1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế quản lí ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực y tế

66 407 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Chế Quản Lí Ngân Sách Nhà Nước Đối Với Lĩnh Vực Y Tế
Trường học Trường Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Quản Lý Ngân Sách Nhà Nước
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 242 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Y tế là các hoạt động phòng bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ con người

Trang 1

y tế đợc xác định là tập trung vào bảo vệ sức khoẻ ngời dân thông qua các hoạt

động phòng chống và kiểm soát hữu hiệu các bệnh không truyền nhiễm cũng nhcác bệnh truyền nhiễm đồng thời đảm bảo sự công bằng trong việc tiếp cận cácdịch vụ y tế chất lợng cao ( đặc biệt là đối với các nhóm dễ bị tổn thơng nh trẻ em,ngời nghèo)

Đối tợng chăm sóc của y tế la con ngời - trung tâm của quá trình phát triển ởmỗi quốc gia Vì vậy y tế có tác động to lớn tới sự phát triển kinh tế- xã hội của đấtnớc

1.1.1.1 Vai trò của y tế với sự phát triển kinh tế

Thứ nhất, con ngời sử dụng công cụ lao động tác động tới đối tợng lao độngnhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của mình Để đạt đợc năng suấtlao động cao, bản thân ngời lao động phải luôn học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm nângcao tri thức, kỹ năng kỹ ảo ở mọi lĩnh vực Muôn thực hiện đợc điều đó, trớc tiêncon ngời phải có sức khoẻ cả về mặt thể cấht lẫn tinh thần Hệ thống y tế với haidịch vụ chủ yếu là phòng và chữa bệnh cho con ngời giữ vai trò quyết định tới chấtlợng sức khoẻ của mọi thành viên và xã hội Một hệ thống y tế tốt sẽ đảm bảo chongời dân có sức khoẻ tốt, trí tuệ minh mẫnvà qua dó góp phần thúc đẩy phát triểnkinh tế Bởi chính con ngời tạo ra của cải vật chất làm phát triển nền kinh tế của

đất nớc Một khi con ngời có sức khoẻ, có trí tuệ thì sẽ tạo ra nhiều của cải cho xã

Trang 2

hội hơn, làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển hơn Do đó y tế với mục tiêuchính là chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của mọi ngời dân giữ vai trò quan trọn giántiếp đến sự phát triển kinh tế của quốc gia.

Thứ hai, y tế có vai trò rất quan trọng trong việc phòng và chống bệnh dịch,làm giảm sự thiệt hại cho nền kinh tế Phòng bệnh là một trong hai hoạt độngchính của sự nhgiệp y tê, Nhờ thực hiện tốt công tác phòng bệnh mà nhiều quốcgia đã tiêt kiệm đợc một chi phí lơn do ngăn chặn đợc nhiều dịch bệnh bùng nổ

Nh ta đã biết gần đây trên thế giới và cả ở Việt nam liên tục xảy ra những bệnhdịch nguy hiểm, gây thiệt hai lớn cho nền kinh tế nh dịch bệnh Sars, bệnh cúm.Những căn bệnh này khi đã mắc phải thờng đòi hỏi chi phí chữa trị rất tốn kém ,thậm chí gây ra tử vong dẫn đến thiệt hịa lớn về ngời và của Nhng sau đó ngành y

tế của các quốc gia đã tiến hành nghiên cứu, tích cực thực hiên “phòng bệnh hơnchữa bệnh” đã làm giảm đán kể những thiệt hai về kinh tế và con ngời, để tập trungnguồn lực dành cho phát triển kinh tế Tõ ràng nhờ sử dụng tối đa nguồn nhân lựccon ngời và nguồn lực tài chính đeer thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, gần

đây, ở Việt nam tuy phải đơng đầu với hai dại dịch lớn là Sars và cúm gà nhngngành y tế cũng nh toàn dân đã hết ức nỗ lực trong công tác phòng dịch nên thiệthại về kinh tế và con ngời mà ta phải gqnáh chịu đã đợc hạn chế tối đa

1.1.1.2 Vai trò của y tế với xã hội

Phần trên ta đã phân tích vai trò đặc biệt của y tế đối với lĩnh vực kinh tế,sau đây chúng ta sẽ phân tích vai trò đặc biệt của y tế đối với lĩnh vực kinh tế, Sau

đây chúng ta sẽ phân tích đối với lĩnh vực xã hội

Trong thời đại ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế đời sống con ngờingày càng đợc cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần Nhng trong khi phát triển kinh

tế con ngời đã tác động tới môi trờng tự nhiên làm thay đổi môi trờng sống củachính chúng ta, kết quả là ngày càng nhiều bệnh dịch mới và nguy hiểm xuất hiệnkhông chỉ ở phạm vi khu vực qýôc gia mà còn trên toàn thế giới Y tê có vai tròtoàn cầu trong phồng chống các bệnh dịch này, nên các cơ quan y tế của các quốc

Trang 3

gia cần phải có sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong việc chữa bệnh, phòng bệnh Tổchức y tế thế giới (WTO) giữ vị trí quan trọng trong công tác nay Nh vậy, ở mộtqóc độ nào đó thì y tế cũng góp phần tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa các quốc giatrên thế giới.

Với việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em tốt, y tế tạo ra nguồn lựccơ bản cho phát triển xã hội trong tơng lai Trẻ em hôm nay à thế giớ ngày mai.Với những chính sách y tế cung cấp nên tuổi thọ con ngời ngày càng đợc nâng cao,con ngời có điều kiẹn để phát triển ngày càng hoàn thiện hơn

Ngày nay khi xem tới sự phát triển nói chung của một quốc gia, ngời takhông chỉ xem xét tới sự phát triển kinh tế nh tổng sản phẩm quốc nội … mà cònquan tâm nhiều tới các chi tiêu phát triển con ngời nh chỉ tiêu HDI, chỉ số Gini

Điều này là hoàn toàn đúng đắn bởi vì một quốc gia chỉ phát triển kinh tế màkhông chú ý đến con ngời xã hội thì sự phát triển của quốc gia đó không thể coi là

sự phát triển bền vững Đến một lúc nào đó, quốc gia đó sẽ phải đối mặt với nhữngkhủng hoảng xã hội nghiêm trọng Hiện nay tuổi thọ trung binhg của ngời dân cácquốc gia ngày càng đợc cảit thiện đạt dợc kết quả đó công đầu tiên phải kể đến làngành y tế thông qua hoạt động phòng bệnh và chữa bệnh

Cùng với một số lĩnh vực lkhác nh: giáo dục và văn hoá y tế luôn là sự quantâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội nói chung sẽ đợc đảm bảo.Nhờ đó ngời dẫn sẽ có đợc cuộc sống lành mạnh, có cảm giác an toàn và tin tởngvào chế độ xã hội

1.1.2 Đặc điểm của y tế:

1.1.2.1 Tính chất vừa là hàng hoá công cộng vừa là hàng hoá t nhân

Khác với các ngành sản xuất vvật chất và cung cấp dịch vụ khác, sản phẩmdịch vụ y tế vừa mang tính chất hàng hoá công cộng vừa mang tính chất hoàng hoá

t nhân Sản phẩm dịch vụ y tế mang tính chất hàng hoá công cộng vì nó có đầy đủtính chất của hang hoá công cộng là không thể loại trừ Đặc điểm không muốn laọitrừ thể hiện ở chỗ khi một dịch vụ y tế cong công đợc hởng thụ kết quả đó Việc

Trang 4

tăng thêm chi phí hoặc tăng lên rấ ít nhng không làm giảm đi quyền đợc thụ hởng

đầy đủ lợi ích từ chơng trình của những ngời khác trong công cộng

Đặc điểm không thể loại trừ thể hiện ở chỗ không thể loại trừ bất kỳ ai trongcộng đồng không đợc thụ hoiửng các kết quả của chờn trình, hay nói cách khácviệc thụ hởng các dịch vụ y tế công cộng không bị phân chia theo khẩu phần Đứngtrên giác độ kinh tế học thì chi phí cận biên của việc cung cấp dịch vụ y tế côngcộng là bằng không khi có thêm ngời sử dụng dịch vụ

Với tính chất hàng hoá công cộng của sản phẩm dịch vụ y tế, nếu nh để thịtrờng t nhân cung cấp thì có thể có mốt số dịch vụ y tế sẽ không đợc thị trờng cungcấp hoặc thị trờng có cung cấp nhng không đầy đủ, không đáp ứng đợc nhu cầucủa xã hội Vì về nguyên tắc thị trờng t nhân chỉ cung cấp những hàng hoá, dịch vụ

có lãi Vì vậy thị trờng sẽ chỉ cung cấp những sản phẩm dịch vụ y tế có thể bán đợctrên thị trờng và chỉ cung cấp cho những đối tợng có khả năng thanh toán chi phí

Nh vậy đối vứi những sản phẩm dịch vụ y tế là hàng hoá công cộng thuần tuý, tuy

có giá trị và có ảnh hởng lớn đối với xã hội nhng không có khả năng thu hồi vốncho nhà đầu t thì sẽ không đợc thị trờng cung cấp Còn đối với những sản phẩmdịch vụ y tế mà bán đợc trên thị trờng thì sẽ loại trừ khả năng thụ hởng của nhữngngời có thu nhập thấp, gnời nghèo không có khả năng thanh toán thì việc cung cấpcủa thị trờng sẽ dẫn tới việc thiếu những dịch vụ y tế cơ bản, không đáp ứng đợcnhu cầu về chăm sóc sức khoẻ toàn dân, hiệu quả xã hội bị giảm sút Do vậy tínhchất hàng hoá công cộng của sản phẩm dịch vụ y tế đòi hỏi phải có sự tham gia củanhà nớc với vai trò là nhà cung cấp những dịch vụ y tế cơ bản, những sản phẩmdịch vụ chênh lệch trong sử dụng các dịch cũng nh tình trạng sức khoẻ ngời dângiữa các khu vực địa lý, trình độ giáo dục, thu nhập, dân tộc, giới tính

Bên cạnh đó, sản phẩm dịch vụ y tế còn mang tính chất hàng hoá t nhân tráingợc với tính chất của hàng hoá công cộng là không thể loại trừ và không muốnloại trừ, tính chất hàng hoá t nhân thể hiện ở chỗ sản phẩm dịch vụ y tế sẽ bị mất đikhi có một cá nhân sử dụng và khi một cá nhân sử dụng dịch vụ y tế đó Tính chất

Trang 5

này thể hiện rõ trong các trờng hợp cung cấp dịch vụ khám chặn, chữa bệnh cho cánhân Tính chất này của sản phẩm dịch vụ y tế đòi hỏi ngời sử dụng phải trả chi phícho việc đã sử dụng dịch vụ y tế nhằm bù đắp chi phí, tái sản xuất, tái cung cấp sảnphẩm dịch vụ y tế Nhng do sản phẩm dịch vụ y tế là một loại hàng hoá đặc biệt,

đối tợng phục vụ là sức khoẻ con ngời nên nhà nớc phảI tham gia vào việc định ớng thị trờng và kiểm soát giá cả sản phẩm dịch vụ y tế nhằm đảm bảo đợc sự côngbằng về y tế giữa mọi ngời dân

h-1.1.2.2 Tính nhân đạo

Ngành y tế sử dụng các phơng tiện khoa học kỹ thuật để can thiệp vào việcbảo vệ, cứu chữa con ngời ở các nớc có nền kinh tế phát triển thì sự can thiệp bằngcác phơng tiện kỹ thuât vào con ngời ngày càng nhiều hơn nếu ngành y tế khôngmang tính nhân đạo, không có tinh thần trách nhiệm coa thì dễ gây tử vong chocon ngời hồ Chủ Tịch dã nhắc nhở cán bộ ngành y tế nớc ta là “lơng y nh từ mẫu”

đối với ngời bệnh Đây không chỉ là trách nhiệm của ngành y tế đối với ngời bệnh

mà còn là truyền thống, nhân cách của nời thầy thuốc Việt nam

1.1.2.3.Tính công bằng và hiệu quả

Công bằng trong chăm sóc sức khoẻ không có nghĩa là ngang bằng côngbằng có nghĩa là ai cũng có nhu cầu nhiều hớn, còn ngang bằng có nghĩa là mọingời có nhu cầu ít hay nhiều hơn, có nhu cầu chăm sóc sứckhoẻ nhiều hơn nhnglại ít khả năng chi trả Nh vậy, nói đến công bằng trong y tế tức là phải có sự u tiêncho vùng ngheo, ngời nghèo, ngơig có công với cách mạng, cho các đối tợng thiệtthòi Quan điểm công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nói lên quyền của ngờinghèo, ngời có công với nớc phải đợơc chăm sóc, không phải là lòng thơng hại,không phải là sự ban ơn Công bằn thờng đi đôi với đạo đức trong y tế, đòi hỏitrách nhiệm cao của cán bộ y tế đối với ngời bệnh, ứng xử với ngời nghèo cũng nhvới ngời giàu

Thực hiện công bằng trong chăn sóc sức khoẻ, ngời dân đợc tạo điều iện đểtiếp cận, sử dụng các dịch vụ y tế cơ bản ngay tại cơ sở và coi đó là quyền của ngời

Trang 6

dân về chắn sóc sức khoẻ Ngành y tế và các cơ quan chức năng đa nghiên cứu vàxây dựng các chỉ tiêu trong chắm sóc sức khoẻ cần đạt đợc trên các mặt khám chữabênh, vệ sinh phòng bệnh, chă sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em… và phấn đấu thực hiệnnhằm đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ

y tế

1.2 NSNN với việc đảm bảo y tế

1.2.1 Khái niệm và bản chất của NSNN

Trong hệ thống tài chính thống nhât, NSNN là khâu tài chính tập trung giữ

vị trí chủ đạo NSNN cũng là khâu tài chính đợc ình thành sớm nhất, nó ra đòi, tồntại và phát triển gắn liền với sự ra đời của hệ thống quản lý nhà nớc và sự phát triểncủa kinh tế hàng hoad, tiền tệ Cho đến nay, thuật ngữ “Ngân sách nhà nơc” đợc sửdụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia Xong, quan niệm vềNSNN thì lại cha đợc thống nhất Trên thực tế, ngời ta đã đa nhiều nghĩa thuộc cáctrờng phái kinh tế khác nhau hoặc tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau

Theo quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển, NSNN là mộtvăn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi của chính hủ đợc thiết lập hàng năm

Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đa ra nhiều định nghĩa khác nhau vềNSNN Các nhà kionh tế Nga cho ràng: NSNN là bảng iệt kê các khoản thu, chibằng tiền trong mọi giai đoạn nhất định của nhà nớc

Luật NSNN đã đợc quốc hội nớc CHXHCN Việt nam khoa X, kỳ họp thứ 10thông qua ngày 16- 12 - 2002 cũng có ghi: NSNN là toàn bộ các khoản thu chi củaNhà nớc trong dự toán đã đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền quyết định và đợcthực hiện trong môt năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhànớc ( điều 1)

Trong một chừng mực nào đó các định nghĩa trên đây có những sự khác biệtnhất định Tuy nhiên cungs đều thể hiện bản chất của NSNN là:

Trang 7

- Xét về phơng diện pháp lý: NSN là một đạo luật dự trù các khoản thu, chibăng tiền của nhà nớc trong một thời gian nhất định, thờng là một năm đạo luậtnày đợc cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành.

- Xét về bản chất kinh tế: mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phânphối các nguồn tài nguyên quốc gia ( phân phối lần đầu và tái phân phối ) Và vìvậy, về nội dung kinh tế, NSNN thể hiện các mối quan hệ kinh tế giữa một bên lànhà nớc với một bên là các tổ chức kinh tế, xã hội và các tầng lớp dân c

- Về tính chất xã hội: NSNN luôn luôn là một công cụ kinh tế của nhà nớc,nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chắc năng, nhiệm vụ ủa nhà nớc Nhờ cóNSNN nên nhà nớc có nguồn tài chính để thực hiện những công việc của mìnhtrong mọi lĩnh vực nhằm đa đất nớc phát triển đúng định hớng đã lựa chọn

1.2.2 NSNN với sự phát triển y tế

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế có vai trò to lớn đối với quá trình phát triểnkinh tế – xã hội Vai trò này đợc bắt nguồn từ vai trò của hoạt động y tế đối vớicon ngời – yếu tố quyết định tới quá trình phát triển đất nớc Chất lợng, hiệu quảcủa hoạt động y tế ảnh hởng trực tiếp đến sức khoẻ con ngời Vai trò của NSNN

đối với sự nghiệ y tế thể hiện:

- Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là một trong những công cụ quản lý vĩ mô nềnkinh tế của nhà nớc đối với chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội Thông qua việcxác định cơ cấu ty trọng các khoản chi, Nhà nớc tham gia điều chỉnh hớng dẫn cáchoạt động y tế theo đúng chủ trơng, đờng lối của nhà nớc đề ra

- Chi NSNN giúp chúng ta có một nền y tế toàn diện với cơ cấu thích hợp giã cácngành ( y tế dự phòng và khám cha bệnh, y học cổ truyền và y học hiện đại…) y tếngoài công lập với mục đích chính chỉ quan tâm đến những dịch vụ mang lạinhiều lợi ích mà không đặt vấn đề phát triển các chuyên ngành theo yêu cầu

- Thông qua chi NSNN cho sự nghiệp y tế có thể tiến hành kiểm tra việc sử dụngcác khoản chi đó cho các hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân Từ đó phát huy

Trang 8

hiệu quả của đồng vốn ngân sách và tạo điều kiện cho ngành y tế thực hiện cácmục tiêu của mình.

- Lỹnh vực y tế là lĩnh vực có phạm vi hoạt động, quy mô lớn và ảnh hởng trựctiếp đến sức khoẻ nhân dân Các khoản chi từ NSNN sẽ giúp cho việc hoạch địnhphơng hơnứg phát triển kỹ thuật y tế Trong khi đó y tế ngoài công lập chạy theolợi nhuân nên dẫn tới hai khuynh hớng hoặc là chỉ chú trọng đến kỹ thuật cao vớigiá thành đắt mà ngời nghèo không thể tiếp cận đợc hoặc chỉ dừng lại ở kỹ thuật

cũ để thu tiền trớc mắt mà không phát triển những kỹ thuật hiện đại

- Chi NSNN cho y tế giúp cho việc tập chung nhân lực và tài lực để giải quyếtnhững vấn đề cấp bách, cần thiết của những hậu quả do thiên tai, thảm hoạ gây ra.Những vấn đề nói trên chỉ nhà nớc mới có thể đầu t vào lĩnh vực không sinh lợinày nhng lại có ảnh hởng sau rộng đến chiến lợc và chính sách quốc gia

- Bản chất của hoạt động y tế là nhân đạo, chi cho y tế từ NSNN giúp cho việcquản lý và thúc đẩy tính nhân đạo trong ngành y tế, đặc biệt là việc kiểm soátnhững vấn đề lên quan đến y đức

Việt Nam đang trên đờng chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập chungsang nền kinh tế thị trờng Việc chuyển sang thực hiện cơ chế thị trờng về hoat

động y tế không đợc làm giảm vai trò của nhà nớc về cung cấp dịch vụy tế cơ bản,chăm sóc y tế cho nhân dân Mà trái lại, thông qua cơ chế này nhà nớc có thể độngviên đợc thêm để bổ sung cho unồn NSNN hạn chế dành cho y tế, nawng cao chấtlợng phục vụ của ngnàh y tế Thực hiện cơ chế thị trờng về y tế không có nghĩa lànhà nớc thả nổi cho thị trờng quyết định toàn bộ việc cung cấp dịch vụ y tế mà nhànớc cần tiếp tục giữ vai trò chủ đạo về y tê, NSNN cần tiếp tục phát huy vai trò lànguồn lực cơ bản trong cung cấp dịch vụ y tế cơ bản, trợ cấp cho ngời nghèo và

định hớng thị trờng

1.3 Cơ chế quản lý NSNN với y tế

1.3.1 Sự cần thiết Nhà nớc tham gia vào lĩnh vực y tế

Trang 9

Nhà nớc cần phải tham gia vào hoạt động y tế trong nền kinh tế thị trờng là

do những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, Nhà nớc cần phải tham gia vào hoạt động y tế xuất phát từ một

đặc điểm quan trọng của sản xuất dịch vụ y tế là mang tính chất hàng hoá côngcộng Những sản phẩm y tế mang tính chất hàng hoá công cộng khu đợc cung cấp

sẽ phát huy tác dụng đối với toàn xã hội, nó không hạn chế số lợng ngời đợc hởngthụ và sự tăng thêm ngời hởng thụ cũng không làm thăng thêm chi phí cung cấpcác dịch vụ này Nói cách khác, việc tham gia của cá nhân đối với các dịch vụ nàykhông làm ảnh hởng đến lợi ích thu đợc của các cá nhân khác Thị trờng t nhân có

xu hớng giảm các sản phẩm hàng hoá công cộng Còn nhà nớc với vai trò quản lýtoàn diện đối với nền kinh tế xã hội cần thiết phải tham gia vào việc cung cấpnhững dịch vụ y tế cơ bản nh dịch vụ phòng bệnh, thực hiện trợ cấp khám chữabệnh cho ngời nghèo để đảm bảo quyền đợc chăm sóc sức khoẻ đối với mọi ngờidân

Thứ hai, Nhà nớc cần tham gia vào thị trờng y tế là đảm bảo tính chất công

bằng và hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ y tế Trong nền kinh tế thị trờng có sựphân hoá giàu, nghèo dẫn tới sự phân phối không công bằng giữa các tầng lớp thunhập trong xã hội Ngời giàu có khả năng thanh toán cao nên đợc hởng nhiều dịch

vụ y tế hơn, ngợc lại ngời nghèo không đủ khả năng tài chính chi trả nên nhiều khikhông đợc hởng chăm sóc y tế cần thiết Điều này khiến ngời ta phải quan tâm đếnvấn đề công bằng Công bằng trong y tế không phải là sự ngang bằng mà là ai cónhu cầu nhiều hơn thì đợc chăm sóc nhiều hơn Đây là sự quan tâm đặc biệt củangành y tế về mối tơng quan giữa nghèo khổ và bệnh tật (gây nên bởi nghèo nàn,bữa ăn thiếu then, giáo dục thấp, môi trờng ô nhiễm và tình trạng có những côngviệc nguy hiểm) Công bằng là một lý do quan trọng khiến chính phủ phải tài chínhcho y tế và quản lý các hoạt động của ngành y tế

Trang 10

Thị trờng t nhân với mục tiêu là lợi nhuận sẽ không triệu thể đảm bảo đợcquyền công bằng về chăm sóc sức khoẻ cho mọi ngời dân, không thể cung cấp chongời nghèo những dịch vụ y tế cần thiết Để thực hiện đợc yêu cầu này thì cần phải

có sự tham gia của Nhà nớc vào thị trờng cung cấp dịch vụ y tế Bằng nguồn lực tàichính công Nhà nớc sẽ cung cấp những dịch vụ y tế cần thiết đảm bảo cho tất cảmọi ngời đều đợc hởng quyền chăm sóc y tế, đặc biệt là ngời nghèo

Vì vậy để đảm bảo quyền bình đẳng và công bằng y tế cho mọi ngời dân đòihỏi phảI có sự tham gia của nhà nớc với vai trò ngời bảo trợ Nhà nớc sử dụngNSNN để trợ cấp y tế, cung cấp dịch vụ y tế miễn phí đối với các đối tợng nghèo,ngời tàn tật, ngời già yếu cô đơn, đảm bảo cho họ đợc tiếp cận tất cả các dịch vụ y

tế cần thiết

Đối với nớc ta, Hiến pháp năm 1992, điều 39 về y tế đã quy định rõ: “Nhà

n-ớc đầu t, phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân,huy động và tổ chức mọi lực lợng xã hội xây dung và phát triển nền y học ViệtNam theo hớng dự phòng; kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh; phát triển và kết hợp

y dợc học cổ truyền với y dợc học hiện đại; kết hợp phát triển y tế nhà nớc với y tế

t nhân; thực hiện bảo hiểm y tế tạo điều kiện cho mọi ngời dân đợc chăm sóc sứckhoẻ”, và điều 61 về quyền và nghĩa vụ của công dân ghi rõ: “Công dân có quyền

đợc hởng chế độ bảo vệ sức khoẻ, Nhà nớc quy định chế độ viện phí, chế độ miễngiảm viện phí”

Thứ ba, Nhà nớc cần thiết phải tham gia vào lĩnh vực y tế xuất phát từ vai

trò của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng là khắc phục những thất bại của nềnkinh tế thị trờng trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ y tế Nền kinh tế thị tr-ờng có khả năng thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, sử dụng nguồn lực vào chỗ

có hiệu quả nhất và tối đa hoá phúc lợi xã hội nói chung Tuy nhiên do đối tợngcủa y tế là sức khẻo con ngời làm cho các lực của thị trờng không hoạt động tốt đ-

Trang 11

ợc Vấn đề này đợc hiểu là sự thất bại của thị trờng cung cấp dịch vụ y tế thị trờngxẩy ra một số khuyết điểm sau:

Một điều kiện tiên quyết đảm bảo cho thị trờng cạnh tranh một cách hoànhảo là phải có sự tự do tham gia vào thị trờng Nhng tự do tham gia là điều hiếmthấy đối với y tế bởi vì nếu nh bất kể ai cũng có thể xng danh là bác sỹ, y tá, dợc sĩrồi mở bệnh viện thì sẽ không thể tránh khỏi tình trạng ngời bệnh có thể bị lừa bởinhững ngời cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhng khkông hề đợc đào tạo vềkiến thức và tay nghề Chính vì vậy mà ở hầu hết các quốc gia đều có hệ thống

đăng ký và cấp bằng hành nghề để bảo vệ quyền lợi cho ngời dân điều này cũng

có thể có mặt trái của nó, là hình thức độc quyền ở mức độ nhất định Sự độcquyền này có thể khiến cho ngời cung ứng ít quant âm đến việc nâng cao chất lợngphục vụ do ngời tiêu ding chỉ có ít cơ hội lựa chọn, đặc biệt là ở các vùng nôngthôn, có khi chỉ có một nhà cung cấp một loại hình dịch vụ nhất định trong mộtkhu vực dân c

Mốt yếu tố quan trọng nữa giúp thị trờng có thể hoàn hảo là ngời tiêu dingphải có đầy đủ thông tin về sản phảm, không chi giá thành mà còn cả về hiệu quả

và sự thích hợp với họ Tuy nhiên điều kiện thông tin về chăm sóc sức khoẻ ít khi

đầy đủ Đặc điểm của thông tin này là không hoàn chỉnh đối với ngời sử dụng, mấtcân đối giữa ngời cung ứng và ngời sử dụng Ngời bệnh không có đầy đủ thông tin

để so sánh giữa chi phí điều trị và hiệu quả điều trị để lựa chọn phơng thức điều trịphù hợp và hiệu quả nhất đối với bản thân mình Ngợc lại, ngời cung cấp dịch vụ y

tế lại nắm rõ các thông tin và phơng thức điều trị ngời bệnh điều này dẫn tới là

ng-ời cung cấp dịch vụ y ế cso sự mau thẫu giữa việc lựa chọn phơng thức điều trị tốtnhất cho bệnh nhân với việc tăng số lợng và doanh số của dịch vụ y tế cung cấp đểtăng lợi nhuận cho bản thân ngời cung cấp dịch vụ Kết quả là do lợi ích của bảnthân ngời cung cấp dịch vụ là tăng thu nhập cho bản thân họ, nên dẫn tới xu hớng

Trang 12

điều trị quá mức cần thiết, gây tốn kém cho ngời bệnh và lãng phí nguồn lực của xãhội.

Những khiếm khuyết trên của trị trờng sẽ dẫn đến két quả là tăng chi phí vàgiảm tính hiệu quả trong cung cấp dịch vụ y tế, làm cho nhiều dịch vụ y tế cầnthiết không cung cấp một cách đầy đủ, những khiếm khuyết của thị trờng sẽ làmcho sự phát triển của y tế không đạt dợc mục tiêu công bằng và hiệu quả Do đó, sựtham gia của nhà nớc vào y tế trong nền kinh tế thị trờng là hết sức cần thiết nhằm

đảm bảo tăng trởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội

Ngoài những lý do nói trên, sự tham gia của Nhà nớc vào việc đảm bảo y tếcho nhân dân tại Việt Nam còn có ý nghĩa rất quan trọng xuất phát từ bản chất chế

độ XHCN của nớc ta Nhà nớc tạo lập các hành lang pháp lý cho các thành phầnkinh tế tham gia vào đầu t, cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh để phát triển y tế,quy định các tiêu chuẩn, chuân mực cung cấp dịch vụ y tế Bên cạnh đó, Nhà nớcphảI giữ vai rò chủ đạo về đảm bảo y tế cho toàn dân Điều này đợc thể hiện ở chỗNhà nớc sử dụng NSNN để cung cấp những dịch vụ y tế cơ bản, có ý nghĩa thiếtyếu và có lợi ích chung đối với toàn xã hội, trợ cấp y tế cho ngời nghèo để đảmbảo tính công bằng trong việc tiếp cận dịch vụ y tế cho mọi công dân trong xã hội.Nhà nớc giữa vai trò hoạch định chính sách và chiến lợc phát triển y tế đất nớc,mthực hiện và hớng dẫn các cơ quan liên quan thực hiện theo đúng định hớng đề ra

Đồng thời Nhà nớc phải can thiệt vào thị trờng y tế khi cần thiết để khắc phục cáckhiếm khuyết của thị trờng, đảm bảo cho thị trờng phát triển ổn định theo định h-ớng của Nhà nớc

Hiện đã có ý kiến thống nhất về sự cần thiết phải có một cách tiếp cận có

định hớng tập trung hơn cho các hành động của Nhà nớc trong lĩnh vực y tế Địnhhớng này sẽ tập trung vào hai chức năng y tế chính của Nhà nớc đã đợc ghi nhận rõràng và thống nhất trong các văn bản chính sách chính thức trong nhiều năm: bảo

vệ sức khoẻ cộng đồng và đảm bảo công bằng về y tế

Trang 13

1.3.2 Nội dung cơ chế quản lý NSNN đối với y tế:

Cơ chế quản lý NSNN là hệ thống các nguyên tắc, hình hình và phơng phápquản lý điều hành NSNN trong từng giai đoạn phát triển kinh tế Cơ chế quản lýngân sách trong nền kinh tế thị trờng phải xuất phát từ đặc điếm của nền kinh tế thịtrờng và vai trò của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng Mặt khác cơ chế quản lýngân sách còn phải phù hợp với đặc điểm hoạt động của NSNN trong nền kinh tếthị trờng

Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, NSNN đợc coi là nguồn lực cơ bản,duy nhất của Nhà nớc để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội theo kếhoạch của Nhà nớc nên NSNN bị sử dụng trải, manh mún, nhỏ bén, đầu t khôngtrọng tâm, trọng điểm, yêu cầu chi luôn qua năng lực ngân sách Trong nền kinh tếthị trờng, Nhà nớc giữ vai trò quản lý điều hành ở cấp vĩ mô, thông qua các công

cụ tài chính để tác động tới thị trờng NSNN không còn giữ vai trò là nguồn tàichính duy nhất để phát triển kinh tế – xã hội là nguồn tài chính để Nhà nớc thựchiện các chức năng, nhiệm vụ của mình đảm bảo cho đất nớc phát triển theo đúng

định hớng đề ra NSNN đợc u tiên sử dụng để thực hiện những nhiệm vụ riêng cócủa Nhà nớc, những công việc mà thị trờng không thể thực hiện nhiệm vụ riêng cócủa nhà nớc, những công việc mà thị trờng để thu hút, khuyến khích sự tham giacủa các nguồn vốn khác trong thị trờng bổ sung thêm cho nguồn vốn ngoài ngânsách, hỗ trợ cho NSNN trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hộicủa Nhà nớc Đây là điểm khác biệt rất cơ bản về cơ chế quản lý NSNN trong nềnkinh tế thị trờng với cơ chế quản lý NSNN trong nền kinh tế thị trờng với cơ chếquản lý NSNN trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung

Trong cơ chế quản lý ngân sách, cơ chế cấp ngân sách có vị trí rất quantrọng, thể hiện mối quan hệ phân cấp, phân quyền, phối hợp hoạt động giữa cáccấp chính quyền trong quản lý điều hành thu chi NSNN Yêu cầu đối với cơ chếphân cấp ngân sách trung ơng phảI giữa vai trò chủ đạo tập trung các nguồn thu và

Trang 14

nhiệm vụ chi nhất định để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý nhà nớc của chínhquyền địa phơng trên địa bàn Mối quan hệ giữa ngân sách địa phơng phải đợc giảiquyết hài hoà thông qua cơ chế điều tiết và trợ cấp ngân sách giữa trung ơng và địaphơng yêu cầu đối với cơ chế này là phải huy đợc tính năng động của ngân sách

địa phơng trong việc tự cân đối và tiến tới đóng góp cho ngân sách trung ơng, hạnchế đợc tính ỷ lại của địa phơng trong việc nhận trợ cấp từ ngân sách trung ơng

Ngoài ra, cơ chế quản lý điều hành ngân sách phải thực hiện đợc yêu cầu tiếtkiệm, vì thực hiện tiết kiệm sẽ dành đợc nguồn lực đáng kể của ngân sách cho đầu

t phát triển Tiết kiệm ở đây phải thực hiện ngay từ khâu lập dự toán ngân sách, xác

định phơng án chi tiêu và trong quá trình sử dụng ngân sách Để thực hiện tiếtkiệm trong sử dụng ngân sách đòi hỏi Nhà nớc phảI ban hành thống nhất các chế

độ chi tiêu, hệ thống quy định về các định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách làm căn

cứ xây dựng, dự toán, phân bổ ngân sách thực hiện công khai ngân sách đối vớimọi cấp ngân sách để nhân dân đợc tham gia giám sát quá trình sử dụng NSNN

1.3.3.1 Công tác lập dự toán:

Dự toán NSNN hàng năm đợc lập căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế -xãhội và bảo đảm quốc phòng, an ninh Quy trình lập dự toán đợc thực hiện theo cácbớc sau:

Bớc 1: Trớc 31 tháng 5, Thủ tớng Chính phủ ban hành chỉ thị về việc xâydựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách năm sau

Bớc 2: Căn cứ vào chỉ thị của Thủ tớng Chính phủ, trớc ngày 10 tháng 6, BộTài chính hớng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán, NSNN; thông báo

số kiểm tra dự toán về tổng mức và từng lĩnh vực thu, chi ngân sách đối với các

bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ơng và tổng

số thu, chi, một số lĩnh vực chi quan trọng đối với từng tỉnh, thành phố trực thuộctrung ơng

Trang 15

Bớc 3: Căn cứ vào quyết định của Thủ tớng Chính phủ, hớng dẫn của Bộ Tàichính, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hớng dẫn việc lập dự toán ngân sách các cấp ở địaphơng.

Bớc 4: Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc thu, chi ngân sách phải

tổ chức lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ đợc giao, báo cáoquản lý cấp trên; cơ quan quản lý cấp trên xem xét, tổng hợp báo cáo cơ quan tàichính cung cấp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập dự toán ngân sách địa phơng báocáo Thờng trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, cho ý kiến, gửi Bộ Tài chính

và các cơ quan có liên quan để tổng hợp, lập dự toán NSNN trình Chính phủ

Bớc 5: Bộ Tài chính có trách nhiệm kiểm tra, thẩm định dự toán ngân sáchcủa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan khác ở trung ơng,

dự toán ngân sách các địa phơng; chủ động phối hợp với các cơ quan quản lýngành, lĩnh vực trong việc tổng hợp, lập dự toán NSNN, phơng án phân bổ ngânsách trung ơng thoe các chỉ tiêu quy định Cơ quan tài chính các cấp ở địa phơng

có trách nhiệm xem xét dự toán ngân sách của các cơ quan, đơn vị cung cấp, dựtoán ngân sách địa phơng cấp dới; chủ động phối hợp với cơ quan liên quan trongviệc tổng hợp, lập dự toán ngân sách địa phơng, phơng án phân bổ ngân sách cấpmình theo các chỉ tiêu quy định

1.3.3.2 Chấp hành NSNN

Chấp hành NSNN là một khâu quan trọng trong quản lý NSNN, đây là quátrình sử dụng tổng hoà các biện pháp kinh tế tài chính và hành chính nhằm biếncác chỉ tiêu đợc giao trong dự toán ngân sách thành hiện thực Sau khi đợc Thủ t-ớng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân giao dự toán ngân sách, các cơ quan nhà nớcTrung ơng và địa phơng, các đơn vị dự toán có trách nhiệm phân bổ, đảm bảo đúngvới dự toán ngân sách đợc giao cả về tổng mức, chi tiết theo từng lĩnh vực, đồnggửi cơ quan tài chính cung cấp, Cơ quan tài chính có trách nhiệm kiểm tra, nếukhông đúng dự toán ngân sách đợc giao, không đúng chính sách, chế độ, tiêu

Trang 16

chuẩn, định mức thì yêu cầu điều chỉnh lại Các cơ quan, tổ chức trong phạm vinhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm đề ra những biện pháp cần thiếtnhằm bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi ngân sách đợc giao, thực hiện tiếtkiệm, chống lãng phí, chống tham ô; chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật tài chính.

Căn cứ vào dự toán NSNN đợc giao và yêu cầu thực hiện nhiệm, thủ tớng

đơn vị sử dụng NSNN quyết định Kho bạc nhà nớc Kho bạc nhà nớc kiểm tra tínhhợp pháp của các tài liệu theo quy định của pháp luật và thực hiện chi ngân sáchkhi có đủ các điều kiện quy định theo phơng thức thanh toán trực tiếp

1.3.3.3 Công tác kiểm tra, quyết toán:

Công tác quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng trong quá trình quản lýNSNN Đó là quá trình kiểm tra, rà soát, chỉnh lý các số liệu đã đợc phản ánh saumột kỳ hạch toán và chấp hành ngân sách, nhằm phân tích, đánh giá kết quả chấphành dự toán ngân sách đã đợc duyệt, từ đó rút ra bài học và kinh nghiệm cho kỳchấp hành ngân sách sau

Quyết tâm ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo cáocho đó các cơ quan có them quyền xét duyệt theo đúng chế độ đã định

- Số liệu quyết toán NSNN phải là số thực thu, thực chi theo quy định củaluật NSNN

- Số liệu trong báo cáo quyết ngân sách phải chính xác, trung thực, đầy đủ.Nội dung của báo cáo quyết toán ngân sách phải theo đúng các nội dung trong dựtoán đợc giao và theo mục lục NSNN Thủ tớng các đơn vị sử dụng ngân sách phảichịu trách nhiệm trớc pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của báo cáoquyết toán của đơn vị, chịu trách nhiệm về những khoản thu, chi hạch toán sai chế

độ

Trang 17

- Báo cáo của quyết toán của các đơn vị dự toán và ngân sách cấp chínhquyền địa phơng không đợc chi lớn hơn thu.

- Ngân sách cấp dới không đợc quyết toán các khoản kinh phí uỷ quyền củangân sách cấp trên vào báo cáo quyết toán Cuối năm, cơ quan tài chính đợc uỷquyền lập báo cáo quyết toán kinh phí uỷ quyền theo quy định gửi cơ quan tàichính uỷ quyền và cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực cấp uỷ quyền

- Báo cáo quyết toán năm gửi cơ quan nhà nớc có them quyền theo quy địnhphải gửi kèm báo cáo thuyết minh nguyên nhân tăng, giảm các chỉ tiêu so với dựtoán

- Kho bạc nhà nớc có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán gửi cơ quantài chính cùng cấp để cơ quan tài chính lập báo cáo quyết toán Kho bạc nhà nớcxác nhận số liệu thu, chi ngân sách trên báo cáo quyết toán của ngân sách các cấp,các đơn vị sử dụng ngân sách

Thanh tra Tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành pháp luật về thu,chi và quản lý ngân sách, quản lý tài sản nhà nớc và tổ chức, cá nhân Khi thựchiện thanh tra, Thanh tra Tài cính có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân xuất trìnhcác hồ sơ, tài liệu liên quan; nếu phát hiện vi phạm, có quyền kiến nghị, cơ quan cóthẩm quyền thu hồi và NSNN những khoản chi sai chế độ, những khoản thu theoquy định Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, Thanh tra Tài chính có quyền xử lýhoặc kiến nghị cơ quan nhà nớc có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đối với

tổ chức, cá nhân vi phạm

Trang 18

Đạt đợc kết quả nh vậy là nhờ Nhà nớc ta càng ngày càng quan tâm đầu t hơn cho

sự nghiệp y tế, đợc thể hiện trong tổng chi NSNN cho sự nghiệp y tế mỗi năm mộttăng thêm

Năm 2004

Năm 2005

Ước TH năm 2006 Tổng chi cân đối

Nguồn: Vụ Ngân sách Nhà nớc - Bộ Tài chính

(*) Tổng chi NSNN cho y tế đã bao gồm cả chi y tế bố trí trong ngân sách

an ninh quốc phòng và chi y tế trong lĩnh vực dân số – KHH gia đình

Nhìn vào bảng trên ta nhận thấy:

Trang 19

- Tổng chi NSNN cho lĩnh vực y tế hàng năm đều tăng cả về số tuyệt đối lẫn

số tơng đối: Năm 2001 chi NSNN cho y tế là 6.081 tỷ đồng đến năm 2005 tăng lên

là 15.880 tỷ đồng Nh vậy là chỉ trong vòng 4 năm mà NSNN đầu t cho y tế tănglên hơn 2 lần Điều này cho thấy trong những năm gần đây Nhà nớc rất quan tâm

đến sự nghiệp y tế, tích cực phát triển hệ thống y tế Việt Nam ngày một hiện đại,hiệu quả và công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

- Ta cũng nhận thấy tốc độ tăng của NSNN cho y tế hàng năm đều tăng caohơn so với tốc độ chi NSNN cho tòan bộ các khối ngành, trong đó sự chênh lệchlớn nhất là vào năm 2005: trong khi tốc độ tăng của chi NSNN chỉ tăng 125,4% thìtốc độ tăng của chi NSNN cho lĩnh vực y tế tăng tới 147,4% Đây cũng là năm cótốc độ tăng chi NSNN và cho y tế tăng mạnh nhất trong vòng 5 năm, chứng tỏdrằng nền kinh tế nớc ta đang trên đà phát triển mạnh và ngành y tế đã đợc Nhà nớcquan tâm đầu t hơn so với tổng thể chung các ngành Điều này là hợp lý nhằm thựchiện các mục tiêu kinh tế – xã hội mà Đảng và Nhà nớc đã đề ra, trong đó đặcbiệt chú trọng đến công tác chăm sóc sức khỏe toàn dân công bằng và hiệu quả,nâng cao chất lợng dịch vụ y té phục vụ nhân dân

2.1.2 Chi đầu t phát triển

Căn cứ vào mục đích sử dụng, chi NSNN cho y tế đợc phân thành hai nộidung là chi đầu t phát triển và chi thờng xuyên Chi đầu t phát triển là các khỏanchi đầu t xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị chuyêndụng của ngành y tế Theo quy định của luật NSNN hiện hành thì nguồn chi đầu tphát triển đợc lập dự toán, cấp phát và quản lý theo dự án đầu t và quy trình quản

lý riêng so với chi thờng xuyên của NSNN hiện hành thì nguồn chi đầu t phát triển

đợc lập dự toán, cấp phát và quản lý theo dự án và quy trình quản lý riêng so vớichi thờng xuyên của NSNN đầu t cho y tế

Bảng 2 : Cơ cấu chi phí NSNN trong y tế

Đơn vị : Tỷ đồng

Trang 20

Chỉ tiêu Năm

2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005 Chi NSNN trực tiếp cho

% chi đầu t/NSNN cho y tế 23,1% 26,5% 26,4% 26% 25,5%

Chi thờng xuyên 4,211 4,656 6,257 7,427 11,250

% Chi phát triển/NSNN cho

y tế

76,9% 73,5% 73,6% 74% 74,5%

Nguồn : Vụ Ngân sách nhà nớc -Bộ tài chính

Nghiên cứu cơ cấu chi NSNN cho y tế giai đoạn 2001 – 2005 cho thấy tỷtrọng NSNN đầu t cho lĩnh vực y tế nằm trong khoảng từ 4,2 đền 5,8% tổng chiNSNN, tốc độ tăng hàng năm khá cao Trong tổng chi ngân sách cho lĩnh vực y tế,

tỷ trọng chi đầu t phát triển thờng thấp hơn tỷ trọng chi đầu t phát triển trong cơcấu chung của ngân sách, tỷ trọng chi đầu t phát triển trong tổng chi y tế xuống tớimức thấp nhất là 23,1% năm 2001 và tăng lên cao nhất là 26,5% năm 2002, còn tỷ

lệ chi thờng xuyên phân bổ nguồn tài chính giữa chi thờng xuyên và chi phát triểntrong lĩnh vực y tế Việc tỷ trọng chi đầu t phát triển y tế thấp hơn mặt bằng chung

sẽ ảnh hởng đến tăng cơ sở vật chất cho ngành, qua đó ảnh hởng đến việc nâng caochất lợng dịch vụ ngành, hạn chế việc ngời dân tiếp cận đợc phơng thức chữa bệnhhiện đại trên thế giới Do vậy trong quá trình phân bổ NSNN cho y tế cần có sựquan tâm đúng mức nhu cầu chi đầu t so với chi thờng xuyên trong tổng chi ngânsách y tế cho phù hợp với định hớng phát triển từng thời kỳ

Giữa chi đầu t phát triển và chi hoạt động thờng xuyên của y tế có mối quan

hệ mật thiết với nhau, yêu cầu phân phối vốn NSNN giữa hai nội dung này phải lu

ý tới qun hệ này để thực hiện mục tiêu công bằng và hiệu quả trong phát triển y tế

Trang 21

Công trình xây dựng cơ bản hoàn thành đa vào sử dụng sẽ kéo theo một nguồn chithờng xuyên đáng kể cho vận hành, khai thác và bảo dỡng công trình Nhng nhữngnội dung chi thờng xuyên này cha đợc quan tâm đúng mức khi bố trí vốn chi đầu tphát triển, dẫn đến công trình không đủ vốn thờng xuyên khi đi vào hoạt động nênkhông phát huy đợc hết công suất thiết kế Vì vậy yêu cầu khi bố trí cơ cấu chi đầu

t phát triển phải tính tới tác đọng của các nguồn đầu t xây dựng cơ bản làm tăngchi hoạt động thờng xuyên đối với việc vận hành, bảo dỡng ở giai đoạn sử dụngcông trình

2.1.3 Chi thờng xuyên

Do sự phát triển và tăng trởng kinh tế, đợc sự quan tâm của Nhà nớc tổngnguồn chi từ NSNN cho y tế đã tăng lên nhanh chóng Nguồn vốn NSNN đầu t cho

sự nghiệp y tế năm 2001 là 6081 tỷ đồng thì đến năm 2005 đã tăng lên là 15880,tăng lên về số tuyệt đối mà còn thay đổi cả về cơ cấu vốn đầu t theo hớng giảm dầnnguồn vốn vay, vốn viện trợ nớc ngoài cho Nhà nớc Nh vậy từ chỗ có vai trò đáng

kể đóng góp khoảng 15% trong tổng chi NSNN cho y tế, vai trò của nguồn vốnviện trợ, vốn nợ ngày càng giảm Về cơ chế sử dụng vốn viện trợ, vốn nợ cũng cónhiều hạn chế, vẫn còn nhiều ràng buộc từ phía nhà tài trợ, thờng là gắng vớinhững dự án, có địa chỉ cụ thể và do nhà tài trợ, thờng là gắn với những dự án, có

địa chỉ cụ thể và do nhà tài trợ quyết định, những dự án đó không phải lúc nàocũng phù hợp với mục tiêu của NSNN Trong khi đó nhiều dự án viện trợ, vốn vaylại yêu cầu bố trí vốn đối ứng từ NSNN và NSNN nhiều khi cha đáp ứng đợc nhucầu này Trong khi đó vốn NSNN giành cho y tế ngày càng tăng cao cả về số tuyệt

đối và số tơng đối cho thấy ngành y tế đang ngày càng đợc quan tâm hơn Bởichăm sóc sức khỏe mạng nhiều tính chất hóa công cộng Nhà nớc phải giúp vai tròchủ đạo trong việc cung cấp dịch vụ này nhằm đảm bảo cho mọi ngời dân đều đợcthụ hởng công bằng các dịch vụ y tế Thực tế đã cho thấy nguồn vốn viện trợ, vay

có giảm dần về số tuyệt đối và tỷ trọng nh là một số nguồn bổ sung đáng kể cho

Trang 22

ngân sách y tế Tuy vậy do nguồn này không ổn định và thởng bị lệ thuộc vào bênngoài nên bố trí vốn NSNN cho y tế phải giảm lệ thuộc vào bên ngoài nên trong bốtrí vốn NSNN cho y tế phải giảm tỷ lệ thuộc vào nguồn này mà cần phát huy tínhchủ động và khẳng định vai trò chủ đạo NSNN trong đầu t phát triển y tế.

Đồng thời, trong những năm gần đây tỷ trọng của ngân sách đại phơng dànhcho y tế cũng tăng nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn ngân sách trung ơngtrong tổng ngân sách dành cho y tế Điều này chứng tỏ cơ chế quản lý ngân sáchhiện nay đã giúp cho địa phơng có quyền chủ động hơn trong phân bổ chỉ tiêungân sách địa phơng, tăng đầu t phát triển các cơ sở y tế địa phơng

Theo chức năng thì chi NSNN cho y tế đợc phân thành chi phòng bệnh vàchi chữa bệnh, điều trị bệnh Cơ cấu chi thờng xuyên cho hai chức năng này trongnhững năm qua đã có nhiều thay đổi:

Tỷ lệ chi cho công tác y tế phòng bệnh tính trên tổng chi từ ngân sách trung

ơng tăng từ năm 1993 là năm bắt đầu thựuc hiện cá chơng trình mục tiêu quốc gia

để thực hiện các vấn đề quan trọng và cấp bách nhất trong phòng tránh bệnh tật và

đạt tỷ lệ cao vào năm 1997 (chiếm 35% tổng chi ngân sách nhà nớc cho y tế theochức năng) Nhng từ sau năm 1997 tủ lệ này giảm đi và tơng đối ổn định trongnhững năm gần đây ở mức 25% - 28%, còn tỷ lệ chi NSNN cho chữa, ,.điều trịbệnh dao động trong khoảng 70 -72% Với cơ cấu chi ngân sách cho chữa bệnh lớnhơn hẳn so vói phòng bệnh ở nớc ta hiện nay thì Nhà nớc ta vẫn cha thực sự đảmbỏa đợc sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhan dân Nh đã phân tích ở trên,chi phòng bệnh ở nớc ta hiện nay thì Nhà nớc ta vẫn cha thực sự đảm bảo đợc sựcông bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân Nh đã phân tích ở trên, chi phòngbệnh mang tính chất hàng hóa công cộng, kết quả của nội dung chi này mang lạikết quả lớn hơn các chi phí đầu t trực tiếp cho nó, có anh rhởng rộng lớn đối vớitòan xã hội nên yêu cầu nội dung chi này phải đợc đảm bảo bằng nguồn NSNNcấp Vì vậy trong phân phối NSNN, nội dung chi phòng bệnh cần phải đợc u tiên

Trang 23

đạt tốc độ tăng trởng nhanh hơn về cả số tuyệt đối và tỷ trọng Còn chi điều trịmang tính chất hàng hóa t nhân nên cần có sự huy động đóng góp của ngời sử dụngnên tốc độ và tỷ trọng trong tổng chi NSNN có thể giảm dần Giữa chi phòng bệnh

và chi điều trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau Trong năm kếhoạch nếu tăng chi điều trị sẽ làm giảm chi chữa bệnh và ngợc lại Nhng xét tronggiai đoạn trung hạn việc tăng chi phòng bệnh ở giai đoạn trớc sẽ làm giảm đi cácchi phí điều trị ở giai đoạn sau, do nhân dân đợc chăm sóc y tế và thực hiện phòngbệnh, Không để phát sinh những dịch bệnh lớn nên sẽ giảm chi phí điều trị Mặtkhác việc phân phối NSNN giữa chi điều trị và phòng bệnh cũng có ảnh hởng đếnmục tiêu công bằng và hiệu quả trong y tế Thực tế cho thấy hầu hết những ngời cóthu nhập thấp thờng ít có điều kiện để đi khám, chữa bênh Họ hầu nh chỉ phụ thụhởng những dịch vụ phòng bệnh để triển khai Nh vậy với cơ cấu chi NSNN cho y

tế nh trên thì vô tình khiến cho những ngời giàu lại đợc nhà nớc trợ cấp nhiều cònnhững ngời nghèo, u tiên cho phòng bệnh và chăm sóc sức khóe toàn dân nhng vớiviệc phân phối nguồn NSNN hiện nay vẫn cha đảm bảo đợc sự bình đẳng trong sửdụng những dich vụ y tế

Tỷ trọng ngân sách y tế chi cho dự phòng ở trung ơng lớn hơn nhiều so với

địa phơng Điều này cho thấy sự lo ngại rằng các địa phơng có xu hớng tập trungchỉ tiêu cho chữa bệnh nhiều hơn phòng bệnh Tuy nhiên có một điều cần chú ý làmột phần chi cho các chơng trình mục tiêu quốc gia nằm trong ngân sách trung -

ơng nhng phần lớn ngân sách này sau đó lại đợc chuyển về địa phơng để hỗ trợviệc thực hiện chơng trình tại địa phơng Do đó, nguồn lực thực tế cho phòng bệnh

ở địa phơng sẽ tăng lên Điều quan trọng là phải có cơ chế quản lý nguồn này cóhiệu quả, nhằm thực hiện đợc các mục tiêu Nhà nớc đã đặt ra, tránh sử dụng lãngphí, kém tiết kiệm, sai mục đích

2.1.4 Chi chơng trình mục tiêu quốc gia cho y tế:

Trang 24

Bắt đầu từ kế hoạch phát triển 5 năm 1991 - 1995, Chính phủ đã sử dụng cácchơng trình mục tiêu quốc gia Số lợng này sau đó tăng lên thành 10 và đợc kếthợp, lồng ghép trong một số chơng trình mục tiêu y tế chung của ngành y tế, đó làchơng trình chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AISD, baogòm: phòng chống sốt rét, lao, sốt xuất huyết, bớu cổ, suy dinh dỡng trẻ em, tiênchủng mở rộng, phòng chống các bệnh tâm thần trong cộng đồng, an toàn thựcphẩm và chống HIV/AIDS Các chơng trình này đóng vai trò là phơng tiện cấpthêm ngân sách theo mục tiêu phòng chống bệnh tật cụ thể của từng tỉnh, mục đích

là để giải quyết những vấn đề cấp bách với y tế nh nang cấp các cơ sở y tế, pháttriển kỹ thuật, khống chế các dịch bệnh và nâng cao sức khỏe cho các vùng khókhăn, trọng điểm về y tế Và Bộ y tế giữ vai trò là cơ quan chủ quản chơng trình,chịu trách nhiệm theo dõi, đánh giá về kết quả thực hiện chơng trình

Trớc năm 1997, Bộ y tế là cơ quan chịu trách nhiệm cấp ngân sách để thựchiện chơng trình mục tiêu quốc gia tại các tỉnh thành phố trực thuộc trung ơng Từnăm 1997 -2000 thực hiện theo phơng thức kinh phí ủy quyền (cấp kinh phí ủyquyền từ ngân sách trung ơng cho các địa phơng để thực hiện theo mục tiêu củatrung ơng) Theo quy định ở thời kỳ đó thì kinh phí các chơng trình phải sử dụng

đúng mục đích, không đợc bổ sung kinh phí từ chơng trình mục tiêu, trung ơngphân bổ chơng trình mục tiêu nhiều khi không sát với tình hình thực tế của từng địaphơng không điều chỉnh đợc kinh phí từ chơng trình thừa sang chơng trình thiếu,dẫn đến việc thực hiện các chơng trình kém hiệu quả, có chỗ bị lãng phí, có chỗ lạikhông đủ nguồn lựuc đề thực hiện tốt

Bắt đầu từ năm 2001, các khỏan kinh phí thực hiện chơng trình mục tiêuquốc gia ở cấp tỉnh đợc phân cho các tỉnh theo hình thức trợ cấp bỏ sung có mụctiêu Với xu thế phân cấp đang diễn ra trong lĩnh vực y tế, các chơng trình mục tiêuquốc gia trở thành một công cụ quan trọng để đảm bảo thực hình các mục tiêungành và vai trò quản lý ngành của Bộ y tế Phân cấp chi có nhiều lợi thế, cho phép

Trang 25

cấp chính quyền địa phơng linh hoạt hơn và có thể đáp ứng nhu cầu của địa phơngtốt hơn, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phơng Quy định này đã khắc phục đ-

ợc hạn chế của phơng thức cũ nhng cũng gặp phải hạn chế là đối với một số địa

ph-ơng có khó khăn về ngân sách, địa phph-ơng có thẻ sẽ giảm bớt kinh phí chph-ơng trìnhmục tiêu trung ơng trợ cấp để sử dụng cho một mục tiêu khác, do vậy làm mất ýnghĩa của việc chi cho các chơng trình mục tiêu quốc gia Một nối lo lắng khác làmột số tỉnh không quan tâm, chú ý đầy đủ đến các dịch vụ phòng chống bệnh tật

và dịch vụ y tế công cộng

Bộ y tế cũng lo ngại rằng sẽ không còn đủ các công cụ để kiểm soát việctriển khai các chơng trình mục tiêu quốc gia khác nhau ở cấp tỉnh Việc phân bổngân sách chơng trình mục tiêu quốc gia cho các Bộ ngành và địa phơng còn thiếucơ sở thực tế và những tiêu quốc gia cho các Bộ, ngành và địa phơng còn thiếu cơ

sở thực tế và những tiêu thức phù hợp Về nguyêntắc các chơng trình quốc gia phải

đóng vai trò là phơng tiện cấp thêm ngân sách cho vùng khó khăn và giải quyết cácmục tiêu phòng chống bệnh tật cụ thể của từng tỉnh Nhng thực tế đánh giá lại cácchơng trình gần nh đợc phân bổ đồng dều cho các tỉnh mà không tính đến mô hìnhbệnh tật đặc trng của mỗi nơi Điều này cho thấy cần thiết phải xây dựng các ch-

ơng trình mục tiêu quốc gia sát với thực tế từng địa phơng hơn, nhằm phân phối cóhiệu quả nguồn tài chính

Bảng 3: Chi chơng trình mục tiêu quốc gia Y tế giai đoạn 2001 - 2005

Đơn vị: Triệu đồng

STT trình, dự án Tên chơng Năm

2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

1 Tổng số 412.000 475.000 535.000 575.000 685.000

2 Chi bằng nguồn

vốn vay, viện trợ

95.000 95.000 95.000 45.000 100.000

Trang 26

Nguồn: Vụ Ngân sách nhà nớc Bộ tài chính

Tình hình chi chơng trình mục tiêu quốc gia cho y tế trong những năm gần

đây có một vài đặc điểm

Trang 27

- Tỷ lệ chi ngân sách dành cho chơng trình mục tiêu quốc gia trong chi ờng xuyên của NSNN cho lĩnh vực y tế đợc giữ ổn định trong gia đoạn 1991 -1995,tăng mạnh vào năm 1996, 1997 và sau đó giảm dần cuống Nguyên nhân là do việcchuẩn mục tiêu nâng cấp trang thiết bị y tế sang chi thờng xuyên, khiến cho tổngchi thờng xuyên cho y tế tăng lên trong khi tổng chi các chơng trình mục tiêu quốcgia lại khá ổn định nên là cho tỷ lệ chi chơng trình quốc gia trong chi thờng xuyêncho y tế của NSNN giảm.

th Chi NSNN cho chơng trìnhmục tiêu quốc gia y tế ngày càng tăng cho thấyNhà nớc đang càng ngày càng quan tâm hơn đến công tác phòng bệnh Thông quacác chơng trình mục tiêu quốc gia Nhà nớc thực hiện chức năng cung cấp các dịch

vụ chăm sóc sức khỏ ban đầu, đảm bảo phân phối công bằng cho toàn dân Trong

đó, nguồn chi bằng nguồn vốn trong nớc là chủ yếu còn nguồn chi bằng vốn vay,viện trợ chỉ chiếm một phần nhỏ Nguồn vốn vay, viện trợ thờng kèm theo những

điều kiện ràng buộc nhất định, nên ta không nên quá làm dụng nguồn vốn vay

- Trong 10 chơng trình mục tiêu quốc gia về y tế thì chơng trình Tiêm chủng

mở rộng đợc cấp nhiều kinh phí nhất: 17% năm 2001, 16,1% năm 2005 và chiếm

tỷ trọng 17,34% trong thời kỳ 5 năm 2001 -2005, cao nhất trong tổng số 10 chơngtrình Bởi tiêm chủng là bớc quan trọng để phòng bệnh Thực hiện tốt công tác này

sẽ hạn chế đợc nhiều benẹh nguy hiểm, giảm chi phí chữa trị sau này, hạn chế đợc

tử vong do bệnh tật gây nên, nâng cao chất lợng sức khỏe của ngời dân

2.2 Cơ chế quản lý NSNN trong lĩnh vực y tế:

2.2.1 Cơ chế phân bổ NSNN trong lĩnh vực y tế:

Hiệu quả của việc sử dụng ngân sách phụ thuộc rất lớn vào việc phân bổngân sách giữa các cấp ngân sách trung ơng, địa phơng và giữa cac đơn vị sử dụngngân sách Phân bổ NSNN hợp lý, đúng đắn sẽ nâng cao tính công bằng trong sửdụng ngân sách, tạo điều kiện phát triển kinh tế và xã hội đồng đều giữa các khuvực, vùng, miền của đất nớc Đối với nớc ta, việc phân bổ ngân sách là chỉ tiêu

Trang 28

kinh tế tổng hợp, đợc tính toán, sử dụng làm căn cứ để phân bổ NSNN giữa các cấpngân sách và các đơn vị sử dụng ngân sách.

Trong giai đoạn 2004 -2006, định mức sử dụng để phân bổ ngân sách trongngân sách sự nghiệp y tế thực hiện theo quy định tại Quyết định số 139/2003/QĐ-TTg ban hành ngày 11/07/2003 của Thủ tớng Chính phủ về định mức phân bổ dựtoán chi thờng xuyên của NSNN cho các bộ, cơ quan Trung ơng và các tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ơng Kừt quả thực hiện nhiệm vụ xây dựng và thực hiện dựtoán NSNN giai đoạn 2004 -2006 đã khẳng định hẹ thống định mức phân bổ chiNSNN theo quyết định 139 là căn cứ quan trọng để xây dựng dự toán chi thờngxuyên đối với Bộ, cơ quan Trung ơng và địa phơng; là cơ sở quan trọng để cấp cóthẩm quyền quyết định số bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ơng cho ngân sách

địa phơng, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu igữ ngân sách Trung ơng

và ngân sách địa phơng của thời kỳ ổn định ngân sách 2004 - 2006 theo đúng quy

Nguồn: Nghị định 139/2003/QĐ-TTg

Quyết định 139 quy định mức phân bổ dự toán ngân sách cấp chi thờngxuyên cho các cơ sở y tế dợc giao ổn định và hàng năm tăng theo tỷ lệ do Chínhphủ trình Quốc hội quyết định phù hợp với cơ chế đổi mới quản lý tài chính đối với

sự nghiệp theo Nghị định số 10/2002/NĐ - CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ vềchế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu trong lĩnh vực Y tế và định h-

Trang 29

ớng sửa đổi, bổ sung Nghị dịnh này Hàng năm khi phân bổ dự toán chi ngân sách

sự nghiệpY tế đã u tiên với tỷ lệ mức tăng cao hơn đối với cơ sở y tế thuốc nhómkhám chữa bệnh xã hội (lao, phong )

Theo quyết định số 139 quy định vè định mức phân bổ ngân sách cho sựnghiệp y tế, ngoài định mức phân bổ theo tiêu chí dân số có phân theo vùng, các

địa phơng có các bệnh viện mang tính chất khu vực dợc phân bổ thêm kinh phí đểthực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh cho ngời dân trên địa bàn địa phơng cũng nhvùng: Đồng thời còn thực hiện tiêu thức bổ sung phân bổ ngân sách để thực hiệnkhám chữa bệnh cho ngời nghèo, trẻ em dới 6 tuổi

Tiêu chí phân bố chi thờng xuyên cho các địa phơng cơ bản theo tiêu chídân số, cơ cấu dan, tỷ lệ ngời nghèo cơ bản đảm bảo tính công bằng hợp lý, côngkhia, minh bạch trong phân bổ ngân sách địa phơng do yêu cầu, nhiệm vụ chi ngânsách đều phù thuộc chỉ tiêu dân số (dân số nhiều thì nhu cầu về kinh phí để thựchiện nhiệm vụ phát triển y tế càng lờn ), đồng thời có hệ số u tiên đối với vùngmiền núi, vùng đồng bào dân tộc có nhiều khó khăn so với vùng đồng bằng vàvùng đô thị Cùng với tiêu chí phân bổ cơ bản là dân số, cơ cấu dân số, còn có cáctiêu thức bổ sung để thực hiện khám chữa bệnh cho ngời nghèo, cho trẻ em

Mặc dù định mức phân bổ theo Quyết định 139 đã thể hiện u tiên vùng miềnnúi, vùng cao khó khăn, tuy nhiên giai đoạn 2006 - 2010 thì một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của NSNN là tăng mức và tỷ trọng ngân sách phát triển cáclĩnh vực xã hội, thực hiện công bằng về chăm sóc sức khỏe đối với mọi ngời dân

Do vậy cần nâng mức độ u tien cao hơn so với định mức theo Quyết định 139 về hệ

số và mức tăng đối với các địa phơng miền núi, vùng cao, hải đảo để thực hiệnnhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010

Tóm lại, định mức phân bổ NSNN theo Quyết định 139 cơ bản phù hợp vớitình hình thực tế về nguồn lực ngân sách, đáp ứng kinh phí thực hiện các nhiệm vụngành y tế tại trung ơng, địa phơng; phù hợp với khả năng cân đối NSNN; định

Trang 30

mức phân bổ ngân sách với hệ thống tiêu chí phân bổ ngân sách cụ thể, rõ ràng,minh bạch, dễ thực hiện, dễ kiểm tra đã u tiên các địa phơng miền núi, vùng

đồng bào dân tộc có nhiều khó khăn

Tuy nhiên trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện địnhmức phân bổngân sách theo Quyết định 139 còn một số tồn tại cần khắc phục và cần sửa đổi bổsung để đảm bảo kinh phí thựchiện những chế độ, chính sách Nhà nớc mới banhành; thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn phát triểnmới theo Nghị quyết của Đảng Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả đạt

đợc, khắc phục các tồn tại của Quyết định 139, Thủ tớng Chính phủ đã ban hànhQuyết định 151/2006/NĐ-TTg ngày 29/06/2006 về địnhmức phân bổ dự toán chithờng xuyên ngân sách nhà nớc năm 2007 Quyết định này đã thực hiện đợc việctăng mức u tiên đói với vùng miền núi, Tây Nguyên khó khăn và đảm bảo đợc tínhcông khai, minh bạch, từng bớc phù hợp với thông lệ quốc tế

Bảng 5: Định mức phân bổ chi sự nghiệp y tế theo quyết định

Nguồn: Quyết định 151/2006/QĐ-CP

Định mức phân bổ nêu trên đã bao gồm các chế độ: Khám chữa bệnh miễnphí cho trẻ em dới 6 tuổi; các chế độ chính sách u tiên đối với lĩnh vực y tế theo

Trang 31

Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01 tháng 07 năm 2004, Nghị quyết số 39-NQ/TWngày 16 tháng 8 năm 2004 của Bộ Chính trị,

- Kinh phí khám chữa bệnh cho ngời nghèo đợc xác định trên cơ sở dự kiến

số ngời nghèo năm 2007 và các đối tợng theo quy định tại Quyết định số139/2002/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2002 của Thủ tớng Chính phủ; mức chikhám chữa bệnh bình quân một ngời dân nghèo thực hiện theo chế độ quy định

- Định mức phân bổ thêm kinh phí cho các bệnh viện mang tính chất khuvực:

Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng có các bệnh viện do địaphơng quản lý và bảo đảm ngân sách mang tính chất khu vực theo quy định của bộ

Y tế, đợc ngân sách trung ơng bổ sung cho ngân sách địa phơng mức bằng 30% dựtoán chi năm 2006 do cơ quan có thẩm quyền đã giao cho bệnh viện

So với Quyết định 139 thì Quyết định 151 đã thực hiện tăng mức chi để thựchiện các nhiệm vụ:

- Chi lơng và có tính chất lơng địnhmức năm 2007 và phụ cầp ngành y tếtăng so với định mức năm 2004 là 60 - 65% tùy thuộc vào từng địa bàn

Đối với khu vực đô thị các khoản chi sự nghiệp y tế tăng so với định mứcphân bổ năm 2004 9tăng bình quân 7 - 8%/năm); đồng thời tăng kinh phí 28%(bình quân 9%/năm) so với mức chi theo định mức năm 2004 đảm bảo kinh phíthực hiện chế độ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dới 6 tuổi

- Định mức chi vùng núi thấp - vùng sâu tăng 72%, núi cao -hải đảo tăng138% so với khu vực đô thị để thực hiện các chế độ đối với cán bộ y tế thôn, bản

2.2.2 Cơ chế chấp hành NSNN trong lĩnh vực y tế.

Theo quy định hiện hành, việc phân bổ, cấp phát và quyết toán ngân sáchchi sự nghiệp giáo dục đợc thực hiện theo quy định tại Nghị định 60/2003/NĐ - Cpban hành ngày 06/06/2003 hớng dẫn việc thi hành Luật NSNN 2002, cụ thể nh sau:

Trang 32

Thứ nhất, về phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng:

a Sau khi đợc Thủ tớng Chính phủ, ủy ban nhân dân giao dự toán ngân sách,các cơ quan nhà nớc ở trung ơng và địa phơng, các đơn vị dự toán cấp I tiến hànhphân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộctheo các nguyên tắc sau;

- Tổng số giao cho các đơn vị trực thuộc không vợt quá dự toán đợc cấp cóthẩm quyền giao cả về tổng mức và chi tiét theo từng lĩnh vực Đối với nhiệm vụchi đầu t xây dựng cơ bản phải u tiên những dự án quan trọng chuyển tiếp, đối vớicác dự án mới, chỉ phân bổ, giao dự toán khi có đủ điều kiện theo quy định củapháp luật về quản lý đầu t và xây dựng

- Dự toán giao cho đơn vi sử dụng ngân sách đợc phân bổ chi tiết theo cácnhóm mục chi chủ yếu của Mục lục Ngân sách nhà nớc Đối với những khoản chi

có tính chất thời vụ hạơc chỉ phát sinh vào một số thời điểm nh đầu t xây dựng cơbản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản có tính chất không thơng xuyên khác cònphải phân theo tiến độ thực hiện từng quý

b Phơng án phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sáchphải gửi cơ quan Tài chính cùng cấp để thẩm tra Trờng hợp việc phân bổ khôngphù hợp với nội dung dự toán do cơ quan có thẩm quyền giao, không đúng vớichính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức thì cơ quan tài chính yêu cầu cơ quanphân bổ ngân sách điều chỉnh lại

c Việc phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sáchphải hoàn thành trớc 31 tháng 12 năm trớc, trừ trờng hợp dự toán ngân sách nhà n-

ớc cha đợc Quốc hội quyết định, dự toán ngân sách địa phơng cha đợc Hội đồngnhân dân quyết định

d Trong quá trình thực hiện dự toán ngân sách, khi cần thiết, đơn vị dụ toáncấp I đợc điều chỉnh dự toán ngân sách giữa các đơn vị trực thuộc, sau khi htống

Trang 33

nhất với cơ quan Tài chính cùng cấp, song không đợc làm thay đổi tổng mức và chitiết dự toán đã giao cho đơn vị dự toán cấp I.

Thứ hai, Chi ngân sách nhà nớc chỉ đợc thực hiện khi có đầy đủ các điềukiện sau đây:

- Đã có trong dự toán ngân sách nhà nớc đợc giao

- Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định;

- Đã đợc Thủ trởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc ngời đợc ủy quyền quyết

định chi:

- Ngoài các điều kiện quy định trên trờng hợp sử dụng vốn, kinh phí ngânsách nhà nớc để đầu t xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, phơng tiện làm việc

và các công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá thì còn phải tổ chức

đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật

- Các khoản chi có tính chất thờng xuyên đợc chia đều trong năm để chi; cáckhoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời điểm nh đầu t xâydựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi có tính chất không thờngxuyên

Thứ ba, về cấp phát ngân sách

a Việc cấp pháp các khoản chi thờng xuyên của các cơ quan hành chính,

đơn vị sự nghiệp đợc thực hiện nh sau:

- Căn cứ vào dự toán ngân sách nhà nớc đợc giao, tiến độ triển khai côngviệc và điều kiện chi ngân sách, thủ trởng đơn vị sử dụng ngân sách quyết định chigửi kho bạc Nhà nớc nơi giao dịch, kèm theo các tài liệu cần thiết theo chế độ quy

định

- Kho bạc Nhà nớc kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu do đơn vị sử dụngngân sách gửi, thực hiện việc thanh toán khi có đủ các điều kiện quy định

Ngày đăng: 11/04/2013, 09:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng chi NSNN trong lĩnh vực y tế: - Cơ chế quản lí ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực y tế
Bảng 1 Bảng chi NSNN trong lĩnh vực y tế: (Trang 18)
Bảng 3: Chi chơng trình mục tiêu quốc gia Y tế giai đoạn 2001 - 2005 - Cơ chế quản lí ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực y tế
Bảng 3 Chi chơng trình mục tiêu quốc gia Y tế giai đoạn 2001 - 2005 (Trang 25)
Đồ thị 32.180 1.00 - Cơ chế quản lí ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực y tế
th ị 32.180 1.00 (Trang 28)
Bảng 5: Định mức phân bổ chi sự nghiệp y tế theo quyết định 151/2006/AĐ- 151/2006/A§-TTg - Cơ chế quản lí ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực y tế
Bảng 5 Định mức phân bổ chi sự nghiệp y tế theo quyết định 151/2006/AĐ- 151/2006/A§-TTg (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w