian thu hoạch (Chu Thị Thơn và cs, 2006)
Bùi Hồng Vân (1996) đã sử dụng chế phẩm qua lá ở trong nước đó là phân Sài Gòn Safe (HQ và VA) được chiết xuất từ các hỗn hợp hữu cơ vi lượng và khuyến nông 301 trên vụ lạc xuân giống trạm tuyên tại hợp tác xã Sa
La thị xã Hà Đông thấy phân qua lá đã có tác dụng rõ rệt: cây phát triển nhanh, thân cây to, lá dầy, màu xanh sáng, ít sâu bệnh hơn so với không phun
Số quả chắc trên cây chênh lệch không đáng kể nhưng số quả hai hạt trên cây tăng rõ Phân qua lá trong nước cho sản xuất bội thu từ 15,8%- 18,9%
Những kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả sử dụng phân bón lá trên các loại cây trồng khá tốt Theo Vũ Cao Thái (1996) sản lượng tăng trung bình từ 10- 20% đối với cây lấy lá và cây lấy quả, 5-10% với lúa Điều này khá rõ vì lá cơ quan tổng hợp trực tiếp chất hữu cơ và cung cấp chất dinh
Trang 30dưỡng cho cây thông qua các quá trình sinh lý, sinh hóa và quang hợp Khi bón phân qua lá, tốc độ hấp thu dinh dưỡng nhanh và hiệu quả sử dụng cao, khắc phục được những hạn chế khi bón phân vào đất chỉ đạt 40-45% trong khi
đó với phương thức bón phân qua lá có thể nâng hiệu quả sử dụng của cây tới 90-95% Đây là cơ sở hợp lý để đưa nhưn nguyên tố vi lượng vào những dạng phân bón lá để tăng hiệu quả và tiết kiệm Mặt khác, bón phân qua lá là giúp cây trồng trong những điều kiện hạn hán hoặc ngập lụt
1.2.3 Cơ sở khoa học của việc sử dụng dinh dưỡng qua lá
Thông thường bộ rễ của cây làm nhiệm vụ hút nước và hút khoáng là chính song lá cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thu chất dinh dưỡng thông qua khí khổng và các lỗ siêu nhỏ trên tầng cutin của lá nhưng cơ bản hấp thu dinh dưỡng qua lá là quá trình hấp thu bị động Cây trồng có tổng diện tích bề mặt lá tiếp xúc với các chất dinh dưỡng cao gấp 8-10 lần diện tích tán cây che phủ Vì vậy, cây trồng có khả năng hấp thu chất dinh dưỡng qua
lá rất cao (đạt 90-95%), trong khi nếu bón qua đất cây chỉ sử dụng được 45% lượng phân bón
Tuy nhiên, sự hấp thu các nguyên tố khoáng dưới dạng ion từ dung dịch gặp khó khăn hơn vì tầng cutin của lá cản trở Tầng cutin này có thể dày, mỏng khác nhau thay đổi theo từng loại cây cũng như tuổi của cây Các ion khoáng có khả năng xâm nhập qua lỗ siêu nhỏ trên tầng cutin, đường kính các
lỗ này lớn hơn 1nm và mật độ các lỗ rất cao 1010 lỗ/dm2 lá, những phân tử có kích thước lớn như ure, chất hữu cơ qua lỗ siêu nhỏ này khó khăn hơn Nhìn chung các cation qua các lỗ nhỏ này theo gradient nồng độ hấp thu mạnh hơn các anion (NH4+ hấp thu tốt hơn N03- , hay Mg2+, K+ > các anion)
Vì vậy, hiệu quả bón phân qua lá phụ thuộc vào đặc điểm giải phẫu lá của từng loại cây, giai đoạn sinh trưởng và điều kiện ngoại cảnh Để tăng khả năng hấp thu chất dinh dưỡng phun qua lá phải tạo ra một lớp mỏng dinh dưỡng trên bề mặt lá Điều kiện nhiệt độ, ánh sáng cũng ảnh hưởng đến hấp
Trang 31thu dinh dưỡng qua lá, để hấp thu dinh dưỡng tốt cần phun vào lúc râm mát, không mưa (Nguyễn Văn Phú, 2001) Cung cấp dinh dưỡng qua lá có hiệu quả nhanh và rõ nhất khi cây trồng trên vùng đất nghèo dinh dưỡng, đất khô hạn không thể cung cấp dinh dưỡng vào đất hay trong đất có hiện tượng đối kháng ion sự hấp thu chất khoáng qua rễ bị hạn chế thì đây là biện pháp hỗ trợ để bổ sung dinh dưỡng cho cây tốt nhất giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt Khi cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực cây rất cần dinh dưỡng song hút qua rễ rất khó khăn do bộ rễ già hóa và kém phát triển thì biện pháp phun dinh dưỡng qua lá sẽ giải quyết được sự mất cân bằng dinh dưỡng của cây, giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất, chất lượng cao Theo Vũ Hữu Yêm (1995), về mặt số lượng nguyên tố vi lượng cây cần không nhiều nhưng mỗi nguyên tố đều có vai trò xác định và không thể thay thế trong đời sống của cây Chúng có vai trò xúc tác, là nhóm ngoài của enzim hoặc là chất hoạt hóa của emzim, làm thay đổi đặc tính lý hóa của chất nguyên sinh tế bào cây và ảnh hưởng đến tốc độ, chiều hướng của phản ứng sinh hóa (Hoàng Đức Cự và cộng sự, 1995) Còn theo Đường Hồng Dật (2002), đối với cây có 6 nguyên tố vi lượng được xem
là thiết yếu: Fe, Zn, Mn, Cu, Bo, Mo ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng
Bên cạnh những ưu thế của việc cung cấp dinh dưỡng cho cây qua lá còn tồn tại những hạn chế là: cung cấp lượng nhỏ chất dinh dưỡng mà chủ yếu là các nguyên tố trung lượng và vi lượng, dung dịch sau khi phun qua lá cần tạo một lớp màng mỏng trên mặt lá với thời gian tồn tại lâu nên khi phun phải chọn lúc trời râm mát, dung dịch dinh dưỡng dễ bị rửa trôi khỏi lá nên hiệu quả hấp thu phụ thuộc vào thời tiết, có thể gây cháy lá cục bộ do mất cân bằng dinh dưỡng nên cần sử dụng đúng nồng độ khi phun qua lá, không nên phun phân bón lá khi cây đang ra hoa, lúc trời đang nắng sẽ làm rụng hoa, quả
và làm giảm hiệu lực của phân bón
Trang 32Sự hấp thu dinh dưỡng qua lá qua 5 bước cơ bản như sau:
Bước 1: Làm ướt bề mặt lá bằng dung dịch dinh dưỡng:
Vách ngoài của những tế bào lá được bao phủ bởi lớp cutin và một lớp sáp có đặc tính chống thấm nước rất mạnh Để hấp thu các chất dinh dưỡng dễ dàng, ta có thể bỏ thêm các chất phụ gia để làm giảm sức căng bề mặt
Bước 2: Sự thâm nhập xuyên qua lớp biểu bì của vách tế bào:
Sự xâm nhập của chất lỏng xuyên qua bề mặt có sức căng cao và các khí khổng nên cần tạo các giọt nhỏ liên kết với sự bốc hơi Khi bốc hơi xảy
ra, mức độ xâm nhập đạt cao nhất và sự hấp thu liên tục xảy ra với phần chất rắn còn lại
Bước 3: Sự xâm nhập chất dinh dưỡng vào các thành vách tế bào (apoplast)
bên trong lá cây:
Các apoplast rất quan trọng để chứa các chất dinh dưỡng trước khi chúng được hấp thu vào bên trong từng tế bào Các chất dinh dưỡng sẽ vào những apoplast này sau khi xâm nhập từ bên ngoài qua lớp biểu bì lá cũng như được hấp thu từ rễ qua các mao mạch trong thân cây
Bước 4: Sự hấp thu chất dinh dưỡng vào bên trong tế bào:
Việc hấp thu chất dinh dưỡng khoáng từ các apoplast vào bên trong từng tế bào lá cũng giống như sự hấp thu từ rễ và tốc độ hấp thu như sau:
- Những phân tử nhỏ nhanh hơn những phân tử lớn (urea > Fe-Chelates)
- Những phân tử không mang điện nhanh hơn các ion tĩnh điện
- Những ion hoá trị một nhanh hơn các ion đa hoá trị
- Độ pH của không bào (apoplast) thấp sẽ hấp thu các anion nhanh hơn
- Độ pH của không bào (apoplast) cao sẽ hấp thu các cations nhanh hơn
- Khả năng hấp thu của các tế bào lá cây cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại vi như độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng…
Khi áp dụng những chất dinh dưỡng lưu động (mobile nutrients) cho các lá non, lá còn đang phát triển thì sự chuyển dịch xuống rễ chậm hơn, điều
Trang 33này kích thích sự hấp thu dinh dưỡng từ rễ do bộ lá phát triển và quang hợp tốt hơn
Các chất dinh dưỡng bất động (immobile nutrients) áp dụng trên cả lá già và lá non sẽ chuyển dịch chậm xuống rễ, như vậy không gây nên sự thay đổi nào hoặc có thể làm gia tăng lượng dinh dưỡng hấp thu từ rễ
Bước 5: Sự phân bổ từng chất dinh dưỡng riêng biệt bên trong và chuyển
dịch chúng ra ngoài lá:
Sau khi phun phân bón thì tùy thuộc vào từng mô libe và tính cơ động của hệ mao dẫn Các chất dinh dưỡng lưu động libe (phloem mobile nutrients) như N, P, K, Mg được phân bố vào mỗi mô mao dẫn cũng như mỗi mô libe bên trong lá cây, và một tỷ lệ lớn các chất dinh dưỡng đã hấp thu sẽ được vận chuyển ra khỏi lá tới các bộ phận khác của cây nơi có nhu cầu cao
Ngược lại các chất dinh dưỡng có khả năng cơ động nhưng bị giới hạn bởi libe (nutrients with a restricted phloem mobility) như Ca, Cu, Fe, Mn, Zn
sẽ được phân bố chính cho mỗi mô mao dẫn bên trong lá cây và không có sự chuyển dịch đáng kể nào ra ngoài
Trang 34Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian tiến hành: Từ tháng 1 năm 2013 đến hết tháng 6 năm 2013
- Địa điểm tiến hành thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm NC&PT Giống cây trồng Tân Dĩnh, thuộc xã Tân Dĩnh của huyện Lạng Giang, Bắc Giang
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Vật liệu nghiên cứu ( thí nghiệm 1):
1 Giống lúa VS1
Bản quyền Công ty CP Giống cây trồng Trung Ương, là giống lúa thuần thuộc nhóm ngắn ngày Cao cây từ 100-110 cm Chất lượng gạo tốt, trong, cơm mềm, vị đậm, có mùi thơm nhẹ Tiềm năng năng suất từ 65-70 tạ/ha
2 Giống lúa HT6
Do Viện cây Lương thực và cây Thực phẩm chọn tạo Thời gian sinh trưởng ở vụ xuân muộn sinh trưởng 135 ngày, vụ mùa sớm 105 – 110 ngày Khối lượng 1.000 hạt 22 – 23gam Ngon cơm, thơm đậm Năng suất đạt 55 –
65 tạ/ha
3 Giống lúa LT2
Giống lúa LT2 do kỹ sư Bùi Phù Chu và PGS.TS Phạm Văn Chương chọn lọc từ tổ hợp KD90 nhập nội Chiều cao cây 95-115 cm Gạo trong, cơm dẻo thơm, vị đậm Thời gian sinh trưởng ở vụ xuân 130-135 ngày và vụ mùa 105-115 ngày Năng suất: 5,0-5,5 tấn/ha, thâm canh tốt có thể đạt 6,0-6,5 tấn/ha
4 Giống lúa QR1
Do viện di truyền nông nghiệp Việt Nam chọn tạo Thời gian sinh
Trang 35trưởng vụ xuân 120- 125 ngày, vụ mùa 100 - 105 ngày Cao cây 95-100cm Gạo và cơm thơm, mềm Năng suất trung bình đạt 50-55 ta/ha, thâm canh tốt
có thể đạt 60-70 tạ/ ha
5 Giống lúa Nàng Xuân:
Giống lúa chất lượng cao do Công ty Cổ phần Nông nghiệp nhiệt đới
chọn tạo Gạo trắng trong, không bạc bụng, cơm dẻo, mềm, có mùi thơm như
gạo Tám Thời gian sinh trưởng ngắn: vụ Xuân 120-125 ngày, vụ mùa
105-110 ngày, chiều cao cây 95 – 100cm Năng suất trung bình đạt 5,5 tấn/ha/vụ,
thâm canh cao có thể đạt tới 6,8 tấn/ha
7 Giống lúa BG1
Do Công ty Cổ phần Giống cây trồng Bắc Giang chọn tạo Thời gian
sinh trưởng vụ xuân từ 125 - 130 ngày, vụ mùa từ 102 - 105 ngày Cao cây
115 - 120cm, lá màu xanh nhạt, phiến lá rộng, góc lá hẹp, cứng cây Hạt thóc
thon dài, ít rụng hạt, khối lượng 1.000 hạt 24,4 - 25g Gạo lật màu đỏ, chất lượng gạo có hàm lượng dinh dưỡng cao, tỷ lệ gạo xát đạt 70-72% Năng suất cao trung bình đạt 75 – 80 tạ/ha, nếu thâm canh cao có thể đạt trên 85tạ/ha
8 Giống lúa BC15
Bản quyền của Công ty cổ phần Giống cây trồng Thái Bình Thời gian
Trang 36sinh trưởng ở miền Bắc vụ Xuân 135 - 138 ngày, vụ Mùa 110 - 115 ngày Các tỉnh từ Đà Nẵng trở vào vụ Đông Xuân 115 - 120 ngày, vụ Hè Thu 105 - 110 ngày Hạt gạo trong, cơm dẻo, ngon, đậm Năng suất trung bình đạt 70 - 75
tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 90- 100 tạ/ha
9 Giống lúa Bắc Thơm 7
Là giống lúa thuần nhập nội từ Trung Quốc Thời gian sinh trưởng ở vụ xuân muộn là 135 - 140 ngày, ở vụ mùa sớm là 110 - 115 ngày Chiều cao cây
từ 90 – 95cm Hạt thon nhỏ, màu vàng sẫm Gạo có hương thơm, cơm thơm, mềm Năng suất trung bình 40 - 45 tạ/ha, cao có thể đạt: 55 - 60 tạ/ha
10 Giống lúa HT1
Do Công ty giống cây trồng Quảng Ninh nhập nội Thời gian sinh trưởng vụ xuân muộn: 130-132 ngày, vụ mùa : 105-110 ngày Cao cây 95-105cm Gạo và cơm thơm, mềm Năng suất trung bình đạt 50-55 ta/ha, thâm canh tốt có thể đạt 70-75 tạ/ ha
2.2.2 Vật liệu nghiên cứu (thí nghiệm 2):
1 Phân bón lá V-104
Do công ty TNHH Valva sản xuất (Địa chỉ: Cổ Nhuế - Từ Liêm – Hà Nội)
Thành phần: Nts: 8%; K20hh : 0,9%; Mg0: 11%; Ga3: 0,01%; Cu: 100ppm; Bo: 150ppm; Zn: 110ppm; Và một số chất phụ gia đặc hiệu
2 Phân bón lá Smat Farm 1
Do công ty TNHH Hóa Sinh Lúa Việt sản xuất (Địa chỉ: Khu phố Tân Phú – P Tân Bình – TX.Dĩ An – Bình Dương)
Thành phần: N: 10%; P205: 10%; K20: 5%; Mg: 3000ppm; Cu: 250ppm; Mn: 500ppm; Bo: 1000ppm; Zn: 600ppm; Fe: 500ppm
Ngoài ra sản phẩm còn được bổ sung các chất kích thích sinh trưởng
Trang 37khác như: NAA, Ga3, các Vitamin B, Vitamin C, Amino axit…
3 Phân bón lá KyooDai
Do công ty Hóa Nông KyooDai sản xuất (Địa chỉ: Cao Viên – Thanh Oai
– Hà Nội)
Thành phần: N - P - K: 15% - 15% - 15%; Mn: 1%; Cu: 50ppm; Zn: 50ppm; Mn: 50ppm; Bo: 500ppm; Mo: 10ppm; Độ ẩm: 6%
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và
khả năng chống chịu sâu bệnh hại của một số giống lúa chất lượng tại Lạng Giang - Bắc Giang, vụ xuân 2013
Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón lá đến giống
HT1 tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013
- Công thức 1 (G1): Giống lúa VS1
- Công thức 2 (G2): Giống lúa HT6
- Công thức 3 (G3): Giống lúa LT2
- Công thức 4 (G4): Giống lúa QR1
- Công thức 5 (G5): Giống lúa Nàng Xuân
- Công thức 6 (G6): Giống lúa BG6
- Công thức 7 (G7): Giống lúa BG1
- Công thức 8 (G8): Giống lúa BC15
- Công thức 9 (G9): Giống lúa Bắc thơm 7
Trang 38- Công thức 10 (G10): Giống lúa HT1 (đối chứng)
* Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) với 3 lần nhắc lại Diện tích một ô thí nghiệm là 10 m2(2,5m x 4m), với tổng diện tích của 30 ô thí nghiệm là 300 m2 Thí nghiệm được bố trí trên nền đất ruộng thịt nhẹ, đất được cày bừa kỹ, đảm bảo nhuyễn bùn, làm sạch cỏ và san phẳng, đảm bảo sự đồng đều cho toàn bộ thí nghiệm, nền phân bón như nhau
* Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
- Công thức 1 (CT1): Bón NPK Việt Nhật + phun nước lã (Đối chứng)
- Công thức 2 (CT2): Bón phân NPK Việt Nhật + phun V-104
- Công thức 3 (CT3): Bón phân NPK Việt Nhật + phun Smat Farm 1
- Công thức 4 (CT4): Bón phân NPK Việt Nhật + phun KyooDai
* Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) với 3 lần nhắc lại
Trang 39Diện tích một ô thí nghiệm là 10 m2(2,5m x 4m), với tổng diện tích của 12 ô thí nghiệm là 120 m2 Thí nghiệm được bố trí trên nền đất ruộng thịt nhẹ, đất được cày bừa kỹ, đảm bảo nhuyễn bùn, làm sạch cỏ và san phẳng, đảm bảo sự đồng đều cho toàn bộ thí nghiệm, nền phân bón như nhau
* Phân bón lá được phun làm 3 thời kỳ:
- Đẻ nhánh rộ: Phun 400 lít/ha
- Trước trỗ: Phun 600 lít/ha
- Sau trỗ 10 ngày: Phun 600 lít/ha
Phun vào buổi chiều mát, tạnh ráo, không nắng Lấy mẫu theo dõi các chỉ tiêu sau mỗi lần phun từ 7 – 10 ngày
- Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
2.4.3 Quy trình kỹ thuật áp dụng chung cho 2 thí nghiệm:
* Quy trình gieo cấy (đang được áp dụng rộng rãi tại Lạng Giang - Bắc Giang)
- Thời gian gieo mạ: 10/2/2013
- Thời gian cấy: 3/3/2013
- Mật độ cấy: Cấy 45 khóm/m2; cấy 2 dảnh/khóm
* Phân bón (chọn nền phân bón thích hợp nhất tại Bắc Giang)
Lượng phân bón cho 1ha
- Phân chuồng: 8 tấn
- Phân NPK Việt Nhật: 16 : 12 : 8 : 13S với lượng bón 550kg/ha
Trang 40Cách bón:
- Bón lót toàn bộ phân chuồng + 10 kg NPK Việt Nhật Yêu cầu bón trước khi bừa lần cuối
- Bón thúc đẻ nhánh: 6kg NPK Việt Nhật 16 : 12 : 8 : 13S khi lúa bén
rễ hồi xanh kết hợp làm cỏ sục bùn, tỉa dặm
- Bón đón đòng( trước trỗ 20 – 25 ngày): Bón 4kg NPK Việt Nhật 16 :
12 : 8 : 13S còn lại
* Phòng trừ sâu bệnh và chăm sóc các ô thí nghiệm
Chế độ tưới nước: Sau cấy mực nước 3- 4 cm, thời kì lúc đẻ nhánh 3 -
5 cm, cuối thời kỳ đẻ nhánh rút nước lộ ruộng sao cho nứt chân chim, chuẩn
bị trỗ cho nước vào 5-7cm, trước thu hoạch 10 ngày rút ruộng khô
Chăm sóc và thu hoạch
- Làm cỏ, sục bùn: Làm cỏ một lần kết hợp bón thúc khi lúa bén rễ hồi xanh
- Phòng trừ sâu bệnh: Phòng trừ kịp thời, phun thuốc phòng trừ sâu đục thân 2 chấm, cuốn lá nhỏ, trừ rầy theo hường dẫn của nghành BVTV
- Thu hoạch: Gặt kịp thời khi trên diện tích thí nghiệm các dòng, giống
có 85% số hạt trên bông đã chín
2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp đánh giá bằng mắt được thực hiện qua quan sát toàn ô thí nghiệm, trên từng cây hay các bộ phận của cây và cho điểm Các chỉ tiêu định lượng được đo đếm trên cây mẫu hoặc toàn ô thí nghiệm Các mẫu lấy ngẫu nhiên, trừ cây ở rìa ô Các chỉ tiêu được theo dõi theo đúng giai đoạn sinh trưởng thích hợp của cây lúa
Quan sát và đánh giá các chỉ tiêu theo thang điểm đánh giá của IRRI (Standard Evaluation Sytem For – Rice 1996) và tiểu chuẩn ngành quy phạm khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống lúa 10 TCN 558 – 2002