Báo cáo 5 năm 2006-2011 kết quả thực hiện hoạt động ủy thác cho vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội NH CSXH của Hội LHPN tỉnh Ninh Bình; Tổng kết công tác dạy nghề và tạo việc làm cho ph
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự góp ý cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Phượng
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của Tiến sĩ Phạm Thị Minh Nguyệt cùng với những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô trong bộ môn Quản trị kinh doanh- Học viện Nông nghiệp Việt Nam Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới những sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi xin chân thành cảm ơn Thường trực Hội LHPN tỉnh, các Ban chuyên môn cơ quan Hội LHPN tỉnh Hưng Yên, Ngân hàng Chính sách xã hội, Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên, Hội LHPN các xã Đa Lộc, huyện Ân Thi,
Tứ Dân, huyện Khoái Châu và xã Lạc Hồng huyện Văn Lâm cùng bạn bè, các đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Vì hạn chế về nguồn lực và thời gian, đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi xin trân trọng tiếp thu các ý kiến phê bình, đóng góp của các nhà khoa học và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Phượng
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv
2.1.5 Vai trò của chương trình “Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế” 25
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1.2 Khái quát về Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hưng Yên 38 3.1.3 Vai trò của Hội LHPN tỉnh trong thực hiện chương trình hỗ trợ
3.3.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh quy mô của chương trình 52 3.3.2 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả của chương trình 52 3.3.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 53
4.1 Tình hình chung của phụ nữ tỉnh Hưng Yên 55 4.2 Tình hình triển khai chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế 58
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
4.3.1 Tác động của vốn vay đến đầu tư tư liệu sản xuất 81 4.3.2 Tác động của chương trình đến việc làm của phụ nữ 84 4.3.3 Tác động của chương trình đến thu nhập 89 4.3.4 Tác động của chương trình đến nhận thức của người phụ nữ 97 4.4 Đánh giá chung về tác động của chương trình 105
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi
TK & VV Tiết kiệm và vay vốn
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii
4.1 Tình hình chung của phụ nữ tỉnh Hưng Yên qua 3 năm
4.2 Tình hình vay vốn của phụ nữ qua 3 năm ( 2011-2013) 60 4.3 Tình hình huy động mức vốn vay của phụ nữ qua 3 năm 62 4.4 Nhu cầu tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho phụ nữ
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
4.12 Cảm nhận của phụ nữ về những thay đổi của việc làm sau khi
4.13 Tình hình việc làm của phụ nữ sau khi tham gia học nghề 87 4.14 Tình hình thuê lao động của các hộ điều tra 88 4.15 Thay đổi về thu nhập của phụ nữ có việc làm sau khi học nghề 89 4.16 Đánh giá của hộ điều tra về hoạt động dạy nghề 90 4.17 Thu nhập và sự thay đổi thu nhập của hộ sau khi được thụ
4.18 Tác động của chương trình đến việc tham gia các hoạt động xã
4.19 Tình hình tham gia các hoạt động xã hội của phụ nữ tại địa phương 101 4.20 Ý kiến của hộ điều tra về những thay đổi trong nhận thức cá
nhân sau khi tham gia các nội dung của chương trình 102
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức Hội LHPN tỉnh Hưng Yên 42
Sơ đồ 4.1: Quy trình cho vay vốn của Ngân hàng CSXH 58 Biểu đồ 3.1 Giá trị sản xuất theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế 38 Biểu đồ 4.1: Kết quả đào tạo nghề cho hội viên phụ nữ qua 3 năm
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1
1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ Việt Nam đã và đang có những đóng góp rất quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Cùng với quá trình đổi mới đất nước thì việc chăm lo sự phát triển mọi mặt, phát huy sức mạnh của phụ nữ là nhiệm vụ thường xuyên và rất quan trọng của Đảng ta trong các thời kỳ cách mạng Tuy nhiên, thực tế hiện nay việc triển khai và thi hành những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm hỗ trợ cho phụ nữ trong đó
có việc thực hiện các chương trình hỗ trợ cho phụ nữ trên nhiều lĩnh vực còn nhiều hạn chế và bất cập Theo báo cáo về thực hiện công tác bình đẳng giới của TW Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam năm 2013 có 48,4% lực lượng lao động (LLLĐ) là nữ nhưng phụ nữ thường tham gia vào các công việc không chính thức và dễ bị tổn thương Theo Điều tra về Nhà ở và mức sống hộ gia đình năm 2008, chỉ có 24,22% phụ nữ làm các công việc phi nông nghiệp trong khi tỷ lệ này ở nam giới là 35,5% Có đến 53% phụ nữ làm việc gia đình mà không được trả công, trong khi con số này đối với nam là 32% Phụ nữ làm việc trong các khu vực không chính có tiền công thấp hơn, tay nghề thấp hơn và cơ hội để nâng cao tay nghề và được đào tạo ít hơn nam giới Ước tính, tỷ lệ thu nhập kiếm được của nữ so với nam là 0,69, nghĩa là
cứ 100.000 đồng nam giới kiếm được thì nữ giới chỉ kiếm được 69.000 đồng Như vậy, bất bình đẳng giới thực sự là rào cản cho sự phát triển của phụ nữ
Đã đến lúc cần có những giải pháp, những chương trình cụ thể nhằm hỗ trợ cho phụ nữ để giúp họ thay đổi nhận thức, vươn lên phát triển kinh tế và tự khẳng định bản thân
Chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế ra đời là một bước đột phá, nhằm hỗ trợ phụ nữ vươn lên làm giàu về kinh tế, thay đổi cuộc sống của
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
nhiều phụ nữ và gia đình họ Đã có nhiều nghiên cứu, báo cáo tổng kết đánh giá tác động của chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế: Trần Phan Như Ý- Vai trò của Hội LHPN huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang triển khai thực hiện chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế từ năm 2001-2006; Phụ nữ tham gia phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo: trường hợp làng Công giáo Bảo Nham, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An của Lê Nguyễn Lê (2008) Báo cáo 5 năm (2006-2011) kết quả thực hiện hoạt động ủy thác cho vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội (NH CSXH) của Hội LHPN tỉnh Ninh Bình; Tổng kết công tác dạy nghề và tạo việc làm cho phụ nữ nhiệm kỳ 2006-2011 của Hội LHPN tỉnh Hà Nam…Hầu hết các nghiên cứu, báo cáo đều chỉ ra những tác động tích cực của chương trình trong việc hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế đồng thời cũng nêu lên những tồn tại, hạn chế trong việc triển khai các nội dung của chương trình tại các địa bàn nghiên cứu Tuy nhiên cũng chưa có một nghiên cứu cụ thể nào được được công bố về những tác động của chương trình này Câu hỏi đặt ra là liệu chương trình “Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế” có tạo ra
sự thay đổi trong cuộc sống của những người phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn và phụ nữ nghèo không? Nhận thức của họ thay đổi như thế nào từ khi được tiếp cận chương trình? Hội LHPN các cấp cần làm gì để hoàn thiện và phát huy hơn nữa những lợi ích từ chương trình
Hội LHPN tỉnh Hưng Yên khi triển khai chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tại tỉnh đã đạt được những kết quả tích cực; tạo ra sự chuyển biến về đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, góp phần quan trọng vào thực hiện chương trình giảm nghèo của tỉnh Bên cạnh những đóng góp tích cực mà chương trình mang lại cho hội viên phụ nữ thì những hạn chế, thiếu sót của chương trình cũng đã được các cấp Hội chỉ rõ trong quá trình thực hiện và đã có nhiều những giải pháp, kiến nghị được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả từ chương trình mà cụ
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3
thể hơn là phát huy vai trò, nội lực của người phụ nữ trong gia đình và xã hội
Do vậy cần thiết phải có một nghiên cứu cụ thể nhằm phân tích những tác động của chương trình đến đối tượng là hội viên phụ nữ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác động của chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tại tỉnh Hưng Yên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng, đánh giá những tác động của chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tại tỉnh Hưng Yên nhằm chỉ ra những tác động tích cực và hạn chế của chương trình đối với người phụ nữ từ đó tìm ra những giải pháp nhằm phát huy lợi ích và khắc phục những vấn đề còn tồn tại của chương trình
- Đánh giá thực trạng và xem xét tác động của chương trình Hỗ trợ phụ
nữ phát triển kinh tế do Hội LHPN tỉnh Hưng Yên triển khai đến các đối tượng là hội viên phụ nữ nhất là đối với phụ nữ nghèo và cận nghèo trên địa bàn tỉnh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát huy những lợi ích của chương trình đối với người phụ nữ
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cúu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4
Là những nội dung của chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế và tác động của chương trình đến người phụ nữ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chọn không gian nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
- Thời gian nghiên cứu: Số liệu thứ cấp lấy từ năm 2011-2013 và điều tra số liệu sơ cấp năm 2013
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những tác động của chương trình đến người phụ nữ mà chủ yếu là đánh giá tác động thông qua sự cảm nhận của người phụ nữ về những thay đổi của thu nhập, việc làm, nhận thức và một số tác động khác Tuy nhiên, do trong quá trình triển khai chương trình có thể có những tác động khác ngoài tác động của chương trình đến người phụ nữ nhưng chúng tôi không thể bóc tách được một cách chi tiết nên tạm thời chúng tôi không nghiên cứu những tác động trước đó mà coi như đó
3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
5 Kết luận và kiến nghị
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6
2.1.1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về phụ nữ
Xã hội muốn tồn tại và phát triển trước hết phải sản xuất ra của cải vật chất Muốn sản xuất ra của cải vật chất phải có đông đảo người lao động bao gồm cả nam và nữ Nhìn lại lịch sử từ xưa tới nay, phụ nữ bao giờ cũng là một bộ phận quan trọng trong đông đảo những người lao động Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội Không chỉ góp phần tạo ra của cải vật chất, phụ nữ còn góp phần quan trọng trong các hoạt động văn hóa tinh thần, làm phong phú thêm cuộc sống của con người tuy nhiên trong tất cả xã hội có giai cấp đối kháng, phụ nữ luôn bị kinh rẻ và mất quyền bình đẳng, không những bên ngoài xã hội mà còn trong gia đình
C.Mác đã vạch rõ sự bóc lột lao động phụ nữ trong xã hội tư bản: “Lao động càng ít cần đến sự khéo tay và sức lực chừng nào, nghĩa là công nghiệp hiện đại càng tiến bộ, thì lao động của đàn ông càng được thay thế bằng lao động của đàn bà và trẻ em Những sự phân biệt già trẻ, trai gái không còn có
ý nghĩa xã hội gì nữa đối với giai cấp công nhân Tất cả đều là công cụ lao động, mà giá cả thay đổi tùy theo già trẻ và trai gái” [20]
Sống trong hoàn cảnh bị khinh rẻ và mất quyền bình đẳng ấy, tất nhiên người phụ nữ khát khao được giải phóng và thực tế, họ đã không ngừng đấu tranh giải phóng mình Trước đây, do điều kiện chưa cho phép, những cuộc đấu tranh của họ chưa mang lại kết quả mong muốn Chỉ đến khi giai cấp
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7
công nhân xuất hiện và được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác -Lênin thì vấn đề giải phóng phụ nữ mới được nhận thức và giải quyết đúng
V.I.Lênin đã khẳng định: “Giai cấp vô sản sẽ không đạt được tự do hoàn toàn, nếu không giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ”.[20]
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, muốn giải phóng phụ nữ thì điều quan trọng là phải giải phóng họ về kinh tế, và địa vị xã hội của phụ nữ, do địa vị
kinh tế của họ quyết định
C.Mác đã khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào thì chắc chắn không làm nổi Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào”.[20]
2.1.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phụ nữ
Nói về vai trò của phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định phụ nữ là lực lượng đông đảo cách mạng Người đã đánh giá đúng vai trò và khả năng của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội, Người xác định giải phóng phụ nữ, giành quyền bình đẳng cho phụ nữ là một trong các mục
tiêu của cách mạng: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng Chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”.[29]
Trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác- Lenin và tư tưởng Hồ Chí minh Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hay trong những năm tháng khó khăn của thời kỳ bao cấp, Đảng ta luôn quan tâm ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết, đề ra đường lối, chủ trương, lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động phụ
nữ, chăm lo bồi dưỡng, đào tạo, cất nhắc, đề bạt nhiều thế hệ cán bộ, lãnh đạo
nữ Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ nữ ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, có phẩm chất đạo đức, không ngừng nâng cao năng lực, trình độ, bản
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8
lĩnh vững vàng, phối hợp cùng với lực lượng nam giới góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Đảng ta khẳng định: Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp
ủy Đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40% Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực
Trong suốt những năm qua, đội ngũ cán bộ nữ ngày càng đông đảo, trưởng thành ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực; đặc biệt, những thành tích về chỉ số phát triển con người Việt Nam (HDI) là 0,725, xếp ở vị trí 116/182 quốc gia và vùng lãnh thổ; chỉ số phát triển giới (GDI) xếp vị trí 94/155 nước (theo Báo cáo phát triển con người của Liên hợp quốc năm 2009) là những minh chứng sinh động về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng nhằm đảm bảo và phát huy vai trò, vị thế của người phụ nữ, song chưa thể khắc phục được sự bất bình đẳng giới trong xã hội Đây cũng là nguyên nhân chính cản trở sự phát triển về mọi mặt của phụ nữ Do vậy, chúng ta phải tìm cách khắc phục, thay đổi nếp nghĩ, cách làm, nâng cao nhận thức của cộng động về vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội Chương trình Hỗ trợ phụ
nữ phát triển kinh tế do Hội LHPN Việt Nam triển khai đã góp phần quan trọng để người phụ nữ được phát huy khả năng, sự sáng tạo của mình trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
2.1.2 Quan điểm về tác động
Trong xã hội loài người mỗi cá nhân không thể tồn tại được nếu như không có sự tác động đến những cá nhân khác hay đến cộng đồng của mình
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9
Sự tác động này diễn ra cũng rất đa dạng, trên nhiều lĩnh vực bằng nhiều cách thức khác nhau
Theo từ điển tiếng việt, “tác động” là làm cho một đối tượng nào đó có những biến đổi nhất định Vậy tác động là một khái niệm rộng, bao trùm lên nhiều lĩnh vực, chỉ cần một sự kích thích nào đó gây ra sự biến đổi (nội dung, hình thức…) đều có thể được coi là tác động, trong đó tác động đến con người
là hình thức phức tạp nhất
Theo từ điển tâm lý học do A.V Petorovxky và M.G Iarosevxki chủ biên định nghĩa: “Tác động là sự chuyển dịch có định hướng các vận động hoặc thông tin từ thành viên này đến thành viên khác tham gia tương tác.”Như vậy con người là chủ thể mang ý thức nên mọi tác động từ bên ngoài đều phải thông qua ý thức chủ quan mới gây ra ở họ những biến đổi nhất định Tức là, những tác động vào con người không phải theo con đường trực tiếp một cách máy móc, mà theo con đường gián tiếp qua hoạt động của não, thông qua sự nhận thức và sự quyết định lựa chọn của người bị tác động Tác động là động lực để phát triển hay nói cách khác phát triển là hệ quả của tác động Đối tượng chịu tác động có thể chịu tác động trên nhiều mặt
ở nhiều lĩnh vực khác nhau bởi chủ thể của các tác động, chẳng hạn trong chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế thì tác động của chương trình đến người phụ nữ nhằm mục đích tạo ra những thay đổi có chủ đích đó là việc
hỗ trợ để người phụ nữ có kỹ năng kiến thức, có nghề nghiệp ổn định để phát triển kinh tế gia đình đồng thời khẳng định vai trò của bản thân trong gia đình
và xã hội
Như vậy mọi sự tác động dù lớn hay nhỏ; có chủ đích hoặc không có chủ đích đều tạo ra sự thay đổi thậm chí là thay đổi rõ nét và tích cực, hoặc tiêu cực đối với đối tượng chịu tác động
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10
2.1.3 Chương trình “Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế”
2.1.3.1 Khái niệm hỗ trợ
“Hỗ trợ” là từ Hán Việt (hỗ là lẫn nhau, trợ là giúp), như vậy “hỗ trợ”
là có tính cách giúp đỡ hai chiều, giúp đỡ qua lại
Hỗ trợ là nhằm vào việc giúp đỡ thêm, trợ giúp thêm cho các đối tượng
có nhu cầu nhưng chưa có đủ tiềm lực hoặc các điều kiện cần thiết để thực hiện các công việc đó có thêm khả năng để phát triển sản xuất, kinh doanh hoặc thực hiện các công việc khác một cách chính đáng
2.1.3.2 Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế
Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế là những nội dung hỗ trợ dành riêng cho phụ nữ chủ yếu là phụ nữ tại các vùng nông thôn, miền núi, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn có sức lao động hoặc có khả năng lao động nhưng thiếu điều kiện sản xuất trong một thời gian nhất định Có nhiều hình thức hoặc cách thức hỗ trợ khác nhau nhưng về cơ bản hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế bao gồm những yếu tố cơ bản sau:
- Mục tiêu: hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế là hình thức hỗ trợ cho phụ
nữ đặc biệt là phụ nữ nghèo, phụ nữ nông thôn có nhu cầu về vốn, khoa học
kỹ thuật và công nghệ để phát triển sản xuất hay nhu cầu về nghề nghiệp, việc làm… vì mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu về kinh tế và không vì mục tiêu lợi nhuận
- Nguyên tắc hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế: hỗ trợ cho phụ nữ nhất là phụ nữ nghèo hoặc có hoàn cảnh khó khăn nhưng thiếu vốn cũng như các điều kiện sản xuất kinh doanh khác Phụ nữ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn phải thuộc những hộ được xác định theo chuẩn nghèo do Bộ LĐTB&XH hoặc địa phương công bố
- Điều kiện: Tùy vào đặc điểm tình hình của từng địa phương mà các hoạt động hỗ trợ được thực hiện bằng các cách thức khác nhau, có thể quy
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11
định cho phù hợp với thực tế nhưng một trong những điều kiện cơ bản nhất của chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế là: phụ nữ được nhận các khoản hỗ trợ mà không phải thế chấp tài sản hoặc bỏ ra các khoản chi phí khác cho đơn vị hỗ trợ
2.1.3.3 Xuất xứ, mục tiêu của chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế
* Xuất xứ của chương trình
Hoạt động giúp phụ nữ nhất là phụ nữ nghèo thoát nghèo, phát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộc sống đồng thời giúp nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, hướng tới thực hiện bình đẳng giới là mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng mà Hội LHPN Việt Nam qua các thời kỳ đã và đang thực hiện
Từ khi thành lập ngày 20/10/1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội LHPN Việt Nam đã trải qua 10 kỳ đại hội và bắt đầu từ Đại hội VI thì hoạt động giúp phụ nữ phát triển kinh tế mới ra đời dưới hình thức phát động cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” và “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học” Tuy nhiên do yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp đổi mới đất nước và vài trò của Hội Phụ nữ các cấp đối với sự tiến bộ của phụ nữ đòi hỏi phải có một chương trình thiết thực, trên phạm vi rộng hơn và có ý nghĩa to lớn hơn nhằm hỗ trợ phụ nữ vươn lên phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống từ đó nâng cao nhận thức và vai trò của phụ
nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội do vậy Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ IX đã đề ra 6 chương trình trọng tâm công tác Hội trong đó chương trình -“ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế” là chương trình thiết thực đã mang lại những lợi ích lớn cho người phụ nữ nhất là phụ nữ tại vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số trong đó tập trung vào các đối tượng là phụ nữ nghèo, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn
* Mục tiêu của chương trình gồm:
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12
Thứ nhất, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả các hoạt động hỗ trợ phụ nữ
thực hiện xóa đói giảm nghèo Phấn đấu 80% trở lên số hộ đói nghèo do phụ
nữ làm chủ hộ được giúp đỡ xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế
Thứ hai, phát triển kinh tế gia đình, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng trang trại và phát triển doanh nghiệp nhỏ Hỗ trợ phụ nữ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần tạo thêm việc làm cho phụ nữ
Thứ ba, phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng đào tạo nghề,
dịch vụ việc làm của Hội, góp phần thực hiện chỉ tiêu quốc gia về giải quyết việc làm về đào tạo nghề cho phụ nữ
2.1.3.4 Nội dung của Chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế
a Hỗ trợ vốn vay
Hội LHPN Việt Nam và Hội LHPN các tỉnh, thành phố trong cả nước
đã ký văn bản thỏa thuận với NHCSXH cùng cấp về việc thực hiện ủy thác cho vay vốn đối với phụ nữ nghèo cụ thể như sau:
- Mục tiêu: Thông qua Hội LHPN các cấp, NHCSXH thực hiện cho vay vốn đối với phụ nữ thuộc các hộ nghèo và hộ cận nghèo hoặc những phụ nữ
có hoàn cảnh khó khăn (không bao gồm những phụ nữ không có sức lao động, những phụ nữ độc thân đang trong thời gian thi hành án, những phụ nữ thuộc hộ nghèo nhưng bị chính quyền địa phương loại khỏi danh sách hộ nghèo vì vi phạm pháp luật hoặc lười biếng không chịu lao động; những phụ
nữ neo đơn, tàn tật thiếu ăn do ngân hàng Nhà nước trợ cấp) góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và ổn định xã hội
- Nguyên tắc cho vay: Sử dụng vốn vay đúng mục đích xin vay; hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận
- Điều kiện, đối tượng vay vốn:
Những phụ nữ thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13
Hộ phụ nữ nghèo phải tham gia Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) trên địa bàn
- Mục đích sử dụng vốn vay cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gồm: + Đầu tư mua sắm các loại vật tư, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc, gia cầm phục vụ cho các ngành trồng trọt và chăn nuôi
+ Mua sắm các công cụ lao động nhỏ như cày, cuốc, bừa, thuổng, bình phun thuốc trừ sâu…
+ Các chi phí thanh toán cung ứng lao vụ như: thuê đất, bơm nước, dịch
- Mức cho vay: Cho vay sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mức cho vay tối
đa 30 triệu đồng/1hộ
- Phương thức cho vay: Ủy thác từng phần qua tổ chức Hội phụ nữ
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14
- Lãi suất cho vay: 0,65 %/tháng
- Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất cho vay
- Quy trình cho vay:
Sơ đồ 2.1 Quy trình cho vay vốn
(Nguồn: Hướng dẫn 316/NHCS-KH của NHCSXH về nghiệp vụ cho
vay vốn đối với hộ nghèo) Bước 1: Khi có nhu cầu vay vốn, phụ nữ viết Giấy đề nghị vay vốn
(mẫu số 01/TD), gửi cho Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV)
Bước 2: Tổ TK&VV cùng Hội Phụ nữ xã tổ chức họp để bình xét
những hộ nghèo đủ điều kiện vay vốn, lập danh sách mẫu 03/TD trình UBND cấp xã xác nhận là đối tượng được vay và cư trú hợp pháp tại xã
Bước 3: Tổ TK&VV gửi hồ sơ đề nghị vay vốn tới ngân hàng
B ước 4: Ngân hàng phê duyệt cho vay và thông báo tới UBND cấp xã
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15
Bước 6: Hội phụ nữ xã thông báo cho Tổ TK&VV
Bước 7: Tổ TK&VV thông báo cho tổ viên/hộ gia đình vay vốn biết
danh sách hộ được vay, thời gian và địa điểm giải ngân
Bước 8: Ngân hàng tiến hành giải ngân đến người vay
b Tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật
- Mục đích: Nhằm trang bị những kiến thức, cách thức áp dụng kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp tập trung vào hai lĩnh vực chính là trồng trọt, chăn nuôi Giúp các hội viên phụ nữ và gia đình mạnh dạn ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất từ đó tạo ra những sản phẩm ngày càng tốt và chất lượng với mục tiêu là giúp những phụ nữ nghèo, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo, phát triển kinh tế gia đình
- Đối tượng tập huấn: Hội viên phụ nữ
- Báo cáo viên: Hội LHPN các tỉnh thành phố tổ chức lớp tập huấn và mời giảng viên về các lĩnh vực có liên quan; hoặc giảng viên là cán bộ các Sở, ngành chức năng có tham gia ký kết chương trình phối hợp với hội phụ nữ trong hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế như cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn…
- Nội dung tập huấn:
Kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy, hải sản
Kỹ thuật sản xuất lúa chất lượng cao, trồng nấm, rau màu, cây vụ đông, rau an toàn, cây ăn quả, trồng hoa, cây cảnh
Kỹ thuật xử lý rác thải nông thôn kết hợp với mô hình nuôi giun quế
Kỹ thuật sơ chế, bảo quản nông sản sau thu hoạch
Kiến thức vệ sinh môi trường
- Hình thức tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật:
Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho hội viên phụ
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16
nữ về những mô hình sản xuất mới, những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
Tổ chức tham quan mô hình, học tập kinh nghiệm trong đầu tư phát triển sản xuất chủ yếu là sản xuất nông nghiệp đang được thực hiện có hiệu quả trên địa bàn, cũng như kinh nghiệm của một số địa phương trên cả nước
có thể ứng dụng tại địa phương cho hội viên phụ nữ, từ đó đầu tư nhân rộng
c Hoạt động dạy nghề cho phụ nữ
- Mục đích: nhằm góp phần giải quyết nhu cầu việc làm của hội viên phụ nữ đặc biệt là phụ nữ tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa đảm bảo khả năng tự trang trải cho cuộc sống của bản thân và gia đình
Hội LHPN các tỉnh, thành trong thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình chủ động ký các chương trình phối hợp với các Sở ngành liên quan như:
Sở Khoa học và Công nghệ, Sở tài nguyên và môi trường, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, các trường nghề nhằm mở các lớp dạy nghề, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm cho hội viên phụ nữ
- Đối tượng: căn cứ theo Quyết định số 295/QĐ-TTg về phê duyệt Đề
án “ Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010-2015” thì đối tượng được học nghề được quy định như sau:
Là lao động nữ trong độ tuổi lao động; ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người trong diện thu hồi đất canh tác, phụ nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp
- Quy định về chính sách đối với phụ nữ học nghề: được thực hiện theo Quyết định 295/QĐ-TTg:
Lao động nữ thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, lao động nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp được hỗ
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17
trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 03 triệu đồng/người/khoá học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế); hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000đ/ngày thực học/người; hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000đ/người/khoá học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ
15 km trở lên;
Lao động nữ sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm; Lao động nữ sau khi học nghề tham gia sản xuất kinh doanh, tự tạo việc làm hoặc được Hội phụ nữ giới thiệu việc làm đồng thời được Hội phụ
nữ và các đơn vị chức năng trên địa bàn tỉnh ưu tiên hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm
Mỗi lao động nữ chỉ được hỗ trợ học nghề một lần theo chính sách của
Đề án 295 Những người đã được hỗ trợ học nghề theo các chính sách khác của Nhà nước thì không được tiếp tục hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề
án này Riêng những người đã được hỗ trợ học nghề nhưng bị mất việc làm
do nguyên nhân khách quan thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định tiếp tục hỗ trợ học nghề để chuyển đổi việc làm theo chính sách của Đề án này nhưng tối đa không quá 03 lần
Mức hỗ trợ học nghề sẽ được điều chỉnh khi có sự thay đổi chính sách chung
2.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến chương trình “Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế”
2.1.4.1 Chính sách của Đảng và Nhà nước
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách đúng đắn hỗ trợ cho phụ nữ điều này có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện bình đẳng giới, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và phát triển bền vững
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18
Các chủ trương chính sách ưu tiên dành cho phụ nữ đã được thể hiện rõ trong các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết hội nghị BCH Trung ương; các bộ luật như: luật bình đẳng giới, luật phòng chống bạo lực gia đình, luật hôn nhân & gia đình, luật phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em đặc biệt là Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…
Để phụ nữ có cơ hội được học tập và làm việc trong những điều kiện thuận lợi, phát huy hết khả năng, thế mạnh của mình thì phụ thuộc rất nhiều vào những cơ chế chính sách Cơ chế chính sách tốt, thông thoáng đề cập đến các nội dung hỗ trợ cho phụ nữ thì phụ nữ sẽ nhận được những sự hỗ trợ tích cực từ các cấp, các ngành, các cá nhân và toàn xã hội chẳng hạn như quyền của người phụ nữ được khẳng định và phát triển qua các bản Hiến pháp và trong các văn bản pháp luật như: Quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; Quyền bầu cử và ứng cử… các quyền này tạo điều kiện cho người phụ nữ được tự do phát triển khả năng của bản thân, tự do bày tỏ quan điểm, ý kiến của chính mình Ngược lại, những cơ chế, chính sách không có tính khả thi cao, thiếu tính thực tế đặc biệt là các cơ quan chức năng chưa có quy định nghiêm minh về việc xử phát đối với những đơn vị, tổ chức không thực hiện đúng những quy định của pháp luật có liên quan đến lao động nữ và phụ nữ, cũng sẽ tạo ra những ra những rào cản lớn cho việc thực hiện các hoạt động
hỗ trợ cho phụ nữ mà rộng hơn là đạt được mục tiêu xóa bỏ sự bất bình đẳng giới trong xã hội chẳng hạn như:
Quy định về độ tuổi nghỉ hưu tại Điều 145 Bộ luật Lao động ghi rõ: độ tuổi nghỉ hưu của nữ sớm hơn nam 5 tuổi (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi) cho tất cả các loại lao động kể cả công chức và viên chức sự nghiệp là chưa hợp
lý Quy định này đã làm ảnh hưởng đến quyền lao động của người lao động
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19
nữ như đã làm mất các cơ hội đào tạo và thăng tiến của lao động nữ làm công tác quản lý và lao động nữ khu vực phi sản xuất làm cản trở việc phát huy đầy
đủ nguồn nhân lực và làm tăng khoảng cách giới trong lĩnh vực lãnh đạo và quản lý, vừa ảnh hưởng đến lương của họ khi nghỉ hưu
2.1.4.2 Đầu tư cho các chương trình hỗ trợ phụ nữ
Đầu tư cho các chương trình hỗ trợ cho phụ nữ là đầu tư hỗ trợ kinh phí cho các chương trình hoạt động của cơ quan, tổ chức nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Ngày nay, phụ nữ tham gia nhiều vào các hoạt động của nền kinh tế góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của đất nước, do vậy đầu tư cho các chương trình hỗ trợ phụ nữ là đầu
tư vào các hoạt động:
- Hỗ trợ sản xuất kinh doanh, dạy nghề, tạo việc làm, tư vấn hướng nghiệp góp phần làm tăng thu nhập cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nghèo, phụ
nữ có hoàn cảnh khó khăn
- Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện…nâng cao năng lực, trình độ, kỹ năng, kiến thức cho phụ nữ đặc biệt là nhóm phụ nữ yếu thế, thiệt thòi
- Hỗ trợ về giáo dục và đào tạo, y tế dinh dưỡng, nhà ở, văn hóa, thông tin
- Hỗ trợ phụ nữ tiếp cận các dịch vụ, công cụ trợ giúp pháp lý nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ biết quyền và nghĩa vụ của mình, chủ động tiếp cận những chính sách trợ giúp của Nhà nước, vươn lên thoát nghèo
Đầu tư cho các lĩnh vực, các chương trình cho phụ nữ cần có sự tham gia vào cuộc của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ
và từ chính bản thân người phụ nữ điều này đồng nghĩa với việc sẽ giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Trung ương
Việc phân bổ kinh phí của Chương trình phụ thuộc chủ yếu vào khả
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20
năng cân đối của NSNN của các địa phương, đa số các địa phương không chủ động được nguồn lực để thực hiện Mặt khác, trong các kế hoạch, Nghị quyết của Hội phụ nữ thường giao chỉ tiêu cụ thể trong việc giúp phụ nữ thoát nghèo hoặc được học nghề, được tạo việc làm kiểu mệnh lệnh hành chính “từ trên xuống” làm hạn chế đi tính chủ động, sáng tạo của các cấp Hội địa phương dẫn tới kết quả từ thực hiện chương trình chưa sát thực
Như vậy có thể thấy rằng, việc tăng hoặc giảm đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho việc triển khai thực hiện các chương trình hỗ trợ cho phụ nữ có tác động lớn đến chất lượng hoạt động của các chương trình đó
2.1.4.3 Cơ chế trong việc quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác phụ nữ
Để các chương trình hỗ trợ cho phụ nữ đạt kết quả thực sự cần có một cơ chế, chính sách thích hợp bao gồm: chính sách trong việc xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới, hoạt động của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ, đầu tư cho đội ngũ cán bộ hội các cấp…nhằm tạo động lực cho đội ngũ cán bộ phát huy được tính năng động, sáng tạo, sự nhiệt tình, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ đồng thời thu hút được những đối tượng là cá nhân, tổ chức tham gia vào các hoạt động hỗ trợ cho phụ nữ đáp ứng được với những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Cơ chế chính sách, chế độ đãi ngộ cho việc sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác phụ nữ có ảnh hưởng lớn đến chất lượng hoạt động của các chương trình ở mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ nhất định Xây dựng cơ chế, chính sách cho đội ngũ làm công tác phụ nữ trên cơ sở đặc điểm của mỗi vùng, mỗi địa phương phù hợp với thực trạng đời sống của phụ nữ tại địa phương đó sẽ
là động lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác phụ nữ, đặc biệt sẽ khắc phục được những bất cập về công tác quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ thực hiện công tác này tại địa phương nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21
khăn Chẳng hạn chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ làm công tác phụ nữ tại những vùng khó khăn nơi mà trình độ, nhận thức và đời sống của người phụ nữ còn nhiều hạn chế cần được quan tâm nhiều hơn so với những vùng khác có như vậy mới khuyến khích được những người trực tiếp tham gia thực hiện công tác phụ nữ
Ở Việt Nam hiện nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành những chính sách trong đó có quy định về chức năng nhiệm vụ, chế độ đãi ngộ đối với các đơn vị, cá nhân làm công tác phụ nữ như: Chỉ thị số 27/2004/CT-TTg của thủ tướng Chính phủ ngày 15 tháng 7 năm 2004 về tăng cường hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Khen thưởng cho những tập thể cá nhân có những cống hiến, đóng góp tích cực vì sự tiến
2.1.4.4 Tình trạng bất bình đẳng giới tại Việt Nam
Đây là một nguyên nhân hàng đầu dẫn tới việc người phụ nữ bị cản trở trong việc tham gia hoặc tiếp cận với các chương trình hỗ trợ Theo thông báo chính thức của Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, thời gian lao động của phụ nữ thường cao hơn nam giới từ 3-4 giờ mỗi ngày Khoảng thời gian vượt trội này chính là công việc không tên và không được trả công đặc biệt là ở những vùng nông thôn dân trí thấp, vùng núi, vùng dân tộc ít người, nguyên nhân:
- Tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” vẫn tồn tại qua nhiều thế hệ là gánh nặng lên vai người phụ nữ;
- Phụ nữ không có nhiều thời gian để tham gia vào các hoạt động vui
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22
chơi giải trí, văn hóa, xã hội và tiếp tục nâng cao trình độ học vấn;
- Phụ nữ còn gặp nhiều trở ngại hơn nam giới trong việc tiếp cận các nguồn tín dụng, họ thường không có nguồn tài sản thế chấp như đất đai vì quyền sở hữu đất đai thường mang tên chồng
- Bản thân người phụ nữ không thực sự muốn tiến lên ngay cả khi bình đẳng giới đã được xã hội công nhận, nam giới chịu nhường bước Chấp nhận làm việc nhà, nội trợ hay chăm sóc con cái, ngại tiếp xúc, giao lưu đã trở thành một thói quen, nếp suy nghĩ khó thay đổi trong chính người phụ nữ
Do vậy để chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế được triển khai
có hiệu quả thi vấn đề cần giải quyết đầu tiên đó chính là thay đổi nhận thức
từ chính người phụ nữ để họ thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa mà chương trình mang lại đồng thời thay đổi nhận thức của người dân về vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội
2.1.4.5 Hạn chế trong nhận thức của chính quyền các cấp và người dân về chương trình
Có nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với hộ nghèo trong đó có phụ
nữ nghèo nhưng do nhận thức còn hạn chế nên chưa tạo được ý thức chủ động của các cấp và người dân Do các hoạt động truyền thông còn hạn chế nên một bộ phận người dân và phụ nữ chưa có nhận thức đúng và đủ về những lợi ích của chương trình Một bộ phận không nhỏ những phụ nữ nghèo khi được nhận hỗ trợ như vay vốn phát triển sản xuất đã sử dụng không đúng mục đích, thậm chí ở nhiều nơi người dân và chính quyền vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của các chương trình, dự án của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên thoát nghèo Mặt khác, bệnh thành tích đã khiến một số địa phương khống chế tỷ lệ nghèo thấp hơn so với thực tế, dẫn đến một số phụ nữ những đối tượng trong diện được hỗ trợ chưa tiếp cận được các nguồn hỗ trợ và điều này thường gây ra những hiểu biết sai lệch về những chủ trương đúng đắn của
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23
Để thực hiện các nội dung của chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế nhằm khai thác và đưa những lợi ích của chương trình đến với nhiều phụ nữ hơn nữa từ đó hướng tới mục tiêu hỗ trợ phụ vươn lên làm giàu, ổn định cuộc sống, có công ăn việc làm ổn định, nâng cao vai trò vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội thì bên cạnh đội ngũ cán bộ Hội thì cần phải tăng cường hơn nữa nguồn nhân lực thông qua việc tăng cường phối hợp của các cấp, các ngành Tuy nhiên trong thực tế Hội LHPN các tỉnh, thành vẫn là đơn vị chủ lực trong thực hiện các nội dung của chương trình Mặc dù các cấp Hội đã có sự chủ động phối, kết hợp với các ngành liên quan nhưng
đó chủ yếu là sự phối hợp từ một phía nên rất khó triển khai chương trình đạt kết quả cao Điều này cho thấy sự quan tâm của các cấp, các ngành dành cho hoạt động vì phụ nữ còn chưa nhiều, chưa chủ động và tích cực
Mặt khác, đối với các cấp Hội phụ nữ do nguồn nhân lực rất hạn chế, đặc biệt đội ngũ cán bộ chuyên trách ở cơ sở lại rất mỏng thường chỉ có 01 Chủ tịch Hội chuyên trách nên trong việc triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát kết quả của chương trình còn nhiều khó khăn và bất cập Nhiều tỉnh, thành còn chưa được đầu tư trung tâm dạy nghề cho phụ nữ Những địa phương đã
có rồi thì hiệu quả hoạt động còn thấp; các hình thức dạy nghề chưa phù hợp, chưa đa dạng, chưa thu hút được đông phụ nữ tham gia học tập Phụ nữ tại các địa phương đặc biệt là phụ nữ ở nông thôn chủ yếu là chưa qua đào tạo,
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24
không có tay nghề, nên rất khó tạo được việc làm tại chỗ cũng như tham gia thị trường lao động trong và ngoài nước Đội ngũ cán bộ có chuyên môn kỹ thuật chưa có hoặc chưa đủ để có thể trực tiếp hướng dẫn phụ nữ tiếp thu và
áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất
Ngoài ra việc huy động kinh phí để thực hiện chương trình Hỗ trợ phụ cũng chưa đáp ứng được yêu cầu, chủ yếu là Ngân sách nhà nước, chế độ cho đội ngũ cán bộ hội nhất là cán bộ hội tại cơ sở còn rất thấp, có địa phương không có…sẽ không phát huy hết sự tận tâm, trách nhiệm của họ Để đạt phát huy được nhiều hơn những lợi ích của chương trình thì Nhà nước, cũng như chính quyền các cấp cần ban hành chính chính sách cần thiết nhằm tăng cường và bổ sung thêm nguồn lực cho Hội phụ nữ; những chính sách phụ cấp
ưu đãi, chính sách sử dụng nhân tài vào công tác trong các tổ chức của Hội
để đáp ứng được với xu hướng phát triển chung của đất nước
2.1.4.7 Cơ chế phối hợp, kiểm tra giám sát việc thực hiện Chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế
Cơ chế phối hợp chưa thật sự gắn kết chặt chẽ và sâu rộng giữa Hội Phụ nữ các cấp với các đơn vị, các ngành chức năng tại địa phương Nhiều dự
án, chương trình do các cơ quan đơn vị từ trung ương đến cơ sở thực hiện thường tiến hành độc lập và không qui định quy chế phối hợp hoặc nếu có xây dựng quy chế, kế hoạch phối hợp cũng chỉ mang tính hình thức và cơ quan chủ quản vẫn là đơn vị chính trong thực hiện chương trình do vậy sẽ không phát huy được hết lợi ích của chương trình đối với người phụ nữ
Công tác kiểm tra giám sát, báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện là một việc làm quan trọng nhằm đảm bảo việc thực hiện các nội dung của chương trình theo đúng kế hoạch và tránh được lãng phí, tốn kém Nếu làm tốt công tác này thì sẽ hạn chế được tình trạng đầu tư, hỗ trợ dàn trải, không đúng đối tượng gây thất thoát ngân sách và làm sai lệch ý nghĩa của chương trình
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25
Tuy nhiên công tác kiểm tra giám sát cũng còn nhiều điểm hạn chế, Công tác giám sát, đánh giá các nội dung chương trình còn thiếu thông tin và không được cập nhật kịp thời, đầy đủ, chính xác, chỉ quan tâm đến các chỉ tiêu định lượng mà chưa quan tâm đến kết quả hoặc tác động của các nội dung Chương trình đối với chất lượng, đời sống của người phụ nữ Chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác quản lý đối tượng; tổ chức kiểm tra, đánh giá chủ yếu là dựa vào báo cáo của địa phương, các cấp Hội trong khi vẫn còn tình trạng báo cáo thiếu thông tin, số liệu không thực tế hoặc địa phương không gửi, gửi chậm báo cáo
2.1.5 Vai trò của chương trình “Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế”
2.1.5.1 Đối với xã hội
Chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế được các cấp Hội phụ nữ trên cả nước triển khai sâu rộng tới các đối tượng hội viên phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn đã góp phần rất quan trọng vào thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo
Trong những năm qua, việc triển khai chương trình đã thực sự mang lại những lợi ích to lớn cho phụ nữ đồng thời khẳng định được vai trò của tổ chức Hội trong việc đưa các chương trình hỗ trợ đến được với người phụ nữ, cũng từ chương trình này đã có hàng trăm ngàn phụ nữ được hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, được hỗ trợ đào tạo nghề, dạy nghề và giới thiệu việc làm và có công việc, thu nhập ổn định, cuộc sống của gia đình họ ngày càng tốt hơn, vai trò của phụ nữ và nam giới trong gia đình và xã hội đã được cải thiện đáng kể
Việc triển khai các nội dung của chương trình tới hội viên phụ nữ tại cộng đồng đã góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương và thực hiện công bằng xã hội, cải thiện đời sống của người phụ nữ nghèo, phụ
nữ ở vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; Người phụ nữ có kiến thức
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26
hơn, họ tự tin và sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội
Chương trình “Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế” đã huy động được sự tham gia của các cấp, các ngành đặc biệt là chính quyền cơ sở với tinh thần và trách nhiệm cao cùng với đó là việc ra đời các bộ phận chuyên môn, các trường lớp, các trung tâm hỗ trợ cho phụ nữ; Kết quả trong triển khai thực hiện các nội dung của chương trình đều được đánh giá cao và là một nội dung quan trọng trong đánh giá mục tiêu phát triển kinh tế xã hội hàng năm của các địa phương
Chương trình đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân đặc biệt
là các tầng lớp phụ nữ; được Đảng, Nhà nước quan tâm Thông qua chương trình đã tạo được niềm tin của phụ nữ, và cộng đồng vào chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước
2.1.5.2 Đối với kinh tế hộ gia đình
Ngày nay khi vấn đề bình đẳng giới càng được xã hội coi trọng đồng nghĩa với việc vai trò của người phụ nữ ngày càng được đề cao và được khẳng định ngay từ bên trong mỗi gia đình Người phụ nữ cùng với người đàn ông đều là những người chủ trong gia đình, họ đã và đang tham gia vào nhiều hoạt động kinh tế và góp phần vào sự phát triển và tiến bộ của mỗi gia đình Từ chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế mà nhiều mô hình kinh tế đã ra đời, hoạt động có hiệu quả, nhiều chị em phụ nữ đã mạnh dạn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh, nhiều chị em còn tích cực tham gia các lớp đào tạo nghề để góp phần tăng thu nhập, ổn định cuộc sống gia đình, đời sống của nhiều gia đình phụ nữ được nâng cao, con cái có điều kiện học tập tốt hơn, nhiều nhà tạm nhà dột nát đã bị xóa bỏ
Chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế được các cấp Hội phụ nữ triển khai trên cả nước là một bước đột phá đã mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhiều gia đình Tình trạng bạo lực gia đình vốn hay xảy ra do những
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27
thiếu thốn về vật chất giờ đây cũng giảm đáng kể do vị thế của người phụ nữ đã được nâng lên
2.1.5.3 Đối với người phụ nữ
Chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế đã giúp cho rất nhiều phụ
nữ nghèo, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn được ổn định cuộc sống, có thêm thu nhập Phụ nữ được vay vốn để phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh; được tham gia các lớp đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; được đào tạo nghề; được tham gia vào tổ chức chính trị xã hội, các hoạt động tại cộng đồng và được pháp luật bảo vệ
Chương trình này đặc biệt phát huy được những lợi thế khi triển khai tại các vùng nông thôn, vùng còn nhiều khó khăn Nếu trước kia phụ nữ Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông thì ngày nay với sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước cùng với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ hội
và Hội phụ nữ các cấp, chương trình đã mang đến cho những người phụ nữ nông thôn, những phụ nữ nghèo một sự thay đổi từ chính bên trong những người phụ nữ Nhận thức của phụ nữ được nâng cao, họ đã tự tin hơn, có vai trò hơn Ngày nay phụ nữ tham gia công tác xã hội càng nhiều dù chỉ là các hoạt động tại thôn, xóm, xã, phường; phụ nữ làm chủ những cơ sở sản xuất kinh doanh lớn trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế và có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển chung của địa phương… đồng thời chứng minh rằng chương trình Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế thực sự cần thiết và có đóng góp quan trọng cho sự phát triển chung của phụ nữ Việt Nam
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Bangladesh
Ngân hàng Grameen (GB) là ngân hàng của Bangladesh chuyên phục
vụ người nghèo trong đó phụ nữ nghèo là chủ yếu (96% người vay vốn là phụ
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28
nữ) Với mạng lưới tín dụng rộng khắp tận cơ sở, mỗi chi nhánh phục vụ từ
15 - 22 làng Đối tượng phục vụ là các gia đình có dưới 0,2 ha đất Để vay được tín dụng, người trong gia đình đủ tiêu chuẩn sẽ lập nhóm gồm 5 người
có hoàn cảnh kinh tế xã hội giống nhau Thông thường mỗi gia đình chỉ được phép có một người tham gia một nhóm như thế Do đó, các thành viên trong gia đình hay thậm chí cả bà con thân thuộc không thể nằm chung trong cùng một nhóm Mỗi nhóm bầu một nhóm trưởng và một thư ký để chủ trì cuộc họp hàng tuần Sau khi nhóm được thành lập, một nhân viên của ngân hàng sẽ đến để kiểm tra tư cách của mỗi thành viên bằng cách đến thăm gia đình của mỗi thành viên để lấy thông tin về tài sản, thu nhập
Khoảng 5 hay 6 nhóm trong cùng một địa phương sẽ lập lên một trung tâm Trưởng trung tâm sẽ được bầu từ các nhóm trưởng, sẽ chịu trách nhiệm giúp các thành viên tìm hiểu kỹ về ngân hàng và chủ trì cuộc họp hàng tuần Tất cả các thành viên sẽ dự một khoá hướng dẫn kéo dài một tuần, mỗi ngày 2 giờ Các nhân viên ngân hàng sẽ giải thích quy định của GB quyền và nghĩa
vụ của các thành viên Sau khi kết thúc khoá học và nếu đạt yêu cầu mỗi người được cấp giấy chứng nhận là thành viên chính thức
Trước khi đủ tiêu chuẩn vay tiền, mọi thành viên phải chứng minh tính thành thực và tính đoàn kết bằng cách tham gia tất cả các cuộc họp trong nhóm trong 3 tuần liên tiếp Trong thời gian này nhân viên ngân hàng tiếp tục bàn về các quy định của ngân hàng và giải đáp các thắc mắc, các thành viên không biết chữ được dạy cách ký tên Các thành viên không cần phải cần đến trụ sở của ngân hàng để giao dịch Nhân viên ngân hàng đến với họ trong những cuộc họp hàng tuần để cấp tiền vay, thu tiền trả nợ và vào sổ ngay tại trung tâm
Bằng các giao dịch tín dụng linh hoạt, ngân hàng GB đã rất thành công trong việc tiếp cận được với các tầng lớp nghèo nhất (đặc biệt là phụ nữ nông
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29
thôn không có tài sản), đạt tỷ lệ thu hồi 100% và nâng cao vị thế kinh tế xã hội của người phụ nữ và các khách hàng GB đặc biệt nhấn mạnh khía cạnh
xã hội và con người trong quá trình phát triển của người nghèo, chứ không chỉ dừng lại ở chương trình tiết kiệm thông thường Nhiều nghiên cứu đánh giá rằng, GB cải thiện tính đoàn kết giữa các thành viên, nâng cao ý thức của hộ
và đặc biệt giúp họ có thêm nguồn vốn để tạo công ăn việc làm mới, cải thiện thu nhập, nâng cao mức sống, vì thế có rất nhiều hộ gia đình Bangladesh đã thoát khỏi nghèo đói và vươn lên làm giàu chính đáng Hơn một nửa những người vay vốn của Grameen tại Bangladesh đã thoát khỏi nghèo đói nhờ khoản vay của ngân hàng, được đánh giá bằng các tiêu chuẩn như có tất cả con trong tuổi đến trường được đi học, tất các các thành viên gia đình được ăn
ba bữa một ngày, một nhà vệ sinh, một nhà có mái tránh dột, nước uống sạch
và khả năng hoàn vốn một khoản 300 taka (8 USD) một tuần
2.2.1.2 Kinh nghiệm ở Ấn Độ
Năm 1973, ngân hàng hợp tác xã Mahila Sewa được thành lập với 4000 phụ nữ đóng góp cổ phần và hoạt động vì mục tiêu cải thiện thu nhập, việc làm cho phụ nữ, đảm bảo an sinh xã hội thông qua việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho phụ nữ nghèo, phụ nữ mù chữ tự làm chủ Cho dù là cho vay vốn hay dịch vụ tiết kiệm thì các sản phẩm của Sewa được thiết kết đặc biệt
để có thể đáp ứng nhu cầu hàng ngày của một phụ nữ lao động Những nhu cầu khẩn cấp như cần tiền để xoay sở khi có người thân bị bệnh hay chết sẽ được hệ thống bảo hiểm của SEWA “bao cấp” Những kế hoạch lâu dài như giáo dục con cái, mua nhà… được hỗ trợ qua hệ thống tiết kiệm nhiều kỳ hạn Trong khi đó, những kế hoạch liên quan đến kinh doanh như mua cửa hàng, sắm sửa trang thiết bị… được cung cấp thông qua hệ thống tín dụng Đối với các khoản cho vay, SEWA Bank thu lãi suất vào khoảng 17% mỗi năm, trong khi những người cho vay nặng lãi thường cho vay với lãi suất 120%/năm Đối
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 30
với tài khoản tiết kiệm, SEWA trả lãi suất khoảng 8% mỗi năm
Để thay đổi quan điểm của các phụ nữ nghèo, SEWA Bank tổ chức các lớp học hàng tuần cho thành viên để giúp họ nâng cao kiến thức về cuộc sống, xã hội, các kiến thức tài chính như dạy họ phân biệt các khoản phí tổn hữu ích (như học phí cho con cái) và các khoản phí tổn vô lý (như chuyện cưới xin –vốn rất tốn kém tại Ấn Độ) Phân biệt các khoản phí tổn hữu ích và vô ích có tác động rất lớn đến đời sống tài chính của người phụ
nữ Ấn Độ Nhờ những chính sách này, tại SEWA Bank luôn có số người gửi tiền tiết kiệm gấp 3 lần số người đi vay Hệ thống tiền gửi linh hoạt và
tự nguyện của SEWA Bank giúp thành viên có thể dễ dàng tích trữ tiền tiết kiệm Họ có thể gửi tiết kiệm theo kỳ hạn tháng, tuần, thậm chí là ngày và
có thể rút tiền bất cứ khi nào họ cần
2.2.2 Kinh nghiệm ở Việt Nam
2.2.2.1 Kinh nghiệm của Hội LHPN tỉnh Hà Nam
Theo đồng chí Hà Thị Minh Tâm, Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Hà Nam thì chất lượng của chương trình được phản ánh từ những sự thay đổi về nhận thức và chất lượng cuộc sống của những người phụ nữ vì vậy ngay từ khi triển khai cần quan tâm đến chất lượng của các nội dung trong chương trình
và đặc biệt là các nội dung đó có được hội viên phụ nữ đồng tình đón nhận hay không, có mang lại lợi ích thiết thực cho họ không Đồng chí đã chia sẻ một số kinh nghiệm trong triển khai thực hiện chương trình “hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế” có thể vận dụng vào thực tế tại Hưng Yên như sau:
* Đối với việc triển khai chương trình:
- Hoạt động vay vốn:
Bên cạnh nguồn vốn ủy thác của NHCSXH cần phải tranh thủ từ các nguồn lực khác để có thể tăng mức hỗ trợ và hỗ trợ cho nhiều hội viên phụ nữ
có hoàn cảnh khó khăn