Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây bắc chứ còn đâu”Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên Trong những ngày tháng cả nước rộn rang lên đường theo tiếng gọi của “tâm hồn Tây Bắc”
Trang 1TÀI LIỆU ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN VĂN
‘..’
PHẦN HKI A.MỘT SỐ CÁCH GIỚI THIỆU PHẦN MỞ BÀI
1.TÂY TIẾN:
MB1 Quang Dũng là nhà thơ quân đội và tài hoa về nhiều lĩnh vực, nhưng nổi bật hơn hết là khả năng thơ ca Thơ ông luôn thể hiện cái tôi hào hoa thanh lịch,giàu chất lãng mạn, có khả năng diễn tả và cảm nhận tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên và tình người, đồng thời lại rất mực hồn nhiên, chân thật Bài thơ Tây Tiến tiêu biểu cho hồn thơ ấy của QD Qua tác phẩm,…dẫn đề…
MB2 Quang Dũng là “nhà thơ của xứ Đoài mây trắng” Ông là một nghệ sĩ tài hoa, làm thơ, viết văn, sang tác nhạc, vẽ tranh,…lĩnh vực nào cũng có những thành tựu đáng kể, nhưng Quang Dũng được biết đến nhiều là nhà thơ “Tây Tiến” là tác phẩm xuất sắc nhất cho đời thơ Quan Dũng Qua tác phẩm, ta thấy được nỗ nhớ mênh mông, sâu nặng của nhà thơ về những kỉ niệm với đoàn quân Tây Tiến Đồng thời khắc họa nổi bật hình ảnh đầy gian lao, đầy hi sinh nhưng cũng đầy hung tráng và đẩy lãng mạn của những chàng trai Tây Tiến…dẫn đề…
2.VIỆT BẮC:
MB1.Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, thơ ông mang tính trữ tình chính trị sâu sắc Điều đó được thể hiện rõ nét qua bài thơ Việt Bắc- một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong đời thơ Tố Hữu Đó là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến Đặc sắc (nhất) trong bài thơ này là…dẫn đề…
MB2 Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam “Việt Bắc” là một trong những thành công lớn của ông được viết vào
tháng 10 năm 1954, tức sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được giải phóng, các cơ quan TƯ Đảng và Nhà Nước chuyển từ Việt Bắc (thủ đô của cuộc
Trang 2kháng chiến) về Hà Nội Sự lưu luyến kẻ ở người về là nguồn cảm xúc lớn cho Tố Hữu viết nên bài thơ này Qua bài thơ, ta thấy….dẫn đề….
3.ĐẤT NƯỚC: Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ thuộc thế hệ trưởng thành trong
cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc ta Thơ ông thể hiện một tình yêu nước, yêu chân lí cách mạng tha thiết, bộc lộ niềm tự hào dân tộc cao độ, niềm tin chắc chắn vào tương lai tất thắng của cách mạng Đặc biệt là NKĐ luôn
ý thức nhắc nhở thế hệ hôm nay và những thế hệ mai sau phải biết giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc Điều đó được thể hiện rõ nét qua bài thơ “Đất Nước” trích trường ca “Mặt đường khát vọng” Và tiêu biểu là đoạn thơ….dẫn đề….
4.ĐÀN GHI- TA CỦA LOR-CA: Thanh Thảo là nhà thơ trưởng thành trong giai
đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Sau năm 1975, Thanh Thảo là một trong số những nhà thơ đã dành nhiều tâm huyết trong việc đổi mới thơ Việt Nam Một mặt, Thanh Thảo không ngừng trăn trở, thể nghiệm để làm mới hình thức biểu đạt của thơ Mặc khác, ông luôn kiếm tìm “chất người” ở những nhân cách thanh cao, bất khuất, những tâm hồn phóng khoáng, yêu tự
do, sẵn sang sống, chiến đấu và hi sinh cho lí tưởng mà mình đã chọn Bài thơ
Đàn ghita của lorca đã cho ta thấy rõ điều đó Đặc biêt, ….dẫn đề….
5.SÓNG: ĐÃ có bao nhiêu người đã yêu, bao nhiêu người đang yêu và bao nhiêu
tình yêu trên thế gian này, vậy mà mỗi ngày lại mới Tình yêu không có tuổi thơ, thơ tình yêu lại càng không có tuổi cao giờ Từ thuở thơ Đường, thơ Tống, từ thuở Nguyễn Du rồi Thế Lữ, Xuân Diệu và chúng ta ngày nay , tình yêu vẫn là cái gì khiến người ta đam mê, khao khát Xuân Quỳnh, nhà thơ của nỗi niềm yêu đương, với bài thơ đã thể hiện được nhiều cung bậc tình yêu Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không còn quá độ tình yêu tuổi đầu giản đơn, hò hẹn, non nớt, ngọt ngào mà là tình yêu hạnh phúc gắn với cuộc sống thủy chung Qua đoạn thơ sau đây, ta thấy được………dẫn đề…
6.NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ:
“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lồng ta đã hóa những con tàu
Trang 3Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây bắc chứ còn đâu”
(Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên) Trong những ngày tháng cả nước rộn rang lên đường theo tiếng gọi của “tâm hồn Tây Bắc” để xâu dựng lại một miền quê Tổ quốc, có biết bao nhà văn, nhà thơ đã thực hiện quá trình lột xác để đến với cách mạng Một trong nhà nghệ sĩ yêu nước ấy là Nguyễn Tuân- cây độc huyền cầm của nền văn học Việt Nam đã đến với Tây Bắc qua tùy bút “người lái đò song Đà”- một tác phẩm thể hiện rõ nét và sâu sắc phong cách nghệ thuật độc đáo của ông….dấn đề….
7.AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG: Hoàng Phủ Ngọc Tường thuộc thế hệ
trưởng thành trong cuộc kháng chiến cứu nước Ông là nhà văn có phong các độc đáo và đặc biệt có sở trường về thể loại bút kí và tùy bút Một trong những bút kí khá thành công của ông là Ai đã đặt tên cho dòng sông? Trong tùy bút này, HPNT đã làm nổi bật vẻ đẹp của dòng sông Hương, vẻ đẹp kinh thành Huế dưới nhiều góc độ khác nhau, từ lịch sử đến văn hóa và tâm hồn người Huế…dẫn đề
B.DÀN Ý
TÂY TIẾN- QUANG DŨNG 1.Khổ 1:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Trang 4Nhà ai Pha luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên sung mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
-Bài thơ mở đầu bằng hai câu thơ gợi nhớ gợi thương:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
•- Vần "ơi", kết hợp từ láy "chơi vơi" là vần bằng tạo âm hưởng của tiếng gọi đồng vọng miên man không dứt, câu thơ sâu lắng, bồi hồi, ngân dài, từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng, lan rộng lan xa trong không gian Nỗi nhớ như có hình dáng của núi non, của hồn cây, vách đá, con sông
•- Tác giả gọi tên con Sông Mã đầu tiên trong nỗi nhớ của mình Vì con sông Mã
là người bạn, là nhân chứng đã theo suốt bước chân quân hành, chứng kiến biết bao buồn vui, bao mất mát, hi sinh, vất vả của người lính TT Gọi tên TT là gọi tên đồng đội, gợi nhớ bạn bè
•- Điệp từ "nhớ" được nhắc lại hai lần góp phần tô đậm cảm xúc nhớ nhung dâng trào của tác giả
Dẫn chứng minh họa thêm: Thơ ca VN khi nói về nỗi nhớ có nhiều cách diễn tả:
+Ca dao có câu:
Trang 5Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than
+Diễn tả tình cảm cách mạng, Tố Hữu có câu:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhưng đến Quang Dũng thì nỗi nhớ sáng tạo hơn cả - nhớ chơi vơi Chơi vơi là trạng thái trơ trọi giữa khoảng không rộng, không thể bấu víu vào đâu cả Nhớ chơi vơi có thể hiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông, bề bộn, không đầu, không cuối, không thứ tự thời gian, không gian Đó là nỗi nhớ da diết, miên man, bồi hồi làm cho con người có cảm giác đứng ngồi không yên Và nỗi nhớ ấy, tiếng gọi ấy đang đưa nhà thơ về với những kỉ niệm không quên của một thời gian khổ
•· Đó là nỗi nhớ về cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ lại vừa thơ mộng trữ tình được cảm nhận bằng cảm hứng lãng mạn và tâm hồn lãng mạn hào hoa
Nhớ cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây hùng vĩ:
•- Tác giả gợi nhắc nhiều địa danh xa lạ: Sài Khao, Mường lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu gợi bao cảm xúc mới lạ, tác giả như đưa người đọc lạc vào
những địa hạt heo hút, hoang dại để từ đó dõi theo bước chân quân hành của người lính
•- 6 câu thơ tiếp theo " Sài khao xa khơi" diễn tả thật đắc địa sự hùng vĩ của núi rừng miền Tây 6 câu thơ này là bằng chứng đặc sắc của "thi trung hữu họa" (trong thơ có họa):
Cụ thể:
Con đường hành quân thật gian nan, vất vả, nguy hiểm với dốc cao, vực thẳm:Sài Khao sương
Trang 6Mường Lát
+ Trên đỉnh Sài Khao, sương dày đến độ lấp cả đoàn quân Đoàn quân hành quân trong sương lạnh giữa núi rừng trùng điệp mệt mỏi rã rời Tuy vậy họ vẫn thấy con đường hành quân thật đẹp và thơ mộng: đi trong sương, trong hoa đêm hơi
Dốc lên
Heo hút
Ngàn thước
Nhà ai
+ Đường đi toàn dốc cao được diễn tả với nhiều từ láy tạo hình "khúc khuỷu"
(quanh co khó đi), "thăm thẳm" (diễn tả độ cao, độ sâu), "heo hút" (xa cách cuộc sống con người) Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đi liền nhau "dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm" (bảy chữ mà đã có tới 5 vhwx là thanh trắc) khiến khi đọc lên ta có cảm giác trúc trắc, mệt mỏi như đang cùng hành quân với đoàn binh vậy
+ Đỉnh núi mù sương cao vút Núi cao tận mây, mây nổi thành cồn, mũi súng chạm trời Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: "súng ngửi trời" giàu chất thơ, mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn, cho ta nhiều thi vị Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới "Khó khăn nào cũng vượt qua - Kẻ thù nào cũng đánh thắng!" Chính vì chất lính trẻ trung ấy mà trước thiên nhiên dữ dội người lính TT không bị mờ đi mà nổi lên đầy thách thức
+ Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: "ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống" Hết lên lại xuống, xuống thấp lại lên cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: "Ngàn thước lên cao // ngàn thước xuống", làm câu thơ như bẻ đôi, diễn tả con dốc với chiều cao, sâu rợn ngợp: nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm Hình tượng thơ cân xứng hài hòa, cảnh tượng núi rừng hùng vĩ được đặc tả, thể hiện một ngòi bút đầy chất
Trang 7hào khí của nhà thơ - chiến sĩ.
+ Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi" Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tiếp, gợi tả, sự êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành và yêu thương, nơi mà các anh sẽ đến, đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn
+ Sự dữ dội của núi rừng cũng vắt kiệt sức người: "Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời" Cái chết đậm chất bi hùng: Chết trong tư thế đẹp, ôm chắc cây súng trong tay sẵn sàng chiến đấu, không quên nhiệm vụ của người lính Hiện thực chiến tranh xưa nay vốn như thế! Sự hy sinh của người chiến
sĩ là tất yếu Xương máu đổ xuống để xây đài tự do Vần thơ nói đến cái mất mát,
hy sinh nhưng không chút bi luỵ, thảm thương
+ Ta trở lại đoạn thơ trên, gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm, không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc, nơi đại ngàn hoang vu:
"Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người"
"Chiều chiều " rồi "đêm đêm" nhưng âm thanh ấy, "thác gầm thét", "cọp trêu người", luôn khẳng định cái bí mật, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng Chất hào sảng trong thơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây hiểm nguy để tô đậm và khắc họa chí khí anh hùng của đoàn quân Tây Tiến Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng: gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc! Đoàn quân vẫn tiến bước, người nối người, băng lên phía trước
Uy lực thiên nhiên như bị giảm xuống và giá trị con người như được nâng cao hẳn
Hai câu cuối đoạn thơ, cảm xúc bồi hồi tha thiết Như lời nhắn gửi của một khúc
Trang 8tâm tình Như tiếng hát của một bài ca hoài niệm, vừa bâng khuâng, vừa tự hào:
"Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi"
"Nhớ ôi!" tình cảm dạt dào, đó là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến "đoàn binh không mọc tóc" Câu thơ đậm đà tình quân dân Hương vị bản mường với "cơm lên khói", với "mùa em thơm nếp xôi" có bao giờ quên? Hai tiếng "mùa em" là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thi ca, nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ, điệu thơ trở nên uyển chuyển, mềm mại, tình thơ trở nên ấm áp
"Nhớ mùi hương", nhớ "cơm lên khói", nhớ "thơm nếp xôi" là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc, nhớ tình nghĩa, nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào Tây Bắc thân yêu Mười bốn câu thơ trên đây là phần đầu bài "Tây Tiến", một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính trong 9 năm kháng chiến chống Pháp Bức tranh thiên nhiên hoành tráng, trên đó nổi bật lên hình ảnh chiến sĩ can trường và lạc quan, đang dấn thân vào máu lửa với niềm kiêu hãnh
" Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh "
Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công là kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Nửa thế hệ đã trôi qua, bài thơ " Tây Tiến của Quang Dũng ngày một thêm sáng giá
2 Khổ 2:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Trang 9Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa dong đưa”.
Cảnh núi rừng hoang vu, hiểm trở, dữ dội lùi dần rồi khuất hẳn, để bắt ngờ hiện ra
vẻ mỹ lệ, thơ mộng, duyên dáng ở một thế giới khác ở Tây Bắc
-Bốn câu đầu: (chép vào) đêm liên hoan văn nghệ đậm tình quân dân
+câu 1:mở ra không gian tươi mát, ngập tràn ánh sang trong không khí lưa trại
cách ví von “hội đuốc hoa” và đảo ngữ đã làm bật lên những ánh lửa bập bùng tỏa sang giữa rừng đêm âm u, làm tăng thêm cái sôi động, cái náo nức của đem dạ hội lien hoan Từ " Bừng lên" gợi cảm giác ấm áp, gợi niềm vui lan tỏa Đêm rừng núi thành đêm hội, ngọn đuốc nứa, đuốc lau thành "đuốc hoa" ("Đuốc hoa" là hoa chúc
- cây nến đốt lên trong phòng cưới, đêm tân hôn.)gợi không khí ấm cúng "Bừng" chỉ ánh sáng của đuốc hoa, của lửa trại sáng bừng lên; cũng còn có nghĩa là tiếng khèn, tiếng hát, tiếng cười tưng bừng rộn rã
+Câu 2,3,4: Giới thiệu sự xuất hiện của các cô gái kiều diễm như những bong hoa của núi rừng Tâp Bắc Từ "kìa em" thể hiện sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của cô gái vùng cao trong trang phục "xiêm áo" lộng lẫy cùng dáng vẻ "e ấp" rất thiếu nữ Những thiếu nữ Mường, những thiếu nữ Thái, những cô gái Lào xinh đẹp, duyên dáng "e ấp", xuất hiện trong bộ xiêm áo rực rỡ, cùng với tiếng khèn
"man điệu" đã "xây hồn thơ" trong lòng các chàng lính trẻ.Cũng có thể hiểu người lính đang đóng giả con gái trong những trang phục dân tộc rất độc đáo, tạo tiếng cười vui cho đêm văn nghệ Họ càng yêu đời hơn, yêu đất bạn hơn " Nhạc về "_ Không chỉ thế người lính còn mải mê, say trong tiếng nhạc, điệu khèn của vùng đất lạ
->khổ thơ có gingj điệu hiền hòa êm ái phù hợp với không khí ấm áp của bản làng
và tình quân dân thắm thiết
+4 câu sau: _Cảnh sông nước Tây Bắc vừa thực vừa mộng :hoang vắng, tĩnh lặng, buồn thi vị
_Thời gian: chiều sương ấy, gợi màu sắc bảng lảng, sương khói vừa có nỗi buồn man mác
Trang 10_sông nước hoang dại, bên bờ lặng lẽ lau lách, hoa rừng đong đưa Hình ảnh "hoa đong đưa" là một nét vẽ lãng mạn gợi tả cái "dáng người trên độc mộc" trôi theo thời gian và dòng hoài niệm Đoạn thơ gợi lên một vẻ đẹp mơ hồ, thấp thoáng, gần
xa, hư ảo trên cái nền "chiều sương ấy" Cảnh và người được thấy và nhớ mang nhiều man mác bâng khuâng Bút pháp, thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn để lại dấu
ấn tài hoa qua đoạn thơ này
_ Dáng người mềm mại của cô gái Thái, Mèo trên chiếc thuyền độc mộc hay dáng người hùng dũng, hiên ngang của người lính đang đưa con thuyền tiến về phía trước càng làm cho bức tranh thêm phần thơ mộng
_"Có nhớ", "có thấy" luyến láy, khắc họa thêm nỗi nhớ: lưu luyến, bồi hồi
Tóm lại: cả đoạn thơ đầy màu sắc riêng trong cấu tạo hình ảnh, đường nét, âm thanh của chất họa, chất nhạc vừa giàu cá tính của một hồn thơ độc đáo, tài hoa
Đó chính là phong sương bụi đường, hiên ngang, hào hung và chất nghệ sĩ lãng mạn hào hoa đầy mộng mơ khao khát… Đọc cả đoạn thơ ta như thấy cảnh những người của một thời ấy dường như vẫn còn thấp thoáng sau sương khói của một ký ức
3 Khổ 3
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
-Hình tượng người lính Tây Tiến bi thương, hào hùng, lãng mạn
+Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc hun đúc qua 4.000 năm lịch sử được nâng lên tầm vóc mới của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh:
Trang 11“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gởi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Những vần thơ ngồn ngộn chất hiện thực, nửa thế kỷ sau mà người đọc vẫn cảm thấy trong khói lửa, trong âm vang của tiếng súng, những gương mặt kiêu hùng của đoàn dũng sĩ Tây Tiến Bút pháp lãng mạn khiến chân dung người lính Tây Tiến ánh lên vẻ đẹp phi thường khác lạ
+Giữa nền thiên nhiên khắc nghiệt, hình ảnh người lính hiện lên thật kì dị: Quang Dũng đã dùng những hình ảnh rất hiện thực để tô đậm cái phi thường của người línhBi thương: Ngoại hình ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như màu lá Đoàn quân trông thật kì dị: " TT đoàn binh không mọc tóc- quân xanh màu lá dữ oai hùm"
_Đó là hậu quả của những ngày hành quân vất vả vì đói và khát, của những trận sốt rét ác tính làm tóc rụng không mọc lại được, da dẻ héo úa như tàu lá
_Ba từ " dữ oai hùm", gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt, oai của chúa sơn lâm, người lính TT vẫn mạnh mẽ làm chủ tình hình, làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh, đạp bằng mọi gian khổ "mắt trừng" dữ tợn, căm thù, mạnh mẽ, nung nấu quyết đoán làm kẻ thù khiếp sợ
+Gian khổ và ác liệt thế, nhưng họ vẫn mộng vẫn mơ “ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới”; Mộng giết giặc, đánh tan lũ xâm lăng “ xác thù chất đống xây thành chiến công” Trên chiến trường, trong lửa đạn thì “ mắt trừng”, giữa đêm khuya trong doanh trại có những cơn mơ đẹp: “ đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Ba chữ
“ dáng kiều thơm” từng in dấu vết trong văn lãng mạn thời tiền chiến, được Quang Dũng đưa vào vần thơ mình diễn tả thật “ đắt” cái phong độ hào hoa, đa tình của những chiến binh Tây Tiến, những chàng trai của đất nghìn năm văn vật, giữa khói lửa chiến trường vẫn mơ, vẫn nhớ về một mái trường xưa, một góc phố cũ, một tà
áo trắng, một “dáng kiều thơm” Ngòi bút của Quang Dũng biến hoá, lúc thì bình
dị mộc mạc, lúc thì mộng ảo nên thơ, và đó chính là vẻ đẹp hào hùng tài hoa của một hồn thơ chiến sĩ
-Bốn câu thơ tiếp theo ở cuối phần 3, một lần nữa nhà thơ nói về sự hy sinh tráng liệt của những anh hùng vô danh trong đoàn quân Tây Tiến
Trang 12+ Câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” vang lên như một lời thề “Quyết
tử cho Tổ quốc quyết sinh” Có biết bao chiến sĩ đã ngã xuống nơi góc rừng, bên
bờ dốc vì độc lập, tự do của Tổ quốc Một trời thương nhớ mênh mang: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ…”
+ Các anh đã “về đất” một cách thanh thản, bình dị; yên nghỉ trong lòng Mẹ, giấc ngủ nghìn thu Chẳng có “da ngựa bọc thây” như các tráng sĩ ngày xưa, chỉ có “áo bào thay chiếu anh về đất”, nhưng Tổ quốc và nhân dân đời đời ghi nhớ công ơn các anh Tiếng thác sông Mã “gầm lên” như một loạt đại bác nổ xé trời, “khúc độc hành” ấy đã tạo nên không khí thiêng liêng, bi tráng và cao cả:
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
_”Áo bào thay chiếu” nhắc đến một hiện thưc xót xa: Mỗi người lính chỉ có một
tấm áo, một chiếu cá nhân, sống để mặc để nằm, chết để liệm Nhưng với cách nói này tấm áo lính bình thường đưa người lính về nấm mồ viền xứ trở nên đẹp hơn, trang trọng hơn, thiêng liêng hơn
_”Về đất” diễn tả cái chết của người lính Nhưng cách nói giảm này đã bơt đi cảm
giác bi lụy, tăng tính chất hào hung, thanh thản của sự hi sinh, đã biến cái chết của người lính trở thành một sự hóa than, một sự trở về với đất mẹ
_”Sông Mã gầm lên” nhắc tới một âm thanh vừa trầm đục, vừa vang vọng, vừa đau đớn như chia sẻ, cảm thong với nỗi đau vô hạn của con người
_”khúc độc hành” chính là khúc nhạc bi tráng của đất trời núi song Tổ quốc tiễn
biệt người lính
Tóm lại: Đoạn thơ trên đây thể hiện cốt cách và bút pháp lãng mạn, hồn thơ tài
hoa của Quang Dũng Nếu “thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp” thì “Tây Tiến” đã cho ta cảm nhận về ấn tượng ấy “Tây Tiến” đã mang vẻ đẹp độc đáo của một bài thơ viết về người lính – anh bộ đội cụ Hồ những năm đầu kháng chiến chống Pháp Bài thơ hội tụ mọi vẻ đẹp và bản sắc của thơ ca kháng chiến ca ngợi chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam
VIỆT BẮC( TRÍCH)
(Tố Hữu)
Trang 13I Kiến thức cơ bản
1.Những nhân tố tác động đến con đường thơ của Tố Hữu ?
- Quê hương: sinh ra và lớn lên ở xứ Huế, một vùng đất nổi tiếng đẹp, thơ mộng , trầm mặc với sông Hương, núi Ngự, đền đài lăng tẫm cổ kính,… và giàu truyền thống văn hóa, văn học bao gồm cả văn hóa cung đình và văn hóa dân gian mà nổi tiếng nhất là những điệu ca, điệu hò như nam ai nam bình mái nhì, mái đẩy…
- Gia đình: Ông thân sinh ra nhà thơ là một nhà nho không đỗ đạt nhưng rất thích thơ phú và ham sưu tầm văn học dân gian Mẹ nhà thơ cũng là người biết và thuộc nhiều ca dao, tục ngữ Từ nhỏ Tố Hữu đã sống trong thế giới dân gian cùng cha
mẹ Phong cách nghệ và giọng điệu thơ sau này chịu ảnh hưởng của thơ ca dân gian xứ Huế
- Bản thân Tố Hữu: là người sớm giác ngộ lí tưởng cách mạng, tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi, bị bắt và bị tù đày từ năm 1939- 1942, sau đó vượt ngục trốn thoát và tiếp tục hoạt động cho đến Cách mạng tháng Tám, làm chủ tịch ủy ban khởi nghĩa ở Huế Sau cách mạng ông giữ nhiều trọng trách ở nhiều cương vị khác nhau, nhưng vẫn tiếp tục làm thơ
2 Con đường thơ của Tố Hữu :
Thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cách mạng Việt Nam từ những năm 1940 cho đến sau này
a Tập thơ Từ ấy (1946): gồm 71 bài sáng tác trong 10 năm (1936 – 1946) Tác
- Giải phóng (14 bài) viết từ lúc vượt ngục đến 1 năm sau ngày độc lập nhằm ngợi
ca lí tưởng, quyết tâm đuổi giặc cứu nước và thể hiện niềm vui chiến thắng
Những bài thơ tiêu biểu:Mồ côi, Hai đứa bé, Từ ấy,…
b Tập thơ Việt Bắc (1954)
- Gồm 24 bài sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp
- Việt Bắc là bức tranh tâm tình của con người VN trong kháng chiến với những cung bậc cảm xúc tiêu biểu: tình yêu quê hương đất nước, tình đồng chí đồng đội, tình quân dân, lòng thủy chung cách mạng Đồng thời thể hiện quyết tâm bảo vệ sự toàn vẹn của đất nước
- Những bài thơ tiêu biểu: Phá đường, Việt Bắc, Bầm ơi, Ta đi tới,…
Trang 14d Ra trận (1971), Máu và Hoa (1977)
Phản ánh cuộc đấu tranh của dân tộc kêu gọi cổ vũ tinh thần chiến đấu của dân tộc Ca ngợi Bác Hồ, tổng kết lịch sử đấu tranh
4.Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu?
- Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị thể hiện nồng nhiệt tự hào lý tưởng cách mạng, đời sống cách mạng của nhân dân ta
- Thơ Tố Hữu chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, màu sắc lịch sử được diễn tả bằng bút pháp lãng mạn, hình tưởng thơ kì vĩ, tráng lệ
- Nét đặc sắc trong thơ Tố Hữu là có giọng điệu riêng Thơ liền mạch, nhất khí tự nhiên, giọng tâm tình, ngọt ngào tha thiết
- Nghệ thuật thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc Phối hợp tài tình ca dao, dân ca các thể thơ dân tộc và “thơ mới” Vận dụng biến hoá cách nói, cách cảm, cách so sánh
ví von rất gần gũi với tâm hồn người Phong phú vần điệu, câu thơ mượt mà, dễ thuộc dễ ngâm
5 Vì sao nói thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị?
Vì: - Tố Hữu là nhà thơ- chiến sĩ, thơ ông nhằm mục đích phục vụ cho cuộc đấu tranh cách mạng Tố Hữu tạo được sự thống nhất giữa cảm hứng trữ tình và tuyên truyền chính trị
- Thơ Tố Hữu chủ yếu khai thác cảm hứng từ đời sống chính trị của đất nước và hoạt động cách mạng của bản thân nhà thơ
- Con người và hiện thực trong thơ Tố Hữu được cảm nhận và biểu hiện chủ yếu trên phương diện chính trị, trong mối quan hệ với lí tưởng và nhiệm vụ cách mạng
II Luyện tập
Đề : Phân tích đoạn thơ:
Ta về mình có nhớ ta Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung ( Trích Việt Bắc – Tố Hữu)
- Dòng thơ đầu: “Ta về, mình có nhớ ta” vừa là câu hỏi tu từ, vừa là lời thoại, vừa
là cái cớ để bày tỏ tấm lòng của mình một cách trực tiếp, khái quát
Trang 15- Dòng thơ tiếp theo: “Ta về ta nhớ những hoa cùng người”.”Ta về được láy lại ở câu đầu Câu trên hỏi, câu dưới giải bày (hỏi người nhưng thật ra là bày tỏ lòng mình) Nỗi nhớ của người về xuôi được nêu cụ thể:”nhớ hoa cùng người” Nhà thơ dùng hình ảnh ẩn dụ “ hoa” để chỉ thiên nhiên Việt Bắc, “ người” là người dân Việt Bắc Đó là những ấn tượng sâu sắc của người ra đi Nhớ cảnh đi đôi nhớ người Thiên nhiên và con người hoà quyện vào nhau.
-Lối đối đáp “mình-ta” làm tình cảm người cán bộ về xuôi và người ở lại trở nên than thiết hơn, đầm thắm hơn “mình-ta” sau mà tha thiết Cuộc chia tay giữa
người cán bộ kháng cjieens với người Việt Bắc trở thành cuộc chia tay của đôi bạn tình (Có lẽ thơ Tố Hữu trữ tình chính trị là vậy!)
3 Nỗi nhớ về Việt Bắc được triển khai bằng bộ tranh tứ bình qua những dòng thơ còn lại
- Bộ tranh tứ bình được vẽ bằng thơ với bốn cặp lục bát Bốn dòng lục dành cho cảnh, bốn dòng bát dành cho người Cảnh và người hoà quyện vào nhau
- Phong cảnh ở đây là phong cảnh núi rừng, mang đậm sắc màu Việt Bắc, được miêu tả bằng âm thanh, màu sắc theo diễn biến bốn mùa trong năm
a/ Đó là nỗi nhớ mùa đông Việt Bắc - cái thuở gặp gỡ ban đầu, đến hôm nay vẫn
sáng bừng trong kí ức
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươiĐèo cao nắng ánh dao gài thắt lưngGiữu cái bạc ngàn của màu xanh rừng núi lạnh lẽo, hiện lên màu sắc đỏ ấm áp của hoa chuối Hai chữ “đỏ tươi” không chỉ là từ ngữ chỉ sắc màu, mà chứa đựng cả một sự bừng thức, một khám phá ngỡ ngàng, một rung động rất thi nhân
Trên cái phông nền hùng vĩ và thơ mộng ấy, hình ảnh con người xuất hiện thật vững chãi, tự tin Đó là vẻ đẹp của con người làm chủ núi rừng: “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng” Nhà thơ không phát ra hình ảnh con người,
mà chỉ chớp lấy một nét rực sáng lấp lóe trên lưỡi dao đi rừng gài ở ngang lưng->hình ảnh người lao động thật đẹp giữa núi và nắng, giữa trời cao và rừng xanh mênh mông
b/ 2 câu tiếp là sự chuyển màu trong bức tranh thơ: Màu xanh trầm tĩnh của rừng
già chuyển sang màu trắng tinh khôi của hoa mơ khi mùa xuân đến Cả không gian sáng bừng lên sắc trắng của rừng mơ lúc sang xuân: Ngày xuân mơ nở trắng rừng > Trắng cả không gian, trắng cả thời gian Cái sắc trắng tinh khôi bừng nở khiến người đi không thể không nhớ đến con người Việt Bắc, trong công việc lao động thầm lặng mà cần mẫn tài hoa: Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang” Hai chữ
“chuốt từng” gợi lên dáng vẻ cẩn trọng tài hoa Cảnh thì thơ mộng, tình thì đượm nồng Hai câu thơ lưu giữ lại cả khí xuân, sắc xuân, tình xuân
c/ Bức tranh thơ thứ 3 chuyển qua rừng phách.
- Trong rừng phách nghe tiếng ve ran, ngắm sắc phấn vàng giữa những hàng cây cao vút, ta như cảm thấy sự hiện diện rõ rệt của mùa hè:
Trang 16Ve kêu rừng phách đổ vàngNhớ cô em gái hái măng một mình->Sự chuyển mùa được biểu hiện qua sự chuyển màu trên thảo mộc cỏ cây Chữ
“đổ” được dùng thật xác, tinh tế Nó vừa gợi sự biến chuyển mau lẹ của sắc màu, vừa diễn tả tài tình từng đợt mưa hoa rừng phách khi có ngọn gió thoảng qua, vừa thể hiện chính xác khoảnh khắc hè sang.-> sử dụng nghệ thuật âm thanh để gọi dậy màu sắc, dùng không gian để miêu tả thời gian.-> cảnh thực mà vô cùng huyền ảo -Trên nền cảnh ấy, hiện lên hình ảnh thơ mộng, lãng mạn của cô gái miền sơn cước trong nỗi nhớ của người cách mạng: “Nhớ cô em gái hái măng một mình” Nhớ về
em, là nhớ cả một không gian đầy hương sắc Người em gái trong công việc lao động hàng ngày giản dị: hái măng
+”Hái măng một mình”, giọng thơ bùi ngùi, lưu luyến quá Bao nhiêu niềm thương cảm như gửi vào hình ảnh này Cảm thương nhưng nó không gợi cảm giác cô đơn hiu hắt như trong thơ xưa mà nó lại thiết tha mơ mộng Cô gái áo chàm thẩn thơ đi tìm búp măng rừng Cái mộng của mùa thu về sớm trong long mùa hạ có khác nào hái mộng trong giấc mơ vàng
d/ Khép lại bộ tứ bình là cảnh mùa thu Nhớ mùa thu là nhớ đến ánh trăng ngời
sang:
“Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
-Cảnh đêm phù hợp với khúc hát giao duyên trong thời điểm chia tay giã bạn Dưới ánh trăng thu, tiếng hát ân tình càng làm cho cảnh thêm ấm áp tình người Đại từ phiếm chỉ “ai” đã gộp chung người hát đối đáp với mình làm một, tạo một hòa âm tâm hồn đầy bâng khuâng lưu luyến giữa kẻ ở, người đi, giữa con người và thiên nhiên
III.KẾT BÀI:
Bức tranh quê hương tươi đẹp, ấm áp tình người thể hiện cái nhìn đầy trìu mến gắn
bó với cuộc sống con người Đây là đoạn thơ đẹp nhất trong bài thơ Việt Bắc diễn
tả cái nhớ thương sau nặng của người ra đi Ngôn ngữ uyển chuyển ngọt ngào, nhạc điệu câu thơ lục bát êm dịu có sức âm vang trong long người đọc như khúc hát ru kỉ niệm Đẹp nhất là tình yêu thủy chung son sắt giữa kẻ ở, người đi, giữa thiên nhiên với con người
ĐỀ 2
Phân tích đoạn thơ sau đây trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:
Những đường Việt Bắc của ta,
Đêm đêm rầm rập như là đất rung.
Quân đi điệp điệp trùng trùng,
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Trang 17Dân công đỏ đuốc từng đoàn,
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày,
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miền,
Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về.
II THÂN BÀI:
- Trong tám câu đầu, nhà thơ vẽ lại rất sống động hình ảnh những đêm Việt Bắc trong mùa chiến dịch Ban ngày kẻ thù đánh phá ác liệt, nhưng ban đêm thì ưu thế thuộc về chúng ta Hai từ “của ta” nằm cuối câu thứ nhất thể hiện rõ ý thức làm chủ của người kháng chiến đối với quê hương, đất nước
+ Khí thế ra trận bừng bừng của quân ta được miêu tả hết sức chân thực bằng
những hình ảnh gân guốc, khỏe khoắn; bằng những từ tượng hình, tượng thanh chính xác; bằng một so sánh thoáng nhìn qua không có gì mới mẻ nhưng thực chất lại có ý vị: Đêm đêm rầm rập như là đất rung “Sau Toàn quốc kháng chiến trong
vô số hình ảnh quanh ta thì hình ảnh con đường, những con đường đập mạnh vào mắt ta, tâm óc ta nhiều nhất Con đường đã là một sự” ( Nguyễn Tuân- Đường vui)+ Nét lãng mạn trong đời sống kháng chiến cũng được nói tới bằng hình ảnh vừa giàu ý nghĩa tả thực, vừa thấm đẫm tính tượng trưng: Ánh sao đầu súng, bạn cùng
mũ nan
+ Tuy mô tả cảnh ban đêm, nhưng bức tranh thơ của Tố Hữu lại giàu chi tiết nói về ánh sáng: ánh sáng của sao trời, của lửa đuốc, của đèn pha Sự so sánh Đèn pha bật sáng như ngày mai lên tuy có vẻ cường điệu nhưng phản ánh đúng niềm phấn chấn tràn ngập lòng người kháng chiến
- Để thể hiện không khí chiến thắng, tác giả lặp lại nhiều lần từ “vui” và đưa vào thơ một loạt địa danh thuộc cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, quyện hoà, xoắn xuýt với nhau So với những nhà thơ khác như Quang Dũng, Hoàng Cầm, cách sử dụng địa danh của Tố Hữu vẫn có những nét riêng độc đáo
III KẾT BÀI:
- Đoạn thơ đã thực sự làm sống dậy không khí hào hùng của một thời kì lịch sử không thể nào quên
Trang 18- Qua đoạn thơ, ta thấy rõ Tố Hữu quả là người chép sử trung thành của cách mạng
và là nhà thơ có khả năng tạo dựng những bức tranh hoành tráng về lịch sử dân tộc
ĐÀN GHI-TA CỦA LOR-CA
THANH THẢO
ĐỀ: Anh/chị hãy phân tích khổ thơ sau:
Tây Ban NhaHát nghêu ngaoBỗng kinh hoàng
Áo choàng bê bết đỏLor-ca bị điệu về bãi bắnChàng đi như người mộng du
Tiếng ghi-ta nâuBầu trời cô gái ấyTiếng ghi-ta lá xanh biết mấyTiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tanTiếng ghi-ta ròng ròngMáu chảy”
BÀI LÀM THAM KHẢO ( chỉ trienr khai ý là chủ yếu)
Thanh Thảo là nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Sau năm 1975, Thanh Thảo là một trong số những nhà thơ
đã dành nhiều tâm huyết trong việc đổi mới thơ Việt Nam Một mặt, Thanh Thảo không ngừng trăn trở, thể nghiệm để làm mới hình thức biểu đạt của thơ Mặc khác, ông luôn kiếm tìm “chất người” ở những nhân cách thanh cao, bất khuất,
Trang 19những tâm hồn phóng khoáng, yêu tự do, sẵn sang sống, chiến đấu và hi sinh cho
lí tưởng mà mình đã chọn Bài thơ Đàn ghita của lorca đã cho ta thấy rõ điều
đó Đặc biệt,trong đoạn trích dưới đây,Thanh Thảo đã làm nổi bật vể đẹp bi tráng của lor-ca:
“Tây Ban Nha…máu chảy”
Đoạn thơ đã tái hiện giây phút bi phẫn hất trong cuộc đời của Ga-xi-a lorca Đó là khi ông bị bọn phát- xít sát hại Như chúng ta đã biết Lor-ca là nhà thơ lớn nhất Tây Ban Nha ở thế kỉ XX Thơ của ông gắn bó máu thịt với mạch nguồn văn hóa dân gian, hồn nhiên, phóng khoáng, thể hiện sức sống mãnh liệt của dân tộc mình
Vì vậy, ông là cái gai trong mắt của phe phat- xít Phrang-co và chúng đã thủ tiêu ông
Trong đoạn trích này, Thanh Thảo đã bộ lộ niềm thương cảm đầy kính phục và tái hiện sinh động hình ảnh cái chết đầy bi phẫn của lor-ca với hai biện pháp nghệ thuật nổi bật: phép đối lập và phép nhân hóa
-Trước tiên, ta thấy nhà thơ đã đem hình ảnh của một con người ư tự do, thích sống một cuộc sống phóng khoáng của người nghệ sĩ đối lập với bản chất dã man, tàn bạo, đê hèn của bọn phát- xít; đối lập giữa tiếng hát yêu đời, vô tư với hiện thật phũ phàng, đắng cay, đẫm máu:
_Tây Ban Nha >< _ áo choàng bê bết đỏ
Hát nghêu ngao
_chàng đi như người mộng du><Lỏ-ca bị điệu về bã bắn
đó chính là sự đối lập tình yêu cái đẹp với sự dã man, tàn bạo
-Bên cạnh phép đối lập, nhà thơ sử dụng khá thành công và đọc đáo phép nhân hóa: tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy.
_tiếng đàn ở đây không còn là tiếng đàn bình thường nữa mà nó trở thành than phận của lor-ca, linh hồn lor-ca, than thể và tâm hồn của lor-ca- một linh hồn, thân thể và tâm trạng đang quằn quại đâu đớn trong tận cùng nỗi xót xa, tàn bạo.
Trang 20tiếng đàn của lor-ca ở đây đã làm lay động cả không gian, lắng sâu vào tâm
tưởng của người đọc, gợi lên trong long người đọc một tình cảm vừa yêu
thương, vừa cảm thong, vừa kính phũ trước nhân cách thanh cao của những con người luôn khao khát yêu tự do, yêu cái đẹp nhưng bị những thế lực bạo tàn vùi đập; vừa gợi lên trong long người đọc sự căm phẫn trước nhngx thế lực xấu
a, bỉ ổi, tàn bạo.
-Ngoài ra tác giả còn sử dụng biện pháp tu từ hoán dụ trong cách miêu tả: dung
“tiếng hát” để chỉ Lor-ca, dung hình ảnh “áo choàng bê bết đỏ” để nói về cái chết của Lor-ca Hơn nữa, trong đoạn thơ này, tác giả còn dùn nhiều hình ảnh so sánh mang tính ẩn dụ sâu sắc như “tiếng ghi-ta nâu”, “tiếng ghi-ta lá xanh”,
“tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan” Những hình ảnh so sánh này là những hình anhraanr dụ về tình yêu, về cái đẹp, về cuộc sống, về cái chết, về nỗi đau và niềm uất hận.
“Tiếng ghi-ta nâuBầu trời cô gái ấyTiếng ghi-ta lá xanh biết mấyTiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tanTiếng ghi-ta ròng ròngMáu chảy”
Tóm lại, trong đoạn thơ trên , nhà thơ Thanh Thảo đã dung khá nhiều biện pháp tu
từ như đối lập, nhân hóa, hoán dụ, so sánh, ẩn dụ để thể hiện những xúc cảm của mình đói với Ga-xi-a lor-ca Những biện pháp nghệ thuật này có khi tách bạch, có khi đan xen vào nhau, thẩm thấu lẫn nhau để tái hiện giây phút bi phẫn nhất trong cuộc đời của Lor-ca Điều đó đã cho ta thấy sự ngưỡng mộ và xúc động sâu sắc của Thanh Thảo trước nhân cách cao đẹp cùng số phận oan khuất của người nghệ
sĩ Tây Ban Nha đầy tài hoa ấy.Thanh Thảo, trong đoạn thơ này đã truyền cảm xúc của mình đến với người đọc Đúng là “thơ mở cửa từ trái tim và làm rung động trái tim” như có người đã từng nói
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
Trang 21(nguyễn tuân)
I.HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ:
1.MB: “Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây bắc chứ còn đâu”
(Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên) Trong những ngày tháng cả nước rộn rang lên đường theo tiếng gọi của “tâm hồn Tây Bắc” để xâu dựng lại một miền quê Tổ quốc, có biết bao nhà văn, nhà thơ đã thực hiện quá trình lột xác để đến với cách mạng Một trong nhà nghệ sĩ yêu nước ấy là Nguyễn Tuân- cây độc huyền cầm của nền văn học Việt Nam đã đến với Tây Bắc qua tùy bút “người lái đò song Đà”- một tác phẩm thể hiện rõ nét và sâu sắc phong cách nghệ thuật độc đáo của ông Hình tượng nổi lên trong tác phẩm là hình tượng nguwoif ái đò Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, nguwoif lái đò trở thành một nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác chèo ghềnh.
2.TB: -Đó là một ông lã 70 tuổi có “cái đầu bạc quắc thướt”, “một thân hình cao
to và gọn quánh như chất sừng chất mun” và đôi cánh tay còn “trẻ tráng” quá -Ông là một con người từng trải, hiểu biết rất thành thạo trong cái nghề lái đò, thành thạo đến mức “Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hung ca mà ông đã thuộc đến cả những dấu chấm than, chấm câu và cả những đoạn xuống dòng”, “trên dòng sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay lái đọ sáu chục lần…”, cho nên ông có thể “bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ nhưu đóng đanh vào long đất tất cả những luồng nước của tất cả những con nước hiểm trở”.
Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, người lái đò trên sông Đà không chỉ là một người lao động đầy trí dũng mà là một nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh.
Trang 22_Để khắc họa vẻ đẹp ở người lái đò, nhà văn Nguyễn Tuân đã sang tạo ra một cuộc vượt thác sông Đà của ông qua các “trùng vi thạch trận”.
+Cần phân tích đoạn văn miêu tả cuộc “chiến đấu gian lao của người trên quãng thủy chiến ở sông Đà” để làm rõ vẻ đẹp lẫm liệt của một người anh hung trên sông nước và cũng là vẻ đẹp của người nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh Đó là đoạn văn:”…Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới…”
đến “…họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo”.
+Đoạn văn khá dài nên khó có thể nhớ hết được Song, những chi tiết tả cái dũng mảnh, trầm tĩnh, khôn ngoan của người lái đò đi vượt thác cần được nói đến Chẳng hạn:
_”Ông hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sống trận địa phóng thẳng vào mình…”.
_”Nhưng ông lái đò cố nén vêt thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệt đi như cái luồng song đánh hồi lung, đánh đòn tỉa, đòn âm vào chỗ
hiểm… trên cái thuyền sáu tay chèo vẫn nghe tiếng chỉ huy ngắn gon, tỉnh táo của người cầm lái Vậy là phóng xong cái trùng vi thạch trận lần thứ nhất
Không một chút nghỉ tay, nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai…”
_”Ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chèo về cưa lái ấy Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trải liền xô ra định níu thuyền lloi vào tập đoàn cửa tử Ông đò vẫn nhớ bọn này, đứa thì ông tránh mà rẻo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sắn lên mà chặt đôi lên để mới đường tiến…”
-Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật:
+Mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều thể hiện tài hoa, uyên bác ở bài tùy bút này, cái tài hoa, uyên bác của nhà văn thể hiện ở:
_Nhà văn đã sử dụng những tri thức về địa lí, lịc sử, nghệ thuật quân sự, võ
thuật, hội họa, điêu khắc, điện ảnh, thơ Đường, thơ Tản Đà…trong khi miêu tả cảnh vật thiên nhiên và cái tài hoa, điêu luyện của người lái đò Tổng hợp tinh hoa của các loại hình nghệ thuật vào tùy bút của mình, đó là nét hiện đại của phong cách tùy bút Nguyễn Tuân.