1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu vai trò của nấm men Saccharomyces cerevisiae. trong công nghệ sản xuất bia

16 2,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 376,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chức năng: dự trữ các enzyme thủy phân, polyphosphate, ion kim loại, các sản phẩm trao đổi chất trung gian, điều hòa áp suất thẩm thấu của tế bào.. Tất cả điều đó dẫn đến sự thay đổi lớn

Trang 1

Chương I: Tổng quan lý thuyết

1.1 Tổng quan về nấm men Saccharomyces cerevisiae.

Saccharomyces cerevisiae là một loài nấm men được biết đến nhiều nhất, có

trong bánh mì nên thường gọi là men bánh mỳ, là một loại vi sinh vật thuộc chi

Saccharomyces lớp Ascomycetes ngành nấm Nó được dùng rộng rãi trong quá

trình lên men làm bánh mỳ, rượu, bia, một số khác dùng để sản xuất glyxerol hoặc enzyme invertase

1.1.1 Đặc điểm hình thái và cấu tạo của nấm men:

1.1.1.1 Hình thái:

Tế bào nấm men có dạng hình cầu, hình ovan, elip, hình trụ, hình chùy, hoặc cũng có thể là hình sợi Hình dạng và kích thước của nó có thể thay đổi tùy vào từng giai đoạn phát triển và điều kiện môi trường xung quanh Nó có kích thước tương đối lớn, đường kính khoảng 1µm, chiều dài 8 µm Tế bào nấm men lớn gấp

10 lần tế bào vi khuẩn

Hình 1.1 Nấm men Saccharomyces cerevisiae

Trang 2

1.1.1.2 Cấu tạo:

Cấu tạo của tế bào nấm men phức tạp hơn của tế bào vi khuẩn Tế bào nấm men

Saccharomyces cerevisiae được bao bọc bởi lớp thành tế bào.

Thành tế bào: Cấu tạo chủ yếu của thành tế bào là hemixenlulo chiếm 70%

trọng lượng khô ( 31% manan, 29% glucan) Ngoài ra nó còn chứa 1-3% kitin, 6-10% protein, 8-8,5% lipit và 7% chất khoáng Chức năng của thành tế bào là bảo

vệ và duy trì hình dạng của tế bào Thành tế bào của nấm men còn có khả năng kết dính, chính vì vậy mà nó còn có ý nghĩa rất lớn trong công nghiệp sản xuất rượu vang, bia

Màng tế bào chất: Dưới lớp thành tế bào là lớp màng tế bào chất, là lớp màng

mỏng, dày 0,1 nm, dính chặt với tế bào chất Cấu tạo chủ yếu là protein (chiếm 50% khối lượng khô), phần còn lại là lipit (40%) và 1 số ít polysaccarit

Hình 1.2 Cấu tạo chung của tế bào nấm men

Chức năng của màng sinh chất:

Bảo vệ, hàng rào thẩm thấu

Điều chỉnh chất dinh dưỡng từ ngoài vào trong và ngược lại

Thực hiện tổng hợp thành phần của vỏ tế bào

Nơi khu trú của 1 số enzyme và bào quan

Trang 3

Tế bào chất: ở thể keo được cấu tạo từ protein, lipit, khoáng và nước (90%)

và các hợp chất khác Có độ nhớt cao và chứa các bào quan

Màng nhân: có cấu tạo 2 lớp và trên màng có nhiều lỗ nhỏ Lỗ màng nhân

tham gia vào việc kiểm tra quá trình trao đổi chất của tế bào

Nhân: chứa thông tin di truyền DNA được bao bọc bởi 1 lớp màng, bên trong

là lớp dịch nhân, trong đó có 1 thể rắn gọi là hạch nhân hay nhân con Kích thước nhân không đồng đều ở các chủng nấm men và ngay cả cùng 1 chủng

Không bào: chứa đầy dịch tế bào, bên ngoài được bao bọc bởi một lớp màng

hypoprotein gọi là màng không bào Chức năng: dự trữ các enzyme thủy phân, polyphosphate, ion kim loại, các sản phẩm trao đổi chất trung gian, điều hòa áp suất thẩm thấu của tế bào

Hạt dự trữ: là chất dự trữ các chất dinh dưỡng của tế bào, tham gia vào việc

điều hòa quá trình sinh trưởng, phát triển của tế bào

Ty thể: dạng hạt nhỏ hoặc hình que, dạng sợi Hình dáng thay đổi trong quá

trình nuôi cấy Số lượng ty thể dao động mạnh từ 1-50 Hầu hết các phản ứng năng lượng đều xảy ra ở đây Cấu trúc của ty thể biến đổi khi nấm men chuyển từ điều kiện kị khí sang hiếu khí Ở môi trường kị khí không có lipit thì ty thể rất đơn giản gồm 2 lớp màng và không có nếp gấp Nếu thêm lipit thì sẽ tạo nếp gấp

Ty thể cung cấp năng lượng cho tế bào hoạt động Khoảng cách giữa các lớp là nơi xảy ra phản ứng tạo thành ATP

Ribosom: cấu tạo 2 loại hạt 80s tồn tại tự do, hạt 70s liên kết với cấu trúc

màng Ribosom tham gia mọi quá trình tổng hợp các chất trong cơ thể

1.1.1 Đặc tính sinh sản của nấm men:

Nấm men có nhiều hình thức sinh sản ( sinh sản vô tính, sinh sản hữu tính) Bình thường, tế bào nấm men sinh sản nảy chồi, khi gặp điều kiện không thuận lợi,

1 số có thể sinh sản theo cách tạo bào tử

Sinh sản vô tính: nảy chồi là cách sinh sản vô tính điển hình của nấm men Khi

tế bào phát triển đến mức độ nhất định thì cơ thể của nó đâm ra 1 chồi nhỏ gọi là mầm (hay chồi) Mầm sinh ra ở vị trí lệch tâm trên đầu của tế bào mẹ Ở mỗi chồi

sẽ nhận được 1 phần chất nhân và chất nguyên sinh ở tế bào mẹ Sauk hi nảy mầm,

tế bào con có thể tách ra khỏi tế bào mẹ sống độc lập, cũng có thể không tách khỏi

tế bào mẹ mà tiếp tục nảy mầm tạo ra 1 lớp tế bào nấm men giống hình cành cây Nấm men còn có khả năng hình thành bào tử Bào tử được sinh ra trong những túi nhỏ gọi là túi nang

Trang 4

Sinh sản hữu tính: là hình thức hợp nhất 2 tế bào nấm men thành hợp tử Tế

bào này phát triển thành túi trong đó có giảm nhiễm để hình thành các bào tử.Dạng sinh sản hữu tính ở nấm men là dạng các bào tử túi được sinh ra từ các túi Có thể xảy ra sự tiếp hợp giữa 2 tế bào nấm men tách rời hoặc giữa tế bào mẹ và chồi Còn có cả sự biến nạp trực tiếp trong 1 tế bào sinh dưỡng Tế bào này biến thành túi không qua tiếp hợp Thường trong mỗi túi có 4 hay đôi khi có 8 bào tử túi

Quá trình sinh sản nấm men Saccharomyces cerevisiae liên quan chặt chẽ đến sự

nảy chồi Chồi tách khỏi tế bào mẹ khi có kích thước bằng tế bào mẹ và bắt đầu sinh sản Thời gian thế hệ chu kỳ sinh sản được tính là khoảng thời gian giữa 2 lần phân chia Và thời gian thế hệ của nấm men này là 2h Quá trình nảy chồi diễn ra đồng thời với bắt đầu tổng hợp DNA Từ chồi mới hình thành các vật liệu mới của

tế bào lớn dần lên, hình thành vách ngăn mannan, glucan

1.2 Tổng quan về quy trình lên men bia.

1.2.1 Nguyên liệu:

Nước là thành phần chính của bia ( chiếm từ 80%-90%) Nhiều loại bia chịu

ảnh hưởng hoặc thậm chí được xác định theo đặc trưng của nước trong khu vực sản xuất bia Nước cứng phù hợp hơn cho sản xuất các loại bia sẫm màu trong khi nước mềm là phù hợp hơn cho sản xuất các loại bia sáng màu như bia vàng

Malt là sản phẩm được chế biến từ các loại hạt hòa thảo như đại mạch, ngô v.v.

sau khi cho nảy mầm ở điều kiện nhân tạo và sấy đến độ ẩm nhất định với điều kiện bắt buộc

Malt là một loại bán thành phẩm và giàu chất dinh dưỡng: 16 – 18% chất thấp phân tử dễ hòa tan hệ enzyme đặc biệt phong phú, chủ yếu là amylaza vàproteaza Malt cung cấp toàn bộ lượng glucid (chủ yếu dưới dạng tinh bột) để chuyển hóa thành đường, và từ đường chuyển hóa thành cồn và các chất khác

Malt chứa đầy đủ enzyme amilaza để thủy phân tinh bột Nếu sử dụng thế liệu nhiều thì lượng enzym này cung cấp không đầy đủ và ta buộc phải bổ sung enzym

từ bên ngoài vào, chủ yếu là enzyme từ vi sinh vật

Malt cung cấp khá đủ lượng protein và có chứa hệ enzyme proteaza để thủy phân chúng Trong giai đoạn ươm mầm, hệ enzyme này được hoạt hóa mạnh mẽ Khi chuyển sang giai đoạn nấu, chúng thủy phân protein tạo thành các phức chất

có khả năng giữ CO2 tốt, tạo vị bia đặc trưng

Hoa bia trong sản xuất bia chỉ sử dụng hoa cái chưa thụ phấn.

Trang 5

Men bia là các vi sinh vật có tác dụng lên men đường Các giống men bia cụ

thể được lựa chọn để sản xuất các loại bia khác nhau, nhưng có hai giống chính là

men ale (Saccharomyces cerevisiae) và men lager (Saccharomyces uvarum), với

nhiều giống khác nữa tùy theo loại bia nào được sản xuất Men bia sẽ chuyển hóa đường thu được từ hạt ngũ cốc và tạo ra cồn và CO2

1.2.2 Cơ sở hóa học của lên men bia.

Khi tiến hành lên men dịch đường houblon hóa tạo thành rượu etylic, khí CO2,

và các sản phẩm phụ Ngoài gluxit bị tác động mạnh, các thành phần khác của dịch đường cũng chịu những thay đổi lớn Một phần bị nấm men đồng hóa, biến đổi thành những hợp chất khác nhau, còn một số khác thì chuyển đổi thành trạng thái không hòa tan và bị tách ra ngoài dưới dạng kết lắng Tất cả điều đó dẫn đến sự thay đổi lớn về lượng và biến đổi sâu sắc về chất trong các cấu tử hợp thành chất hòa tan của dịch đường

Ta thấy rằng hàm lượng chất hòa tan trong bia là thấp hơn so với dịch đường houblon hóa Nguyên nhân của việc giảm này là từ ba lý do sau:

Do nấm men tiêu tốn một phần để cung cấp năng lượng cho việc phát triển sinh khối

Do một số sản phẩm tạo thành là hỗn hợp dễ bay hơi

Do một phần bị kết lắng

Tổng lượng chất hòa tan đã bị tiêu hao trong thời gian lên men chính gọi là chất

chiết đã lên men.

Khối lượng chất chiết đã lên men biểu thị bằng phần trăm so với lượng chất hòa

tan ban đầu của dịch đường gọi là mức độ lên men hay độ lên men.

Một phần chất hòa tan ban đầu của dịch đường houblon hóa tồn tại trong bia

như là 1 cấu tử hợp thành chất hòa tan của nó gọi là chất chiết không lên men hay

chất khô sót.

Trong thành phần của chất hòa tan ban đầu của dịch đường nấm men có thể hấp

thụ được 1 phần rất lớn, phần đó gọi là chất chiết có khả năng lên men.

Phần còn lại nấm men không có khả năng hấp thụ gọi là chất chiết không có

khả năng lên men.

Trang 6

Khối lượng của chất chiết có khả năng lên men biểu thị bằng phần trăm theo

lượng chất chiết ban đầu của dịch đường houblon hóa gọi là độ lên men cuối

cùng.

Độ lên men và độ lên men cuối cùng của các loại bia khác nhau dao động trong

những khoảng rất lớn Đây là những chỉ số cơ bản và đặc trưng cho chủng loại và chất lượng của bia Những chỉ số này có thể điều chỉnh được thông qua việc điều khiển các quá trình hóa sinh ở giai đoạn sản xuất dịch đường

Về lý thuyết thì toàn bộ lượng chất chiết có khả năng lên men, có thể sẽ được lên men hoàn toàn Lúc đó độ lên men sẽ có giá trị bằng độ lên men cuối cùng Nhưng trong thực tế sản xuất, không bao giờ độ lên men của một dịch đường lại có thể đạt đến độ lên men cuối cùng của nó Vấn đề ở đây là hoàn thiện chu trình lên men, xác định được các điều kiện ở mức tối ưu với mục đích cao nhất là giảm đến mức thấp nhất sự sai lệch giữa 2 chỉ số độ lên men đó Và đây là 1 trong những tiền đề quan trọng nhất để thu nhận được các loại bia có độ bền sinh học cao

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men.

Chất lượng của nấm men sản xuất: là yếu tố đầu tiên để bia đạt chất lượng

cao

Lượng nấm men gieo cấy ban đầu: liên quan mật thiết đến tiến trình lên men.

Nồng độ chất hòa tan của dịch đường houblon hóa: ảnh hưởng rất lớn đến sự

phát triển của nấm men và tốc độ lên men

Nhiệt độ của dịch lên men: ảnh hưởng khá mạnh đến lên men Nếu nhiệt độ

cao sẽ tăng hiệu suất quá trình và rút ngắn thời gian Chú ý mỗi loại nấm men đều

có nhiệt độ thích hợp nên phải lựa chọn thích hợp để không vượt qua giới hạn đó

Áp suất bề mặt: ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình công nghệ như lượng

sinh khối tạo thành, trạng thái sinh lý nấm men cũng như xác định mức bão hòa CO2

Hàm lượng O2 và thế oxi hóa khử: ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ sinh sản

của nấm men và lượng sinh khối tạo thành đồng thời là yếu tố tác động mạnh đến tốc độ suy giảm đặc tính công nghệ của nấm men

Cường độ khuấy đảo dịch lên men: yếu tố mạnh, đẩy nhanh quá trình lên

men

Trang 7

Nồng độ của sản phẩm lên men: ở nồng độ nhất định sẽ bắt đầu ức chế hoạt

động sống của tế bào nấm men Khả năng chịu đựng độ cồn của các nấm men khác nhau thì khác nhau phụ thuộc vào khả năng thích ứng cũng như trạng thái sinh lý

1.3 Tổng quan về quy trình cố định nấm men

1.3.1 Định nghĩa:

Kỹ thuật cố định tế bào được định nghĩa: “Kỹ thuật bao bọc hoặc định vị các tế bào còn nguyên vẹn trong 1 vùng không gian nhất định nhằm bảo vệ các hoạt tính xúc tác mong muốn” (Karel và cộng sự, 1975)

Kỹ thuật cố định tế bào bắt đầu được nghiên cứu sâu rộng từ những năm 70 của thế kỷ trước Nhiều chất mang cũng như kỹ thuật mới đã được nghiên cứu và áp dụng nhằm mở rộng và phát triển các ứng dụng của tế bào cố định

1.3.2 Ưu và nhược điểm của nấm men cố định.

1.3.2.1 Ưu điểm:

Có thể tái sử dụng nhiều lần

Sản phẩm sạch, giảm chi phí tinh sạch

Bền với môi trường nhờ sự bảo vệ của chất mang

Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tách sinh khối ra khỏi môi trường lên men, đơn giản hóa quá trình tách sinh khối và thu sản phẩm lên men

Dễ điều khiển mật độ tế bào trong thiết bị lên men

Điều chỉnh hình dạng kích thước phù hợp với thiết bị

Thực hiện được quá trình lên men liên tục mà tế bào ít bị rửa trôi

Hạn chế được ảnh hưởng của các vi sinh vật tạp lên tế bào

Tăng khả năng chống lại các điều kiện bất lợi của môi trường lên tế bào như sự thay đổi về nhiệt độ, pH, áp suất thẩm thấu hay sự xuất hiện các chất ức chế trong môi trường lên men

Giảm chi phí, giá thành

1.3.2.2: Nhược điểm:

Hoạt lực tế bào thấp hơn tế bào tự do, vì tế bào tiếp xúc với cơ chất phải thông qua chất mang, nên việc trao đổi chất diễn ra khó khăn hơn

Vận tốc phản ứng chậm vì cơ chất và sản phẩm phải thông qua chất mang để trao đổi

Trang 8

Sự phát triển sinh khối bên trong chất mang có thể phá hỏng cấu trúc của nó, làm cho tế bào bị rửa trôi ra khỏi chất mang Khi đó việc tách và thu nhận sản phẩm sẽ khó khăn

Một số chất mang và phương pháp cố định có thể làm ảnh hưởng đến hoạt tính của tế bào

Cấu trúc của chất mang có thể ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của tế bào với môi trường

1.3.3 Chất mang trong kỹ thuật cố định tế bào.

1.3.3.1 Yêu cầu chất mang:

Có tính trơ cao (bền hóa học), không bị hòa tan, không tác dụng với những sản phẩm thứ cấp sinh ra trong dịch

Bền sinh học (không bị vi sinh vật phá hủy)

Tính chất cơ lý bền vững, ổn định để chịu tác động môi trường

Có độ xốp để quá trình trao đổi chất được thực hiện dễ dàng

Không gây ức chế hay làm mất hoạt tính enzyme của vi sinh vật

Có khả năng bám dính tốt, dễ gắn vi sinh vật vào

An toàn với môi trường

Không cạnh tranh với cơ chất

Phù hợp hình dạng thiết bị

Rẻ tiền, dễ tìm

1.3.3.2 Phân loại:

Có 2 loại chất mang:

Chất mang tự nhiên: tinh bột, cellulose, agar, alginate,…

Chất mang nhân tạo: polyme từ mủ cao su, poly srtiren, poly acetae,…

Trang 9

1.3.4 Kỹ thuật cố định trong tế bào.

1.3.4.1 Phương pháp cố định vi sinh vật trên bề mặt chất mang

Phương pháp gắn tế bào lên bề mặt chất mang:

Vật liệu: thủy tinh xốp, cellulose, than, các oxit kim loại, đất hiếm, cao lanh… Nguyên tắc thực hiện:

Thông qua các liên kết cộng hóa trị (giữa nhóm amin và nhóm cacboxyl), liên kết tĩnh điện giữa bề mặt mang điện tích, lực Vanderwalls Các phương pháp gắn này cụ thể dựa trên các nguyên tắc sau:

Gắn tế bào bằng liên kết ion: dựa vào sự tích điện trái dấu giữa tế bào và chất mang

Gắn tế bào bằng liên kết cộng hóa trị: có thể xảy ra 2 trường hợp:

Trường hợp 1: chất mang có chứa các nhóm có thể tham gia trực tiếp với nhóm amin của protein vi sinh vật

Trường hợp 2: phải hoạt hóa chất mang bằng cách gắn lên chất mang những chất có khả năng phản ứng Tiếp đó là tạo liên kết giữa các nhóm trên chất mang với tế bào vi sinh vật

Ưu nhược điểm của phương pháp này là có thể tạo được những liên kết hóa học mạnh giữa tế bào và chất mang Tuy nhiên, để tạo ra các mối nối đồng hóa trị này thường tốn công và mắc tiền

Phương pháp hấp phụ:

Vật liệu: sử dụng các chất có hoạt tính bề mặt mạnh như cellulose, agarose, polyacrylamide, chitin, nylon, thủy tinh,…

Nguyên tắc thực hiện: dựa vào cơ chế hấp phụ, có thể xảy ra những trường hợp sau:

Trường hợp 1: chất mang có nhiều lỗ xốp, tế bào vi sinh vật bám vào các lỗ xốp

và toàn bộ bề mặt chất mang

Trường hợp 2: đối với chất mang không có lỗ xốp (thủy tinh) tế bào sẽ bám trên

bề mặt chất mang

Trang 10

Trường hợp 3: khi chất mang tích điện (nhựa trao đổi ion) chúng sẽ tạo liên kết ion

Phương pháp thực hiện: tế bào vi sinh vật được phối trộn với chất mang trong môi trường lỏng, khuấy trộn trong điều kiện thích hợp, sau đó rửa bã để loại bỏ phần tế bào vi sinh vật dư

Ưu nhược điểm của phương pháp này là dễ thực hiện, đơn giản Tuy nhiên liên kết vậy lý này rất yếu nên vi sinh vật dễ tuột khỏi chất mang

1.3.4.2 Phương pháp nhốt tế bào trong cấu trúc gel

Vật liệu: có thể sử dụng những loại sau:

Ion gel: các polymer mà tế bào gắn kết với nhau tạo thành mạng lưới bằng liên kết ion

Covanlent gel: polymer gắn kết với nhau bằng liên kết cộng hóa trị, tạo thành mạng lưới

Non- covanlent gel: polymer gắn với nhau thường bằng liên kết hydro

Cryogel: là cấu trúc gel polymer mới được tạo bởi phương pháp lạnh đông các tiểu phần polymer có phân tử lượng cao hay thấp

Alginate là vật liệu lấy từ rong biển, có khả năng tạo gel tốt, rất tốt để bao gói enzyme hay tế bào

Nguyên tắc thực hiện: trong hệ gel, các polymer sẽ tạo thành mạng lưới bao bọc

tế bào Mạng lưới có lỗ nhỏ đến mức tế bào không thể ra ngoài, nhưng đủ lớn để

cơ chất và sản phẩm chui vào Đối với chất mang tạo liên kết ion, ta trộn chung huyền phù tế bào và hỗn hợp chất mang đa điện tích và dung dịch đa điện tính trái dấu

Với chất mang polymer như covanlent: trộn huyền phù tế bào vi sinh vật với các monomer rồi đem trùng hợp, hoặc trộn chung với polymer tạo liên kết giữa các sợi polymer

Gel alginate được tiến hành như sau: đầu tiên gel alginate được đun sôi để nguội đến 30oC Sau đó, khuấy trộn alginate và huyền phù tế bào tỉ lệ 1:1, khuấy

Ngày đăng: 04/07/2015, 11:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Nấm men Saccharomyces cerevisiae - Tìm hiểu vai trò của nấm men Saccharomyces cerevisiae. trong công nghệ sản xuất bia
Hình 1.1. Nấm men Saccharomyces cerevisiae (Trang 1)
Hình 1.2. Cấu tạo chung của tế bào nấm men. - Tìm hiểu vai trò của nấm men Saccharomyces cerevisiae. trong công nghệ sản xuất bia
Hình 1.2. Cấu tạo chung của tế bào nấm men (Trang 2)
Bảng 1.1. So sánh ưu nhược điểm của phương pháp cố định tế bào - Tìm hiểu vai trò của nấm men Saccharomyces cerevisiae. trong công nghệ sản xuất bia
Bảng 1.1. So sánh ưu nhược điểm của phương pháp cố định tế bào (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w