1. Tính cấp thiết của Đề tài Hoạt động đầu tư, đặc biệt là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng như mỗi địa phương. Thực tế đầu tư xây dựng cơ bản là nguồn lực và phương tiện chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội khi đất nước đang trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Từ một nền kinh tế ở một xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn nhiều thiếu thốn, bước vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhiều vấn đề cũng đặt ra với đầu tư XDCB. Thời gian qua, nguồn vốn đầu tư XDCB có xu hướng không ngừng tăng lên tạo nên sự chuyển biến quan trọng trong việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm thay đổi diện mạo kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, việc quản lý nguồn vốn cho đầu tư XDCB vẫn bộc lộ không ít những hạn chế như: Đầu tư dàn trải, quản lý yếu kém, thất thoát lãng phí, tình trạng tham nhũng có xu hướng gia tăng, đã làm ảnh hưởng đến chất lượng các công trình, hiệu quả đầu tư thấp và nợ đọng vốn đầu tư ở mức cao gây nhiều tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Thực trạng trên cho thấy, việc sử dụng nguồn vốn NSNN cho đầu tư XDCB cần có sự quản lý, điều hành theo hướng hiệu quả hơn nhằm tránh thất thoát, lãng phí vốn cũng như nâng cao hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Trên thực tế hoạt động thanh tra nguồn vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước đã được thực thi trong những năm qua nhằm chấn chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn sự thất thoát, lãng phí vốn và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư Nhà nước. Việc nghiên cứu, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm cũng như đề xuất những biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra là điều cả xã hội cũng như Nhà nước rất quan tâm. Xuất phát từ thực tế đó, học viên chọn đề tài “Thanh tra tài chính đối với phân bổ vốn đầu tư thuộc ngân sách địa phương (qua khảo sát thực tiễn tại tỉnh Tiền Giang)” làm nội dung nghiên cứu của Luận văn Thạc sỹ kinh tế.
Trang 1phạm ngọc hng
Thanh tra tài chính đối với phân bổ vốn
đầu t thuộc ngân sách địa phơng
(qua khảo sát thực tiễn tại tỉnh Tiền Giang)
Chuyên ngành: kinh tế chính trị
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS Vũ Văn Hân
Trang 2Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoahọc, độc lập của tôi Các sơ liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Ngọc Hưng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THANH TRA TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÂN BỔ VỐN ĐẦU
TƯ THUỘC NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG 5 1.1 Cơ sở lý luận về thanh tra tài chính đối với phân bổ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thuộc ngân sách địa phương 5
1.1.1 Ngân sách Nhà nước 51.1.2 Khái niệm về phân bổ vốn đầu tư XDCB, các dự án đầu tư XDCBthuộc ngân sách 131.1.3 Vốn đầu tư xây dựng từ ngân sách địa phương 171.1.4 Dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn ngân sách địa phương 18
1.2 Mục đích, vai trò của hoạt động thanh tra tài chính với phân bổ vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách địa phương 18
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Thanh tra tài chính 181.2.2 Mục đích, vai trò và nguyên tắc hoạt động thanh tra tài chính 231.2.3 Phạm vi và đối tượng thanh tra tài chính phân bổ kế hoạch vốn đầu
tư XDCB từ ngân sách nhà nước 271.2.4 Nội dung hoạt động thanh tra tài chính với phân bổ kế hoạch vốn đầu
tư XDCB từ ngân sách nhà nước 28
1.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra tài chính với công tác phân bổ vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách địa phương 29 1.4 Một số bài học kinh nghiệm quốc tế về thanh tra, kiểm tra tài chính lĩnh vực quản lý vốn đầu tư xây dựng thuộc ngân sách địa phương 31
Trang 41.4.3 Kinh nghiệm thanh tra tại các địa phương khác theo Kết luận thanhtra của Thanh tra Bộ Tài chính: 321.3.4 Bài học kinh nghiệm của Trung Quốc 351.3.5 Bài học kinh nghiệm của Pháp 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA TÀI CHÍNH VỚI PHÂN BỔ VỐN ĐẦU TƯ THUỘC NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG 40 2.1 Sự ra đời và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Thanh tra tài chính thuộc Bộ Tài chính 40
2.1.1 Sự ra đời của cơ quan Thanh tra tài chính thuộc Bộ Tài chính 402.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Thanh tra tài chính thuộc Bộ Tài chính 44
2.2 Tình hình quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 47
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên xã hội của Tỉnh Tiền Giang 472.2.2 Tình hình phân bổ vốn đầu tư phát triển trên địa bàn Tỉnh TiềnGiang năm 2013 482.2.3 Những kết quả đạt được của hoạt động đầu tư từ ngân sách nhà nước 50
2.3 Thực trạng hoạt động thanh tra tài chính đối với phân bổ vốn đầu tư thuộc ngân sách địa phương (qua khảo sát thực tiễn tại tỉnh Tiền Giang) 53
2.3.1 Tình hình thanh tra tài chính công tác phân bổ kế hoạch vốn đầu tưthuộc ngân sách địa phương 532.3.3 Quy trình thanh tra tài chính đối với phân bổ vốn đầu tư XDCBthuộc ngân sách địa phương (Qua khảo sát thực tiễn tại tỉnh Tiền Giang) 642.3.4 Những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động triển khai thanh tra tàichính với phân bổ vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách địa phương 70
Trang 5tại tỉnh Tiền Giang) 80
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI PHÂN BỔ VỐN ĐẦU TƯ XDCB THUỘC NS ĐỊA PHƯƠNG 83 3.1 Phương hướng hoạt động thanh tra tài chính đối với phân bổ vốn đầu tư XDCB từ ngân sách địa phương trong những năm tới 83 3.2 Một số giải pháp để nâng cao chất lượng thanh tra tài chính đối với phân bổ vốn đầu tư thuộc ngân sách địa phương trong những năm tới
873.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế về hoạt động thanh tra 873.2.2 Nhóm giải pháp về tổ chức thực thi nhiệm vụ thanh tra 923.2.3 Nhóm giải pháp về xây dựng lực lượng thanh tra, về chính sách đãingộ và đầu tư trang thiết bị kỹ thuật 97
3.3 Một số điều kiện để thực hiện các giải pháp thanh tra tài chính đối với phân bổ vốn đầu tư thuộc ngân sách địa phương trong những năm tới 100 KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 6Bảng 2.1: Tổng hợp kết qủa thanh tra các dự án đầu tư XDCB từ NSNN 5
năm (2009-2014) 34Bảng 2.2: Bảng tổng hợp kế hoạch vốn năm 2013 49Bảng 2.3: Bảng tổng hợp kế hoạch vốn bố trí không giải ngân được năm 2013
59Bảng 2.4: Bảng tổng hợp sai phạm trong sử dụng vốn đầu tư 63
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Hoạt động đầu tư, đặc biệt là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có ý nghĩaquan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng như mỗi địaphương Thực tế đầu tư xây dựng cơ bản là nguồn lực và phương tiện chủ yếu đểthực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội khi đất nước đang trong tiến trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá Từ một nền kinh tế ở một xuất phát điểm thấp, cơ sở hạtầng kỹ thuật còn nhiều thiếu thốn, bước vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhiềuvấn đề cũng đặt ra với đầu tư XDCB Thời gian qua, nguồn vốn đầu tư XDCB có xuhướng không ngừng tăng lên tạo nên sự chuyển biến quan trọng trong việc pháttriển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế,chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội của đất nước Tuynhiên bên cạnh những kết quả đạt được, việc quản lý nguồn vốn cho đầu tư XDCBvẫn bộc lộ không ít những hạn chế như: Đầu tư dàn trải, quản lý yếu kém, thất thoátlãng phí, tình trạng tham nhũng có xu hướng gia tăng, đã làm ảnh hưởng đến chấtlượng các công trình, hiệu quả đầu tư thấp và nợ đọng vốn đầu tư ở mức cao gâynhiều tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung
Thực trạng trên cho thấy, việc sử dụng nguồn vốn NSNN cho đầu tư XDCBcần có sự quản lý, điều hành theo hướng hiệu quả hơn nhằm tránh thất thoát, lãngphí vốn cũng như nâng cao hiệu quả nguồn vốn đầu tư Trên thực tế hoạt độngthanh tra nguồn vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước đã được thực thi trongnhững năm qua nhằm chấn chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng, chủ động phòng ngừa,ngăn chặn sự thất thoát, lãng phí vốn và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư Nhà nước.Việc nghiên cứu, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm cũng như đề xuấtnhững biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra là điều cả xã hội cũng
như Nhà nước rất quan tâm Xuất phát từ thực tế đó, học viên chọn đề tài “Thanh
tra tài chính đối với phân bổ vốn đầu tư thuộc ngân sách địa phương (qua khảo sát thực tiễn tại tỉnh Tiền Giang)” làm nội dung nghiên cứu của Luận văn Thạc sỹ
kinh tế
Trang 82 Tổng quan về tình hình nghiên cứu:
Cho đến nay, đã có một số đề tài nghiên cứu xung quanh vấn đề Thanh tra tàichính Mỗi đề tài nghiên cứu đều có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cáchtiếp cận và mục tiêu cụ thể khác nhau
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây về thanh tra tài chính cónhững đối tượng nghiên cứu khác nhau, như là các đơn vị sự nghiệp, các Doanhnghiệp nhà nước, việc chấp hành dự toán thu, chi ngân sách các cấp, về thanh tracác dự án đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước… chưa có các nghiên cứu về côngtác phân bổ vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách địa phương Chính vì vậy, tác giảthấy rằng nghiên cứu chuyên sâu về công tác thanh tra tài chính công tác phân bổvốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách địa phương là rất cần thiết nhằm hoàn thiện hơnthể chế, lực lượng, nội dung, phương pháp thanh tra công tác phân bổ vốn đầu tưXDCB thuộc ngân sách địa phương trong thời kỳ hội nhập kinh tế và phát triển
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Xác định mục đích, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng củathanh tra tài chính, cơ sở lý luận và thực tiễn công tác thanh tra tài chính đối vớicông tác phân bổ vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách địa phương;
- Đánh giá thực trạng, kết quả và hạn chế của hoạt động thanh tra tài chínhđối với dự công tác phân bổ vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách địa phương;
- Đề xuất, đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra tàichính đối với công tác phân bổ vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách địa phương, gópphần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, đáp ứng được yêu cầu quản lý vốn đầu
tư XDCB đang đặt ra cũng như phù hợp với nội dung của Luật Thanh tra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Là hoạt động thanh tra tài chính đối vớicông tác phân bổ vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách địa phương
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung vào nghiên cứu một sốvấn đề lý luận cơ bản về thanh tra tài chính đối với công tác phân bổ vốn đầu tư
Trang 9XDCB thuộc ngân sách địa phương và thực tiễn hoạt động thanh tra lĩnh vực nàycủa Thanh tra Bộ Tài chính trực thuộc Bộ Tài chính.
+ Thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động thanh tratài chính từ năm 2009 đến nay, đây là thời điểm mà hoạt động thanh tra tài chính cónhiều biểu hiện tích cực trước đòi hỏi của việc mở rộng đầu tư các dự án đầu tưXDCB từ ngân sách nhà nước Đặc biệt, Luật thanh tra sửa đổi đã được Quốc hộinước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày15/11/2010 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2011 khi hoạt động thanh tra cần có sự hoànthiện về tổ chức và thực thi nhiệm vụ thanh tra
5 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp lịch sử kết hợp với logic để rút ra các kết luận có căn cứ khoahọc Các phân tích được thực hiện trên cơ sở so sánh để đánh giá mức độ phát triển
về qui mô và mang tính lịch sử
Trong nghiên cứu luận văn còn kết hợp các phương pháp cụ thể khác như: + Phương pháp thu thập thông tin
+ Phương pháp biểu đồ, phương pháp bảng thông kê
+ Phương pháp phân tích định tính
6 Dự kiến những đóng góp của luận văn
- Về mặt khoa học: Luận văn hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề lý luận về
dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước; phân tích nhữngđặc trưng cơ bản của dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhànước; làm rõ vai trò quan trọng của hoạt động thanh tra tài chính trong công tácquản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
- Về mặt thực tiễn: Nhận diện các nguyên nhân và hạn chế về thực trạng hoạtđộng thanh tra tài chính đối với công tác phân bổ vốn đầu tư XDCB thuộc ngânsách địa phương
- Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để chỉ ra phương hướng xây dựng và cácgiải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động thanh tra tài chính đốivới công tác phân bổ vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách địa phương hiện nay
Trang 107 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luậnvăn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thanh tra tài chính đối
với công tác phân bổ vốn đầu tư thuộc ngân sách địa phương
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh tra tài chính đối với phân bổ vốn đầu
tư thuộc ngân sách địa phương
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thanh
tra tài chính với công tác với phân bổ vốn đầu tư thuộc ngân sách địa phương
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THANH TRA TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÂN BỔ VỐN ĐẦU TƯ THUỘC NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
1.1 Cơ sở lý luận về thanh tra tài chính đối với phân bổ vốn đầu tư
từ ngân sách nhà nước thuộc ngân sách địa phương
1.1.1 Ngân sách Nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm NSNN
Khi xuất hiện Nhà nước; Nhà nước cần phải có hệ thống nguồn lực gồmnhân lực và vật lực để duy trì, bảo vệ Nhà nước; đồng thời thúc đẩy các mặt kinh tế,chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa… của nhà nước đó ngày một phát triển Đểduy trì, bảo vệ và phát triển; Nhà nước đó cần có một nguồn lực kinh tế, nguồn lựcquan trọng đó là NSNN Vì vậy ở đâu xuất hiện Nhà nước, ở đó tất yếu hình thànhnguồn lực NSNN
Sự hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triểncủa nền kinh tế trong các phương thức sản xuất của các thời kỳ NSNN là một trongnhững nguồn lực vô cùng quan trọng, quyết định đến sự thành bại trong quá trìnhphát triển nền kinh tế theo định hướng của Đảng và Nhà nước
NSNN là một phạm trù kinh tế và lịch sử, là một phần trong hệ thống tài chínhquốc gia Song quan niệm về ngân sách chưa thống nhất, do đó có rất nhiều trườngphái đưa ra các khái niệm khác nhau Việt Nam, Luật NSNN đã được Quốc hội ViệtNam thông qua ngày 16/12/2002 đưa ra khái niệm: NSNN là toàn bộ các khoản thu,chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thựchiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
1.1.1.2 Nội dung NSNN
Như vậy, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hìnhthành (Thu NSNN), phân phối – sử dụng (Chi NSNN) quỹ tiền tệ tập trung của Nhà
Trang 12nước khi Nhà nước thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình trên cơ sở pháp luậtquy định.
Thu NSNN: Để có kinh phí cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo luật
định, nhà nước hình thành các khoản thu đó là thuế, phí, lệ phí… Xét về phương diệnpháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách đểthỏa mãn nhu cầu chi tiêu của nhà nước Thu NSNN gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệphí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổchức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Vậy xét về bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhànước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính đểhình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêucủa mình Thu NSNN gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách; theoLuật NSNN hiện hành, nội dung các khoản thu NSNN ở Việt Nam bao gồm:
- Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật;
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;
- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân;
- Các khoản viện trợ;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Qua đó ta nhận thấy để tiến hành thu NSNN ta cần phải nhận thức được một
Ba là, thu NSNN thực hiện trên nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu
Trang 13Bốn là, Thu NSNN phải dựa trên các nguyên tắc đó là: ổn định và lâu dài;công bằng; đơn giản và rõ ràng, công khai.
Chi NSNN: Muốn duy trì hoạt động bộ máy nhà nước; đồng thời hoàn thiện
và phát triển công tác quản lý, điều hành đất nước; cả về mặt kinh tế và mặt chínhtrị Nhà nước phải sử dụng chi tiêu nguồn ngân sách để phục vụ mục tiêu thống trịcủa nhà nước Chi NSNN là các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốcphòng an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước;chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
* Căn cứ vào mục đích và nội dung ta chia chi NSNN theo hai loại đó là:
- Chi cho tiêu dùng chính phủ là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất vàtiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế; là những khoản chi đầu tư phát triển
và các khoản tích lũy khác
- Chi cho tích lũy của chính phủ là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vậtchất để tiêu dùng trong tương lai; bao gồm chi cho hoạt động sự nghiệp, quản lýhành chính, quốc phòng, an ninh…
* Căn cứ vào yếu tố thời hạn và phương thức quản lý chia làm bốn loại:
- Chi thường xuyên là các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyêncủa nhà nước
- Chi đầu tư XDCB nhằm làm tăng cơ sở vật chất của đất nước và thúc đẩytăng trưởng kinh tế
- Chi trả nợ và viện trợ bao gồm các khoản chi để chính phủ thực hiện nghĩa
vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các khoảnchi làm nghĩa vụ quốc tế
- Chi dự trữ là những khoản chi NSNN để bổ sung quỹ dự trữ nhà nước vàquỹ dự trữ tài chính
Căn cứ vào yếu tố thời hạn và phương thức quản lý đi sâu nghiên cứu chi đầu
tư XDCB nhằm làm tăng cơ sở vật chất của đất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế Qua đó có các biện pháp tăng cường kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng cơ bảncủa NSNN qua Kho Bạc
Trang 141.1.1.3 Vốn xây dựng cơ bản của NSNN
Khái niệm vốn XDCB của NSNN: Khoản vốn Ngân sách được Nhà nướcdành cho việc dầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội màkhông có khả năng thu hồi vốn cũng như các khoản chi đầu tư khác theo quy địnhcủa Luật NSNN
Đặc điểm vốn XDCB của NSNN: Vốn XDCB của NSNN có một số đặcđiểm như sau:
Thứ nhất Vốn XDCB của NSNN luôn gắn với việc chi đầu tư cơ sở hạ tầng
cho các công trình thuộc sở hữu nhà nước, gắn với bộ máy nhà nước và nhữngnhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng giai đoạn,từng thời kỳ
- Tất cả các công trình được chi ra từ kinh phí NSNN là thuộc sở hữu nhànước Các công trình đó phục vụ cho mục tiêu quản lý, điều hành của bộ máy quản
lý nhà nước
- Quá trình phát triển nền kinh tế của đất nước đều phải thực hiện theo mộtlịch trình phát triển nhất định Lịch trình này diễn ra đều gắn với các nhiệm vụ pháttriển kinh tế, chính trị, xã hội phù hợp với từng giai đoạn và thời kỳ cụ thể gắn liềnvới mục tiêu phát triển nền kinh tế do nhà nước đề ra
- Chi XDCB là một trong các chức năng quan trọng của nhà nước nhằm thiếtlập các hạ tầng cơ sở, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế, an sinh, xã hội và nhằmkích thích các thành phần kinh tế phát triển
Thứ hai chi XDCB của NSNN luôn gắn với quyền lực nhà nước.
Một trong các chức năng quan trọng của nhà nước là chức năng tổ chức, điềuhành nền kinh tế Chức năng này trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay đượcthể hiện bằng vai trò của nhà nước trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế ChiXDCB của NSNN được chi ra từ kinh phí NSNN phục vụ cho việc quản lý điều tiết
vĩ mô nên kinh tế, nên chi XDCB được gắn liền với quyền lực của Nhà nước
Thứ ba vốn XDCB của NSNN đem lại hiệu quả trên tầm vĩ mô, bao quát trên
nhiều lĩnh vực
Trang 15- Vốn XDCB của NSNN được đầu tư cho các công trình thuộc kết cấu hạtầng, các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình và dự án pháttriển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộng nhằm hình thành thế cân đốicho nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích qúa trình vận động vốn của doanh nghiệp
và tư nhân nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinhthần cho người dân
- Vốn đầu tư XDCB có tầm quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹthuật cho nền kinh tế và xã hội, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý theo địnhhướng phát triển nền kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng caonăng suất lao động xã hội
Thứ tư vốn XDCB của NSNN mang tính chất không khấu hao hoàn trả trực
tiếp như các công trình XDCB khác
- Các công trình XDCB của NSNN là những công trình phục vụ cho sựnghiệp phát triển kinh tế lâu dài của đất nước
- Các công trình XDCB của NSNN phục vị cho an ninh quốc phòng, an sinh
xã hội …
Do đó việc khấu hao hoàn trả các công trình trên không trực tiếp như cáccông trình XDCB khác
Thứ năm vốn XDCB của NSNN có thể kéo dài trong nhiều năm, chi từ
nguồn NSNN qua nhiều thời kỳ
- Các công trình XDCB của NSNN là những công trình mang ý nghĩa chiếnlược nên thường được xây dựng trong nhiều năm
- Các công trình XDCB của NSNN kinh phí được lấy từ NSNN; Quỹ NSNNđược hình thành đều dựa vào nguồn thu, các nguồn thu không những dành chi tiêu
về XDCB mà còn dung cho chi thường xuyên, chi trả nợ, chi viện trợ… phục vụcho bộ máy quản lý nhà nước
- Các công trình XDCB của NSNN thường cần một lượng vốn đầu tư lớn; do
đó việc chi XDCB của NSNN phải kéo dài trong nhiều năm và qua nhiều thời kỳ
Thứ sáu vốn XDCB của NSNN luôn gắn với sự vận động của các phạm trù
như thu nhập quốc dân, tăng trưởng kinh tế
Trang 16Như phần trên đã nêu vốn XDCB của NSNN kinh phí được lấy từ NSNN;Quỹ NSNN được hình thành đều dựa vào nguồn thu; các nguồn thu phụ thuộc từthu nhập quốc dân và sự tăng trưởng của nền kinh tế do đó chi XDCB của NSNNluôn gắn với sự vận động của các phạm trù như thu nhập quốc dân, tăng trưởngkinh tế.
Thứ bảy vốn XDCB của NSNN có những công trình mang ý nghĩa về kinh
tế; song có những công trình mang ý nghĩa an sinh XH, có công trình mang ý nghĩa
an ninh quốc phòng Tóm lại chi XDCB của NSNN mang nhiều sắc thái, ý nghĩakhác nhau và phụ thuộc theo từng mục tiêu của quản lý nhà nước
Công tác quản lý của nhà nước, mang ý nghĩa trên tầm vĩ mô và nó ảnhhưởng đến nhiều mặt của cuộc sống như kinh tế, an sinh, xã hội, an ninh, quốcphòng, đối ngoại,… do đó việc đầu tư XDCB của NSNN phải đầu tư theo mục tiêuquản lý nhà nước, nên các công trình được đầu tư về lĩnh vực nào, sẽ mang ý nghĩa
về lĩnh vực đó
1.1.1.4 Vai trò vốn XDCB của NSNN
Đầu tư XDCB từ NSNN nói chung có vai trò hết sức quan trọng đối với toàn
xã hội, đặc biệt là đối với nền kinh tế đang trên đà chuyển dịch cơ cấu của các nướcđang phát triển:
- Làm tăng tổng cầu trong giai đoạn ngắn hạn của nền kinh tế để kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Đầu tư XDCB từ NSNN làm tăng tổng cầu của nền kinh tế trong ngắn hạn,qua đó làm tăng nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và đời sống để kích thích tăngtrưởng kinh tế Mặt khác, do mục đích VĐT phát triển của NSNN là đầu tư choduy trì, phát triển hệ thống hàng hóa công cộng và phát triển các ngành, lĩnh vựckinh tế mũi nhọn có quy mô lớn Từ đó, khi đầu tư hoàn thành sẽ làm tăng tổngcung trong dài hạn và tạo tiền đề cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng cho phát triểnkinh tế;
- Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động
Trang 17Đầu tư XDCB từ vốn NSNN là tiềm lực của kinh tế nhà nước, với vai trò chủđạo, nó đã định hướng đầu tư của nền kinh tế vào các mục tiêu chiến lược đã địnhcủa Nhà nước, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, sử dụng, bố trí lại hợp lý cóhiệu quả các nguồn lực, tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, giảm tỷ
lệ thất nghiệp trong nền kinh tế;
- Phát triển LLSX và củng cố QHSX.
Đầu tư XDCB từ vốn NSNN tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật cho tăngtrưởng và phát triển nền kinh tế, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, giảiphóng và phân bổ hợp lý các nguồn lực sản xuất Trên cơ sở đó, làm cho lượngsản xuất không ngừng phát triển về cả mặt lượng và chất Đồng thời, lực lượngsản xuất phát triển đã tạo tiền đề vững chắc củng cố cho quan hệ sản xuất;
- Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Với chức năng tạo lập, duy trì, phát triển hệ thống hạ tầng KT-XH và pháttriển kinh tế mũi nhọn, Đầu tư XDCB từ vốn NSNN đã làm phát triển nhanh hệthống hàng hóa công cộng, tạo cơ sở vững chắc cho phát triển LLSX…Từ đó cơ sởvật chất của CNXH sẽ không ngừng được tăng cường, làm nên tiền đề vững chắc cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, áp dụng nhanh các thành tựu tiến bộ khoa học để phát triển đất nước.
Thông qua đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn có lợi thế
so sánh quốc gia, Đầu tư XDCB từ vốn NSNN đã tạo điều kiện cho nền kinh tếtham gia phân công lao động quốc tế và áp dụng nhanh các thành tựu tiến bộ khoahọc kỹ thuật của nhân loại thông qua nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ tiêntiến Quá trình tham gia phân công lao động quốc tế và áp dụng nhanh tiến bộ khoahọc kỹ thuật làm cho nền kinh tế chủ động trong hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tếngày càng sâu rộng;
- Phát triển nền kinh tế một cách bền vững.
Đầu tư XDCB từ vốn NSNN một mặt đầu tư cho phát triển kinh tế, một mặt
Trang 18đầu tư cho sự nghiệp xóa đói nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, giải quyết các vấn
đề xã hội Dưới giác độ đó, ngoài tác động làm tăng trưởng kinh tế, an ninh xã hộiđược duy trì và kiềm chế được phần nào mặt trái của kinh tế thị trường làm cho nềnkinh tế phát triển một cách bền vững
- Không ngừng nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của Nhà nước.
Từ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, vốn đầu tư của NSNN đã đườnghướng, điều tiết đầu tư của toàn xã hội, tác dụng vào tổng cung và tổng cầu của nềnkinh tế cùng với hiệu ứng phản hồi sau tác động đã cung cấp kịp thời thông tin choNhà nước để điều chỉnh những tác động của mình Thông qua điều chỉnh tác động
vĩ mô theo yêu cầu thường xuyên biến đổi của thực tiễn làm cho năng lực quản lýcủa Nhà nước không ngừng được nâng cao
Đầu tư XDCB từ vốn NSNN được quản lý theo một định chế thống nhấtchung của Nhà nước TW Do đó, nghiên cứu về quản lý Đầu tư XDCB từ vốnNSNN trên địa bàn là nghiên cứu cơ chế quản lý ĐT XDCB từ vốn NSNN gắn vớiviệc tổ chức thực hiện của địa phương
1.1.1.5 Phạm vi chi vốn XDCB của NSNN
- Vốn đầu tư XDCB: là khoản chi tài chính nhà nước được đầu tư cho cáccông trình thuộc kết cấu hạ tầng, các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, cáccông trình và dự án phát triển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộng…
- Tất cả các chi đầu tư XDCB đều sử dụng từ kinh phí NSNN
Vì vậy phạm vi chi XDCB của NSNN là toàn bộ các công trình XDCB đượcchi từ NSNN (vốn NSNN, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước, vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước và vốn hỗ trợphát triển chính thức ODA)
1.1.1.6 Nội dung chi vốn XDCB của NSNN
Một trong các chức năng quan trọng của Nhà nước là chức năng định hướngphát triển và điều tiết nền kinh tế Chức năng này trong cơ chế thị trường ở nước tahiện nay được thể hiện bằng vai trò của Nhà nước trong quản lý và điều tiết vĩ mônền kinh tế NSNN với các vai trò của nó được coi là một công cụ quan trọng trong
Trang 19việc thực hiện chức năng nói trên của nhà nước.
Vốn đầu tư XDCB của NSNN là những khoản chi mang tính chất tích lũyphục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng,nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của các doanhnghiệp vào các lĩnh vực cần thiết, phù hợp với mục tiêu của nền kinh tế Hay nóikhác đi, việc chi XDCB của NSNN nhằm mục đích tạo ra một sự khởi động banđầu, kích thích quá trình vận động các nguồn vốn trong xã hội để hướng tới sự tăngtrưởng
Chi đầu tư XDCB của NSNN có tầm quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vậtchất kỹ thuật cho nền kinh tế và xã hội, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lýtheo định hướng của Nhà nước, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển và nângcao năng suất lao động xã hội
1.1.2 Khái niệm về phân bổ vốn đầu tư XDCB, các dự án đầu tư XDCB thuộc ngân sách
* Vốn đầu tư
Vốn ĐTXD là toàn bộ các khoản chi phí được sử dụng cho hoạt động đầu tưxây dựng nhằm đạt được những mục đích nhất định Đối với một dự án thì vốnĐTXD là toàn bộ các chi phí từ khi khởi động dự án đến khi đưa dự án vào khaithác sử dụng, bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bịđầu tư, chuẩn bị thực hiện dự án; chi phí xây lắp, mua sắm thiết bị và các chi phíkhác có liên quan đến khi đưa dự án vào khai thác, sử dụng
* Vốn đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước
- Vốn ĐTXD nhà nước là vốn ĐTXD do chủ thể Nhà nước tiến hành tạo lập,
sử dụng và thống nhất quản lý theo pháp luật nhằm mục tiêu phát triển đất nước(gọi ngắn gọn là vốn nhà nước)
- Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước là một phần của vốn đầu tư pháttriển của nhà nước được hình thành từ sự huy động của Nhà nước dùng để chi chođầu tư XDCB nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân
Trang 20* Phân bổ vốn đầu tư:
- Phân bổ vốn đầu tư là việc phân chia tiền và các tài sản hợp pháp khác đểthực hiện các hoạt động đầu tư
* Khái niệm về đầu tư XDCB, các dự án đầu tư XDCB
Đầu tư là hoạt động bỏ nhân lực, vật lực, tài lực để tiến hành một hoạt độngnào đó nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai Đầu tư có thể phân chiathành hai loại: Đầu tư phi xây dựng và đầu tư xây dựng
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động với chức năng tạo ra tài sản cố địnhcho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóahoặc khôi phục các tài sản cố định và các công việc liên quan khác trên cơ sở tínhtoán hiệu quả và theo một kế hoạch đã định nhằm duy trì và tạo thêm các tiềm lựcmới cho nền kinh tế, xã hội Kết quả hoạt động ĐTXDCB là tạo ra cơ sở vật chất -
kỹ thuật mới, làm thay đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế đất nước
Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn đểtạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sựtăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩmhoặc dịch vụ trong khoảng thời gian nhất định
Hoạt động ĐTXDCB chủ yếu được quản lý theo dự án (một số ít được quản
lý theo chương trình, ví dụ như: Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học, Chươngtrình đường giao thông nông thôn) Dự án đầu tư để xây dựng mới, cải tạo, nâng cấpcác công trình, mua sắm và lắp đặt thiết bị vào công trình gọi là dự án đầu tư xâydựng Dự án ĐTXD có thể được nhìn nhận trên các khía cạnh sau đây:
- Về mặt hình thức, dự án ĐTXD là một tập hợp những đề xuất có liên quanđến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựngnhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm,dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định
- Về mặt nội dung, dự án ĐTXD bao gồm tập hợp các yếu tố và hoạt động cóliên quan với nhau được thực hiện theo một kế hoạch nhằm đạt được các mục tiêu
Trang 21đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông quaviệc sử dụng các nguồn lực xác định Giá trị hay chi phí của các nguồn lực nàychính là vốn ĐTXD dự án Những kết quả cụ thể do việc thực hiện dự án ĐTXDmang lại là các công trình xây dựng, nghĩa là sản phẩm của việc thực hiện dự ánĐTXD có thể gồm một hoặc nhiều loại công trình
- Trên giác độ tài chính, quá trình triển khai dự án ĐTXD có thể hiểu là quátrình chi tiêu nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật và làm tăng cơ sở hạ tầng kinh tế,
xã hội Với cách nhìn nhận này, người ta coi các khoản chi phí thực hiện các dự ánĐTXD là chi cho tích luỹ
Dự án ĐTXD được xem xét, đánh giá theo một chu kỳ từ khâu chuẩn bị đầu
tư, đến thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng, đưa vào khai thác sử dụng Việc triểnkhai các dự án đầu tư xây dựng thực chất là quá trình chi tiêu về sức lao động, vậtliệu, thiết bị (bỏ vốn đầu tư) theo thiết kế, quy chuẩn và tiêu chuẩn nhất định để tạo
ra công trình xây dựng nhằm mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hộitrong dài hạn Như vậy, sản phẩm của việc thực hiện dự án ĐTXD chính là nhữngcông trình xây dựng Hay nói khác đi, công trình xây dựng là sản phẩm của quátrình thực hiện dự án ĐTXD, được tạo thành bởi sức lao động của con người, vậtliệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, được xâydựng theo thiết kế
Việc phân loại dự án ĐTXD có thể theo nhiều tiêu thức khác nhau Để thíchứng với nội dung đối tượng nghiên cứu đề tài, có thể phân theo 3 tiêu thức chủ yếusau đây:
Thứ nhất, theo quy mô và tính chất, dự án ĐTXD sử dụng vốn nhà nước
được phân loại thành: Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định
về chủ tương đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm: A, B, C theonhững đặc trưng khác nhau nhằm phục vụ công tác quản lý Đây cũng là cách phânloại dự án đầu tư theo quy định hiện hành về quản lý dự án đầu tư xây dựng [34]
Thứ hai, theo nguồn vốn đầu tư, dự án ĐTXD được phân thành:
- Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
Trang 22- Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợpnhiều nguồn vốn
Thứ ba, việc quản lý của Nhà nước về dự án ĐTXD:
- Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước kể cả các dự án thànhphần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trươngđầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi côngxây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng;
- Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh,vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanhnghiệp nhà nước, Nhà nước quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư Doanhnghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo cácquy định của pháp luật có liên quan;
- Đối với các dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân, chủ đầu tư tựquyết định hình thức và nội dung quản lý dự án Đối với các dự án sử dụng hỗn hợpnhiều nguồn vốn khác nhau thì các bên góp vốn thoả thuận về phương thức quản lýhoặc quản lý theo quy định đối với nguồn vốn có tỷ lệ phần trăm (%) lớn nhất trongtổng mức đầu tư
Trong cơ chế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, dự ánĐTXD có thể sử dụng một nguồn vốn, cũng có thể sử dụng nhiều nguồn vốn tuỳthuộc vào từng lĩnh vực và sự khuyến khích đầu tư của nhà nước Nghĩa là, một dự
án ĐTXD có thể sử dụng 100% vốn nhà nước hoặc cũng có thể sử dụng một phầnvốn nhà nước hoặc không sử dụng vốn nhà nước
Cách phân loại này có liên quan trực tiếp đến giới hạn nội dung nghiên cứucủa Đề tài Các dự án ĐTXDCB sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước là các dự án sửdụng 100% vốn từ ngân sách nhà nước (thông qua cân đối thu chi ngân sách nhànước hàng năm được Quốc hội thông qua); đồng thời chủ đầu tư các dự án này được
Trang 23Nhà nước trao quyền trực tiếp quản lý, sử dụng vốn (chịu sự quản lý, kiểm soát trựctiếp của các chủ thể Nhà nước) Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước đượcquản lý về tài chính theo nguyên tắc chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả thông qua việcthực hiện hệ thống quản lý: Định mức, đơn giá, thiết kế, dự toán, đấu thầu, phương
án tài chính, hiệu quả đầu tư, v.v cùng với việc thanh tra, kiểm tra quá trình thựchiện hệ thống quản lý đó
* Dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước
Theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 củaChính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước:
“Điều 3 Chi ngân sách nhà nước gồm :
1 Chi đầu tư phát triển về :
a) Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn;
b) Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
c) Chi bổ sung dự trữ nhà nước;
d) Chi đầu tư phát triển thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước;
đ) Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.”
Dự án ĐTXDCB sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước luôn gắn với quy hoạch,
kế hoạch và thường có quy mô vốn lớn, chi tiêu kéo dài qua nhiều năm ngân sách; cóphạm vi ảnh hưởng sâu rộng đến sự chuyển dịch và phát triển kinh tế xã hội
1.1.3 Vốn đầu tư xây dựng từ ngân sách địa phương.
Theo quy định hiện hành vốn đầu tư của ngân sách địa phương bao gồm:+ Vốn đầu tư thuộc cân đối ngân sách;
+ Vốn đầu tư từ nguồn thu tiền sử dụng đất;
+ Vốn đầu tư từ nguồn thu từ xổ số kiến thiết;
+ Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu;
Trang 24+ Vốn bổ sung từ ngân sách trung ương thuộc nguồn vốn trái phiếu Chính phủ;+ Vốn đầu tư từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia.
+ Vốn đầu tư huy động theo Khoản 3, Điều 8 Luật Ngân sách Nhà nước.+ Các nguồn vốn khác
1.1.4 Dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn ngân sách địa phương.
- Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không cókhả năng thu hồi vốn do địa phương quản lý;
- Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tàichính của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
- Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình quốc gia do các cơ quanđịa phương thực hiện;
- Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật
1.2 Mục đích, vai trò của hoạt động thanh tra tài chính với phân
bổ vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách địa phương
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Thanh tra tài chính
1.2.1.1 Khái niệm về thanh tra tài chính
1.2.1.1.1 Khái niệm về thanh tra
Thanh tra luôn gắn liền với quản lý nhà nước với tư cách là một chức năng,một khâu hay một công cụ để quản lý nhà nước Thanh tra luôn mang tính quyềnlực nhà nước, thực hiện sự tác động của chủ thể quản lý lên các đối tượng bị quản
lý Thanh tra và kiểm tra là hai phạm trù tương đối gần nhau; hoạt động thanh traluôn gắn liền với hoạt động kiểm tra
Ở nước ta, theo Từ điển tiếng Việt:
+ Thanh tra là “kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan,
Trang 25cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền được quy định nhằm đưa
ra đánh giá, kết luận đúng, sai, kèm theo các chứng lý, kiến nghị xử lý, khắc phục
và ngăn ngừa các sai phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách, tăng cườngpháp chế, bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà nước, của cơ quan, tổ chức và cá nhân
Tuỳ thuộc vào hệ thống tổ chức quản lý nhà nước và nhiệm vụ quản lý nhànước trong từng lĩnh vực mà nhiệm vụ thanh tra được phân theo những lĩnh vựckhác nhau Một trong những nhiệm vụ thanh tra đặc biệt quan trọng là thanh tra tàichính Thanh tra tài chính là hoạt động thanh tra gắn liền với công tác quản lý nhànước về tài chính; là cụ thể hoá một chức năng quan trọng của tài chính nhà nước -
“chức năng điều chỉnh và kiểm soát” [13]
1.2.1.1.2 Khái niệm về thanh tra tài chính:
Từ những phân tích trên, khái niệm về thanh tra tài chính như sau: Thanh tratài chính là hoạt động kiểm soát, xem xét, đánh giá của cơ quan quản lý nhà nướcđối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ về quản lý tài chính, sử dụngvốn và tài sản nhà nước của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩmquyền được quy định, nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý các sai phạm về tài chính;phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; bảo vệ lợi ích của nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác
Để làm rõ thêm khái niệm thanh tra tài chính, chúng ta cần phân biệt hoạt độngthanh tra tài chính với hoạt động kiểm tra tài chính về những nội dung sau đây:
- Giống nhau cơ bản:
+ Về mục đích hoạt động: Thanh tra tài chính và kiểm tra tài chính đều nhằmphát hiện, phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, chính sách chế độ vềtài chính góp phần quản lý tốt tài chính, ngân sách nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và góp phần hoàn thiện cơchế, chính sách quản lý kinh tế, tài chính
+ Về phương pháp hoạt động: Thanh tra tài chính và kiểm tra tài chính đềucăn cứ hồ sơ, tài liệu, báo cáo của các đơn vị và tình hình hoạt động thực tế để so
Trang 26sánh, đối chiếu, phân tích, đánh giá, nhận xét chính xác, khách quan; đề xuất cáckiến nghị thích hợp.
- Khác nhau cơ bản:
+ Về nguồn gốc xuất hiện và tồn tại: Do kiểm tra xuất hiện trước thanh tranên có thể nói, kiểm tra tài chính xuất hiện trước thanh tra tài chính Kiểm tra xuấthiện và tồn tại trước khi có sự ra đời của nhà nước, từ khi con người biết lao độngmột cách có ý thức đã xuất hiện yêu cầu tất yếu là phải kiểm tra; còn thanh tra (như
đã trình bày) xuất hiện và tồn tại gắn liền với nhà nước, khi nhà nước tiêu vong thìthanh tra sẽ mất đi nhưng kiểm tra sẽ vẫn còn tồn tại với chức năng quản lý đơnthuần chăm lo đến lợi ích của xã hội
+Về chủ thể: Giữa kiểm tra tài chính và thanh tra tài chính có một mảng giaothoa về chủ thể, đó là Nhà nước Nhà nước tiến hành cả hoạt động thanh tra và kiểmtra Tuy nhiên, chủ thể tiến hành kiểm tra tài chính rộng hơn thanh tra tài chính rấtnhiều Chủ thể tiến hành kiểm tra tài chính cũng có thể là Nhà nước cũng có thể là mộtchủ thể phi Nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm tra của tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ (Đảng, Công đoàn, Mặt trận, Đoàn thanhniên, ) hay hoạt động kiểm tra nội bộ trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, v.v Chủ thể tiến hành thanh tra tài chính là các cơ quan thanh tra của Nhà nước, được giaonhiệm vụ thanh tra tài chính, hoạt động theo quy định của pháp luật về thanh tra
+ Về đối tượng (khách thể): Đối tượng của thanh tra tài chính là các cơ quan,đơn vị quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và chịu sự quản lý củanhà nước; còn đối tượng của kiểm tra tài chính rộng hơn, bao gồm tất cả các đốitượng thuộc quyền quản lý của chủ thể kiểm tra tài chính
+ Về thời gian tiến hành: Thông thường thời gian tiến hành một cuộc thanhtra tài chính dài hơn thời gian tiến hành một cuộc kiểm tra tài chính, điều này xuấtphát từ mục đích và phương pháp tiến hành của chủ thể
+ Về tính chất pháp lý: Thanh tra để phát hiện, xử lý sai phạm nên tính chấtpháp lý cao hơn, kết luận yêu cầu phải chặt chẽ hơn; còn kiểm tra chủ yếu để đánhgiá và nhận xét, điều chỉnh các quyết định quản lý nên tính chất pháp lý thấp hơn
Trang 27Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì kiểm tra tài chính bao hàm thanh tra tài chính,hay nói một cách khác, thanh tra tài chính là một loại hình đặc biệt của kiểm tra tàichính mà ở đó nó luôn luôn do một loại chủ thể là cơ quan nhà nước tiến hành vàluôn luôn mang tính quyền lực nhà nước Ngược lại, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì thanhtra tài chính cũng bao hàm kiểm tra tài chính; các hoạt động, thao tác nghiệp vụ cụ thểtrong hoạt động thanh tra tài chính thường chính là hoạt động kiểm tra tài chính
Theo cách hiểu thông thường hiện nay, hoạt động thanh tra tài chính của cơquan nhà nước có thẩm quyền bao hàm cả hoạt động kiểm tra tài chính; nội dungkiểm tra là một phần của nội dung thanh tra tài chính Trong mỗi cuộc thanh tra tàichính, cả hai hoạt động này gần gũi, giao thoa và bổ sung lẫn nhau nhằm mục đíchđưa ra những phân tích, đánh giá, kết luận và kiến nghị xử lý, khắc phục, góp phầnngăn ngừa các sai phạm về tài chính gây thất thoát, lãng phí vốn nhà nước, đồngthời góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi íchkinh tế hợp pháp của các chủ thể
1.2.1.2 Đặc điểm của thanh tra tài chính
Ngoài những đặc điểm chung của thanh tra, thanh tra tài chính còn mangnhững đặc điểm cơ bản sau đây:
- Hoạt động thanh tra tài chính là loại hình hoạt động thanh tra tổng hợp, đadạng, có phạm vi đối tượng rộng Xuất phát từ đặc trưng của tài chính là phản ánhtổng hợp các quan hệ kinh tế trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng cácnguồn lực tài chính nhằm đáp ứng các yêu cầu tích luỹ, đầu tư, tiêu dùng của cácchủ thể kinh tế - xã hội Tài chính được ví như “huyết mạch” của nền kinh tế, liênquan đến đại đa số các chủ thể trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng cácnguồn lực tài chính rất đa dạng, phong phú, thuộc mọi ngành, mọi cấp, mọi đơn vị,
tổ chức và cá nhân
- Người thực hiện nhiệm vụ thanh tra tài chính không chỉ cần có chuyên môn
về tài chính, có nghiệp vụ về thanh tra mà còn cần phải có hiểu biết về lĩnh vực sửdụng tài chính, có khả năng chuyên sâu vào lĩnh vực thanh tra hướng đến Cụ thể,
Trang 28khi thanh tra tài chính lĩnh vực đầu tư xây dựng thì người thanh tra ngoài trình độchuyên môn, nghiệp vụ thì cần phải có hiểu biết về đầu tư xây dựng, như: Nắmđược các quy định về trình tự, thủ tục đầu tư; về định mức, đơn giá, dự toán; đấuthầu; đọc được các bản vẽ thiết kế và bóc tách được khối lượng từ bản vẽ; v.v
- Thanh tra tài chính là hoạt động thanh tra gắn liền với đồng tiền, chi phối
trực tiếp đến lợi ích kinh tế của các đối tượng được thanh tra cũng như lợi ích kinh
tế nhà nước Hoạt động thanh tra tài chính luôn phải đấu tranh với những tồn tại,những hành vi sai trái, tiêu cực, tham nhũng, thất thoát, lãng phí tiền của nhà nước.Với việc kiểm tra, xem xét tại chỗ hồ sơ, chứng từ liên quan để làm rõ đúng, sai vềtài chính đối với các hoạt động của tổ chức, cá nhân, hoạt động thanh tra tài chínhtrong mọi điều kiện, hoàn cảnh luôn là sự đấu tranh của hai mặt đối lập đúng - sai,tích cực - tiêu cực của một vấn đề quản lý kinh tế tài chính; sự đấu tranh đó vừanhằm phát hiện xử lý vi phạm, vừa có ý nghĩa phòng ngừa sai trái, tiêu cực, gópphần bảo vệ lợi ích kinh tế hợp pháp của các chủ thể
- Các tổ chức, cá nhân được thanh tra tài chính vừa là đối tượng thanh tra tàichính, vừa là chủ thể quản lý tài chính nhà nước Phạm vi quản lý nhà nước về tàichính mở rộng đến đâu thì phạm vi đối tượng thanh tra tài chính mở rộng đến đó
Do chức năng quản lý nhà nước của Bộ được phân theo ngành hay lĩnh vực xuyênsuốt trong cả nước, nên Thanh tra bộ cũng phải mở rộng phạm vi hoạt động thanhtra về lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ chứ không phải chỉthanh tra các đơn vị nội bộ ngành Các đối tượng được thanh tra tài chính trong cảnước là những tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tài chính nhà nước,được pháp luật quy định quyền hạn và trách nhiệm Trong đó, họ vừa có tráchnhiệm thực hiện các yêu cầu hợp pháp của đoàn thanh tra, vừa có trách nhiệm pháp
lý đối với tài liệu, số liệu cung cấp cho đoàn thanh tra; vừa có quyền được biết mụcđích, yêu cầu, nội dung, kế hoạch thanh tra, được tham gia một cách dân chủ vềnhững kết luận, kiến nghị của đoàn thanh tra, được quyền giải trình và phản ánh ýkiến bảo lưu lên cấp có thẩm quyền, đồng thời có trách nhiệm thực hiện các kiếnnghị, kết luận của cơ quan thanh tra Bên cạnh đó, họ phải có trách nhiệm quản lý,
Trang 29sử dụng vốn liếng, tài sản nhà nước một cách tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục đích,đúng đối tượng, đúng chế độ nhà nước quy định; họ phải có cơ chế quản lý nội bộ,
có trách nhiệm thường xuyên tự kiểm tra, giám sát các hoạt động thu, chi công quỹnhà nước Do vậy, có thể nói các tổ chức, cá nhân được thanh tra vừa là đối tượngđược thanh tra cũng là các chủ thể quản lý tài chính nhà nước
Xem xét những đặc thù của thanh tra tài chính cho thấy, mỗi nội dung thanhtra tài chính có liên quan đến nhiều yếu tố, đòi hỏi khi thanh tra phải có sự nghiêncứu, phân tích toàn diện, tìm ra nguyên nhân cụ thể và kết luận thoả đáng Mặtkhác, trong quá trình thanh tra đòi hỏi phải có sự cộng tác, phối hợp chặt chẽ giữađoàn thanh tra với đối tượng được thanh tra trên cơ sở tuân thủ pháp luật, bìnhđẳng, dân chủ và đặc biệt là cùng chung một mục tiêu góp phần quản lý, sử dụng tàichính nhà nước đúng mục đích, có hiệu quả
1.2.2 Mục đích, vai trò và nguyên tắc hoạt động thanh tra tài chính
1.2.2.1 Mục đích của hoạt động thanh tra tài chính
Trên tinh thần tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt độngthanh tra tài chính trong cơ chế thị trường, mục đích của hoạt động thanh tra tàichính đã được nhìn nhận theo hướng sâu rộng hơn, thực chất hơn Nếu như trongthời kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mục đích của hoạt động thanh tra tàichính chủ yếu nhằm phát hiện, xử lý các hành vi sai phạm làm thất thoát tài sản xãhội chủ nghĩa, thì trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mục đích hoạt động thanhtra tài chính chủ yếu nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những sai phạm về tài chính.Luật Thanh tra khẳng định:
Hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách,pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục;phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cánhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phầnnâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân [14]
Trang 30Trên cơ sở đó, mục đích hoạt động thanh tra tài chính tập trung vào một sốmặt sau cụ thể sau đây:
Thứ nhất, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật
để kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp khắc phục là mụctiêu chủ yếu của hoạt động thanh tra Hơn ai hết, chính những người làm công tácthanh tra có điều kiện và khả năng xem xét thực tiễn áp dụng các cơ chế, chínhsách, pháp luật; từ đó chỉ ra được những bất hợp lý, những khiếm khuyết, sơ hở của
cơ chế chính sách để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp khắcphục Mục đích này cần phải được chú trọng trong điều kiện hệ thống cơ chế, chínhsách đang chuyển đổi, chưa hoàn thiện
Thứ hai, phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật cũng là
mục tiêu quan trọng, trực tiếp của hoạt động thanh tra Một nhà nước pháp quyềnđòi hỏi phải tăng cường tính pháp chế, kỷ cương; mọi hành vi vi phạm pháp luậtđều cần phải phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh Thực hiện mục đích này,hoạt động thanh tra cần phải tiến hành thường xuyên, ngăn chặn và phát hiện kịpthời những sai phạm đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm để đảm bảo tínhrăn đe đối với những người có ý định vi phạm hoặc tái phạm pháp luật
Thứ ba, giúp cơ quan, tổ chức, các nhân thực hiện đúng quy định của pháp
luật cũng là mục tiêu quan trọng của hoạt động thanh tra Với mục đích này, hoạtđộng thanh tra vừa uốn năm, nhằm chấn chỉnh, vừa tháo gỡ những vướng mắc giúp
cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng các quy định của pháp luật
Thứ tư, phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổchức, cá nhân Mục đích phát huy nhân tố tích cực đòi hỏi hoạt động thanh trakhông chỉ tìm ra tiêu cực, sai phạm mà còn chỉ ra nhưng việc làm hay, nhưng nhân
tố tích cực mới để nhân rộng thêm; đồng thời, hoạt động thanh tra không chỉ đối vớinhững đơn vị, những dự án quản lý kém hiệu quả, mà còn đối với những đơn vị,những dự án quản lý tốt
Trang 311.2.2.2 Vai trò của hoạt động thanh tra tài chính
Nếu như trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thanh tra tài chính đượccoi là chức năng giám đốc của tài chính nhà nước, bảo đảm kỷ cương pháp chếtrong việc thực hiện nhiệm vụ và chỉ tiêu kinh tế - tài chính của Nhà nước thì trongnền kinh tế thị trường, thanh tra tài chính không chỉ thực hiện chức năng giám đốc(kiểm soát) mà còn trở thành công cụ để hỗ trợ (điều chỉnh) thực hiện các chínhsách kinh tế, tài chính vĩ mô của Nhà nước, góp phần đảm bảo chất lượng tăngtrưởng, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực tài chính Có thể nói, thanh tra
tài chính là cụ thể hoá chức năng điều chỉnh và kiểm soát của tài chính nhà nước ở
nước ta, thanh tra được coi là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhànước; là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhànước, thực hiện quyền dân chủ, thúc đẩy sự công bằng xã hội
Quản lý kinh tế - tài chính nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước tađang diễn ra theo xu hướng: Nhà nước từng bước trao quyền tự chủ về tài chính chocác đơn vị, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền Chính vì thế, vai trò của thanh tra,kiểm tra tài chính ngày càng quan trọng, công tác thanh tra tài chính ngày càng phảităng cường để phù hợp xu hướng phát triển đó
Vai trò quan trọng của hoạt động thanh tra tài chính biểu hiện trên những mặtchủ yếu sau đây:
Thứ nhất, thanh tra tài chính phát hiện những tồn tại, sai phạm và nguyên
nhân nhằm đưa ra những đánh giá, kiến nghị xử lý khắc phục, ngăn chặn, phòng ngừatiêu cực, sai phạm, đảm bảo kỷ cương trong quản lý tài chính và chống thất thoát, lãngphí, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
Thứ hai, thanh tra tài chính có vai trò phát hiện những bất cập, sơ hở, yếu
kém trong quản lý nhà nước về tài chính, ngân sách; phát hiện những nội dung trongchính sách, chế độ chưa phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan, từ đó có những
đề xuất, kiến nghị giúp cho công tác quản lý cũng như cơ chế, chính sách tài chínhngày một chặt chẽ và hoàn thiện hơn; bên cạnh đó, qua những phát hiện của mình,thanh tra sẽ tạo điều kiện cho những nhân tố mới, cơ chế mới mang tính tích cựcnảy sinh và phát huy
Trang 32Thứ ba, qua thanh tra tài chính sẽ thúc đẩy sự hoạt động hiệu quả của việc sử
dụng tiền và tài sản của nhà nước tại các đơn vị, tổ chức, cá nhân được giao quản lý
và sử dụng Đúng như lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Cán bộ
thanh tra toàn quốc năm 1960: “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới” [3], các cán bộ thanh tra không chỉ phát hiện những vấn đề thực tế để báo cáo
với cấp trên mà còn cùng với các đối tượng xem xét, đối chiếu với quy định phápluật để chỉ ra những mặt hạn chế, sai phạm trong quản lý tiền và tài sản nhà nướcgiúp cho các các đơn vị, tổ chức, cá nhân nhận thức được rằng phải luôn luôn tăngcường quản lý nội bộ, tự kiểm tra, xem xét đối với hoạt động của mình trước khi có
sự thanh tra của cơ quan nhà nước
Thứ tư, thanh tra tài chính còn có vai trò tiếp nhận và xử lý các đơn thư phản
ảnh, tố cáo, khiếu nại liên quan đến việc quản lý, sử dụng tiền và tài sản của nhà nước
Với những vai trò quan trọng của hoạt động thanh tra tài chính như trên, cóthể khẳng định tính tất yếu khách quan của việc tăng cường thanh tra tài chính củanhà nước trong giai đoạn hiện nay
1.2.2.3 Nguyên tắc của hoạt động thanh tra tài chính
Nguyên tắc của hoạt động thanh tra nói chung và thanh tra tài chính nóiriêng là phải tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, côngkhai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra Mọi chủ thể hoạt động trong một quốc giađều phải tuân thủ pháp luật của quốc gia đó Cơ quan thanh tra vừa là một chủ thểvừa là một bộ phận trong bộ máy quản lý Nhà nước nên hoạt động thanh tra càngphải dựa trên cơ sở pháp luật, tuân thủ các quy định của pháp luật, không đượcphép tuỳ tiện Ở nước ta, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nên hoạt động củacác cơ quan Nhà nước, trong đó có hoạt động thanh tra là phải phục vụ nhân dân,giúp cho nhân dân được thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp; hoạt động thanhtra phải không những không làm cản trở hoạt động bình thường của các đơn vị màcòn tạo điều kiện cho các đơn vị thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, giúp cho xã hộiphát triển lành mạnh
Trang 33Nguyên tắc đó đòi hỏi cán bộ thanh tra trước hết phải thực hiện nghiêm cácquy định của pháp luật, phải gương mẫu, làm việc phải có kỷ cương, không đượclạm dụng công vụ, Song lại không được cứng nhắc, không vận dụng pháp luật mộtcách máy móc mà phải linh hoạt, mềm dẻo, biết lắng nghe và thông cảm với đối
tượng thanh tra, sao cho “vừa là tai mắt của trên, vừa là người bạn của dưới”[3].
1.2.3 Phạm vi và đối tượng thanh tra tài chính phân bổ kế hoạch vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước
Do vốn đầu tư là một bộ phận rất quan trọng của tài chính Nhà nước vàĐTXDCB từ ngân sách nhà nước có những đặc trưng ảnh hưởng dễ tạo ra tiêu cực,thất thoát, lãng phí, nên thanh tra tài chính lĩnh vực ĐTXD giữ vị trí trọng tâm tronghoạt động thanh tra tài chính nhà nước Thanh tra tài chính không chỉ là một khâuquan trọng trong chu trình quản lý vốn ĐTXD mà còn một chức năng thiết yếu để kiểmsoát và điều chỉnh quá trình huy động, phân bổ và sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước
Phạm vi, đối tượng quản lý, sử dụng vốn ĐTXD của Nhà nước đến đâu thìphạm vi, đối tượng điều chỉnh và kiểm soát của thanh tra tài chính đến đó Nếu xéttheo quá trình hình thành và luồng di chuyển của vốn đầu tư thì phạm vi điều chỉnh
và kiểm soát của thanh tra tài chính trong công tác quản lý vốn ĐTXD của Nhànước gồm: Công tác huy động vốn cho ĐTXD; công tác phân bổ vốn ĐTXD vàcông tác quản lý sử dụng vốn ĐTXD
Với phạm vi đó, đối tượng điều chỉnh và kiểm soát của thanh tra tài chínhtrong quản lý vốn đầu tư nhà nước cũng bao gồm các cơ quan, đơn vị quản lý vốnĐTXD từ trung ương đến địa phương và các tổ chức tham gia thực hiện dự ánĐTXDCB từ ngân sách nhà nước
Công tác quản lý ĐTXD nói chung của một cơ quan, đơn vị nhà nước (bộ,ngành; địa phương; DNNN) suy cho cùng là quản lý các dự án ĐTXD Do vậy cóthể nói, công tác quản lý vốn ĐTXD đối với các dự án là cốt lõi, là nội dung cụ thểnhất, quan trọng nhất của công tác quản lý vốn ĐTXD nói chung Muốn đánh giáđược công tác quản lý vốn đầu tư của mỗi cơ quan, đơn vị thuộc khu vực Nhà nướcthì nhất thiết phải xem xét các dự án cụ thể do cơ quan, đơn vị đó được giao quản lý
Trang 34thực hiện Vì vậy, thanh tra tài chính đối với các dự án ĐTXDCB từ ngân sách Nhànước là một nhiệm vụ thanh tra quan trọng nhất trong hoạt động thanh tra lĩnh vựcĐTXD của Nhà nước
Đối tượng thanh tra tài chính đối với dự án ĐTXDCB từ ngân sách nhà nước
là các cơ quan, tổ chức liên quan trực tiếp đến việc quản lý, sử dụng các khoản chiphí ĐTXD, bao gồm:
- Chủ đầu tư (các cơ quan, đơn vị nhà nước, các ban quản lý do nhà nướcthành lập, các DNNN có dự án đầu tư hoặc được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý
và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư xây dựng dự án)
- Cơ quan chủ quản đầu tư và người có thẩm quyền quyết định đầu tư;
- Cơ quan thẩm định (bao gồm: Thẩm định dự án, thẩm định thiết kế kỹthuật, tổng dự toán, dự toán; thẩm định quyết toán)
- Các cơ quan bố trí vốn, thanh toán vốn; tổ chức cho vay vốn
- Các nhà thầu (bao gồm: Xây dựng, cung cấp thiết bị, khảo sát, tư vấn thiết
kế, tư vấn đấu thầu, tư vấn giám sát )
- Một số cơ quan khác có liên quan đến định mức, đơn giá, kiểm toán độclập,
Trong số các đối tượng trên thì chủ đầu tư và các nhà thầu là đối tượng thanhtra chủ yếu nhất, làm việc với đoàn thanh tra nhiều nhất Việc mở rộng đối tượngthanh tra phụ thuộc vào mục tiêu cuộc thanh tra; điều kiện về thời gian và lựclượng; tính chất và mức độ sai phạm
1.2.4 Nội dung hoạt động thanh tra tài chính với phân bổ kế hoạch vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước.
- Thanh tra công tác xây dựng tiêu chí, định mức phân bổ kế hoạch vốn đầu
tư từ ngân sách nhà nước
Trên cơ sở tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư theo Quyết định của Thủtướng Chính phủ (theo từng thời kỳ ổn định ngân sách thường là 5 năm), UBNDtỉnh tính toán, xác định theo các tiêu chí để xác định tổng mức vốn đầu tư trên địa
Trang 35bàn tỉnh và chi tiết theo từng lĩnh vực để trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hànhlàm căn cứ phân bổ kế hoạch vốn đầu tư cho các lĩnh vực, cho từng dự án theo danhmục dự án thuộc kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm đã được phê duyệt.
- Thanh tra công tác xây dựng kế hoạch vốn đầu tư ngắn, trung và dài hạn
- Việc huy động bổ sung các nguồn vốn đầu tư trong năm
- Thanh tra công tác phân bổ kế hoạch vốn đầu tư XDCB cho các dự án,công trình:
+ Bố trí kế hoạch vốn đầu tư, công tác đấu thầu, chỉ định thầu, tình hình công
nợ khối lượng XDCB hoàn thành
+ Thanh tra cơ chế quản lý đầu tư XDCB, đối chiếu các nguồn vốn đầu tư(kể cả chương trình mục tiêu) với cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước
+ Việc tham mưu cho cơ quan có thẩm quyền sử dụng các nguồn vốn huyđộng để đầu tư
- Việc quyết định điều chuyển kế hoạch vốn giữa các dự án và các nguồn vốnnhằm bảo đảm thực hiện dự toán
- Việc chấp hành chế độ về thanh, quyết toán vốn đầu tư và đánh giá tínhhiệu quả trong sử dụng vốn đầu tư
1.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra tài chính với công tác phân bổ vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách địa phương
Việt Nam đang trên đường tiến lên Chủ nghĩa xã hội, thực hiện phát triểnnền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, phân bổ kế hoạch vốn đầu tư hàng năm sẽ không ngừngtăng để đảm bảo đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Đảng, Nhànước đã đề ra
Trong bối cảnh đó, chính sách về quản lý đầu tư XDCB cũng không ngừngđược cải thiện theo hướng tăng tính chủ động cho các đơn vị thừa hành công vụ vàNhà nước chỉ kiểm tra, kiểm soát thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra Từ đócần phải đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra tài chính để đáp ứng yêu cầu đặt ra
Trang 36Cùng với sự phát triển ngày càng đa dạng, phức tạp của các loại hình doanhnghiệp thì tính chất, mức độ phức tạp của các vi phạm pháp luật thuế ngày cànggia tăng, trình độ của ĐTNT ngày càng tinh vi trong các gian lận về thuế Bởi vậycần phải đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra không chỉ về tổ chức, bộ máy, cáchthức làm việc mà còn cả về năng lực chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ thanh tra,kiểm tra.
Xuất phát từ đòi hỏi của cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính và cảicách hành chính trong lĩnh vực thuế Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra là cầnthiết: Thanh tra, kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm, phải công khai và minhbạch nhưng thủ tục phải đơn giản, đảm bảo lợi ích của ĐTNT trong quá trình thựchiện thanh tra, kiểm tra thuế Mặt khác cần thiết đổi mới quy trinh thanh tra, kiểmtra; đổi mới nội dung thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện đối tượng nộp thuế tựkhai, tự tính, tự nộp thuế Chuyển từ việc thanh tra, kiểm tra các yếu tố cần thiết đểtính thuế do các DN nộp cho cơ quan thuế, sang việc kiểm tra, thanh tra tất cả cácyếu tố có liên quan tới tính thuế và việc tự tính thuế của các DN
Hệ thống chính sách thuế trong thời gian vừa qua có nhiều thay đổi, bổ sungđồng bộ các sắc thuế hiện hành Ban hành mới các sắc thuế, có sự chú trọng tới đốitượng, mức độ và thời điểm áp dụng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đấtnước, đảm bảo ổn định sản xuất, thị trường đời sống nhân dân, tăng nguồn thu trongnước, mở rộng diện thuế trực thu và tăng tỷ trọng thuế trực thu trong tổng số thuế
Bởi vậy công tác quản lý thuế cần được hiện đại hoá toàn diện cả về phươngpháp quản lý, thủ tục hành chính, bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ, áp dụng rộng rãicông nghệ thông tin để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, kiểm soát chođược tất cả các đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, hạn chế thấp nhất mức thấtthu thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời các khoản thu vào ngân sách Nhà nước
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những nội dung cơ bản củacông tác quản lý thuế Do vậy nó được coi là thực hiện có hiệu quả trong nhữngđiều kiện nhất định Khi môi trường của quản lý thay đổi, để phù hợp với công tácquản lý thuế thì công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải thay đổi là một tất yếu khách
Trang 37quan Tạo điều kiện quá trình sắp xếp, đổi mới phát triển các loại hình doanh nghiệptrong nền kinh tế thị trường.
Tóm lại: Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra là tất yếu Đổi mới để tồn tại
và phát triển, để thích nghi với hoạt động kinh tế xã hội và phù hợp với công cuộccải cách thuế, để khắc phục những sai sót trong toàn bộ công tác quản lý thuế với 3đối tượng quan trọng: Chính sách thuế, người thu thuế và người nộp thuế
1.4 Một số bài học kinh nghiệm quốc tế về thanh tra, kiểm tra tài chính lĩnh vực quản lý vốn đầu tư xây dựng thuộc ngân sách địa phương
1.4.1 Kinh nghiệm thanh tra tại tỉnh Lào Cai:
Qua thanh tra thấy: đến 31/01/2013 trên đại bàn toàn tỉnh có 259 dự án đã cóquyết định phê duyệt quyết toán, với tổng giá trị quyết toán được phê duyệt là579.242 triệu đồng, trong đó:
Có 61 dự án đã thanh toán đủ theo giá trị quyết toán được duyệt nhưng chưalàm thủ tục tất toán tài khoản số tiền 190.518 triệu đồng
Có 198 dự án đã có quyết định phê duyệt quyết toán nhưng chưa bố trí đủvốn để thanh toán dẫn đến chưa đủ điều kiện tất toán tài khoản số tiền quyết toán là388.788 triệu đồng (số vốn bố trí thiếu là 25.932 triệu đồng)
Bố trí vốn đầu tư cho các dự án còn dàn trải, bố trí vốn cho dự án khi không
đủ điều kiện theo quy định (chưa có quyết định đầu tư, chưa có thiết kế kỹ thuật –tổng dự toán, ), bố trí vốn vượt quá thời gian quy định đối với dự án nhóm B quá 5năm và nhóm C quán 3 năm; việc giao kế hoạch vốn cho các chủ dự án còn chậm,dẫn đến bị động trong triển khai thực hiện dự án; nợ đọng vốn đầu tư lớn Nhữngdạng sai phạm này thường xẩy ra đối với dự án sử dụng vốn NSNN và có tính phổbiến ở các địa phương Đầu tư dàn trải thể hiện ở chỗ số vốn bố trí cho những dự
án, nhất là dự án nhóm B, C rất nhỏ so với nhu cầu, trong khi đó số lượng dự ánmới luôn tăng thêm Đây vừa là tồn tại, vừa là nguyên nhân chính gây ra tình trạng
nợ đọng vốn đầu tư Tình trạng dàn trải còn thể hiện ở việc bố trí vốn cho những dự
án chưa đủ thủ tục đầu tư; bố trí vốn kéo dài quá thời hạn quy định
Trang 381.4.2 Kinh nghiệm thanh tra tại tỉnh Phú Thọ:
Tỉnh Phú Thọ: Đến thời điểm 31/5/2014 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ còn1.070 dự án (trong đó: KBNN tỉnh Phú Thọ có 123 dự án; KBNN các huyện có
947 dự án) đã có quyết định phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành, nhưng chưatất toán tài khoản dự án đầu tư theo quy định, do chưa bố trí đủ vốn thanh toánhoặc trong quá trình thanh toán đã thanh toán vượt giá trị quyết toán nhưng chưathu hồi được Cụ thể:
Có 19 dự án thanh toán vượt giá trị quyết toán được duyệt với tổng giá trịthanh toán vượt là 891.166.002 đồng đã thu hồi 165.819.440 đồng Số tiền còn phảithu hồi do thanh toán vượt giá trị quyết toán là 725.346.562 đồng
Theo quy định tại điểm 3, Điều 20, Thông tư số 19/2011/TT-BTC ngày14/2/2011 của Bộ Tài chính và theo quy định tại Điểm 2, Điều 20, Thông tư số19/2011/TT-BTC ngày 14/2/2011 của Bộ Tài chính:
Có 1.051 dự án đã được phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành với giá trịquyết toán được phê duyệt 1.947.517 triệu đồng, giá trị thanh toán lũy kế 1.650.329triệu đồng, giá trị còn phải thanh toán 297.146 triệu đồng Mới bố trí kế hoạch vốn
để thanh toán 21.586 triệu đồng Như vậy còn nợ kế hoạch vốn để thanh toán275.560 triệu đồng
Việc dự án được phê duyết quyết toán dự án hoàn thành nhưng chưa thựchiện bố trí kế hoạch vốn để thanh toán dứt điểm là thực hiện không đúng quy địnhtại Điểm 6, Điều 20 Thông tư số 19/2011/TT-BTC ngày 14/12/2011 của Bộ Tàichính quy định về quyết toán dự án hoàn thành các dự án thuộc nguồn vốn nhà
nước: “6 Trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương: 6.2 Bố trí đủ vốn để thanh toán cho dự án đã phê duyệt quyết toán;”
1.4.3 Kinh nghiệm thanh tra tại các địa phương khác theo Kết luận thanh tra của Thanh tra Bộ Tài chính:
Theo số liệu tổng kết công tác quản lý tài chính ngân sách các tỉnh do Thanhtra Bộ Tài chính tiến hành thanh tra thấy việc phân bổ kế hoạch vốn ĐTXDCB thấyđiển hình một số sai phạm sau:
Trang 39+ Chủ trương đầu tư không phù hợp, thẩm định dự án không chặt chẽ, quyếtđịnh đầu tư dự án vượt quá khả năng nguồn vốn có thể huy động dẫn tới các hậuquả như: Dự án chậm phát huy hiệu quả hoặc không có hiệu quả; thực hiện dự ánkéo dài, gây nợ đọng và gây lãng phí vốn đầu tư
Ví dụ: Kết quả thanh tra năm 2010 - 2012 do Thanh tra Bộ Tài chính pháthiện tại 10 tỉnh và 2 Bộ, thấy: Bố trí vốn cho 124 dự án chưa có quyết định đầu tư,chưa có quyết định phê duyệt thiết kế, dự toán; bố trí vốn cho trên 178 dự ánnhóm B kéo dài quá 5 năm và 353 dự án nhóm C kéo dài quá 3 năm; 179 dự ánđang thi công dở dang nhưng không được bố trí vốn tiếp để thực hiện, Bên cạnh
đó, việc giao kế hoạch vốn cho các dự án còn chậm, có địa phương đến tháng 4,tháng năm mới có quyết định giao kế hoạch vốn đầu tư XDCB, việc điều chỉnh, bổsung kế hoạch vốn đầu tư XDCB tại các địa phương thường điều chỉnh vào cuốinăm dẫn đến mất chủ động trong việc thực hiện, việc điều chỉnh kế hoạch vốngiữa các dự án chưa được kịp thời làm cho tỷ lệ giải ngân tại các dự án đạt thấp sovới kế hoạch vốn hằng năm
+ Các địa phương không bố trí kế hoạch vốn để thanh toán đối với các dự án
đã có quyết định phê duyệt quyết toán hoàn thành diễn ra ở hầu hết các tỉnh đượcthanh tra Có thể thống kê như sau:
+ Việc huy động vốn đầu tư của các địa phương còn tình trạng vượt quá quyđịnh tại Khoản 3, Điều 8 Luật Ngân sách 2002
+ Nhiều địa phương ứng trước kế hoạch vốn của năm sau lớn là thực hiệnkhông đúng quy định của Luật Ngân sách 2002
+ Việc tạm ứng kế hoạch vốn thanh toán của các tỉnh còn tình trạng khôngđược quản lý để thu hồi kịp thời, vượt quá tỷ lệ tạm ứng kế hoạch vốn
Đối với việc sử dụng vốn đầu tư thuộc ngân sách địa phương, kết quả thanhtra các dự án đầu tư XDBC trong những năm qua như sau:
Trang 40Bảng 2.1: Tổng hợp kết qủa thanh tra các dự án đầu tư XDCB
Giảm giá trị nghiệm thu thanh toán
( Nguồn: Kết luận thanh tra 2009 - 8/2014 - Thanh tra Bộ Tài chính)
1.3.4 Bài học kinh nghiệm của Trung Quốc
Tại Trung Quốc, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát được đặc biệt chú trọng