1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc

121 672 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Trên cơ sở đánh giá được những ưu điểm và mặt hạn chế của loại cây trồng, các hệ thống cây trồng hiện tại, nghiên cứu sẽ đề xuất một số cây trồng phù hợp v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được ghi nhận và bày tỏ

sự cám ơn, các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Người hướng dẫn Vĩnh Phúc, ngày 12 tháng 9 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Hùng

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Ban Quản lý Đào tạo, khoa Nông học, bộ môn Canh tác học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam!

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của lãnh đạo các cơ quan, đơn vị: Trung tâm khí tượng Thủy văn Vĩnh Phúc; Văn phòng UBND huyện, phòng Nông nghiệp & PTNT, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Tài chính –

Kế hoạch, Lao động TB & XH, Chi cục Thống kê huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tôi xin trân trọng cảm ơn các cán bộ và nhân dân địa phương nơi tôi tiến hành điều tra nghiên cứu đề tài, đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài này!

Trân trọng cảm ơn bạn bè đồng nghiệp đã khích lệ tôi thực hiện đề tài Trân trọng cảm ơn những người thân trong gia đình luôn tạo điều kiện về mọi mặt động viên tôi trong cuộc sống, học tập, thực hiện và làm hoàn chỉnh luận văn này!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Văn Hùng

Trang 5

1.1.3 Những yếu tố chi phối sự lựa chọn cơ cấu cây trồng 15

1.1.5 Vai trò của cơ cấu cây trồng hợp lý và chuyển đổi cơ cấu cây trồng

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 38

2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Yên Lạc 39 2.2.2 Hiện trạng hệ thống cây trồng huyện Yên Lạc 39

2.2.4 Đề xuất và giải pháp thực hiện hệ thống cây trồng mới 40

Trang 6

2.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp 40

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Yên Lạc 44

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội huyện Yên Lạc 48 3.1.3 Đánh giá chung thực trạng phát triển kinh tế xã hội 57 3.2 Hiện trạng hệ thống cây trồng huyện Yên Lạc 59 3.2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính qua các năm 59

3.2.5 Hiện trạng sử dụng giống cây trồng tại huyện Yên Lạc 68 3.2.6 Hiện trạng sử dụng phân bón cho một số cây trồng chính 72 3.2.7 Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 73 3.2.8 Hệ thống cây trồng cây trồng trên các loại hình sử dụng đất 74 3.2.9 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hệ thống cây trồng 76 3.3 Kết quả nghiên cứu các mô hình thử nghiệm về giống, cây trồng mới

3.3.1 Kết quả thử nghiệm mô hình trồng giống Đậu tương ĐT 26… 80 3.3.2 Kết quả thử nghiệm mô hình trồng giống bí đỏ F1-868… 84 3.3.3 Kết quả thử nghiệm mô hình trồng giống Khoai tây Atlantic 85 3.3.4 So sánh hiệu quả kinh tế của hệ thống cây trồng cũ và mới trong mô

3.3.4.1 So sánh hiệu quả kinh tế khi sử dụng giống cây trồng mới trong hệ

thống cây trồng: Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu tương đông 87 3.3.4.2 So sánh hiệu quả giữa hệ thống cây trồng cũ Lúa xuân - Lúa mùa –

Ngô đông và hệ thống cây trồng mới: Lúa xuân-Lúa mùa-Bí đỏ đông 88 3.3.4.3 So sánh hiệu quả giữa hệ thống cây trồng cũ và hệ thống cây trồng

mới: Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai tây đông 89 3.4 Đề xuất hệ thống cây huyện Yên Lạc đến năm 2020 90

Trang 7

3.4.1 Quan điểm đề xuất 90 3.4.2 Phương án chuyển đổi hệ thống cây trồng huyện Yên Lạc đến năm

Trang 8

3.5 Cơ cấu giá trị trong nội ngành nông nghiệp 51 3.6 Tình hình dân số, lao động của huyện năm 2013 54 3.7 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính qua các năm huyện

3.12 Hiện trạng sử dụng giống cây trồng màu 71 3.13 Hiện trạng sử dụng phân bón cho một số cây trồng chính 73 3.14 Hệ thống cây trồng chính của huyện Yên Lạc 75 3.15 Hiệu quả kinh tế của các hệ thống cây trồng chính của huyện Yên Lạc 77 3.16 Thời gian sinh trưởng và một số chỉ tiêu sinh trưởng của các giống đậu

Trang 9

mô hình 87 3.23 So sánh hiệu quả kinh tế giữa hệ thống cây trồng cũ và mới trong hệ

thống cây trồng: Lúa Xuân – Lúa Mùa – Đậu tương Đông 88 3.24 So sánh hiệu quả kinh tế giữa hệ thống cây trồng cũ

và mới trong hệ thống cây trồng: Lúa xuân – Lúa mùa – Bí đỏ 89 3.25 So sánh hiệu quả kinh tế giữa hệ thống cây trồng cũ

và mới trong hệ thống cây trồng: Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai tây 90

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

3.1 Cơ cấu trong nội ngành nông nghiệp qua các năm huyện Yên Lạc 51

Trang 11

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CCCT Cơ cấu cây trồng

CNXD Công nghiệp xây dựng

CTLC Công thức luân canh

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Yên Lạc là huyện đồng bằng, phía Nam tỉnh Vĩnh Phúc, có 17 đơn vị hành chính, gồm 1 thị trấn và 16 xã Phía Bắc, Yên Lạc giáp thành phố Vĩnh Yên và huyện Tam Dương, phía Tây giáp huyện Vĩnh Tường, phía Đông giáp huyện Bình Xuyên và huyện Mê Linh (Hà Nội), phía Nam tiếp giáp sông Hồng và huyện Phúc Thọ (Hà Nội)

Diện tích tự nhiên là 10.767,39ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 7.396,07 ha; chiếm 68,7% tổng diện tích đất tự nhiên, dân số 152.850 người Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, huyện Yên Lạc mang đầy đủ đặc điểm khí hậu của vùng với những nét đặc trưng là nhiệt đới gió mùa, có địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc trung bình từ 3-5 độ, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam và có một số xã vùng trũng Nhìn chung, địa hình của huyện rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản

Với diện tích nhỏ, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp khoảng 481m2/người và 1.625 m2/lao động nông nghiệp Phần lớn đất của Yên Lạc là đất phù sa sông Hồng, độ phì cao, thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây lương thực, rau, đậu và cây ăn quả

Trong điều kiện hiện tại, việc nâng cao hơn nữa hệ số sử dụng đất nông nghiệp không dễ dàng Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, gia tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp cần thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướng đưa những loại giống cây trồng mới có giá trị và năng suất cao vào sản xuất Tuy nhiên đến nay chưa có công trình nghiên cứu, đánh giá cụ thể các cây trồng phù hợp với tập quán canh tác, điều kiện thổ nhưỡng, thị trường và có giá trị kinh tế, nhằm khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của huyện

Để làm rõ vấn đề này với mục đích định hướng phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất cây

Trang 13

trồng theo hướng hàng hoá, nâng cao đời sống nhân dân trong huyện với sự nhất trí của bộ môn Canh tác học, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn

Ích Tân, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống

cây trồng trên địa bàn huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc”

Khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội góp phần thúc đẩy sản xuất cây trồng theo hướng hàng hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập cho nông dân trong huyện

2.2 Yêu cầu

- Xác định những thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế -

xã hội đối với các hệ thống cây trồng chính

- Xác định được hiện trạng các hệ thống cây trồng, từ đó chỉ ra được những ưu điểm, nhược điểm để có giải pháp thúc đẩy hay khắc phục

- Xây dựng một số mô hình thử nghiệm về giống, cây trồng mới ở vụ Đông để làm cơ sở áp dụng trên diện rộng

- Đề xuất một số cây trồng phù hợp, hệ thống cây trồng hợp lý và các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở quan trọng để xây dựng và định hướng phát triển nông nghiệp từ nay đến 2020 của huyện Yên Lạc

Trang 14

Kết quả nghiên cứu cũng góp phần bổ sung phương pháp luận về hệ thống cây trồng và xây dựng các công thức luân canh cây trồng hợp lý

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Trên cơ sở đánh giá được những ưu điểm và mặt hạn chế của loại cây trồng, các hệ thống cây trồng hiện tại, nghiên cứu sẽ đề xuất một số cây trồng phù hợp và hệ thống cây trồng mới hợp lý hơn, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Yên Lạc, góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương

- Đa dạng hoá cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần hoàn thành mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Lạc

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Nông nghiệp đóng vai trò to lớn trong đời sống xã hội, cung cấp lương thực, thực phẩm cho cả cư dân thành thị và nông thôn, cung cấp hàng hóa xuất khẩu để đổi lấy ngoại tệ và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp Hơn một nửa dân số trên thế giới và phần lớn dân cư ở các nước đang phát triển sống ở các vùng nông thôn Cuộc sống và số phận của họ gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp Phần lớn họ là những người nghèo và phụ thuộc vào các kỹ thuật mà họ áp dụng, mà những kỹ thuật này phần lớn còn lạc hậu so với những

kỹ thuật tiên tiến hiện có Nông nghiệp còn là sự kết hợp lôgic giữa sinh học, kinh tế - xã hội cùng vận động trong môi trường tự nhiên Nghiên cứu hệ thống trồng trọt, hệ thống cây trồng trên bình diện một vùng nông nghiệp nhỏ hay trang trại của nông hộ cũng không ngoài những quy luật trên (Phạm Thị Hương, 2006)

* Hệ thống nông nghiệp (HTNN)

Hệ thống (system) là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau

có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống có thể xác định một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác (GriggD.B, 1979); (Spedding, 1979)

Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau, có quan

hệ và tác động qua lại Một hệ thống có thể được xác định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác Mục đích nghiên cứu hệ thống là để điều khiển sự hoạt động của nó Nội dung của việc điều khiển các hệ sinh thái, hệ thống nông nghiệp là các biện pháp kinh tế kỹ thuật nhằm phát triển nông nghiệp bền vững (Phạm Chí Thành và các cộng sự, 1993)

Trang 16

Nhìn chung HTNN là một hệ thống hữu hạn, trong đó con người đóng vai trò trung tâm, con người quản lý và điều khiển các hệ thống theo những quy luật nhất định, nhằm mang lại hiệu quả cho HTNN Trong HTNN có các

hệ thống sinh học (vật nuôi, cây trồng) hoạt động theo các quy luật sinh học (trao đổi năng lượng vật chất) và các hệ thống hoạt động theo các quy luật kinh tế - xã hội Như vậy HTNN khác với hệ sinh thái nông nghiệp ở chỗ ngoài các yếu tố ngoại cảnh và sinh học còn có yếu tố kinh tế - xã hội (dẫn theo Nguyễn Văn Lạng, 2002)

Khái niệm về HTNN có thể từ nhiều góc độ khác nhau và sự áp dụng vào nghiên cứu phát triển nông thôn cũng khác nhau ở mỗi quốc gia Theo Mazoyer (1986) HTNN là một phương thức khai thác môi trường, được hình thành nên mang tính lịch sử và bền vững với một hệ thống về lực lượng sản xuất thích hợp với các điều kiện sinh khí hậu của một môi trường nhất định và đáp ứng được các điều kiện và các nhu cầu của xã hội hiện tại (Nguyễn Huy Trí, 2004)

* Hệ thống canh tác:

Hệ thống canh tác là tổ hợp cây trồng được bố trí trong không gian, thời gian và hệ thống các biện pháp kỹ thuật được thực hiện với tổ hợp đó nhằm đạt được năng suất cây trồng cao và nâng cao độ phì đất đai Khái niệm này nhấn mạnh hai yếu tố: tổ hợp cây trồng (trong không gian và thời gian) và

hệ thống các biện pháp kèm theo (Nguyễn Văn Luật, 1990)

Theo Phạm Chí Thành và các cộng sự (1996) thì hệ thống canh tác là một hệ thống bao gồm nhiều hệ thống: trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, tiếp thị, quản lý kinh tế được bố trí một cách hệ thống và ổn định phù hợp với mục tiêu trong từng nông trại hay từng tiểu vùng nông nghiệp

Theo Sectisan (1987), hệ thống canh tác là sản phẩm của 4 nhóm biến số: môi trường vật lý, kỹ thuật sản xuất, chi phối của nguồn tài nguyên, điều kiện kinh tế - xã hội Trong hệ thống canh tác vai trò của con người đặt ở vị

Trang 17

trí trung tâm của hệ thống và quan trọng hơn bất cứ nguồn tài nguyên nào kể

cả đất canh tác Nhà thổ nhưỡng học người Mỹ đã chứng minh cho quan điểm này, Ông cho rằng đất không phải là quan trọng nhất mà chính con người sống trên mảnh đất đó mới là quan trọng nhất Muốn phát triển một vùng nông nghiệp, kỹ năng của nông dân có tác dụng hơn độ phì của đất Như vậy

hệ thống canh tác được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế - xã hội, phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn và nguồn lực của nông hộ (ZandStra, 1981)

* Hệ thống trồng trọt (HTTT):

HTTT là hoạt động sản xuất cây trồng trong nông trại, nó bao gồm tất

cả các hợp phần cần thiết để sản xuất một tổ hợp các cây trồng của nông trại

và mối quan hệ của chúng với môi trường Các hợp phần này bao gồm cả yếu

tố tự nhiên, yếu tố sinh học cần thiết cũng như biện pháp kỹ thuật lao động và yếu tố quản lý (Zandstra, 1981)

Theo Phạm Chí Thành và cs (1996) hệ thống trồng trọt bao gồm: (I)

Hệ thống cây trồng; (II) hệ thống công thức luân canh; (III) hệ thống sử dụng phân bón; (IV) hệ thống tưới tiêu; (V) hệ thống bảo vệ thực vật; (VI) hệ thống quản lý…

Nghiên cứu hệ thống trồng trọt là một vấn đề phức tạp, vì nó liên quan đến vấn đề môi trường, đất đai, khí hậu, thời tiết ảnh hưởng đến cây trồng, vấn đề sâu bệnh, mức đầu tư và trình độ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, vấn

đề hiệu ứng hệ thống của hệ thống cây trồng

HTTT là bao gồm tất cả thành phần cần có cho nông trại sản xuất một tập hợp các công thức luân canh (CTLC) và bao gồm việc sản xuất một số cây trồng Các hoạt động sản xuất trồng trọt của một nông trại tạo nên hệ thống trồng trọt của trang trại đó Tất cả các thành phần cần cho việc sản xuất một cây trồng cụ thể nào đó và mối quan hệ của chúng với môi trường được coi là thuộc phạm vi một hệ thống cây trồng Các thành phần đó bao gồm, tất cả các

Trang 18

đầu vào cần thiết cả về vật lý, sinh học công nghệ, vốn, lao động và quản lý Một CTLC bao gồm tất cả các thành phần cần có cho việc sản xuất một tập hợp cây trồng trên một mảnh ruộng trong một năm Còn hệ thống canh tác bao gồm tất cả các thành phần cần thiết cho sản xuất một tập hợp cây trồng ở nông trại (Phạm Thị Hương, 2006)

Nền tảng năng suất của một HTTT là sinh trưởng của cây trồng và chịu ảnh hưởng của sự quản lý (M) và môi trường (E) Do đó, sinh trưởng và năng suất cây trồng (Y) có thể coi là kết quả của môi trường (E) và sự quản lý (M) (Theo Zandstra, 1981), nên ta có:

Y = f(M,E) Quản lý (M) HTTT bao gồm việc bố trí cây trồng theo thời gian và không gian cùng với các biện pháp kỹ thuật canh tác áp dụng Các biện pháp

kỹ thuật bao gồm việc lựa chọn giống, thời vụ và phương pháp gieo trồng, bón phân, chăm sóc, quản lý nước, bảo vệ thực vật và thu hoạch

Môi trường (E) được tạo bởi thổ nhưỡng, các biến số khí hậu (lượng mưa, nước tưới, đặc điểm đất đai, địa hình, mực nước ngầm, vị trí địa lý, nền nhiệt độ, chế độ bức xạ…), điều kiện kinh tế (giá cả đầu vào, đầu ra…) Các biến số môi trường mà các nhà nghiên cứu HTTT quan tâm là các biến số có thể kiểm soát được bằng M ở chừng mực nào đó Do vậy, nghiên cứu HTTT tập trung vào sự tương tác giữa M và E

Để đánh giá mối quan hệ Y = f(M,E) các nhà nghiên cứu HTTT tập trung vào sự tương tác giữa M và E, tìm cách xác định biện pháp thay đổi CTLC sao cho thu được kết quả tốt nhất cho các môi trường sản xuất khác nhau Mục đích là để dự báo cách quản lý tốt nhất từ các thông tin có được từ môi trường (E) (Phạm Thị Hương, 2006)

HTTT là một trong hai hệ thống phụ chủ yếu của hệ thống nông nghiệp hỗn hợp Những cây trồng nông nghịêp có thể có nhiều chức năng khác nhau,

kể cả việc tạo ra chỗ che chở cho con người, gia súc và cây trồng khác, chống

Trang 19

xói mòn đất, phục vụ mục đích giải trí (thảm cỏ, hoa, cây cảnh và cây bụi) và làm tăng độ phì nhiêu của đất (bổ sung chất hữu cơ từ xác lá và rễ già hoặc đạm từ nốt sần cây họ đậu) Tuy nhiên, những HTTT chủ yếu được xây dựng

để sản xuất ra lương thực, thực phẩm trực tiếp cho con người, thức ăn cho gia súc, sợi cho nguyên liệu công nghiệp và một nhóm sản phẩm hỗn hợp khác như thuốc lá, chất thơm và dược liệu (Phạm Chí Thành, 1992)

1.1.2 Tổng quan về hệ thống cây trồng

* Khái niệm về Hệ thống cây trồng (HTCTr):

Theo Nguyễn Duy Tính và cộng sự (1995), HTCTr là một thể thống nhất trong mối quan hệ tương tác giữa các loài cây trồng, giống cây trồng được bố trí hợp lý trong không gian và thời gian Chuyển đổi hay phát triển HTCTr là phát triển HTCTr mới trên cơ sở cải tiến HTCTr cũ hoặc phát triển HTCTr mới bằng cách tăng vụ, tăng cây hoặc thay thế cây trồng để khai thác có hiệu quả hơn tiềm năng đất đai, con người và lợi thế so sánh trên vùng sinh thái

Theo Phạm Văn Hiền và Trần Danh Thìn (2009), nói đến HTCTr đa canh là nói đến: trồng xen, trồng gối, luân canh, trồng thành băng, canh tác phối hợp, vườn hỗn hợp Trong đó hệ thống luân canh cây trồng có vai trò rất lớn, nó góp phần tăng hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích cũng như khai thác tối đa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Ngoài ra đây còn là một trong những biện pháp sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên đất, nước một cách có hiệu quả

Theo Đào thế Tuấn (1984), HTCT là thành phần tỷ lệ các loại giống và cây trồng được bố trí trong không gian và thời gian của hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế, xã hội Theo tác giả, cơ cấu cây trồng (CCCT) là nội dung chính của HTCT Bố trí cây trồng hợp lý là biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm sắp xếp lại hoạt động của hệ sinh thái Một CCCT hợp lý chỉ khi nó lợi dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu và né tránh thiên tai, lợi dụng các đặc tính sinh học của cây trồng,

Trang 20

tránh sâu bệnh, cỏ dại, đảm bảo sản lượng cao và tỷ lệ hàng hóa lớn, đảm bảo phát triển tốt chăn nuôi và các ngành kinh tế hỗ trợ, sử dụng hợp lý vật tư, phương tiện và lao động

Theo Zandstra, (1981), HTCT là các hình thức đa canh bao gồm: trồng xen, trồng gối, trồng luân canh, trồng thành băng, canh tác phối hợp, vườn hỗn hợp CTLC là tổ hợp trong không gian và thời gian của các cây trồng trên một mảnh đất và các biện pháp canh tác dùng để sản xuất chúng

Theo Đào Châu Thu (2004), các nghiên cứu trong việc hoàn thiện hệ thống cây trồng cần dùng phương pháp phân tích hệ thống để tìm ra điểm hẹp hay chỗ thắt lại của hệ thống Đó là chỗ có ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của hệ thống cần được tác động sửa chữa, khai thông để hệ thống hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế cao hơn

Do đặc tính sinh học của cây trồng và môi trường luôn biến đổi nên HTCT mang đặc tính động Vì vậy nghiên cứu HTCT không thể dừng lại ở một không gian và thời gian rồi kết thúc mà là việc làm thường xuyên để tìm

ra xu thế phát triển, yếu tố hạn chế và những giải pháp khắc phục để chuyển đổi HTCT nhằm mục đích khai thác ngày càng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng hiệu quả kinh tế xã hội phục vụ cuộc sống con người (Đào

* Cơ cấu cây trồng (CCCT)

Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loài cây trồng có trong một vùng ở một thời điểm nhất định, nó liên quan tới cơ cấu cây trồng nông nghiệp, nó phản ánh sự phân công lao động trong nội bộ ngành nông nghiệp,

Trang 21

phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, nhằm cung cấp được nhiều nhất những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người (Đào Thế Tuấn, 1984)

CCCT là một trong những nội dung quan trọng của một hệ thống biện pháp kỹ thuật gọi là chế độ canh tác Ngoài cơ cấu cây trồng, chế độ canh tác bao gồm chế độ luân canh, làm đất, bón phân, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh

và cỏ dại CCCT là yếu tố căn bản nhất của chế độ canh tác, vì chính nó quyết định nội dung của các biện pháp khác (Đào Thế Tuấn, 1984)

CCCT còn là thành phần của một nội dung rộng hơn gọi là cơ cấu sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp như trên đã nói bao gồm nhiều ngành sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản (Đào Thế Tuấn, 1978)

CCCT là một thể thống nhất trong mối quan hệ tương tác giữa các loại cây trồng, giống cây trồng được bố trí hợp lý trong không gian và thời gian, tức là mối quan hệ giữa các loại cây trồng trong từng vụ và giữa các vụ khác nhau trên một mảnh đất, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, nhằm cung cấp được nhiều nhất những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người Quá trình xây dựng mô hình chuyển đổi CCCT phải xuất phát từ chính nền sản xuất truyền thống chứ không thể tách rời thực tế Do đó, cấu trúc một cơ cấu cây trồng hợp lý không những phát triển sản xuất một cách có lợi nhất mà còn bảo vệ tốt đất đai và môi trường (Phạm Chí Thành và

cs, 1996)

* Đặc trưng của cơ cấu cấy trồng

Theo tác giả Phạm Chí Thành (1996) thì CCCT có 5 đặc trưng sau:

- CCCT mang tính khách quan và được hình thành do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội

- CCCT phải đảm bảo các mối quan hệ cân đối và đồng bộ giữa các bộ phận trong một tổng thể, tổng thể đó là một hệ thống lớn bao gồm những hệ

Trang 22

thống con và mỗi hệ thống con lại bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hơn gắn bó với nhau một cách chặt chẽ trong mối quan hệ cân đối và đồng bộ Nếu thiên lệch về một hệ thống con nào cũng dẫn tới sự phá vỡ tính cân đối đồng bộ của toàn hệ thống

- CCCT bao giờ cũng là một sản phẩm của một giai đoạn lịch sử nhất định: không thể đem nội dung cơ cấu cây trồng của một thời kỳ phát triển áp đặt vào một đất nước, một vùng hoặc một thời kỳ mà ở đó trình độ của lực lượng sản xuất còn lạc hậu, phân công lao động xã hội còn đơn giản hoặc ngược lại Nguyên tắc trên hoàn toàn không cản trở việc thử nghiệm, áp dụng từng bước các mô hình tiên tiến đan xen phù hợp với những điều kiện cụ thể

- CCCT không ngừng vận động, biến đổi và phát triển theo xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn, mở rộng hơn và có hiệu quả hơn Quá trình vận động, biến đổi chính là quá trình điều chỉnh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng và quá trình chuyển dịch đó luôn luôn gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội Lực lượng sản xuất phát triển càng cao, thì phân công lao động xã hội ngày càng phát triển cao hơn, tỉ mỉ hơn Theo quy luật quan hệ sản xuất luôn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Như vậy, CCCT ngày càng được hoàn thiện hơn, hiệu quả cao hơn Mặt khác CCCT không thể luôn luôn thay đổi theo ý muốn chủ quan của con người, mà phải tương đối ổn định phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Sự ổn định tương đối phản ánh tính khách quan khoa học trong quá trình hình thành, xác lập CCCT và đảm bảo tính hiệu quả cao trong kinh doanh và trong đời sống

xã hội của đất nước

- Chuyển dịch CCCT là một quá trình không có sẵn một cơ cấu kinh tế hoàn thiện CCCT mới được bắt nguồn, chuyển dịch từ cơ cấu trước nó, từ sự tích luỹ về lượng, đủ mức dẫn tới sự thay đổi về chất Sự chuyển dịch đó đòi hỏi phải có thời gian, là một quá trình tất yếu khách quan như bản thân nội

Trang 23

dung cơ cấu cây trồng đòi hỏi sự tác động bằng một hệ thống chính sách và biện pháp đồng bộ tác động hợp quy luật thúc đẩy nhanh quá trình hình thành

* Khái niệm về cơ cấu cây trồng hợp lý:

Cơ cấu cây trồng hợp lý là phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở cải biến hệ thống cây trồng cũ hoặc xây dựng hệ thống cây trồng mới Trên thực tế là tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan

hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo vệ môi trường sinh thái (Đào Thế Tuấn, 1984)

Theo Đào Thế Tuấn (1989), Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh (1987), cơ cấu cây trồng hợp lý là cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của vùng Cơ cấu cây trồng hợp lý còn thể hiện tính hiệu quả của mối quan hệ giữa cây trồng được bố trí trên đồng ruộng, làm cho sản xuất ngành trồng trọt phát triển toàn diện, mạnh mẽ vững chắc theo hướng sản xuất thâm canh gắn với đa canh, sản xuất hàng hoá và có hiệu quả kinh tế cao Cơ cấu cây trồng là một thực tế khách quan, nó được hình thành từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể và vận động theo thời gian

Cơ cấu cây trồng hợp lý còn biểu hiện là việc phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở cải biến hệ thống cây trồng cũ hoặc phát triển hệ thống cây trồng mới, trên cơ sở tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng, đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo

vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước, 1991)

Cơ cấu cây trồng hợp lý có vai trò quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất cây trồng, tăng giá trị hàng hóa, tăng thu nhập của người dân bản địa Do vậy, xác định cơ cấu cây trồng

Trang 24

hợp lý phải dựa trên cơ sở:

+ Các yếu tố khí hậu như chế độ nhiệt, chế độ mưa, bão

+ Các yếu tố đất đai: thành phần cơ giới, thành phần hóa học và đặc điểm địa hình của đất

+ Yếu tố cây trồng, bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn cây trồng tận dụng được tốt nhất các điều kiện khí hậu, đất đai và tài nguyên khác

+ Bố trí cơ cấu cây trồng là xây dựng một hệ sinh thái nhân tạo Mối quan

hệ giữa các sinh vật và cây trồng trong cộng sinh, ký sinh Vì vậy cải tiến cơ cấu cây trồng tạo nên những quan hệ tỷ lệ mới phù hợp nhất, có hiệu quả, phát triển bền vững hệ sinh thái (Phạm chí Thành, Trần Đức Viên, 2000)

Xác định CCCT hợp lý ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ giữa cây trồng với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cần phải dựa trên phương hướng sản xuất của từng vùng Phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng, nhưng cơ cấu cây trồng lại là cơ sở hợp lý cho các nhà hoạch định chính sách xác định phương hướng sản xuất (Phạm Chí Thành và CTV, 1996), (Đào Thế Tuấn, 1984)

Dựa trên quan điểm sinh học Đào Thế Tuấn (1978) cho rằng, bố trí CCCT hợp lý là chọn một cấu trúc cây trồng trong hệ sinh thái nhân tạo, làm thế nào để đạt năng suất sơ cấp cao nhất Về mặt kinh tế, cơ cấu cây trồng hợp

lý cần thoả mãn yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao, bảo đảm việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng nguồn lợi tự nhiên, ngoài ra còn phải đảm bảo việc đầu tư lao động và vật tư

kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao

* Chuyển đổi cơ cấu cây trồng

Chuyển đổi CCCT là sự thay đổi theo tỷ lệ % của diện tích gieo trồng, nhóm cây trồng, của cây trồng trong nhóm hoặc tổng thể và nó chịu sự tác động, thay đổi của yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội Quá trình chuyển đổi CCCT là quá trình thực hiện bước chuyển từ hiện trạng CCCT cũ sang CCCT

Trang 25

mới (Đào Thế Tuấn, 1978)

Nguyễn Duy Tính (1995) cho rằng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng là cải tiến hiện trạng cơ cấu cây trồng có trước sang cơ cấu cây trồng mới nhằm đáp ứng những yêu cầu của sản xuất Thực chất của chuyển đổi cơ cấu cây trồng

là thực hiện hàng loạt các biện pháp (kinh tế, kỹ thuật, chính sách xã hội) nhằm thúc đẩy cơ cấu cây trồng phát triển, đáp ứng những mục tiêu của xã hội Cải tiến cơ cấu cây trồng là rất quan trọng trong điều kiện mà ở đó kinh

tế thị trường có nhiều tác động ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng chính là phá vỡ thế độc canh trong trồng trọt nói riêng và trong nông nghiệp nói chung, để hình thành một cơ cấu cây trồng mới phù hợp và có hiệu quả kinh tế cao, dựa vào đặc tính sinh học của từng loại cây trồng và điều kiện cụ thể của từng vùng (Lê Duy Thước, 1997)

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải được bắt đầu bằng việc phân tích hệ thống canh tác truyền thống Chính từ kết quả đánh giá phân tích đặc điểm của cây trồng tại khu vực nghiên cứu mới tìm ra các hạn chế và lợi thế, so sánh để đề xuất cơ cấu cây trồng hợp lý Khi thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Phải căn cứ vào yêu cầu thị trường

- Phải khai thác hiệu quả các tiềm năng về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi vùng

- Bố trí cơ cấu cây trồng phải biết lợi dụng triệt để những đặc tính sinh học của mỗi loại cây trồng, để bố trí cây trồng phù hợp với các điều kiện ngoại cảnh, nhằm giảm tối đa sự phá hoại của dịch bệnh và các điều kiện thiên tai khắc nghiệt gây ra

- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải tính đến sự phát triển của khoa học

kỹ thuật và việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp

- Về mặt kinh tế, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải đảm bảo có

Trang 26

hiệu quả kinh tế, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cơ cấu cây trồng phải đánh giá thực trạng, xác định cơ cấu cây trồng phù hợp với thực tế phát triển cả về định lượng và định tính, dự báo được mô hình sản xuất trong tương lai; phải kế thừa những

cơ cấu cây trồng truyền thống và xuất phát từ yêu cầu thực tế, hướng tới tương lai để kết hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội (Lê Trọng Cúc và cs, 1995), (Trương Đích, 1995)

Nghiên cứu cơ cấu cây trồng là một trong những biện pháp kinh tế kỹ thuật nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, nâng cao năng suất cây trồng và chất lượng sản phẩm, (Nguyễn Duy Tính, 1995)

1.1.3 Những yếu tố chi phối sự lựa chọn cơ cấu cây trồng

* Khí hậu:

Có thể nói trong các yếu tố ngoại cảnh thì yếu tố khí hậu có tác động mạnh mẽ nhất đến cây trồng và cơ cấu cây trồng, đặc biệt là yếu tố ánh sáng,

nhiệt độ và lượng mưa

Căn cứ vào diễn biến của các yếu tố khí hậu trong năm hoặc trong một thời kỳ, đồng thời căn cứ vào yêu cầu về nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, ánh áng của từng loại cây trồng để bố trí cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng thích hợp nhằm né tránh được các điều kiện bất thuận, phát huy được tiềm năng năng suất của cây trồng (Trần Đức Hạnh và cs, 1997)

- Nhiệt độ: Theo Đào Thế Tuấn (1978) đã chia cây trồng ra làm ba loại: Cây ưa nóng là thường sinh trưởng, phát triển, ra hoa kết quả tốt ở nhiệt độ

200C như lạc, lúa, đay, mía Cây ưa lạnh là những cây sinh trưởng tốt ra hoa kết quả tốt ở nhiệt độ dưới 200C như: Lúa mì, khoai tây, xu hào cải bắp Những cây trung gian là những cây yêu cầu nhiệt độ xung quanh 200C để sinh trưởng ra hoa kết quả

Trong bố trí hệ thống cây trồng để xác định cây trồng trong một năm có thể đưa ra nhiệt độ của vùng, tổng nhiệt độ một vụ của cây trồng Nếu tính cả

Trang 27

thời gian làm đất một vụ cây ưa lạnh cần khoảng 1800 - 20000C Cây ưa nóng cần 30000C Ở đồng bằng Bắc bộ một năm sản xuất hai vụ lúa - một vụ đông thì cần tổng tích ôn 78000C (Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh, 1987)

- Ánh sáng: ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình tổng hợp chất hữu cơ của cây, ánh sáng là yếu tố biến động ảnh hưởng đến năng suất Cần phân biệt cây trồng theo yêu cầu về cường độ chiếu sáng và khả năng cung cấp ánh sáng từng thời gian trong năm để bố trí cơ cấu cây trồng cho phù hợp

Để hoàn thành chu kỳ sinh trưởng, mỗi cây trồng cần đạt được tổng tích ôn nhất định Tổng tích ôn này phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng và yêu cầu nhiệt độ cao hay thấp của mỗi cây

- Lượng mưa, ẩm độ không khí: Cung cấp nước là một biện pháp kỹ thuật vô cùng quan trọng, giúp cho cây trồng sinh trưởng, phát triển bình thường, cơ sở để đạt năng suất cao (Hoàng Đức Phương, 2004) Nước cần cho

sự sinh trưởng, phát triển của cây, nước mưa cung cấp phần lớn lượng nước mà cây yêu cầu, đặc biệt là ở những vùng không có hệ thống thuỷ lợi, nước mưa ảnh hưởng đến các quá trình canh tác như làm đất, thu hoạch Vì vậy, khi xác định cơ cấu cây trồng phải chú ý đến lượng mưa của mỗi vùng (Trần Đức Hạnh và cs, 1997) Cần nắm được lượng nước cây cần cho một chu kỳ sinh trưởng cũng như khả năng cung cấp nước hàng năm và lượng nước cung cấp hàng tháng của mưa để bố trí cơ cấu cây trồng Tuy nhiên để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý cần nắm được tình hình diễn biến ẩm độ trong năm, vì ẩm độ không khí có ảnh hưởng đến phát sinh sâu bệnh, đến sinh trưởng, phát triển

và năng suất cây trồng

* Đất đai :

Đất là thành phần quan trọng trong hệ sinh thái nông nghiệp, đất là nguồn chứa và là nguồn cung cấp nước, dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng và phát triển Điều kiện đất đai và khí hậu mang tính chất quyết định để bố trí cây trồng

Trang 28

hợp lý Do vậy khi xây dựng hệ thống luân canh cây trồng hợp lý phải căn cứ vào phân loại đất Các nhà khoa học đã khẳng định: Khi trồng trọt đã làm tiêu hao độ phì của đất nhưng qua trồng trọt cây sẽ hoàn lại cho đất một số chất hữu

cơ làm tăng độ phì cho đất (Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh, 1987)

Về mặt cơ cấu cây trồng người ta đề cập đến tính thích ứng và tính biến động năng suất của cây trồng Các tính thích ứng quyết định khả năng sống của cây trồng đối với các mức (độ mặn, độ chua, ngập nước hay ẩm…) Khi cây đã có đủ điều kiện thích ứng thì năng suất được quyết định bởi chế độ nước và hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất

Tuỳ thuộc vào địa hình, thành phần cơ giới, chế độ nước, tính chất lý hoá tính của đất để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý (Đào Châu Thu, Đỗ Nguyên Hải, 1990)

* Cây trồng:

Giống cây trồng là một nhóm cây trồng có đặc điểm kinh tế, sinh học

và các tính trạng hình thái giống nhau, cho năng suất cao, chất lượng tốt ở các vùng sinh thái khác nhau và điều kiện kỹ thuật phù hợp Vì vậy, giống cây trồng phải mang tính khu vực hoá, tính di truyền đồng nhất và không ngừng thoả mãn nhu cầu của con người (Nguyễn Văn Hiển, 2000)

Cây trồng là thành phần chủ yếu của các hệ sinh thái nông nghiệp Mỗi loại cây có những yêu cầu về điều kiện sống như đất đai, khí hậu khác nhau Các loại cây trồng có tập đoàn vi sinh vật đất, vi sinh vật công sinh và các loại sinh vật hại riêng Mặt khác mỗi loại cây trồng lại có biện pháp canh tác kỹ thuật chăm sóc cụ thể Vì vậy vườn cây có thể xem là một hệ sinh thái nông nghiệp Nhiệm vụ của khoa học cây trồng là sử dụng những nguồn lợi đó một cách tốt nhất (Đường Hồng Dật, 2008)

Nội dung của việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn loại cây trồng nào để lợi dụng được tốt nhất các điều kiện về khí hậu và đất đai Mặt khác,

Trang 29

cây trồng là những nguồn lợi tự nhiên sống, nhiệm vụ của nông nghiệp là phải

sử dụng nguồn lợi tự nhiên ấy một cách tốt nhất, nghĩa là giành cho chúng các điều kiện đất đai và khí hậu thích hợp nhất

Muốn bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý chúng ta cần phải nắm vững yêu cầu của các loài và giống cây trồng đối với các điều kiện khí hậu, đất đai và khả năng của chúng sử dụng các điều kiện ấy (Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh, 1987)

* Quần thể sinh vật:

Xây dựng cơ cấu cây trồng là xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, việc xác định chủng loại và từng giống cây trồng thích hợp trong hệ sinh thái ở từng nơi là rất quan trọng Điều kiện để xác định, quyết định tính phù hợp của chúng tại một địa phương cụ thể là các yếu tố sinh thái (Nguyễn Tất Cảnh và

cs, 2004) Ngoài thành phần sống chủ yếu là cây trồng, hệ sinh thái còn có các thành phần khác như cỏ dại, sâu, bệnh, các vi sinh vật, các động vật… các thành phần sống này cùng với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật, chúng chi phối sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng

Theo các tác giả Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh, 1987) thì khi bố trí cơ cấu cây trồng cần chú ý đến các mối quan hệ theo nguyên tắc:

- Lợi dụng mối quan hệ tốt giữa các sinh vật với cây trồng

- Khắc phục, phòng tránh hoặc tiêu diệt mầm mống tác hại đối với cây trồng do các vi sinh vật gây nên

Trong quần thể cây trồng, quần thể chủ đạo của cơ cấu cây trồng có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Mật độ của quần thể do con người quy định trước từ lúc gieo trồng

- Sự sinh sản, tử vong và phát tán không xảy ra một cách tự phát mà chịu sự điều khiển của con người

- Sự phân bố không gian tương đối đồng đều vì do con người điều

Trang 30

khiển

- Độ tuổi của quần thể cũng đồng đều vì có sự tác động của con người Trong cơ cấu cây trồng cũng xảy ra sự cạnh tranh cùng loài hoặc khác loài Khi gieo trồng một loại cây trồng thì vấn đề cạnh tranh cùng loài rất quan trọng Cần xác định mật độ gieo trồng và các biện pháp điều chỉnh quần thể để giảm sự cạnh tranh trong loài Sự cạnh tranh khác loài cũng xảy ra khi

ta trồng xen hoặc giữa cây trồng với cỏ dại Vì vậy khi xác định cơ cấu cây trồng cần chú ý các vấn đề sau:

- Xác định thành phần cây trồng và giống cây trồng thích hợp với điều kiện cụ thể của cơ sở sản xuất

- Bố trí cây trồng theo thời vụ tốt cũng tránh tác hại của cỏ dại, sâu, bệnh, Dịch sâu bệnh hại phát triển theo lứa và theo mùa, tác hại của chúng xảy ra nghiêm trọng trong thời kỳ sinh trưởng, phát triển nhất định của cây trồng Do vậy xác định thời vụ tốt cũng có khả năng né tránh được tác hại của sâu bệnh

* Hiệu quả kinh tế:

Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là phải sản xuất đa dạng, ngoài cây trồng chủ yếu, cần bố trí cây trồng bổ sung để tận dụng điều kiện tự nhiên, xã hội của vùng và của cơ sở sản xuất Về mặt kinh tế cơ cấu cây trồng cần phải đạt được các yêu cầu sau đây:

- Bảo đảm yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao

- Đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi tự nhiên

- Đảm bảo việc đầu tư lao động, vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao

- Đảm bảo giá trị sử dụng và giá trị cao hơn cơ cấu cây trồng cũ

Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng có thể dựa vào một

số chỉ tiêu năng suất, giá thành, thu nhập (giá trị bán sản phẩm sau khi đã trừ

đi chi phí đầu tư) và mức lãi (% của thu nhập so với đầu tư) Khi đánh giá trị

Trang 31

kinh tế của cơ cấu cây trồng cần dựa vào năng suất bình quân của cây trồng

và giá cả thu mua của thị trường Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến những điều kiện ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm như khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý và các điều kiện xã hội khác (Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh, 1987)

* Nông hộ:

Theo Viện sĩ Đào Thế Tuấn (1997) nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ và

đã góp phần to lớn vào sự phát triển sản xuất nông nghiệp của nước ta trong những năm qua Tất cả những hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua nông hộ Do vậy, quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng thực chất là sự cải tiến sản xuất nông nghiệp ở các hộ nông dân Do đó nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn

Cũng theo Đào Thế Tuấn, quá trình phát triển của các hộ nông dân trải qua các giai đoạn từ thu nhập thấp đến thu nhập cao

- Giai đoạn nông nghiệp tự cấp: Nông dân trồng một cây hay một vài cây lương thực chủ yếu, ít đầu tư thâm canh, năng suất thấp, gặp nhiều rủi ro

- Giai đoạn kinh doanh tổng hợp và đa dạng: Khi mới chuyển sang sản xuất hàng hoá, nông dân bắt đầu sản xuất những loại cây trồng phục vụ cho nhu cầu của thị trường, thị trường cần loại nông sản gì thì sản xuất cây trồng đó; sản xuất đa canh nên giảm bớt rủi ro

Tóm lại, hộ nông dân chuyển từ sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ ở các mức độ khác nhau thuỳ thuộc vào trình độ, điều kiện kinh tế - xã hội và các chính sách của nhà nhà nước hỗ trợ, thúc đẩy nông nghiệp phát triển Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, để áp dụng thành công một tiến bộ kỹ thuật mới hay một phương thức canh tác mới… vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và giá trị thu nhập/đơn vị diện tích canh tác thì cần phải có chính sách đầu

Trang 32

tư, hỗ trợ, trợ giá của nhà nước

* Chính sách :

Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng một các có căn cứ khoa học, phù hợp với nhu cầu của thực tiễn và xu thế phát triển của xã hội

cần có chính sách về khoa học - công nghệ để thông qua nghiên cứu, nhằm

thiết lập ngay trên đồng ruộng của người nông dân những mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả; đồng thời chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật cho nông dân nhằm nhân rộng mô hình Bên cạnh đó cũng cần có những cơ chế chính sách về tài chính để hỗ trợ cho người nông khi mới bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng như chính sách khen thưởng để khuyến khích những hộ, địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng thành công, có hiệu quả

Quá trình phát triển kinh tế sẽ dẫn đến mức độ phân hoá giàu nghèo ngày càng mạnh, có sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, để hạn chế tình trạng này cần thiết phải phát triển công nghiệp nông thôn, thâm canh, tăng vụ để sản xuất hàng hoá Đa dạng cây trồng để đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp là quá trình chủ yếu để cải tiến cơ cấu cây trồng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường nông sản ngày càng tăng

Quá trình đa dạng hoá cây trồng là do sự phát triển của kinh tế hộ quyết định và còn tuỳ thuộc vào từng vùng, nhưng vấn đề khó khăn về vốn đầu tư cho sản xuất là yếu tố quyết định cơ bản Các hộ nghèo kinh doanh rất đa dạng, chỉ khi họ giàu lên mới tập trung vào một số ngành nghề nhất định Như vậy, chuyên môn hoá chỉ có thể xảy ra khi trình độ sản xuất hàng hoá đã phát triển đến mức cao (Đào Thế Tuấn, 1997)

Một khó khăn khác làm cho nông dân ngần ngại không dám đầu tư vào sản xuất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng là thiếu thị trường tiêu thụ nông sản

Do đó, để tìm kiếm, mở rộng thị trường, nhà nước cần có chính sách để tạo môi trường lành mạnh, sòng phẳng trong phát triển thị trường và đầu tư xây

Trang 33

dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, mạng lưới điện và thông tin…

Sự phân hoá của nông hộ và trình độ sản xuất chênh lệch của các kiểu nông hộ ảnh hưởng rất lớn đến cải tiến cơ cấu cây trồng Các kiểu nông hộ khác nhau có trình độ tiếp thu và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật ở mức độ khác nhau Trình độ là yếu tố quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng của các nông hộ trong giai đoạn đầu của sản xuất nông nghiệp hàng hoá, khi

kỹ thuật áp dụng chưa phải cần nhiều vốn thì việc đa dạng hoá sản xuất là một

xu thế cần thiết cho sự phát triển

* Thị trường:

Theo Robert S Pindyck, Daniel L Rubingeld (Kinh tế học vĩ mô, NXB Thống kê, Hà Nội, 1999) (dẫn Hồ Gấm, 2003) thì thị trường là tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến khả năng trao đổi Thị trường là trung tâm của các hoạt động kinh tế

Theo Nguyễn Cúc và Đặng Ngọc Lợi (2007) điều kiện để hình thành thị trường cần phải có các yếu tố sau: Đối tượng trao đổi là hành hóa, dịch vụ; Đối tượng tham gia là người mua, người bán; điều kiện để thực hiện trao đổi

là khả năng thanh toán, địa điểm trao đổi; có thể chế hoạch tập tục để hoạt động mua bán được an toàn, nhanh chóng

Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng hợp lý Theo

cơ chế thị trường thì cơ cấu cây trồng phải làm rõ được các vấn đề: trồng cây

gì, đối tượng phục vụ là ai Thông qua sự vận động của giá cả thị trường có tác động định hướng cho người sản xuất nên trồng cây gì, với số lượng chi phí như thế nào để đáp ứng được nhu cầu của xã hội và thu được kết quả cao Thông qua thị trường, người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất, cải tiến cơ cấu cây trồng, thay đổi giống cây trồng, cơ cấu mùa vụ cho phù hợp với thị trường

Thị trường có tác dụng điều chỉnh cơ cấu cây trồng, chuyển dịch theo hướng ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Cải tiến cơ cấu cây trồng chính là điều kiện, là yêu cầu để mở rộng thị trường Khu vực nông thôn là thị trường cung

Trang 34

cấp nông sản hàng hoá cho toàn xã hội và là thị trường tiêu thụ sản phẩm của ngành công nghiệp, cung cấp nông sản cho ngành dịch vụ và đó cũng là nơi cung cấp lao động cho các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, thị trường và sự cải tiến cơ cấu cây trồng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng, song nó có mặt hạn chế

là nếu để cho phát triển một cách tự phát sẽ dẫn đến sự mất cân đối ở một giai đoạn, một thời điểm nào đó Chính vì vậy cần có những chính sách của nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của thị trường

Kinh tế hàng hoá là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm sản xuất ra dùng để mua bán, trao đổi trên thị trường, giá trị của sản phẩm hàng hoá phải thông qua thị trường và được thị trường chấp nhận (dẫn theo

Hồ Gấm, 2003)

1.1.4 Luân canh cây trồng

Để đáp ứng nhu cầu nhiều mặt ngày càng tăng của con người đòi hỏi ngành nông nghiệp phải sản xuất ra ngày càng nhiều lương thực, thực phẩm

có chất lượng cao và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản hàng hoá.v.v Chúng ta cần tiến hành quy hoạch lại sản xuất, xây dựng chế

độ luân canh cây trồng nhằm tăng vụ hợp lý cho từng vùng, có thể làm giảm

sự căng thẳng của thời vụ, điều hòa được nhân lực, theo đúng chủ trương đường lối phát triển của vùng cũng như việc tăng năng suất của cây trồng, làm giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả sản xuất, tăng đồng vốn, tăng độ phì cho đất.v.v

Theo Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh (1987) thì luân canh cây trồng là sự luân phiên cây trồng theo không gian và thời gian Trong đó:

- Luân canh về không gian là luân phiên nơi trồng của một lọai cây trồng nào đó nhằm tạo điều kiện để cây trồng tránh được khả năng dùng để

Trang 35

sản xuất liên tục trên mảnh đất qua nhiều năm;

- Luân canh theo thời gian là sự luân phiên cây trồng theo mùa vụ Vụ sau, năm sau trồng những cây không giống vụ trước hay năm trước

Chế độ luân canh tăng vụ của một vùng bao gồm thành phần cây trồng,

tỷ lệ diện tích từng loại cây trồng trong một thời kỳ nhất định và biến đổi theo điều kiện kỹ thuật, kinh tế xã hội của vùng Chính vì vậy chúng ta có thể căn

cứ vào vị trí cây trồng trong công thức luân canh mà xác định được các định mức về lao động, vật tư thích hợp

Luân canh cây trồng hợp lý có tác dụng trực tiếp đến sự phát triẻn nông nghiệp của một vùng Vì vậy cần giải quyết được những mâu thuẫn trong luân canh, tạo được chế độ luân canh tăng vụ phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh

tế, tập quán canh tác, nhu cầu sản xuất của một vùng Chế độ luân canh cây trồng hợp lý đòi hỏi cơ cấu cây trồng ở vùng đó phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, đó là phải chọn lọc được thành phần các giống cây trồng phù hợp, tuần

tự luân phiên với các giống cây trồng trước và sau theo điều kiện cụ thể của vùng nhằm tạo nên mối quan hệ hữu cơ, phát huy hỗ trợ lẫn nhau giữa các loại cây trồng, từ đó tạo điều kiện tăng năng suất cho loại cây trồng đó, đồng thời cho cả hệ thống cây trồng trong vùng

Vai trò của chế độ luân canh cây trồng mang lại những hiệu quả:

Tạo điều kiện tăng năng suất cây trồng một cách toàn diện và liên tục; Nâng cao độ phì hữu hiệu cho đất và điều hòa dinh dưỡng cho cây trồng; Điều hòa được nhân lực, phân bón, sức kéo,…

Phòng trừ sâu, bệnh và cỏ dại gây hại cho cây trồng;

Tạo cơ sở vật chất để thay đổi cơ cấu của sản xuất nông nghiệp đồng thời tạo điều kiện phát triển nghề phụ;

Giảm được giá thành nông sản và tăng hiệu quả kinh tế

Để xây dựng một kế hoạch luân canh tốt cần nghiên cứu mức độ tiêu thụ chất dinh dưỡng và tính chất chống chịu dịch bệnh hại của cây trồng Để

Trang 36

duy trì độ phì của đất là đưa cây họ đậu vào luân canh; để giảm tới mức thấp nhất về bệnh hại là đưa cây cốc vào hệ thống luân canh (Chu Thị Thơm và cs, 2006)

1.1.5 Vai trò của cơ cấu cây trồng hợp lý và chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá

Phát triển nền nông nghiệp hàng hóa toàn diện là nền nông nghiệp hàng hóa hình thành và phát triển đa dạng cây trồng và vật nuôi một cách hợp lý Trên cơ sở chuyên môn hóa theo ngành, vùng cho phép khai thác triệt để, hợp

lý, có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước (đất đai, ngồn nước, lao động, thời tiết, khí hậu, vật tư, tiền vốn, văn hóa…)

Trong những năm 60-70 của thế kỹ XX, sau khi tiến hành nghiên cứu

về cơ cấu cây trồng vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Đào Thế Tuấn cùng các CTV ở Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã đưa ra nhận định về những yêu cầu đạt được của một cơ cấu cây trồng thích hợp là phải:

Khai thác tốt nhất các điều kiện khí hậu và tránh hoặc giảm được những tác hại của thiên tai đối với cây trồng;

Khai thác tốt nhất các điều kiện đất đai, bảo vệ và bồi dưỡng độ phì của đất; Khai thác tốt các đặc tính sinh học của cây trồng (khả năng cho năng suất cao, phẩm chất tốt, ngắn ngày, thích ứng rộng, khả năng chống chịu cao) nhằm đạt được hiệu quả sản xuất cao nhất;

Tránh được tác hại của sâu bệnh, cỏ dại và các tác nhân sinh học khác, với phương pháp sử dụng ít nhất các biện pháp hoá học;

Đảm bảo tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao, đảm bảo hiệu quả kinh tế cao; Đảm bảo hỗ trợ cho các ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi thiên nhiên (Đào Thế Tuấn, 1998)

CCCT hợp lý có vai trò quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất cây trồng, tăng giá trị hàng hoá, tăng thu nhập của người dân bản địa Do vậy, xác định cơ cấu cây trồng phải dựa

Trang 37

Bố trí cơ cấu cây trồng là xây dựng một hệ sinh thái nhân tạo Mối quan

hệ giữa các sinh vật và cây trồng cộng sinh, ký sinh Vì vậy, cải tiến cơ cấu cây trồng tạo nên những quan hệ tỷ lệ mới phù hợp nhất, có hiệu quả, phát triển bền vững hệ sinh thái (Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên, 2000)

Như vậy, nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng có ý nghĩa rất quan trọng để xây dựng một nền nông nghiệp đa dạng, tạo nhiều nông sản hàng hoá cũng như các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn

1.1.6 Xác định tiềm năng phát triển

Tìm kiếm các tiềm năng cải thiện HTCT là công việc khó khăn và phức tạp Trong thực tế nhiều biện pháp đưa ra khuyến cáo đã được nông dân chấp nhận Trước khi đưa ra một giải pháp nào để cải thiện HTCT cần phải hiểu rõ

về hệ thống đó và phải dự đoán được hành vi của con người Việc tìm kiếm tiềm năng cải thiện hệ thống nên bắt đầu bằng việc phân tích tiềm năng cải thiện về mặt kỹ thuật cho tất cả các hoạt động sản xuất, kỹ thuật hiện có hoặc

kỹ thuật mới ở nông trại Các bước tiếp theo cần phải làm là đánh giá các phương án sản xuất thay thế cả mặt sinh học và kinh tế

Nguồn để tìm kiếm cải thiện có thể là các cơ quan nghiên cứu, trường Đại học, các phòng ban của Bộ, các dự án phát triển và quan trọng nhất là các nông dân tiến bộ Tiềm năng cải thiện có thể tìm thấy ở các nông dân tiến bộ, những người luôn quan tâm đến các ý tưởng mới và sẵn sàng chấp nhận rủi ro

Trang 38

để áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới Các tiến bộ kỹ thuật mới có thể do cán

bộ Nhà nước truyền đạt cho nông dân hoặc đơn giản xuất phát từ kinh nghiệm

và thực nghiệm của chính nông dân Những người nông dân tiến bộ thường có nguồn lực dồi dào hơn phần lớn các nông dân khác Họ thường kiếm lợi nhuận cao từ các tiến bộ kỹ thuật, vì họ là những người đầu tiên áp dụng Do thị trường cho các sản phẩm mới còn hẹp (nghĩa là cung nhỏ hơn cầu)

Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật mà nông dân tiến bộ áp dụng, sau này đưa ra các khuyến cáo về khuyến nông một cách hiệu quả vì chúng đã được thử nghiệm, chứng minh trên đồng ruộng của nông dân trong các điều kiện cụ thể Các bước tiến hành trong việc tìm kiếm và sử dụng các kỹ thuật mới từ nông dân tiến bộ: thu thập thông tin về các hộ nông dân gắn liền với hệ thống sản xuất của họ, xác định những tiến bộ kỹ thuật nào đang áp dụng và đang quan tâm nghiên cứu, lựa chọn các tiến bộ kỹ thuật mà các nông dân khác trong vùng có thể áp dụng được, tổ chức thử nghiệm ở quy mô sản xuất nhỏ, sau đó tiến hành đánh giá Việc đánh giá các tiến bộ kỹ thuật của nông dân tiến bộ nên chia thành 2 nhóm:

- Nhóm tiến bộ kỹ thuật chi phí thấp, có đặc điểm là tạo nên cải thiện đời sống nhưng đòi hỏi ít đầu tư, ít rủi ro, dễ áp dụng, cần ít trợ giúp từ bên ngoài, được xã hội chấp nhận

- Nhóm tiến bộ kỹ thuật chi phí cao, cần nhiều vốn đầu tư hơn, cần sự

hỗ trợ giúp đỡ từ bên ngoài (dịch vụ nông nghiệp, khuyến nông, tín dụng, thị trường tiêu thụ sản phẩm…) Đối với nhóm này trước khi ra quyết định khuyến cáo cho nông dân cần phải tổ chức thử nghiệm, đánh giá một cách cẩn thận để giảm rủi ro khi áp dụng

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp ở các nước nhiệt đới và Á nhiệt đới được bắt đầu từ nghiên cứu các chế độ xen canh, trồng gối truyền thống ngày

Trang 39

càng phát triển Những tiến bộ kỹ thuật về giống, canh tác, trị thủy, công cụ sản xuất và nhu cầu tăng lên không ngừng về nông sản đã hình thành những

vụ mới, đưa các giống cây ngắn ngày vào hệ thống canh tác, cho phép có thể làm nhiều vụ trong một thửa ruộng Do đó các nhà nông học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu và cải tiến cơ cấu cây trồng

Từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XVIII, trong suốt 1.000 năm chế độ luân canh phổ biến trong nông nghiệp châu Âu là chế độ luân canh 3 khu và luân chuyển trong 3 năm, với hệ thống canh tác: ngũ cốc - ngũ cốc và bỏ hóa Năng suất ngũ cốc trong suốt thời kỳ này chỉ đạt 5-6 tạ/ha và đến thế kỷ thứ XVIII năng suất mới đạt 7 - 8 tạ/ha Sau khi tìm ra châu Mỹ, một số cây trồng được di thực từ châu Mỹ vào châu Âu như khoai tây, ngô… Cùng với việc phát triển môt số cây họ đậu (cỏ 3 lá), đã tạo điều kiện cho việc hình thành hệ canh tác mới Đó là chế độ luân canh 4 vụ, 4 năm Chế độ luân canh này đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển nông nghiệp của châu

Âu, năng suất ngũ cốc đã tăng gấp 2 lần so với chế độ luân canh cũ Sản phẩm lương thực, thực phẩm trên 1 ha đất canh tác tăng gấp 4 lần do khoai tây, củ, quả được đưa thêm vào hệ thống cây trồng Chế độ luân canh mới này bắt đầu được áp dung rộng rãi và đem lại nhiều thắng lợi ở nước Anh và sau đó lan rộng ra các nước Bỉ, Hà Lan, Đức, Pháp, các nước khác ở Tây Âu (Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh, 1987)

Từ năm 1975, các nhà khoa học Châu á đã đi sâu nghiên cứu toàn bộ hệ thống cây trồng trên đất lúa theo hướng lấy cây lúa làm nền, tăng cường phát triển các loại cây hoa màu trồng cạn, các chế độ xen canh, trồng gối, trồng luân canh ngày càng được chú ý nghiên cứu (Triệu Kỳ Quốc, 1992); (Chopra, 1989); (Klaus Lamper, 1994) Theo hướng này ở Châu á đã hình thành “Mạng lưới hệ canh tác Châu Á”, một tổ chức hợp tác nghiên cứu giữa Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và nhiều quốc gia trong vùng Các nghiên cứu về hệ thống cây trồng đều tập trung vào giải quyết các vấn đề sau:

Trang 40

- Tăng vụ lúa ngắn ngày, thu hoạch trước mùa lũ

- Thử nghiệm tăng vụ cây màu bằng các cây trồng mới, xen canh, luân canh, thâm canh, tăng vụ…

- Xác định hiệu quả của các công thức luân canh, tìm và khắc phục các yếu tố hạn chế để phát triển công thức đạt hiệu quả cao (Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh, 1987) nghiên cứu các mô hình luân canh cây trồng (FAO, 1970) cho rằng, luân canh có 4 lợi ích sau:

- Các cây trồng khác nhau sẽ hấp thu dinh dưỡng từ đất khác nhau

- Có bộ rễ khác nhau nên hấp thu dinh dưỡng ở các độ sâu khác nhau

- Cây trồng tận dụng được chất khoáng trong đất

- Cây trồng có thể bổ sung dinh dưỡng cho nhau nên đất đỡ nghèo dinh dưỡng hơn

Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn Ấn Độ từ năm

1960 - 1972 đã lấy hệ thống thâm canh tăng vụ chu kỳ một năm làm hướng chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp và đã rút ra kết luận: “Hệ canh tác

ưu tiên cho cây lương thực chu kỳ 1 năm, 2 vụ ngũ cốc và 1 vụ đậu đỗ đã đáp ứng được 3 mục tiêu là khai thác tối ưu tiềm năng đất đai, nâng cao độ phì của đất và đảm bảo lợi ích của người nông dân” (Hoàng Văn Đức, 1992)

Cũng ở Ấn Độ các nhà khoa học đã đề cập đến cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý phụ thuộc vào điều kiện canh tác, các chính sách và giá cả nông sản hàng hoá Do đó, hàng loạt các công thức luân canh cho các vùng, tiểu vùng sinh thái được khảo nghiệm, triển khai trên diện rộng đã cho năng suất cao

Ở Thái Lan, trong điều kiện thiếu nước, từ hệ thống canh tác hai vụ lúa hiệu quả thấp vì chi phí nước tưới quá lớn, công thức sản xuất độc canh lúa ảnh hưởng xấu đến kết cấu đất nên đã được thay bằng mô hình đậu tương Xuân - Lúa Mùa làm cho hiệu quả kinh tế tăng lên gấp đôi , độ phì đất tăng lên rõ rệt

Năm 1975 - 1976 ở Thái Lan cũng đã thí nghiệm thành công các mô

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thử nghiệm  87 - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Hình th ử nghiệm 87 (Trang 6)
Bảng 3.1. Diễn biến một số yếu tố khí hậu ở huyện Yên Lạc  (Số liệu trung bình, từ năm 2009 - 2013) - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.1. Diễn biến một số yếu tố khí hậu ở huyện Yên Lạc (Số liệu trung bình, từ năm 2009 - 2013) (Trang 56)
Bảng 3.2. Quy mô và cơ cấu hiện trạng sử dụng đất của huyện năm 2013 - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.2. Quy mô và cơ cấu hiện trạng sử dụng đất của huyện năm 2013 (Trang 58)
Bảng 3.3. Quy mô và tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành   huyện Yên Lạc (giá cố định năm 2010) - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.3. Quy mô và tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành huyện Yên Lạc (giá cố định năm 2010) (Trang 60)
Bảng 3.4. Giá trị, tốc độ tăng giá trị, cơ cấu ngành sản xuất nông- lâm  nghiệp, thủy sản huyện Yên Lạc năm 2009 – 2013 - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.4. Giá trị, tốc độ tăng giá trị, cơ cấu ngành sản xuất nông- lâm nghiệp, thủy sản huyện Yên Lạc năm 2009 – 2013 (Trang 61)
Hình 3.1. Cơ cấu trong nội ngành nông nghiệp qua các năm  huyện Yên Lạc - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Hình 3.1. Cơ cấu trong nội ngành nông nghiệp qua các năm huyện Yên Lạc (Trang 63)
Bảng 3.6.  Tình hình dân số, lao động của huyện năm 2013  Chỉ tiêu  Đơnvị tính  Số lượng  Cơ cấu - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.6. Tình hình dân số, lao động của huyện năm 2013 Chỉ tiêu Đơnvị tính Số lượng Cơ cấu (Trang 65)
Bảng 3.7. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính   qua các năm huyện Yên Lạc - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.7. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính qua các năm huyện Yên Lạc (Trang 71)
Bảng 3.8. Cơ cấu cây trồng vụ Xuân năm 2013 - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.8. Cơ cấu cây trồng vụ Xuân năm 2013 (Trang 73)
Hình 3.2. Cơ cấu cây trồng vụ Xuân năm 2013 - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Hình 3.2. Cơ cấu cây trồng vụ Xuân năm 2013 (Trang 74)
Bảng 3.9.  Cơ cấu cây trồng vụ Mùa năm 2013 - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.9. Cơ cấu cây trồng vụ Mùa năm 2013 (Trang 76)
Hình 3.3. Cơ cấu cây trồng vụ Mùa năm 2013 - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Hình 3.3. Cơ cấu cây trồng vụ Mùa năm 2013 (Trang 77)
Bảng 3.10.  Cơ cấu cây trồng vụ Đông năm 2013 - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.10. Cơ cấu cây trồng vụ Đông năm 2013 (Trang 78)
Hình 3.4. Cơ cấu cây trồng vụ Đông 2013 - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Hình 3.4. Cơ cấu cây trồng vụ Đông 2013 (Trang 79)
Bảng 3.11. Hiện trạng sử dụng giống lúa - Đánh giá hiện trạng và đề xuất hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.11. Hiện trạng sử dụng giống lúa (Trang 81)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w