1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu sơn la

95 1,6K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 34,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ VÂN NĂNG SUẤT CHẤT XANH VÀ THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG CAO LƯƠNG THỤ PHẤN TỰ DO OPV LÀ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNN

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ VÂN

NĂNG SUẤT CHẤT XANH VÀ THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG CAO LƯƠNG THỤ PHẤN TỰ DO (OPV) LÀM THỨC ĂN GIA SÚC TẠI MỘC CHÂU – SƠN LA

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

MÃ SỐ: 60.62.01.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS PHẠM VĂN CƯỜNG

HÀ NỘI, NĂM 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Vân

Trang 3

Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới ủy ban nhân dân xã Đông Sang, ủy ban nhân dân huyện Mộc Châu đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo cùng toàn thể công nhân viên Bộ môn Cây lương thực, đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu

và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Để hoàn thành khóa học này, tôi còn nhận được sự động viên, hỗ trợ rất lớn của gia đình và bạn bè, đã tạo điều kiện về vật chất và tinh thần để tôi học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn./

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Vân

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi và nhu cầu thức ăn thô ở Việt Nam 3

2.2 Tình hình sử nghiên cứu và sản xuất cao lương trên Thế giới và Việt Nam 5

2.2.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất cao lương trên thế giới 5

2.2.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất cao lương ở Việt Nam 8

2.3 Đặc điểm sinh học và giá trị dinh dưỡng của cây cao lương 10

2.3.1 Đặc điểm sinh học của cây cao lương 10

2.3.2 Thành phần dinh dưỡng và giá trị sử dụng của cây cao lương 13

2.3.3 Một số hạn chế khi sử dụng cao lương 16

PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Vật liệu nghiên cứu 19

3.2 Nội dung nghiên cứu 19

3.2.1 Địa điểm và thời gian 19

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 20

3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 21

3.3 Phương pháp xử lý số liệu 23

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống cao lương trong thí nghiệm 24

4.1.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống cao lương trong thí nghiệm 24

4.1.2 Động thái ra lá và số lá cuối cùng của các giống cao lương trong thí nghiệm 27

4.1.3 Động thái ra nhánh và số nhánh cuối cùng của các giống cao lương trong thí nghiệm 30

Trang 5

4.2 Đặc điểm sinh lý của các giống cao lương trong thí nghiệm 31

4.2.1 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống cao lương qua các lần cắt 31

4.2.2 Chỉ số SPAD của các giống cao lương qua các lần cắt 33

4.3 Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của các giống cao lương trong thí nghiệm 35

4.3.1 Hàm lượng đường trong thân (Brix) 35

4.3.2 Hàm lượng axit HCN trong thân lá 36

4.3.3 Hàm lượng dinh dưỡng (protein tổng số, xơ, lipit tổng số, khoáng tổng số) 38

4.4 Năng suất thu cắt của các giống cao lương trong thí nghiệm 41

4.4.1 Năng suất chất xanh 41

4.4.2 Tốc độ tích lũy chất khô của các giống cao lương trong thí nhiệm 43

4.4.3 Tỷ lệ chất khô/xanh 44

4.4.4 Tỷ lệ khối lượng giữa thân và lá của các giống cao lương thí nghiệm 45

4.5 Tương quan năng suất thực thu và các yếu tố liên quan của các giống cao lương thí nghiệm 47

4.6 Tình hình sâu bệnh hại của các giống cao lương trong thí nghiệm 51

4.7 Ảnh hưởng của việc trồng cao lương đến các thành dinh dưỡng trong đất 52

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Kiến nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 61

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

2.1 Các nước sản xuất cao lương chính trên thế giới 6

2.2 Thành phần dinh dưỡng của hạt cao lương và ngô làm thức ăn chăn nuôi 14

3.1 Danh sách giống cao lương tham gia thí nghiệm 19

4.1 Động thái chiều cao cây của các giống cao lương thí nghiệm 24

4.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống cao lương 26

4.3 Động thái ra lá trên thân chính của các giống cao lương 27

4.4 Tốc độ ra lá của các giống cao lương 29

4.5 Động thái ra nhánh của các giống cao lương thí nghiệm 30

4.6 Diện tích lá của các giống cao lương qua các lần cắt 32

4.7 Chỉ số SPAD của các giống cao lương qua các lần cắt 34

4.8 Độ Brix của các giống cao lương qua các lần cắt 35

4.9 Hàm lượng HCN của các giống cao lương qua các lần cắt 37

4.10 Hàm lượng dinh dưỡng trong thân lá tại các lần cắt của các giống cao lương thí nghiệm 39

4.11 Năng suất chất xanh của các giống cao lương thí nghiệm 41

4.12 Tốc độ tích lũy chất khô của các giống cao lương qua các lứa cắt 43

4.13 Tỷ lệ chất khô/xanh của các giống cao lương thí nghiệm 44

4.14 Tỷ lệ thân/lá của các giống cao lương thí nghiệm 46

4.15 Tình hình sâu bệnh hại các giống cao lương trong thí nghiệm 52

4.16 Kết quả phân tích đất trước khi trồng và sau khi thu hoạch 53

Trang 8

giống cao lương thí nghiệm 49 4.5 Tương quan giữa năng suất chất xanh và tốc độ tích lũy chất khô của các

giống cao lương thí nghiệm 50

Trang 9

1 MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi nước ta đã phát triển nhanh về số lượng và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về thịt, trứng, sữa Số lượng đàn trâu bò

tăng từ hơn 7 triệu con (năm 2000) lên 7,7 triệu con (năm 2013) (theo Thống kê Chăn

nuôi Việt Nam) Chăn nuôi phát triển mạnh cũng gặp phải rất nhiều khó khăn đặc biệt

là nguồn thức ăn đáp ứng cho đàn gia súc hiện nay Diện tích trồng cỏ chưa đáp ứng được nhu cầu thức ăn thô xanh của gia súc ăn cỏ, diện tích trồng cỏ của cả nước mới đạt trên 45.000 ha, chỉ đáp ứng được 7,6% Năm 2011, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 1 triệu tấn đậu tương, tăng 350% so với năm 2010 Trong năm 2012, có hơn 1,6 triệu tấn ngô được nhập khẩu, tăng hơn 66% so với năm trước, xấp xỉ 1,3 triệu tấn đậu tương, so với trước đó 1 năm tăng gần 53% Những điều này ảnh hưởng to lớn đến các mục đích tăng đàn, tăng sản lượng và chất lượng thịt, sữa, ảnh hưởng tới nhu cầu tiêu thụ nội địa ngày càng cao và khả năng cạnh tranh khi hội nhập

Để cung cấp cho đàn gia súc, làm giảm lượng thức ăn nhập khẩu cần tìm nguồn thức ăn thô xanh sản lượng cao, chất lượng tốt Cao lương là một cây ngũ cốc với những đặc điểm: Sinh trưởng nhanh, khả năng tái sinh cao, sinh trưởng và phát triển được trong những điều kiện tự nhiên khó khăn như úng, hạn, mặn… mà những loại cây trồng khác khó có thể tồn tại được, ngoài ra hàm lượng dinh dưỡng lại cao hơn so với các giống cỏ khác

Tuy nhiên, bộ giống cao lương ở nước ta còn rất ít, việc sử dụng cây cao lương theo mục đích làm thức ăn xanh còn rất hạn chế, đặc biệt là thức ăn xanh vụ đông Nên việc chọn tạo ra giống cao lương có năng suất cao, thích nghi tốt để làm giống và phục vụ các nghiên cứu tiếp theo là vô cùng cần thiết

Xuất phát từ những thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Năng

suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn

tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại Mộc Châu- Sơn La”

Trang 10

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

Mục tiêu

• Đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và tốc độ tích lũy chất xanh của một

số giống cao lương OPV

• Đánh giá thành phần dinh dưỡng của các giống cao lương thí nghiệm

• Lựa chọn ra giống cao lương tốt nhất cho chăn nuôi ở vùng Mộc Châu – Sơn La

Trang 11

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi và nhu cầu thức ăn thô ở Việt Nam

Trong những năm gân đây, ngành chăn nuôi Việt Nam đã phát triển đáng kể,

kể từ năm 1990 đến nay ngành chăn nuôi có hướng phát triển tương đối ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt đến 5,27% năm Chăn nuôi gia cầm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất 15 năm qua Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm tăng rõ rệt,

từ 3,5% năm trong các giai đoạn 1990 – 1995 lên đến 6,7% năm trong giai đoạn

1996 – 2000 và trong các năm còn lại đã tăng lên tới 9,1% năm, chăn nuôi lấy thịt là hình thức phổ biến nhất ở nước ta Tổng sản lượng thịt tính đến tháng 10/2013 đạt trên 4,4 triệu tấn các loại, trong đó thịt lợn chiếm tới 74,47%, hơn 8 % thịt trâu bò

và trên 17,2 % thịt gia cầm sản xuất ở các nông hộ được tiêu thụ trên thị trường nội

địa (theo Tổng cục Thống kê)

Bên cạnh tình hình chăn nuôi lấy thịt, chăn nuôi bò sữa cũng phát triển mạnh trong những năm gần đây không chỉ cung cấp sữa tươi cho tiêu thụ mà còn cung cấp cho các nhà máy chế biến sữa Số lượng bò sữa tăng từ 115.000 con (năm 2009) lên 186.100 con (tháng 10/2013), tăng 11,4% so với năm 2012; Sản lượng sữa đạt

455,6 nghìn tấn tăng lên 19,4 % so với cùng kỳ năm trước (Nguồn: Báo cáo thực

hiện kế hoạch tháng 11 năm 2013 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn,

Trung tâm tin học và thống kê, 25/11/2013)

Theo Cục Chăn nuôi, năm 2009, tổng đàn gia súc ăn cỏ của cả nước lên tới trên 14,6 triệu con Tuy nhiên, diện tích trồng cỏ của cả nước mới đạt trên 45.000

ha, chỉ đáp ứng được 7,6% nhu cầu thức ăn thô xanh của gia súc ăn cỏ Trong năm

2009, Việt Nam đã nhập khẩu 2.800 tấn cỏ thành phẩm phục vụ chăn nuôi bò sữa

Do xu thế diện tích đất dành cho nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, nên diện tích đất dùng để trồng cây làm thức ăn cho gia súc ngày càng giảm Nông dân chưa có tập quán xây dựng vùng nguyên liệu thức ăn cho gia súc, chủ yếu dựa vào bãi chăn thả tự nhiên và thức ăn tận dụng Bên cạnh đó, các địa phương cũng chưa có chính sách khuyến khích, hỗ trợ chuyển đổi diện tích đất trồng trọt sang trồng cỏ và thức

Trang 12

ăn xanh Tình trạng thiếu thức ăn thô xanh cho chăn nuôi là một trong những nguyên nhân làm cho ngành chăn nuôi phát triển chưa tương xứng với tiềm năng

Theo Cục Chăn nuôi, tổng đàn gia súc ăn cỏ của nước ta hiện nay khoảng 11,5 triệu con Tổng nhu cầu thức ăn thô xanh vào khoảng 150 triệu tấn/năm Chăn nuôi gia súc nhai lại chủ yếu vẫn phụ thuộc vào cỏ tự nhiên và phụ phẩm nông nghiệp, luôn mất cân đối nguồn cung giữa các mùa, lãng phí phụ phẩm lúc thu hoạch và thiếu thức ăn lúc giáp vụ và mùa đông Chất lượng cỏ còn rất thấp, giống

cỏ trồng hầu hết là cỏ hòa thảo

Cả nước có khoảng 35.681 ha đất cỏ chăn nuôi tự nhiên, nhưng sản lượng rất thấp, chỉ đạt 20 tấn cỏ/ha/năm Mặc dù diện tích cỏ trồng thâm canh đã tăng rất mạnh với tốc độ tăng bình quân 48% năm, từ chỗ chỉ có 4,68 nghìn ha vào năm

2001, đến nay cả nước đã có khoảng 200 nghìn ha đồng cỏ trồng thâm canh Tuy nhiên, sản lượng này chỉ đáp ứng được gần 10% nhu cầu thức ăn thô xanh của các loại gia súc ăn cỏ Trong khi đó, những giống cỏ nhập nội chủ yếu là cỏ họ hoà thảo, hàm lượng đạm rất thấp, nên năng suất trong chăn nuôi bò sữa thấp, chất lượng sữa không cao Nhóm cỏ họ đậu có chất lượng tốt hơn, thế nhưng Việt Nam lại không có thế mạnh trong việc trồng cây họ đậu Chẳng hạn với cây đậu tương, năng suất ở nước ta chỉ đạt 1 tấn/ha, phải nghiên cứu mãi các giải pháp tăng năng suất mới đưa được lên 1,4 - 1,7 tấn/ha hiện nay Trong khi đó ở các nước châu Mỹ, năng suất trồng đậu tương trung bình là 4,5-5 tấn/ha

Việc tìm kiếm thêm các nguồn nguyên liệu làm thức ăn gia súc để giảm sự phụ thuộc, phong phú thêm về dinh dưỡng, dễ cân đối hơn khi phối hợp khẩu phần, giải quyết nhu cầu thức ăn thô xanh hiện là một thách thức lớn Cây trồng chọn để

làm thức ăn gia súc phải đảm bảo các yêu cầu sau (chỉ thị của Thủ tướng chính phủ

số 390-TTg, ngày 31 tháng 12 năm 1979):

- Cây phải có khả năng tái sinh qua mầm chồi còn lại sau mỗi lần thu hoạch;

- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc lá noi khi thu hoạch ít bị ảnh hưởng tới;

- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu hạn và chịu lạnh cao;

Trang 13

- Cần có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và đảm bảo lấy được dinh dưỡng và nước;

- Có độ ngon miệng cao, gia súc thích ăn, ăn được nhiều;

và khả năng sinh hạt Loài chọn phải có tốc độ sinh trưởng nhanh, nhất là giai đoạn đầu để lấn át cỏ dại và tăng số lần thu hoạch

- Khả năng chịu đựng sự thu hoạch: phải chịu được sự cắt và nén của máy thu hoạch;

- Năng suất: phải có năng suất cao để đảm bảo nhu cầu gia súc và giảm diện tích gieo trồng

Với nhu cầu trung bình 30 kg thức ăn thô xanh mỗi ngày của trâu, bò; 5 – 7 kg/ngày của dê, cừu, hươu, nai; 3 – 5kg/ngày của nhím, thỏ,… Sử dụng thức ăn thô xanh luôn có tầm quan trọng đặc biệt không thể thay thế đối với gia súc ăn cỏ như trâu, bò, dê, cừu, thỏ, hươu, nai,… Trong khi diện tích đất ngày càng thu hẹp, khả năng trồng cỏ còn nhiều hạn chế và mang tính thời vụ, vào mùa đông, khô hanh cỏ không mọc được thì trâu, bò, lại thiếu thức ăn, trọng lượng kém, sản lượng sữa giảm sút, chịu rét kém Việc thừa kế và phát hiện những nguồn thức ăn thô xanh khác ngoài cỏ là một hướng đi đúng đắn trong giai đoạn hiện nay

2.2 Tình hình sử nghiên cứu và sản xuất cao lương trên Thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất cao lương trên thế giới

Cao lương (lúa miến) là cây ngũ cốc quan trọng thứ năm và là khẩu phần ăn chủ yếu của hơn 500 triệu người ở 30 quốc gia Nó được trồng trên 40 triệu ha trong

105 quốc gia của châu Phi, châu Á, Châu Đại Dương và châu Mỹ Mỹ, Ấn Độ, Mexico, Nigeria, Sudan và Ethiopia là những nước sản xuất lớn

Trang 14

Đồ thị 2.1 Tình hình sản xuất cao lương hạt trên thế giới

Bảng 2.1 Các nước sản xuất cao lương chính trên thế giới

(Ước tính năm 2013) Nước Sản lượng (1000 tấn) Nước Sản lượng (1000 tấn)

Trang 15

Theo FAO (2009), cao lương trên thế giới được thống kê từ năm 1961 –

2008 thì diện tích trồng thay đổi đáng kể (khoảng 44 triệu ha) Tuy nhiên năng suất hạt tăng không nhiều, đạt cao nhất là 95 triệu tấn/ha (2005)

Mục đích sử dụng cao lương dần thay đổi Trước năm 1970 thì hạt được dùng làm lương thực cho con người Từ năm 1970 – 2000, cao lương chủ yếu sử dụng làm thức ăn cho gia súc Trong những năm gần đây, cao lương được trồng với mục đích quan trọng là lấy thân lá làm nguồn thức ăn cho gia súc Cao lương được trồng thành thảm cỏ để thu cắt cho gia súc ăn tươi hoặc để chế biến dự trữ trong mùa khô, làm đồng cỏ chăn thả

Cây cao lương có khả năng chịu khô hạn, chịu nóng và chịu lạnh nên chúng đóng vai trò quan trọng trong ngành chăn nuôi ở các khu vực khô cằn, khắc nghiệt Ngoài mục đích sử dụng làm thức ăn cho gia súc, thân cao lương còn được

sử dụng để sản xuất mật cao lương, đường, đồ uống chứa cồn Chất nhuộm màu được chiết ở hạt cao lương được sử dụng ở phía Đông Châu Phi Ở Mỹ, tinh bột của cao lương được chế biến bằng quy trình nghiền ướt làm thành đường dextro, các giống cao lương hạt sáp sử dụng làm keo dán giấy và vải Ở Trung Quốc người ta

đã ước tính giá thành sản xuất cồn từ cây cao lương chỉ có 3.500 NDT/tấn Cứ 16 tấn cây cao lương có thể sản xuất được 1 tấn cồn, phần bã còn lại có thể chiết xuất được 500 kg dầu Diesel sinh học Người ta chỉ chế biến nhiên liệu từ thân cây, hạt cao lương dùng làm thực phẩm

Trải qua hàng nghìn năm, cây cao lương được trồng và nghiên cứu khắp nơi trên thế giới Từ những vùng đất màu mỡ tới những vùng đất khô cằn và khắc nghiệt, với nhiều mục đích sử dụng khác nhau: từ lương thực, chăn nuôi, thủ công nghiệp hay công nghiệp Đến nay, cây cao lương đã quen thuộc với nhiều người, nhiều quốc gia trên thế giới

Hầu hết các nghiên cứu lúa miến đã tập trung vào nâng cao chất lượng chứ không phải là năng suất, và môi trường đóng một yếu tố ảnh hưởng lớn tới cả năng suất và chất lượng Nghiên cứu không giải quyết được nhu cầu vì người trồng chủ yếu là nông dân nghèo trồng thực phẩm để tiêu dùng chứ không phải để bán Tuy nhiên, với dân số thế giới tăng nó đang trở thành cần thiết để làm cho hầu hết những

Trang 16

gì đất nước và nguồn lực để phát triển thực phẩm, cũng như để giảm tiêu thụ nhiên

liệu hóa thạch có sẵn Với những cải tiến, lúa miến có thể trở thành “hạt toàn cầu

của tương lai” vì nó là hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực và đó là cơ hội thị

trường như một nguồn tài nguyên năng lượng

Hướng nghiên cứu trong tương lai bao gồm việc tạo ra năng suất tốt hơn trong môi trường khó khăn và đầu vào thấp, phát triển các kỹ thuật quản lý sản xuất, cải thiện dinh dưỡng như tăng khả năng tiêu hóa và chất lượng protein, và sản xuất ethanol Nghiên cứu ngành công nghiệp tư nhân đã tập trung vào chất lượng hạt để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại, bao gồm các loại thực phẩm ăn nhẹ, sản xuất alchol và thực phẩm không đường Bệnh hại thường không phải là một vấn đề với lúa miến trừ khi có lượng mưa cao và độ ẩm, nhưng sâu bệnh gây ra thiệt hại đáng

kể Các loài gây hại phá hoại nhất là các loài chim, những loài ăn ngũ cốc Loài gây hại khác bao gồm rệp ngô, rệp vừng, và sâu ăn lá

2.2.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất cao lương ở Việt Nam

Ở nước ta, cao lương được trồng ở các khu vực núi cao như Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, khu vực Tây Nguyên… Tùy theo vùng trồng mà cây cao lương được gọi theo một số tên khác như lúa miến, bobo, cù làng, mì… Cao lương đã được được đồng bào các dân tộc vùng núi dùng làm thức ăn chăn nuôi từ lâu đời

Tuy nhiên, cây cao lương chỉ phát triển khi nước ta du nhập những giống mới từ năm 1962 Nước ta đã nhập nội 210 mẫu giống cao lương từ ICRISTAT, Pacific Seed, Philippin bao gồm cả dòng lai và dòng thuần, một số giống địa phương cũng được thu thập Mẫu giống đã được tiến hành đánh giá, thử nghiệm tại nhiều vùng (An Giang, Hà Nội, Thái Nguyên …) và đã cho kết quả khả quan

Việc nghiên cứu sử dụng cây cao lương theo mục đích làm thức ăn xanh còn rất hạn chế, đặc biệt là thức ăn xanh vụ đông Trước đây, Lê Hòa Bình và cộng sự (1992) đã theo dõi trên ruộng thí nghiệm 36 giống cao lương nhập từ Liên Xô cho thấy có sự biến động lớn về tốc độ sinh trưởng, năng suất chất xanh giữa các giống Kết quả trồng cao lương tại Nông trường Ba Vì cho thấy có những giống cho năng

Trang 17

suất chất xanh đạt 30 – 33 tấn/ha/lứa, hàm lượng protein thô cao (12,61; 13,65 và 15,81%)

Trong năm 2005, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tiến hành thu thập

và đánh giá một giống cao lương ở các địa phương trong nước: Bản Phố (Bắc Hà - Lào Cai), Vũ Nông (Hà Quảng - Cao Bằng), Thái Học (Hà Quảng - Cao Bằng), Lũng Năm (Hà Quảng - Cao Bằng), Kéo Yên (Hà Quảng - Cao Bằng) Một số giống cao lương cũng đã được nhập nội từ Nhật Bản: Indian sorghum, Hayakawa, Kazetachi, Gold sorgo, Suzuko

Năm 2006, các cán bộ nghiên cứu đã tiến hành mô tả các đặc tính thực vật học của các giống cao lương đồng thời đánh giá đặc tính nông sinh học qua các vụ trồng khác nhau tại Đại học Nông nghiệp Hà Nội Bước đầu đánh giá năng suất và các đặc tính sinh lý liên quan đến khả năng chịu hạn của cao lương Bùi Quang Tuấn và cộng

sự (2007) cũng đã đánh giá giá trị dinh dưỡng của một số giống cao lương trồng trong

mùa đông tại Gia Lâm – Hà Nội và cho thấy có rất nhiều triển vọng

Hiện nay, PGS.TS Phạm Văn Cường, trường Đại học nông nghiệp Hà Nội đã thu thập và nhập nội một số giống cao lương ngọt, đang tiến hành phối hợp với các nhà chăn nuôi và các nhà khoa học chế biến trong và ngoài nước để sử dụng cây cao lương làm thức ăn gia súc vụ đông và chế biến cồn sinh học Cao lương ở 120 ngày trồng tại

Hà Nội có tốc độ sinh trưởng trung bình đạt 1g/m2/ngày đêm sẽ cho năng suất 25,2 tấn/ha thân tươi và 2 -3 tấn hạt có thể chế biến được 3000 – 4000 lít ethanol

Tháng 11 năm 2013, tại Bộ NN&PTNT, Cục trồng trọt phối hợp với tập đoàn Syswave H và Công ty Incomex giới thiệu tiềm năng và khả năng phát triển của giống “siêu cao lương” Theo các nhà khoa học của Sysware Holding Nhật bản, Siêu cao lương được tạo ra trong khoảng 7-8 năm gần đây bằng việc ứng dụng công nghệ sinh học, không phải là giống chuyển gen (GMO), sau khi giải mã gen của cây cao lương thành công, các nhà khoa học đã đưa các gen quyết định sinh khối và hàm lượng đường cao vào dòng Bố, mẹ của giống siêu cao lương này bằng lai quay lui (back cross), dùng phương pháp đánh dấu phân tử, và sử dụng hạt ưu thế lai F1

để gieo trồng Siêu cao lương trồng một lần, thời vụ ở khu vực phía bắc là vào vụ xuân, từ tháng 2 đến tháng 4 và cho thu hoạch 3 lần trong năm, với khối lượng chất

Trang 18

xanh lên tới trên 400 tấn chất xanh/ha, sản lượng etanol đạt trên 17000 lít/ha; Siêu cao lương có hàm lượng đường cao, hàm lượng chất khô trên 40% So với sắn, mía, sản xuất Etanol từ siêu cao lương cao gấp 2-2,5 lần Siêu cao lương có chiều cao từ 5-6m, khả năng tái sinh nhanh, thích ứng rộng và có thể gieo trồng trên nhiều loại đất, khả năng chịu hạn tốt, chống đổ khá, đổ ngã khi tốc độ gió đạt trên 17m/s, tuy nhiên siêu cao lương có khả năng hồi phục sau 3-4 ngày bị đổ nghiêng (giai đoạn cây cao 3-4 m) Những vấn đề cần lưu ý với siêu cao lương là: đòi hỏi thâm canh cao, tốn chi phí phân bón, pH đất không được thấp hơn 5, tốt nhất là pH = 6-8, song

nó cũng không bị ảnh hưởng trên đất kiềm pH >8,5, ngay cả khi pH = 9, chú ý sâu đục thân, bệnh đốm lá lớn và đốm lá nhỏ, rệp

Nhìn chung, các nghiên cứu về cao lương của thế giới tương đối đa dạng, sâu rộng Tuy nhiên các nghiên cứu cao lương ở Việt Nam là chưa nhiều Nước ta nói riêng và thế giới nói chung đều bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu làm cho lương mưa ở một số nơi giảm đi và khả năng tưới không đáp ứng nhu cầu của các cây truyền thống và dẫn tới đất bị bỏ hoang không thể canh tác được; cũng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu nhưng lại theo hướng ngược lại là do băng tan, nước biển dâng cao làm cho diện tích đất có thể trồng trọt nhiễm mặn, giảm diện tích gieo trồng Nước ta có đường bờ biển kéo dài 3260 km, diện tích gieo trồng ven biển ngày càng giảm mạnh do nhiễm mặn, cát lấn Do vậy việc tìm ra cây trồng mới tham gia cơ cấu cây trồng để đáp ứng được yêu cầu thực tiễn không xa là hết sức quan trọng với nông nghiệp Việt Nam

2.3 Đặc điểm sinh học và giá trị dinh dưỡng của cây cao lương

2.3.1 Đặc điểm sinh học của cây cao lương

Cao lương là loại cây thân thẳng, mảnh mai hoặc rất rắn chắc tuỳ thuộc giống Thân có đường kính thay đổi từ 0,5 đến 5cm và thu nhỏ ở phần ngọn Chiều dài thân từ 0,5 đến 4m Thân cây đặc với vỏ cứng hoặc một lớp vỏ với phần ruột mềm Bó mạch phân tán khắp tiết diện thân, nhưng tập trung nhiều ở vòng ngoài cùng tạo nên mộ lớp vỏ cứng giúp cây đứng thẳng vững chãi Ở các thân cây già phần ruột thường rạng vỡ, đặc biệt là thân cây khô Tại mỗi mắt thân có thể phát triển một vài chồi nách làm cho cây cao lương có sức đẻ nhánh như cây lúa Đa số

Trang 19

chúng là cây hàng năm nhưng có những giống cây lâu năm, vậy nên thời gian sinh trưởng của chúng cũng rất khác nhau và tuỳ thuộc tổng tích ôn của từng giống trong điều kiện trồng cụ thể

Lá của cây cao lương rộng và dài phân bố trên thân rất đa dạng Một số loài

có kiểu phân bố lá tập trung gần gốc, một số khác phân bố đều ít hoặc nhiều Lá có dáng thẳng đứng hoặc gần như nằm ngang, phiến lá thẳng hoặc lòng mo Thông thường lá có chiều dài khoảng 1m và bề rộng đến 15cm để giảm sự mất hơi nước qua lá Số lá trên thân có thể thay đổi từ 15 đến 30 lá tuỳ theo loài và điều kiện môi trường Tại phần gốc lá nối với bẹ, có một thìa lìa dạng màng nhỏ

Bộ rễ của cây cao lương phát triển rộng, có thể ăn sâu tới 1,5m dưới mặt đất nhưng thông thường tập trung ở độ sâu 0,9 m Mầm rễ sơ cấp xuất hiện ngay khi hạt nảy mầm Rễ thứ cấp phát triển từ mắt thân đầu tiên và phát triển thành bộ rễ của cây sau này Sẽ có nhiều rễ con xuất hiện ở các đốt thân dưới thấp khi cây không thích nghi với môi trường, nó không có tác dụng hút nước và dinh dưỡng

Hoa cao lương kết thành bông dài từ 4 đến 25cm và rộng từ 2 đến 20 cm Hình dạng và kích thước của bông rất khác nhau Ngoài bông chính có thể xuất hiện một vài bông nhánh ở các thân nhánh Bông mọc thẳng đứng so với thân hoặc hơi cong Từ trục chính của bông phân ra các nhánh cấp 2 và cấp 3, và trên đó có đính các chét hoa Cấu tạo của hoa rất đa dạng khi cây ra hoa, chùm mang hai loại hoa, một loại có cuống và có cả phần đực lẫn phần cái, loại còn lại không có cuống thường là hoa đực (Ramph, 2005) Chùm hoa có màu xanh, khi chín chuyển sang màu kem, vàng, đỏ, tím…

Hạt cao lương có nhiều màu sắc khác nhau, chúng có thể có màu đỏ, nâu vàng, trắng hoặc kem…Vỏ hạt thường có màu nâu sẫm hoặc nâu đậm Nội nhũ có màu trắng hoặc vàng, màu vàng của nội nhũ là màu của sắc tố carotene, có liên quan đến hàm lượng vitamin A trong hạt Khối lượng của hạt có thể rất bé (nhỏ hơn 1g/100hạt) đến lớn (5 – 6g/100 hạt) Hình dạng tròn hoặc elip và nhọn, đường kính

4 – 8mm

Thời gian để hạt phát triển đến chín sinh lý khoảng 30 ngày Khi chín sinh lý, trong hạt còn 30% độ ẩm sau đó giảm xuống 10 – 15 % trong vòng 20 – 25 ngày

Trang 20

sau, như thế sẽ giúp cho hạt không bị nứt Hạt đã chín sinh lý là có thể thu hoạch được, qua thời kỳ này có thể mất đi 10% chất khô Hạt đưa vào bảo quản phải giảm

độ ẩm dưới 12%

Khả năng tái sinh của cây rất mạnh, trồng một vụ có thể thu hoạch liên tiếp 2 – 3 lần, có khi tới 4 lần tùy thuộc vào mức độ thâm canh Cao lương có thể thu hoạch được vào 60 – 65 ngày sau khi trồng, vụ cắt lần 2 sẽ thu hoạch vào 30 – 45 ngày sau đó Để cây tái sinh mọc lại nhanh nên chừa lại phần gốc ít nhất 10 – 15 cm khi thu hoạch

Trong thân non và chồi tái sinh của cây cao lương có chứa một lượng axit xyanhydric (HCN) Hàm lượng độc tố này giảm thấp ở cây 30 - 40 ngày tuổi và thấp nhất lúc cây trỗ bông Vì vậy khi dùng thân lá cho gia súc ăn thì ta nên chọn giống có hàm lượng độc tố thấp và lựa chọn thời gian sử dụng thích hợp

Đặc điểm của các nhóm cao lương OPV và cao lương lai

Nhóm giống cao lương thụ phấn tự do (OPV): Là loại giống mà trong quá trình sản xuất hạt không cần đến sự can thiệp của con người vào quá trình thụ phấn

- chúng thụ phấn tự do (hoặc nếu có con người hỗ trợ cũng chỉ giúp cho quá trình

thụ phấn tốt hơn, bản thân chúng đã có khả năng tự thụ phấn rồi) Tên gọi giống cao

lương thụ phấn tự do để phân biệt với giống cao lương lai Các hạt giống trong

nhóm OPV đa dạng di truyền, không thống nhất như hạt giống lai Ví dụ, chiều cao cây sẽ thay đổi, thời gian trỗ không đồng nhất …

Đặc điểm của nhóm giống cao lương OPV:

Giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) là quần thể rộng lớn cây cao lương

có những đặc điểm di truyền tương tự nhau Sự thụ phấn của cây không được kiểm soát, hạt giống đa dạng di truyền Do đó, giống OPV không đồng nhất về mặt di truyền như giống lai

- OPV có thể không thống nhất về màu sắc, chiều cao và đặc điểm thực vật khác, dẫn đến thu hoạch không đồng đều

- Giống OPV không đồng nhất về gen Do đó, thời gian trỗ khác nhau, khi gặp điều kiện khó khăn trong giai đoạn trỗ thì mức độ thiệt hại sẽ ít hơn Mặt

Trang 21

khác, các hạt giống có khả năng thích ứng khác nhau Do đó khi gặp điều kiện bất thuận thì mức thiệt hại sẽ ít hơn

- Tiềm năng năng suất của OPV thường thấp hơn so với các giống lai 10 – 25%

- Sản xuất giống OPV tiết kiệm chi phí hơn giống lai Do đó, hạt giống cao lương OPV thấp hơn hạt giống lai

- Hạt giống có thể sử dụng tiếp cho vụ sau (ví dụ, giữ lại sau khi thu hoạch để trồng trong mùa tới) với sự suy giảm năng suất ít nhất

Đặc điểm của giống cao lương lai:

Giống cao lương lai là giống được tạo ra có quá trình thụ phấn kiểm soát nghiêm ngặt, đồng nhất về di truyền

- Giống lai có độ đồng đều cao về các đặc điểm sinh học, thời gian trỗ hoa, dẫn tới thu hoạch thống nhất

- Giống lai thường đồng nhất về gen, thời gian trỗ bông đồng đều Khi gặp điều kiện bất thuận trong giai đoạn trỗ, cây sẽ bị ảnh hưởng lớn và thiệt hại cho người sản xuất lớn hơn

- Giống cao lương lai có tiềm năng năng suất cao hơn so với giống OPV

- Chi phí cho sản xuất hạt giống cao lương lai cao, do đó giá hạt giống cao lương lai cao hơn giống OPV

- Không thể tiếp tục để hạt giống tiếp cho vụ sau, nếu tự để giống có thể làm giảm năng suất 30%

2.3.2 Thành phần dinh dưỡng và giá trị sử dụng của cây cao lương

Thành phần dinh dưỡng của cây cao lương

Cao lương là một trong 5 loại hạt cốc (ngũ cốc) hàng đầu của thế giới Hạt cao lương có giá trị dinh dưỡng như với ngô tuy nhiên hàm lượng protein cao hơn ngô, song các thành phần dinh dưỡng khác thấp hơn ngô cụ thể như vitamin A (Carter và cs, 1989)

Trang 22

Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của hạt cao lương

và ngô làm thức ăn chăn nuôi

Loại cây

ME cho gia súc nhai lại (MJ/kg)

ME cho gia cầm

(MJ/kg)

Protein thô (%)

L ysin (%)

Lysin dễ tiêu (%) Cao

Co (0,04 - 0,73ppm)

Trong 100 g hạt Cao lương có hàm lượng các chất như sau (Wu Leung và cs, 1972):

Nước: 12,0g Năng lượng: 342 cal

Protein: 10,0g Chất béo: 3,7g β-carotene: 0,0 g

Carbohydrate: 72,7g Xơ: 2,2g Thiamine: 0,33mg

Tro: 1,5g Canxi: 22mg Riboflavin: 0,18mg

Photpho: 242mg Sắt: 3,8mg Niacin: 3,9mg

Na: 8mg K: 44mg Ascorbic acid: 0mg

Cao lương được thu hoạch với mục đích sử dụng làm thức ăn gia súc thì có chứa tới 52-65% chất khô, trong đó có 8-12% protein thô, 60-75% là xơ Sử dụng cao lương làm thức ăn khô thì cần thiết phải bổ sung protein, khoáng và các vitamin, thông thường tỷ lệ của cao lương luôn nhiều hơn 50% (Undersander, 1990) Với thành phần dinh dưỡng như trên để tăng tính ngon miệng cho gia súc và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn NRI (1988) đã khuyến cáo giới hạn sử dụng hạt cao lương và ngô trong khẩu phần ăn hướng dẫn như sau:

Trang 23

Cao lương (%) Ngô (%)

Gia cầm 30 70

Lợn 30 30

Bò sữa 50 70

Bò thịt 70 70

Giá trị sử dụng của cây cao lương

Hiện nay có hàng triệu người ở Ấn Độ, châu Phi, châu Mỹ La Tinh,… dùng cao lương như là một loại lương thực chính trong bữa ăn hằng ngày, nhưng trên thế giới cao lương chủ yếu được dùng làm thức ăn cho gia súc dưới dạng lương thực

hoặc làm xirô lúa miến hoặc còn gọi là “mật cao lương” (làm từ các giống có hàm

lượng đường cao như ở mía), cỏ khô, cũng như để sản xuất một vài loại đồ uống chứa cồn (Dan và Woody, 2001) Ở Trung Quốc người ta đã ước tính giá thành sản xuất cồn từ cây cao lương chỉ mất có 3.500 NTD/tấn Cứ 6 tấn cao lương có thể sản xuất được 1 tấn cồn, phần bã còn lại có thể chiết xuất được 500 kg dầu diesel sinh học Người ta chỉ chế biến nhiên liệu từ thân cây, phần hạt cao lương vẫn có thể

dùng làm thực phẩm (theo báo điện tử www.sinhhocvietnam.com.vn)

Cao lương có thể dùng làm thức ăn gia súc dưới dạng hạt hay dạng thức ăn thô xanh (thân lá) Nhưng chủ yếu sử dụng thân lá cho chăn nuôi gia súc Chúng ta thường trồng thành thảm cỏ chăn thả để cắt theo từng lứa hoặc là đồng cỏ chăn thả, cũng có thể là sau khi thu hoạch bông, thân cây tươi cho gia súc ăn ngay hay chế biến dự trữ trong mùa khô Phần lớn các giống cao lương có khả năng chịu khô hạn

và chịu nóng cao nên chúng đóng vai trò quan trọng trong ngành chăn nuôi ở các khu vực có khí hậu khô cằn

Khi sử dụng thân lá làm thức ăn cho gia súc thì có thể thu hoạch từ 2 – 5 lần/vụ trồng Ngoài các giống cao lương hàng năm thì cũng có nhiều giống cao lương lưu niên để làm thức ăn xanh cho gia súc Năng suất thân của một số giống làm thức ăn cho gia súc có thể đạt tới 43,4 – 71,4 tấn/ha/lứa đối với cao lương lai (Reed, 1976) Năng suất chất khô tại Brazil là 13 –15 tấn/ha, trong khi tại Mỹ là 14 –17 tấn/ha, tại Irắc 24 –28 tấn/ha (Gill và cs, 1977), 2,5 – 15 tấn/ha ở Oklahoma (Denman, 1975), 12 tấn/ha ở Cuba (Menendez and Martinez, 1980), 6 –8 tấn ở Ấn

Trang 24

Độ (Itnal và cs, 1980),14 – 33 tấn/ha ở Louisiana (Ricaud và cs, 1981) Trong khi

đó năng suất chất khô của cao lương lai lại có thể đạt 20 (cây lâu năm) hoặc 30 tấn/ha (cây hàng năm)

Hiện nay cao lương làm thức ăn gia súc có thể được lấy từ nhóm cây cao lương lấy hạt (thường gọi là milo) nhưng năng suất chất khô nhóm này thấp, nhóm chuyên dùng để làm thức ăn gia súc có năng suất cao và tỷ lệ thức ăn thường từ 80-90% Như vậy, năng suất chất khô của cao lương thay đổi rất lớn tuỳ thuộc và điều kiện đất đai, khí hậu, kỹ thuật chăm sóc, thu hái và đặc biệt là giống Điều này đã làm ảnh hưởng tới chất lượng và sản lượng thức ăn khi sử dụng cho mục đích làm thức ăn gia súc Theo Boardman (1980), cao lương sử dụng làm thức ăn gia súc ở

120 ngày sau trồng tại California có tốc độ sinh trưởng trung bình đạt 23g/m2/ngày

sẽ cho năng suất 27,6 tấn/ha; tại Australia cao lương 83 ngày sau trồng có tốc độ sinh trưởng trung bình đạt 17g/m2/ngày sẽ cho năng suất 14,1 tấn/ha

Đặc biệt, hiện nay trên thế giới cao lương đang dần trở thành nguồn nguyên liệu chính sử dụng để sản xuất etanol - một loại nhiên liệu sinh học Cao lương được thu hoạch, sau đó thân được ép lấy nước bằng trục xay giống như ép mía Nước sau khi ép được lên men để chuyển hóa thành ethanol thô Ethanol này sau đó được chưng cất và dehydrat hóa Tại Mỹ, bã ép còn được sử dụng làm chất đốt sản xuất điện năng bán cho nhà máy nhiệt điện, hoặc bã thải cũng có thể được sử dụng làm phân bón

2.3.3 Một số hạn chế khi sử dụng cao lương

Hàm lượng chất độc Cyanua

Trong thân lá cao lương chứa lượng cyanogenic glucosides có vai trò quan trọng trong cơ chế bảo vệ cây không bị tấn công bởi các loài ăn thực vật do có vị đắng và có tính độc Bản thân hợp chất này không gây độc nhưng khi bị thủy phân bởi enzym glucosidase trong dạ cỏ hoặc chính trong các mô của thực vật sẽ sinh ra glucose, aldehyde hoặc ketone và hydrogen cyanide (HCN) – một chất cực độc với

cơ thể, sau đó chất này được hấp thụ vào máu Nồng độ acid xyanhydic trong máu

sẽ ngăn cản việc lấy oxy của những tế bào trong cơ thể làm cho những tế bào này chết đi và không bao lâu gia súc sẽ chết do bị liệt bộ phận hô hấp Các nhánh mọc ra

Trang 25

từ những nách lá của những cây bị tổn thương và những chồi mới mọc ra từ mắt dóng trên mặt đất chứa hàm lượng axit này nhiều gấp 2 lần những lá đã trưởng thành của những cây bình thường Hàm lượng HCN đạt cao nhất ở cây con, vì vậy người ta khuyến cáo không nên chăn thả hoặc cắt làm thức ăn cho cây đến khi cây đạt chiều cao 45 – 50cm Hàm lượng HCN có thể tăng trong cây khi cây qua thời kỳ stress, do sương gió hoặc do trong đất lượng đạm quá thừa, P và K thiếu

HCN là chất độc đơn giản, hòa tan rất dễ trong nước và rượu Trong không khí, HCN bốc hơi và phân tán nhanh chóng, làm cho nó bớt độc hại hơn Nếu cây sau thu cắt đem phơi khô hoặc ủ sau 2 - 3 tuần sẽ làm giảm nguy hiểm cho gia súc Theo quy định của Cộng đồng Châu Âu thì thức ăn hỗn hợp cho gia súc chỉ được phép chứa thấp hơn 60mg HCN Hàm lượng HCN thay đổi tùy thuộc rất lớn vào giống và tùy thuộc vào từng loại gia súc mà có tính mẫm cảm khác nhau đối với sự gây độc của axit HCN, trâu bò dễ mẫm cảm hơn so với cừu

Ngộ độc Nitrate

Trong điều kiện khí hậu khô hạn, cao lương có khuynh hướng tích tụ Nitrate và có thể gây độc cho gia súc Nếu mức độ Nitrate cao, nên ủ hoặc kết hợp với các loại thức ăn khác để giảm lượng Nitrate Bón đạm quá cao sẽ làm gia tăng khả năng gây độc của HCN nhiều hơn cũng như ngộ độc Nitrate

Tính ngon miệng không cao

Cây cao lương có chứa một lượng tanin gây chát, làm giảm tính ngon miệng cho gia súc Hàm lượng tanin trong thân lá cao hơn trong hạt Nên thực hiện các biện pháp ủ chua thức ăn, kết hợp với các loại thức ăn khác để làm giảm vị chát và tăng tính ngon miệng cho gia súc

Để an toàn cho gia súc khi sử dụng thân lá và hạt làm thức ăn cần lưu ý nhất

là loại bỏ các ankaloid và HCN Thân lá khi được cắt và phơi khô vừa là quá trình bảo quản và dự trữ chất khô cho gia súc vừa là quá trình loại bỏ bớt các độc tố ra khỏi các bộ phận sinh dưỡng của cây Ngoài ra còn có cách ủ chua tạo thức ăn chua vừa tận dụng tối đa khả năng tiêu hóa của gia súc đối với cây cao lương vừa loại bỏ các độc tố ra khỏi sản phẩm thu hoạch Cần lưu ý không vào ủ chua trong khoảng 2

Trang 26

– 3 tuần đầu tiên vì thời gian này hàm lượng HCN thoát ra nhiều, rất nguy hiểm, đặc trưng của mùi HCN là mì hạnh đắng (Dan và Woody, 2001)

Để khắc phục hiện tượng ngộ độc Nitrare thì quá trình phơi khô sẽ làm giảm hàm lượng nitrate trong cỏ Điều chỉnh tỷ lệ thức ăn khi cho gia súc ăn thì cỏ khô sẽ không gây hại cho gia súc Nồng độ nitrate trong cỏ cao hơn so với bình thường có thể dẫn đến ngộ độc nitrate và làm cho gia súc chết đồng loạt Nếu mức độ nitrate trong cây cao thì nên ủ chua hoặc kết hợp với các loại thức ăn khác để làm giảm hàm lượng nitrate sử dụng Các kết quả nghiên cứu cho thấy ủ chua có thể làm giảm hàm lượng nitrate khoảng 25 – 50% Tùy thuộc từng loại gia súc mà có tính mẫn cảm khác nhau đối với sự gây độc của axit, trâu bò dễ mẫn cảm hơn so với cừu vì vậy, khi sử dụng cao lương làm thức ăn gia súc cần lưu ý đến các độc tố và tùy theo từng loại gia súc để xử lý và phối trộn thức ăn cho phù hợp mà không làm ảnh hưởng tới gia súc

Trang 27

PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu

Gồm 04 giống cao lương thụ phấn tự do được chọn lọc bởi trường đại học Nông nghiệp Hà Nội và 02 giống đối chứng:

- Giống cao lương ngọt SS506 đang được sử dụng nhập khẩu từ Úc Đây là giống cao lương lai F1 năng suất cao, chất lượng tốt

- S21 là giống cao lương có nguồn gốc từ Thái Học – Nguyên Bình – Cao Bằng được tuyển chọn từ một số giống cao lương có năng suất chất xanh và được đặt tên là S21

Bảng 3.1 Danh sách giống cao lương tham gia thí nghiệm

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm và thời gian

Thí nghiệm được tiến hành tại Bản Áng - xã Đông Sang – huyện Mộc Châu – tỉnh Sơn La Đất trồng cao lương thí nghiệm là đất đồi núi đá vôi, mới khai hoang Đây là loại đất đỏ, trung tính, ít mùn, độ phì thấp, đất cứng, canh tác khó khăn

Thời vụ gieo hạt của thí nghiệm được tiến hành vào ngày 18 tháng 4 năm 2013

Trang 28

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp bố trí thí nghiệm:

Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 6 công thức

và 3 lần nhắc lại, tổng số ô thí nghiệm là 18 ô Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 20 m2,

tổng diện tích thí nghiệm là 360 m2 Cây được trồng với khoảng cách: hàng x hàng

= 60cm, cây x cây = 25cm, 1 cây/hốc, mật độ cây tương đương 6,7 cây/ m2

* Sơ đồ bố trí thí nghiệm:

* Các biện pháp kỹ thuật:

Đất trồng được cày bừa kỹ, làm tơi đất Sau đó, làm phẳng đất, nhặt sạch cỏ

dại, lên luống và chia ô có kích thước 4m x 5m phù hợp với sơ đồ thí nghiệm

Hạt được gieo trực tiếp vào các hốc (hàng x hàng = 60cm, hốc x hốc = 25cm)

với từ 2-3 hạt/ hốc ở độc sâu khoảng 2cm để đảm bảo khả năng nảy mầm của hạt

Sau khi cây con được 2-3 lá thật, tiến hành dặm tỉa để đảm bảo còn lại 1 cây/ hốc

* Phương pháp bón phân bón:

Tổng lượng phân bón cho 1 ha: 250N + 180 P2O5 + 180 K2O (kg/ha) Loại

phân sử dụng bao gồm: Đạm Urê (46%), Supe lân (18%), Kalyclorua (60%) Phương pháp bón:

Trang 29

* Phương pháp cắt chất xanh (2 lứa):

Lứa 1: Sau gieo 60-65 ngày, khi cao lương đang ở giai đoạn làm đòng

Lứa 2: Sau lứa 1 từ 45 – 60 ngày

+ Phương pháp lấy mẫu đất:

Mẫu đất được lấy theo 5 điểm đường chéo trong mỗi ô, ở độ sâu 0 – 30 cm trộn đều làm mẫu đại diện cho ô đó, lấy cả 3 lần nhắc lại cho mỗi công thức và trộn đều lấy một mẫu đại diện cho một công thức

+ Chỉ tiêu phân tích:

Mẫu đất trong thí nghiệm được phân tích với 8 chỉ tiêu bao gồm: pHKCl, chất

hữu cơ OC, đạm tổng số, lân tổng số, lân dễ tiêu, kali tổng số, kali dễ tiêu

+ Phương pháp phân tích mẫu đất:

pHKCl: Đo trên pH meter tác động bằng KCl 1N

Xác định hàm lượng hữu cơ tổng số bằng phương pháp Walkley Black

N tổng số: Phương pháp Kjeldahl

P2O5 tổng số: Phương pháp so màu công phá bằng H2SO4+HKClO4

P2O5 dễ tiêu: Phương pháp quang kế ngọn lửa chiết bằng H2SO4 0,1N

Kali tổng số: Xác định hàm lượng kali tổng số bằng phương pháp quang kế ngọn lửa sau khi công phá mẫu bằng H2SO4 đậm đặc + HClO4 70%, lên thể tích lọc rồi đo trên máy quang kế ngọn lửa

Kali dễ tiêu: Xác định hàm lượng kali dễ tiêu bằng dịch chiết amon axetat (CH3COONH4) 1N có pH = 7

3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi

+ Các chỉ tiêu nông học:

Sau khi cây con được 3 - 4 lá thật, cứ 2 tuần/lần tiến hành đo ngẫu nhiên 5 cây/ ô thí nghiệm để đánh giá các đặc điểm:

Trang 30

• Cao cây (cm): Đo từ mặt đất tới đầu mút lá cao nhất

• Số lá xanh trên thân chính: Đếm số lá xanh hoàn chỉnh trên thân chính

• Số nhánh: Đếm số nhánh trên khóm

Kể từ sau lứa cắt đầu tiên, tiến hành đo các chỉ tiêu cao cây (cm) và số nhánh mỗi tuần/lần với 5 cây ngẫu nhiên/ô thí nghiệm

+ Các chỉ tiêu sinh lý:

Tại mỗi lứa cắt, lấy ra ngẫu nhiên 10 cây/ô để tiến hành đánh giá:

• Chỉ số SPAD (một chỉ số tương quan thuận với hàm lượng chlorophyll trong lá): Đo bằng máy SPAD 502, Japan

• Diện tích lá (LA) (dm2) và chỉ số diện tích lá (LAI):

Diện tích lá: Toàn bộ lá trên cây được cắt và đo bằng phương pháp cân nhanh LAI (m2 lá/m2 đất) = LA x mật độ /1000

• Chất khô tích luỹ (g/cây): Cây sau khi lấy mẫu được sấy khô ở nhiệt độ

800C cho tới khối lượng không đổi và cân khối lượng

• Tỷ lệ khối lượng giữa thân/lá: Tách và cân riêng thân, lá từ đó tính ra tỷ lệ

+ Chỉ tiêu chất lượng:

• oBrix – (Hàm lượng đường): Hàm lượng đường được xác định bằng việc lấy giá trị trung bình của 3 lần đo tại các vị trí khác nhau trên thân sử dụng máy đo Brix cầm tay

• Hàm lượng dinh dưỡng (protein tổng số, xơ, lipit tổng số, khoáng tổng số, năng lượng trao đổi ME…): phân tích trong thân và lá tươi ở các lứa cắt

Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thân lá được phân tích theo phương pháp AOAC (1995) (Association of Official Analytical Chemists)

Hàm lượng axit HCN xác đinh bằng phương pháp Easley (1970)

+ Năng suất chất xanh:

Tại mỗi lứa cắt, tiến hành thu toàn bộ cây/ô thí nghiệm để tính toán năng suất chất xanh Cây được cắt ở khoảng cách từ 10 - 15cm so với mặt đất

+ Khả năng chống chịu với sâu bệnh

Đánh giá khả năng chống chịu với sâu bệnh hại trên đồng ruộng theo phương pháp cho điểm (theo tiêu chuẩn ngành 10 TCN 341:2006)

Trang 31

Bệnh hại:

Điểm 0: Không có lá bị bệnh, không nhiễm Điểm 1: < 10% diện tích lá bị bệnh

Điểm 2: 10 – 25% diện tích lá bị bệnh Điểm 3: 26 – 50% diện tích lá bị bệnh Điểm 4: 51 – 75% diện tích lá bị bệnh Điểm 5: > 76% diện tích lá bị bệnh

Rệp muội:

Điểm 1: ≤ 5 con/m2Điểm 2: >5 – 20 con/m2Điểm 3: ≥20 – 50 con/m2Điểm 4: > 50 con/m2

+ Phân tích đất với các chỉ tiêu: OC%, pHKCl, P, Pdt, N, K, Kdt

Kết quả phân tích mẫu đất trước khi trồng Chỉ

tiêu

OC

(%) pH KCl N (%) P (%)

P dt (mg/100g)

K (%)

K dt (mg/100g)

CEC (md/100g)

Trang 32

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống cao lương trong thí nghiệm

Sự sinh trưởng và phát triển của cây không chỉ là một đặc tính di truyền giống

mà luôn chịu tác động của điều kiện dinh dưỡng và các nhân tố ngoại cảnh nhiệt độ, ánh sáng, nước Khả năng sinh trưởng, phát triển thể hiện thông qua những chỉ tiêu nông học như động thái tăng trưởng về chiều cao cây, ra lá, ra nhánh,

4.1.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống cao lương trong thí nghiệm

Chiều cao cây là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của cây, qua chiều cao cây cũng có thể xác định thời điểm thu hoạch và dự đoán năng suất thu hoạch của các giống cao lương khác nhau

Chiều cao của cây cao lương được tính từ cổ rễ đến đầu mút cao nhất Ở các giai đoạn khác nhau, động thái tăng trưởng chiều cao của các giống là khác nhau Theo dõi chiều cao cây của các giống cao lương năm 2013 tại Mộc Châu chúng tôi thu được

TST: Tuần sau trồng TSC1: Tuần sau cắt 1

Cắt 1: Sau gieo 60 ngày Cắt 2: Sau cắt lứa một 45 ngày

Giống 2TSG 4TSG 6TSG Cắt 1 2TSC1 4TSC1 6TSC1 Cắt 2 OPV86 36,8 88,1 153,5 284,3 40,7 80,1 138,7 171,5

Trang 33

Chiều cao cây của các giống cao lương tăng dần theo thời gian sinh trưởng, mức độ tăng chiều cao cây giữa các giống khác nhau và có sự khác nhau qua các giai đoạn sinh trưởng Điều này thể hiện rõ thông qua bảng 4.1

Ở thời kỳ đầu, khi còn nhỏ cây có chiều cao thấp, sau đó cây vươn lên mạnh mẽ cùng với sự ra lá và đẻ nhánh

Ở thời kỳ đầu sinh trưởng của cao lương (tháng 4,5/2013), thời tiết ở Mộc Châu nắng nóng và thời gian nắng kéo dài Do đó chiều cao của các giống phát triển chậm, khả năng sinh trưởng của các giống cao lương có sự khác nhau Trong đó giống cao lương SS506 (đối chứng 1) có chiều cao vượt trội nhất, còn giống S21 phát triển chậm nhất với 30,9 cm (ở tuần thứ 2 sau khi gieo)

Tuy nhiên các giai đoạn tiếp theo các giống có sự phát triển mạnh mẽ Các giống

có sự khác biệt rõ rệt về chiều cao cây, chỉ có giống OPV7 và OPVS21 là chưa có sự khác biệt ở giai đoạn 4 tuần sinh trưởng và 6 tuần sinh trưởng

Tại giai đoạn 8 tuần sinh trưởng (cắt năng suất lần 1) chiều cao các giống khá cao, chiều cao trung bình các giống đạt 274,2 cm Giống SS506 đạt chiều cao cao nhất với 296,0 cm và giống S21 có chiều cao thấp nhất với 241,3 cm Các giống OPV chỉ có chiều cao trong khoảng trung bình từ 265,4 đến 284,3 cm

Cây cao lương cũng như một số cây trồng khác, khi mầm đỉnh hoạt động thì

ức chế sinh trưởng của mầm nách Khi cây bước vào giai đoạn chuẩn bị trỗ sau 8 tuần sinh trưởng, chúng tôi tiến hành thu năng suất chất xanh, đồng thời cắt cây để kích thích sự phát triển của mầm nách Cây cao lương có sức tái sinh rất mạnh, trồng một vụ có thể thu hoạch liên tiếp 2 - 5 lần, tùy vào khả năng thâm canh (trong khi đó cây ngô chỉ thu được 1 lứa cắt) Đây là một ưu điểm lớn của cây cao lương Sau lứa cắt 1 chúng tôi nhận thấy khả năng tái sinh của các giống rất khác nhau, và chiều cao cây là một trong những chỉ tiêu đánh giá tốc độ tái sinh trưởng của giống Từ kết quả bảng 4.1 cho thấy chiều cao của các giống sau 2 tuần cắt 1 không có sự biến động đáng kể giữa các giống OPV, nhưng các giống OPV lại có

sự khác biệt ở mức ý nghĩa với các giống đối chứng, cụ thể là chiều cao trung bình các giống OPV thấp hơn SS506 và S21 có ý nghĩa, chiều cao trung bình của các giống trong thí nghiệm chỉ đạt 40,7 cm

Trang 34

Tuy nhiên giai đoạn sau các giống sinh trưởng mạnh, chiều cao các giống đều đạt trên 160 cm Trong số các giống thí nghiệm có sự phân mức về chiều cao cây tái sinh sau cắt 1, cao nhất là giống SS506 (176,7 cm), ở mức trung bình là nhóm gồm giống OPV88 (173,5 cm) và OPV86 (171,5 cm), thấp nhất là nhóm các giống OPVS21 (168,5 cm), OPV7 (165,9 cm) và S21 (167,8 cm)

Sự tăng trưởng chiều cao cây khác nhau của các giống được thể hiện rõ qua tốc

độ tăng trưởng chiều cao cây ở bảng 4.2

Bảng 4.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống cao lương

TST: Tuần sau trồng TSC1: Tuần sau cắt 1

Cắt 1: Sau gieo 60 ngày Cắt 2: Sau cắt lứa một 45 ngày

Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống ở cả trước khi cắt lần 1 và sau khi cắt đều tăng chậm ở những tuần đầu Giai đoạn này rễ cây chưa phát triển nhiều, phát triển của cây còn chậm Khi bộ rễ phát triển mạnh, có thể hấp thu dinh dưỡng từ đất thì tốc độ sinh trưởng nhanh hơn, đặc biệt là từ tuần thứ 6 tới tuần thứ

8 sau trồng Tốc độ tăng trưởng chiều cao của các giống từ lúc trồng tới cắt lần 1 nhanh hơn sau khi cắt rất nhiều

Trước cắt 1 tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống những tuần đầu chỉ tăng trung bình 22,4 cm/tuần (ở giai đoạn 2 - 4 tuần) nhưng giai đoạn 6 – 8 tuần tốc độ

Trang 35

tăng trưởng chiều cao lên tới 61,8 cm/tuần Trong đó giống OPV7 có tốc độ tăng trưởng chiều cao ở giai đoạn 6 – 8 tuần nhanh nhất, thấp nhất là giống SS506

Sau khi cắt lần 1, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây chỉ ở mức trung bình, tốc độ tăng dần tới giai đoạn 6 – 8 tuần sau cắt lại giảm Do điều kiện thời tiết giai đoạn này ít mưa, khô hạn do đó tốc độ tăng trưởng chiều cao cây bị hạn chế Tuy điều kiện thời tiết không thuận lợi nhưng sau 8 tuần sau cắt 1, chiều cao của các giống vẫn đạt trên 160 cm đảm bảo năng suất chất xanh khi thu cắt

4.1.2 Động thái ra lá và số lá cuối cùng của các giống cao lương trong thí

nghiệm

Lá chính là cơ quan quang hợp để tạo ra các chất hữu cơ tích lũy vào các cơ quan kinh tế tạo nên năng suất cây trồng Số lá trên cây càng nhiều, năng suất chất xanh của cây càng cao Số lá trên thân chính có thể nhiều ít khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của từng giống Qua theo dõi động thái ra lá của các giống cao lương trong thí nghiệm chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 4.3

Bảng 4.3 Động thái ra lá trên thân chính của các giống cao lương

TST: Tuần sau trồng TSC1: Tuần sau cắt 1

Cắt 1: Sau gieo 60 ngày Cắt 2: Sau cắt lứa một 45 ngày

Trang 36

Số lá trên thân chính của các giống không giống nhau ở các giai đoạn sinh trưởng Qua các giai đoạn sinh trưởng số lá trên thân chính của các giống tăng lên, khi trên cây xuất hiện lá đòng thì cây đạt số lá cuối cùng

Hai tuần sau trồng, số lá trên thân chính của các giống trong thí nghiệm chỉ trung bình 3,9 lá Trong đó có 2 giống SS506 và OPVS21 có số lá cao nhất, thấp nhất là giống S21 (3,5 lá), các giống OPV86, OPV88, OPV7 chỉ ở mức trung bình có số lá từ 3,7 lá đến 3,9 lá

Sau 6 tuần trồng, các giống lại có sự thay đổi rỗ rệt Thời kỳ này cây đang phát triển mạnh mẽ, quang hợp nhiều để tạo ra nhiều vật chất tích lũy trong cây Lúc này giống OPVS21 có số lá cao nhất (8,0 lá) và thấp nhất là S21 với 6,3 lá Sau 8 tuần sinh trưởng, số lá trên thân chính đạt tối đa Số lá của các giống cao lương trong thí nghiệm dao động từ 8,1 đế 9,8 lá Đây là thời kỳ cây chuẩn bị trỗ bông - thu hoạch chất xanh, vì vậy số lá lúc này có vai trò lớn, quyết định đến năng suất chất xanh của cao lương Giống OPV88 đạt số lá cuối cùng cao nhất (9,8 lá) có sự khác biệt rõ rệt với các giống còn lại Giống OPV7 có số

lá cuối cùng thấp nhất so với các giống còn lại, sự khác nhau có ý nghĩa thống kê Sau khi cắt lứa 1, số lá trên thân giảm hơn so với giai đoạn sinh trưởng trước cắt 1 Tuy nhiên đối với nhánh cây ở giai đoạn tái sinh số lá vẫn ở mức cao 2 tuần sau cắt 1, số lá của các giống trong thí nghiệm đã đạt trung bình 3,3

lá, chỉ kém 0,6 lá so với cùng kỳ trước khi cắt lứa 1 Các giai đoạn tiếp theo ở 4 tuần sau cắt, 6 tuần sau cắt số lá lại tiếp tục tăng

Đến 8 tuần sau cắt, số lá của các giống đạt trung bình 7,9 lá Tuy nhiên giữa các giống, số lá không có sự khác biệt lớn, sự sai khác nhau ở mức ý nghĩa Trong đó giống SS506 đạt số lá cao nhất (8,2 lá) và OPV86 có số lá ở các nhánh tái sinh thấp nhất (7,6 lá)

Khi tốc độ ra lá nhanh thì khả năng quang hợp của cây nhiều, do đó liên quan tới khả năng tích lũy chất khô của các giống cao lương Tốc độ ra lá của cây nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố giống, giai đoạn sinh trưởng

và ngoại cảnh như: nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng, nước,…

Tốc độ ra lá của các giống cao lương trong thí nghiệm có sự khác nhau ở

Trang 37

các giai đoạn sinh trưởng khác nhau Ở giai đoạn sinh trưởng từ trồng tới lần cắt

1, tốc độ ra lá từ tuần 2 – 4 tuấn sinh trưởng cao nhất, trung bình đạt 1,1 lá/tuần Trong đó giống OPVS21 có tốc độ ra lá cao nhất, SS506 có tốc độ ra lá thấp nhất Sau 4 – 6 tuần sinh trưởng tốc độ ra lá lại giảm, tốc độ ra lá chỉ đạt 0,4 lá/tuần

Ở giai đoạn sau cắt 1, tốc độ ra lá có xu hướng giảm dần từ 2 tuần sau cắt tới lứa cắt 2 Ở 2 – 4 tuần sau cắt 1, tốc độ ra lá đạt 1,1 lá/tuần, sau càng giảm dần 0,9 lá/tuần (4 – 6 tuần sau cắt 1) và chỉ còn 0,29 lá/tuần (6 – 8 tuần sau cắt 1) Ở giai đoạn sau cắt 1, nhiệt độ cao, ít mưa và khô do đó không thuận lợi cho cây cao lương sinh trưởng phát triển

Bảng 4.4 Tốc độ ra lá của các giống cao lương

TST: Tuần sau trồng TSC1: Tuần sau cắt 1

Cắt 1: Sau gieo 60 ngày Cắt 2: Sau cắt lứa một 45 ngày

Giai đoạn 2 – 4 tuần sau khi gieo và 2 – 4 tuần sau cắt 1 tốc độ ra lá cao, tuy nhiên giai đoạn này tốc độ tăng trưởng chiều cao cây lại chậm hơn, ngược lại giai đoạn sau khi cây sinh trưởng mạnh, số lá trên cây nhiều thì tốc độ ra lá giảm và chiều cao cây tăng nhanh Chính vì vậy số lá trên thân chính cũng là một chỉ tiêu quan trọng, quyết định tới khả năng tích lũy chất khô, ảnh hưởng tới năng suất chất xanh của cao lương

Trang 38

4.1.3 Động thái ra nhánh và số nhánh cuối cùng của các giống cao lương trong thí nghiệm

Số nhánh trên cây cũng là một trong các chỉ tiêu để đánh giá sức sinh trưởng của giống Số nhánh càng nhiều thì sức sinh trưởng của các giống cao lương càng mạnh Khả năng đẻ nhánh phụ thuộc vào giống, yếu tố ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc Với điều kiện chăm sóc tốt, năng suất chất xanh thu được ở các lứa cắt năng suất chất xanh sẽ cao Vì vậy, số nhánh cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng quyết định năng suất của cao lương Để đánh giá khả năng đẻ nhánh của các giống cao lương thí nghiệm, chúng tôi tiến hành theo dõi động thái đẻ nhánh qua các thời kỳ, kết quả thu được trình bày ở bảng 4.5

Bảng 4.5 Động thái ra nhánh của các giống cao lương thí nghiệm

TST: Tuần sau trồng TSC1: Tuần sau cắt 1

Cắt 1: Sau gieo 60 ngày Cắt 2: Sau cắt lứa một 45 ngày

Tất cả các giống cao lương trong thí nghiệm ở giai đoạn 2 tuần sinh trưởng chưa đẻ nhánh Sau 4 tuần sinh trưởng bắt đầu phân nhánh và số nhánh tăng dần đến khi cắt 1 Tuy nhiên số nhánh trên cây chỉ đạt trung bình 1,1 nhánh Trong đó giống OPV88, OPV7 có số nhánh cao nhất 1,2 nhánh, thấp nhất là OPVS21 và

Trang 39

SS506 với 1,07 nhánh Trong giai đoạn này, tất cả các giống cao lương trong thí nghiệm đều đẻ nhánh ít, chủ yếu sinh trưởng thân chính, các chồi nhánh bị ức chế Sau cắt 1, thân chính bị loại bỏ, chồi bên sinh trưởng mạnh Trung bình số nhánh của các giống cao lương đạt trên 3 nhánh/gốc Số nhánh có giai đoạn tăng lên sau đó lại giảm do trong quá trình sinh trưởng có nhánh mọc thêm nhưng vì điều kiện khô, nhiệt độ cao do đó những nhánh mới không phát triển được Chỉ những nhánh có sức sinh trưởng mạnh mới tồn tại và phát triển Trong các giống cao lương thí nghiệm, giống OPV88 và SS506 có số nhánh cao nhất (3,6 nhánh), giống OPVS21 có số nhánh thấp nhất (3,3 nhánh), nhưng về mặt thống kê các giống lại không khác nhau có ý nghĩa

4.2 Đặc điểm sinh lý của các giống cao lương trong thí nghiệm

Tại các lứa cắt, chúng tôi tiến hành đo các chỉ tiêu sinh lý Mỗi công thức tiến hành đo 5 cây tại 5 điểm theo đường chéo khác nhau

- Lứa cắt 1: tiến hành sau khi trồng 60 ngày, cây cao lương đang ở giai đoạn xoáy nõn, chuẩn bị trỗ

- Lứa cắt 2: Sau lứa cắt một 45 ngày

Trước khi cắt, chúng tôi tiến hành đo chỉ số SPAD Sau đó tiến hành lấy mẫu các cây này để đo diện tích lá và phân tích các thành phần dinh dưỡng trong thân lá

4.2.1 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống cao lương qua các lần cắt

Đối với mọi cây trồng, lá là cơ quan quang hợp chính của cây Lá to, rộng, dài và xanh thì diện tích lá lớn thì cơ quan quang hợp càng nhiều, và ngược lại lá

bé, nhỏ, màu sắc lá không xanh tươi thì diện tích lá thấp, cây sinh trưởng phát triển yếu Chính vì vậy diện tích lá liên quan chặt chẽ tới năng suất chất xanh của cây Để lựa chọn giống cao lương có năng suất chất xanh cao làm thức ăn cho gia súc, cần chọn ra giống có diện tích lá lớn, chỉ số diện tích lá tối ưu

Trang 40

Bảng 4.6 Diện tích lá của các giống cao lương qua các lần cắt

Ở lứa cắt 1, diện tích lá và chỉ số diện tích lá của các giống cao lương trong thí nghiệm có sự biến động khác nhau, diện tích lá dao động từ 0,47 – 0,72 m2lá/cây, chỉ số diện tích lá tương ứng dao động trong khoảng 3,14 – 4,80 m2 lá/m2 đất Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của các giống có sự phân chia theo các nhóm khác nhau Nhóm giống có diện tích lá và chỉ số diện tích lá cao nhất gồm giống OPV88 (diện tích lá 0,72 m2 lá/cây, LAI 4,80 m2 lá/m2 đất), OPV86 (diện tích lá 0,66 m2lá/cây, LAI 4,43 m2 lá/m2 đất) và SS506 (diện tích lá 0,67 m2 lá/cây, LAI 4,47 m2lá/m2 đất), nhóm các giống OPV7 (diện tích lá 0,59 m2 lá/cây, LAI 3,92 m2 lá/m2đất) và S21 (diện tích lá 0,54 m2 lá/cây, LAI 3,59 m2 lá/m2 đất) có diện tích lá và LAI trung bình, thấp nhất là OPVS21 (diện tích lá 0,47 m2 lá/cây, LAI 3,14 m2lá/m2 đất), các nhóm này khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê sinh học

Đến lứa cắt 2, số nhánh trên khóm nhiều hơn, do đó số lá trên khóm nhiều Dinh dưỡng cần cho cây sinh trưởng phát triển nhánh nhiều hơn Tuy số lượng lá/gốc nhiều nhưng lá nhỏ, ngắn hơn, diện tích của 1 lá bé hơn so với trước Diện tích lá của các giống dao động trong khoảng 0,36 – 0,63 m2 lá/cây, LAI tương ứng

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 2.1. Tình hình sản xuất cao lương hạt trên thế giới - Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu   sơn la
th ị 2.1. Tình hình sản xuất cao lương hạt trên thế giới (Trang 14)
Bảng 2.1. Các nước sản xuất cao lương chính trên thế giới - Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu   sơn la
Bảng 2.1. Các nước sản xuất cao lương chính trên thế giới (Trang 14)
Bảng 4.3. Động thái ra lá trên thân chính của các giống cao lương - Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu   sơn la
Bảng 4.3. Động thái ra lá trên thân chính của các giống cao lương (Trang 35)
Bảng 4.7.  Chỉ số SPAD của các giống cao lương qua các lần cắt - Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu   sơn la
Bảng 4.7. Chỉ số SPAD của các giống cao lương qua các lần cắt (Trang 42)
Bảng 4.8. Độ Brix của các giống cao lương qua các lần cắt - Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu   sơn la
Bảng 4.8. Độ Brix của các giống cao lương qua các lần cắt (Trang 43)
Bảng 4.10. Hàm lượng dinh dưỡng trong thân lá tại các lần cắt của các giống - Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu   sơn la
Bảng 4.10. Hàm lượng dinh dưỡng trong thân lá tại các lần cắt của các giống (Trang 47)
Bảng 4.12. Tốc độ tích lũy chất khô của các giống cao lương qua các lứa cắt - Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu   sơn la
Bảng 4.12. Tốc độ tích lũy chất khô của các giống cao lương qua các lứa cắt (Trang 51)
Đồ thị 4.1. Tương quan giữa năng suất chất xanh và chiều cao cây của các - Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu   sơn la
th ị 4.1. Tương quan giữa năng suất chất xanh và chiều cao cây của các (Trang 55)
Đồ thị 4.2. Tương quan giữa năng suất chất xanh và số lá xanh trên cây cao - Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu   sơn la
th ị 4.2. Tương quan giữa năng suất chất xanh và số lá xanh trên cây cao (Trang 56)
Đồ thị 4.4. Tương quan giữa năng suất chất xanh và chỉ số diện tích lá (LAI) - Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu   sơn la
th ị 4.4. Tương quan giữa năng suất chất xanh và chỉ số diện tích lá (LAI) (Trang 57)
Đồ thị 4.5. Tương quan giữa năng suất chất xanh và tốc độ tích lũy chất khô - Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu   sơn la
th ị 4.5. Tương quan giữa năng suất chất xanh và tốc độ tích lũy chất khô (Trang 58)
Bảng 4.16. Kết quả phân tích đất trước khi trồng và sau khi thu hoạch - Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu   sơn la
Bảng 4.16. Kết quả phân tích đất trước khi trồng và sau khi thu hoạch (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm