Chiến lược phát triển hệ thống cấp cứu y tế
Trang 18 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CẤP CỨU Y TẾ
8.1 Các vấn đề tồn tại và dự báo đến 2020 2
8.2 Mục tiêu: 7
8.3 Chiến lược: 8
8.4 Lộ trình thực hiện chiến lược 23
8.5 Đề xuất một số dự án cần được quốc tế tài trợ về cấp cứu y tế 27
Trang 38 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CẤP CỨU Y TẾ
Chiến lược được soạn thảo với các đề mục chính như sau:
1 Các vấn đề tồn tại về tai nạn giao thông như: định nghĩa về TNGT, số chết và
bị thương do TNGT tại Việt Nam theo thống kê của Bộ Y tế, thiệt hại về kinh tế
xã hội do TNGT gây ra, một số thông tin về tình hình TNGT tại các nước trên thế giới, các bài học kinh nghiệm tại Nhật Bản…
2 Dự báo tình hình TNGT các năm tới, các yếu tố gây tăng TNGT, làm giảm TNGT, dự báo tình hình cấp cứu y tế các năm tới trong đó tập trung vào các yếu tố chủ yếu:
(1) Công tác chăm sóc y tế trước khi được chuyển tới bệnh viện
(2) Chăm sóc, điều trị tại bệnh viện
(3) Đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống cấp cứu nạn nhân TNGT
(4) Công tác thông tin truyền thông cho cộng đồng về cấp cứu nạn nhân (5) Các vấn đề về cấp cứu nạn nhân TNGT nhiều nạn nhân và
(6) Hệ thống bảo hiểm liên quan đến cấp cứu nạn nhân TNGT
(2) Phát triển công tác cấp cứu ban đầu bao gồm:
o Tăng cường hệ thống thông tin cấp cứu y tế
o Tăng cường công tác cấp cứu ban đầu và vận chuyển cấp cứu
o Phát triển hệ thống cấp cứu 115 (3) Đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống cấp cứu
(4) Tổ chức cấp cứu thảm họa và TNGT nhiều nạn nhân một lúc
(5) Phát triển hệ thống bảo hiểm nạn nhân TNGT
5 Lộ trình thực hiện chiến lược: Được chia thành các giai đoạn: từ 2008 đến 2010; từ 2011 đến 2012; từ 2013 đến 2015 và từ 2016 đến 2020 Việc chia giai đoạn này phù hợp với cách chia giai đoạn của kế hoạch tổng thể về ATGT đến năm 2020 Trong mỗi giai đoạn đều chia ra mục tiêu và các hoạt động chủ yếu
6 Đề xuất một số dự án cần được tài trợ quốc tế liên quan đến chiến lược: (1) Các đề án hiện đã và đang được tài trợ quốc tế cần tiếp tục
(2) Dự án đề xuất được JICA tài trợ
Sau đây là nội dung chi tiết của Chiến lược cấp cứu y tế
Trang 48.1 Các vấn đề tồn tại và dự báo đến 2020
1) Tai nạn giao thông
(1) Thực trạng thống kê TNGT quốc gia hiện nay:
- Quyết định số 197/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/12/2001 phê duyệt Chính sách quốc gia Phòng chống tai nạn thương tích giai đoạn
2002-2010 đã nêu là “Các cơ sở y tế, nhất là ở tuyến quận huyện, xã
phường cần đánh giá đúng và chính xác về số lượng những tai nạn,
thương tích, mức độ tai nạn, thương tích thường xảy ra trên địa phương” Thực tế hiện nay, số tai nạn giao thông cũng như số nạn nhân, số
chết, số bị thương do TNGT của nước ta không phản ánh đúng thực tế tình hình và không tương quan với thống kê của các nước trong khu vực và trên thế giới
- Định nghĩa Tai nạn giao thông của Liên Hợp quốc (UN) như sau: “Những tai nạn xẩy ra trên đường hoặc phố dành cho giao thông công cộng mà nó dẫn đến một hoặc nhiều người chết hoặc bị thương và trong đó có ít nhất một phương tiện đang di chuyển có liên quan Vì vậy những tai nạn này bao gồm sự va chạm giữa các phương tiện với nhau, giữa phương tiện với người đi bộ, giữa phương tiện với súc vật hoặc các vật
cố định Tai nạn chỉ có một phương tiện liên quan (không có người sử dụng đường khác) cũng được tính”
- Cách tính và báo cáo tình hình tai nạn giao thông của nước ta hiện nay còn nhiều bất cập: Hầu như chỉ tính số TNGT có người chết (tỷ lệ 89,92%); không tính các trường hợp tự gây ra tai nạn giao thông, tai nạn giao thông
do chất lượng phương tiện (như xe mất phanh đâm xuống vực) mặc dù các trường hợp này gây chết người, thậm chí làm chết nhiều người nhưng vẫn không được tính là TNGT Các trường hợp TNGT trên các tuyến đường nông thôn (liên huyện, liên xã) thường không được cảnh sát lập biên bản
nên cũng không được tính Vì vậy con số thực về TNGT cũng như số nạn nhân TNGT được thống kê báo cáo chỉ khỏang 10% so với thực tế Số chết cũng chỉ bằng 70% số thực tế năm 2006 so với kết quả điều tra
nguyên nhân chết tại 9.483 xã năm 2006 của Bộ Y tế
- Tỷ lệ số chết so với số TNGT của Thái Lan là 16,26%, của Malaysia là 2,41%, của Nhật là 0,72% là phù hợp với thực tiễn vì số TNGT bao giờ cũng lớn hơn nhiều lần số chết do TNGT Trong khi số liệu này của Việt Nam là 89,92% có nghĩa là Việt Nam chỉ thống kê những trường hợp TNGT có người chết (gần 90%) chứ không phải là thống kê toàn bộ số TNGT Tại các nước thì số bị thương do TNGT bao giờ cũng nhiều hơn số chết do TNGT như: Thái Lan: 4,43 lần, Malaysia: 7,29 lần, Nhật: 123 lần trong khi ở Việt Nam thì hai số này gần tương đương nhau: 1,24 lần Điều đó nói lên tính chất không thực tế của các số liệu thống kê hiện nay
Trang 5(2) Số bị thương và chết do TNGT
a) Thực tiễn tại Việt Nam
- Tai nạn giao thông là một loại “thảm họa” do con người gây ra (Man-made disaster) Thống kê của bệnh viện Việt Đức năm 2006 có 19.653 nạn nhân TNGT vào cấp cứu tại bệnh viện, trung bình mỗi ngày có 53 nạn nhân, cứ 26 phút có một nạn nhân vào cấp cứu Theo thống kê của bệnh viện Chợ Rẫy
từ 1/1/2003 đến 31/12/2007 (5 năm) có tổng cộng 139.011 nạn nhân TNGT vào cấp cứu (7.959 người chết do TNGT tại bệnh viện); trung bình mỗi năm
có 27.802 nạn nhân, mỗi ngày có 76 nạn nhân; cứ 19 phút lại có một nạn nhân bị TNGT vào bệnh viện Như vậy là nếu chỉ tính số nạn nhân TNGT vào cấp cứu tại hai bệnh viện trung ương tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cả năm 2006 đã có 47.455 gấp 4,2 lần số bị thương của cả nước được công bố chính thức là 11.286 người Điều cần lưu ý là hầu hết số nạn nhân vào cấp cứu tại hai bệnh viện trung ương nói trên đều là những tai nạn nặng
do các địa phương chuyển về, hầu như không có các vụ va chạm nhẹ
- Số liệu cập nhật TNGT 10 ngày giữa tháng 1 năm 2008 tại bệnh viện Việt Đức (Hà nội) và Chợ Rẫy (thành phố HCM) trung bình mỗi ngày tại hai bệnh viện này đã có 121 nạn nhân TNGT vào cấp cứu (vượt xa số trung bình bị thương do TNGT mỗi ngày năm 2007 vừa công bố là 29 người/ngày (10.546/365 ngày)
- Bộ Y tế thống kê 650 bệnh viện trên cả nước năm 2006 có 140.447 nạn nhân TNGT vào cấp cứu (số công bố chính thức trên báo chí là 11.288) Trung bình mỗi ngày cả nước có 384 nạn nhân TNGT, cứ 4 phút lại có một nạn nhân TNGT vào cấp cứu Con số này vượt xa số vào cấp cứu và chết
do các bệnh truyền nhiễm và thiên tai, thảm họa khác trên cả nước Bộ Y tế
đã thu thập số liệu trong sổ tử vong (sổ A6) tại 9.483 xã trên cả nước thấy nguyên nhân chết do TNGT là 17.829 người1 (cao hơn con số công bố chính thức năm 2006 là 12.757 người chết do TNGT)
Dưới đây là thông tin chi tiết về số nạn nhân TNGT đến cấp cứu tại bệnh viện Việt Đức (Hà Nội) trong thời gian Tết tại Việt Nam (từ 06 đến 12/2/2008) trong đó có tới
526 nạn nhân Số liệu thống kê này đã phân biệt số nạn nhân vào cấp cứu do
TNGT với các loại tai nạn, thương tích khác như tai nạn sinh hoạt, tai nạn lao động
Số chết do TNGT ghi nhận tại bệnh viện chỉ có 1 trường hợp, tuy nhiên có tới 33 trường hợp nạn nhân quá nặng không có khả năng chữa trị được đã xin về chết tại nhà Trong khi đó báo cáo chính thức cả nước được công bố chỉ có 336 người bị thương do TNGT là không thực tế Bộ Y tế khẳng định là không có ghi chép trùng lắp TNGT với các loại tai nạn khác trong báo cáo này
1 Nguồn: Niên giám thống kê y tế năm 2006 – Bộ Y tế
Trang 6Thống kê số nạn nhân vào cấp cứu tại BV Việt Đức Hà Nội trong dịp Tết 2
- Tai nạn sinh hoạt và TN lao động 188 190 101%
1
Chết do tai nạn sinh hoạt và TN lao động 1 4 400%
2
Do tai nạn sinh hoạt và TN lao động 6 7 116,6%
3
- Đến năm 2020, tuy TNGT không còn là vấn đề bức xúc nhất của xã hội nữa nhưng vẫn là một trong 10 bệnh có số mắc và số chết cao nhất của Việt nam cùng với bệnh tim mạch và ung thư giống như mô hình bệnh tật của các nước công nghiệp phát triển Nguyên nhân là do số phương tiện giao thông tiếp tục tăng nhanh cả tại thành thị cũng như nông thôn Nếu Việt nam cố gắng kìm chế được tốc độ gia tăng tai nạn giao thông thành công như năm
2006 thì mỗi năm vẫn có khoảng 170.000 nạn nhân đến cấp cứu tại các cơ
sở y tế Thống kê năm 2006 của Bộ Y tế là 170.900 nạn nhân TNGT vào cấp cứu chiếm tỷ lệ 203,46/100.000 dân và số chết tại bệnh viện do nguyên nhân TNGT khoảng gần 1000 người, chiếm tỷ lệ 1,01/100.000 dân
b) Tình hình TNGT tại Nhật Bản
- Các thống kê về tình hình tai nạn giao thông và số chết do TNGT của Nhật cho biết: Từ năm 1951 Đến năm 1970 TNGT tại Nhật gia tăng tương tự Việt Nam những năm trước 2002 Đến năm 1970 Chính phủ nhận ra tính nghiêm trọng của vấn đề này và thực hiện kiên quyết nhiều giải pháp an toàn giao thông Từ năm 1970 đến 1978 đã giảm được cả số vụ TNGT và số chết do TNGT Tuy nhiên từ 1981 số vụ TNGT lại tiếp tục tăng nhanh (do số phương tiện tham gia giao thông tăng) Tuy nhiên Nhật đã thành công khi giảm được
số chết do TNGT xuống còn khoảng 50 % so với năm 1970 Đây là cơ sở quan trọng để chúng ta tính toán mục tiêu đến năm 2020
- Số thống kê mới nhất năm 2007 về TNGT tại Nhật như sau:
o Số chết do TNGT trong vòng 24 giờ: 5.744 (-9.6% so với 2006)
o Số chết do TNGT trong vòng 30 ngày: 6.639 (- 8.7% so với 2006)
2 (Nguồn: http://www.vietduchospital.edu.vn/ )
Trang 7Sở dĩ giảm được số chết như vậy là do đã tăng cường công tác cấp cứu nạn nhân tại các cơ sở y tế, giảm say xỉn khi lái xe và giảm chạy xe quá tốc độ cho phép.3
TAI N ẠN GIAO THÔNG TẠI NHẬT BẢN 1951 - 2004
B ắt đầu triên khai Chương trình An toàn giao thông
1970
Số vụ TNGT tiếp tục tăng
Số trường hợp chết bắt đàu giảm mạnh
Nguyên nhân của thành công đó là do Nhật đã thực hiện kiên quyết việc cưỡng chế an toàn giao thông, quy định bắt buộc phải thắt dây an tòan (đối với xe ô tô)
và đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông (đối với xe mô tô) Hơn nữa, Nhật cũng đầu tư lớn vào việc bố trí hệ thống thông tin khi có TNGT, các trạm cấp cứu dọc đường giao thông và nâng cao năng lực cấp cứu nạn nhân của các bệnh viện Đó chính là những bài học kinh ngjhiệm mà Việt Nam cần học trong hoạch định chiến lược
c) Các dự báo đến năm 2020 của nhóm nghiên cứu như sau:
- Dự báo 1: Đến năm 2020, số phương tiện giao thông của nước ta sẽ là: 35,62 triệu phương tiện trong đó 2,62 triệu ô tô và 33 triệu mô tô4
- Dự báo 2: Đến năm 2020, số phương tiện giao thông của nước ta sẽ là 52,6 triệu phương tiện tham gia giao thông
Với số lượng phương tiện tham gia giao thông tăng như vậy, việc kìm chế tốc độ gia tăng của tai nạn giao thông và làm giảm số chết do TNGT thực sự là một thách thức lớn đối với đất nước và đối với Ngành Y tế
3 Nguồn: Thống kê của Cục Cảnh sát Nhật Bản do Mr Kobayashi, chuyên gia của JICA cung cấp
4 Nguồn: http://vietnamnet.vn/kinhte/thitruong/2005/10/502269/ trên cơ sở thông tin của Bộ Giao thông
VN và kế hoạch phát triển công nghiệp mô tô xe máy Việt Nam 2006-2015 và tầm nhìn 2020 Hội thảo ngày 22-01-2008 tại Hà Nội
Trang 82) Tổn thất về kinh tế xã hội do TNGT đường bộ gây ra
Năm 2004, ADB hỗ trợ kinh phí cho chương trình an toàn cho khu vực được thực hiện do một nhóm tác giả Việt Nam và quốc tế đã sử dụng phương pháp tính thiệt hại theo tổng thu nhập quốc dân để tính toán những tổn thất do TNGT gây ra Theo báo cáo thì số thiệt hại về kinh tế do TNGT gây ra năm 2002, 2003 khoảng 885
triệu USD, chiếm 2,45% tổng thu nhập quốc dân thời gian đó
3) Chăm sóc y tế trước khi đến bệnh viện
(1) Công tác y tế và hệ thống thông tin cấp cứu:
- Các thông tin về cấp cứu còn chậm, không đáp ứng được nhu cầu về
“thời gian vàng” trong cấp cứu chấn thương
- Cấp cứu tại hiện trường còn thấp, phần lớn do cộng đồng thực hiện
- Đánh giá kỹ thuật cấp cứu ban đầu cho thấy: 34,8% không được xử trí cấp cứu và 65,2% có được xử trí cấp cứu Các xử trí thông thường chỉ đạt yêu cầu về chuyên môn dưới 50%
(2) Hệ thống vận chuyển cấp cứu nạn nhân
- Nhiều nạn nhân không được vận chuyển đến bệnh viện bằng các xe cấp cứu chuyên dụng mà bằng các phương tiện khác như xe taxi, xe ôm hoặc thậm chí bằng cả xe tải do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân do thiếu xe cấp cứu
4) Chăm sóc y tế tại các bệnh viện
- Ngành Y tế sẽ được đầu tư tốt hơn về trang thiết bị và nâng cấp về chuyên môn kỹ thuật, các Trung tâm y tế chuyên sâu được hình thành trên các vùng, miền sẽ tiếp nhận cấp cứu nạn nhân tốt hơn Các bệnh viện tuyến huyện được nâng cấp có khả năng xử trí tại chỗ các trường hợp TNGT mà không phải chuyển lên tuyến trên
- Hệ thống bệnh viện tư nhân phát triển mạnh không chỉ tập trung tại các
đô thị mà còn phát triển đến các huyện tại các địa bàn kinh tế trọng điểm Các bệnh viện tư sẽ được trang bị hiện đại, có cán bộ chuyên môn chất lượng cao đóng vai trò tích cực trong việc cấp cứu, điều trị nạn nhân TNGT
5) Đào tạo nguồn nhân lực cho cấp cứu nạn nhân TNGT
- Nhu cầu đào tạo về cấp cứu hồi sức của các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện rất lớn Hiện nay hầu hết các Trường đại học Y chỉ đào tạo bác sỹ
đa khoa Trong vòng 5-10 năm tới sẽ tăng cường đào tạo chuyên khoa
về hồi sức cấp cứu để bố trí công tác tại các Trung tâm 115, các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện
Trang 96) Truyền thông cho cộng đồng và học sinh các trường
(1) Qua điều tra nghiên cứu tại các địa phương của Bộ Y tế cho thấy gần 70% nạn nhân nhận được cấp cứu ban đầu của cộng đồng, 15% của cán bộ y tế
7) Thảm họa và tai nạn gây chấn thương hàng loạt
(1) Tai nạn giao thông đối với xe khách là phương tiện chở nhiều người nên hậu quả xẩy ra rất nghiêm trọng Tuy nhiên hiện nay các khu vực thu dung phân loại, hồi sức cấp cứu, phòng mổ chỉ đủ khả năng cấp cứu cho khoảng 20 nạn nhân Trường hợp nạn nhân đến cùng một lúc trên 50 người do tai nạn thì gây lúng túng trong tiếp nhận, phân loại, điều trị và làm rối loạn các hoạt động bình thường của các bệnh viện
(2) Các kiến thức cần thiết đối phó với tình huống tai nạn giao thông có nhiều nạn nhân nói chung còn yếu; phần lớn chưa được đào tạo bài bản, chỉ dựa vào kinh nghiệm hoặc hướng dẫn từ khi còn học đại học Một số kiến thức còn yếu là: giải quyết nạn nhân tại hiện trường, phân loại nạn nhân, phân công người chỉ huy, phát ngôn với báo chí và bảo vệ bệnh viện để các thầy thuốc tập trung vào công tác cấp cứu nạn nhân
8) Hệ thống bảo hiểm tai nạn thương tích
- Hiện nay việc bắt buộc mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người tham gia giao thông chưa được thực hiện rộng rãi Thời gian tới, Nhà nước sẽ thực hiện và kiểm tra việc mua loại hình bảo hiểm này Khuyến khích các loại hình bảo hiểm tự nguyện khác như bảo hiểm tai nạn thương tích cho học sinh, sinh viên tại các trường học, bảo hiểm tai nạn cho công nhân…
8.2 Mục tiêu
1) Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020 sẽ đạt được:
Giảm 50% số nạn nhân tai nạn giao thông chết tại các cơ sở y tế so với năm
2007 do được thông tin sớm, được cấp cứu và vận chuyển kịp thời bằng xe chuyên dụng đến các cơ sở y tế nhà nước, tư nhân và lực lượng vũ trang Các bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố có đủ trang thiết bị cần thiết và cán bộ chuyên môn có trình độ cao; hình thành hệ thống đào tạo chuyên sâu về cấp cứu tai nạn thương tích và phục hồi chức năng cho nạn nhân sau khi được cấp cứu, điều trị tại các bệnh viện
Trang 102) Mục tiêu cụ thể
a) Giảm số chết do TNGT tại các bệnh mỗi năm 5%, từng bước phấn đấu đến năm 2020 giảm số chết do TNGT tại các bệnh viện xuống còn 50% so với năm 2007 (dưới 0,6/100.000 dân)
b) Tăng cường công tác cấp cứu trước khi đến bệnh viện: Thực hiện phương châm “4 tại chỗ” để cấp cứu nạn nhân ngay tại hiện trường, xử lý sớm và đúng phác đồ chuyên môn, nhân dân tham gia nhiều hơn và hiệu quả hơn trong cấp cứu ban đầu và vận chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế tại những nơi
có nhiều khó khăn Có nơi cấp cứu tại các điểm dừng dọc đường quốc lộ và tại các nhà ga đường sắt để cấp cứu hành khách và nạn nhân TNGT
c) Phát triển hệ thống cấp cứu 115: Hệ thống cấp cứu 115 bao phủ hết các tỉnh, thành phố trong cả nước nhờ kết hợp y tế công lập, tư nhân và lực lượng vũ trang Các bệnh viện quận, huyện có đội cấp cứu ngoại viện được trang bị xe cấp cứu chuyên dụng đáp ứng nhu cầu cấp cứu bệnh nhân và nạn nhân TNGT
d) Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho cấp cứu y tế: Hệ thống đào tạo chuyên sâu về cấp cứu y tế được thiết lập tại các trường đào tạo cán bộ y tế
để cập nhật kiến thức chuyên môn cho cán bộ y tế làm công tác cấp cứu nạn nhân TNGT, đào tạo cho cán bộ y tế cơ sở để tập huấn lại cho cộng đồng e) Tăng cường năng lực cấp cứu TNGT có nhiều nạn nhân: 100% các bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố được nâng cấp trang thiết bị và cán bộ chuyên môn có đủ năng lực tiếp nhận các trường hợp tai nạn giao thông có từ 20 đến trên 50 nạn nhân; bệnh viện tuyến huyện đủ năng lực tiếp nhận các trường hợp tai nạn giao thông có dưới 20 nạn nhân
b Mục c, phần 1 Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm: “Ban hành chương trình giáo dục trật tự an toàn giao thông phù hợp trong nhà trường, tăng thời lượng giảng dạy chính khóa, các hoạt động ngoại khóa
về trật tự an toàn giao thông Thực hiện chương trình giảng dạy trật tự
an toàn giao thông mới từ niên học 2008 - 2009 ở tất cả các cấp học; quy định việc đánh giá đạo đức đối với học sinh, sinh viên vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông…”
Trang 11(2) Quyết định số 197/2001/QĐ-TTg ngày 27/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chính sách quốc gia Phòng chống tai nạn thương tích giai đoạn 2002-2010:
a Phần 1: Mục tiêu nêu rõ: “Đến năm 2005, số người chết do tai nạn giao thông giảm từ 14 người xuống còn 11 người /10.000 phương tiện và đến năm 2010, xuống còn 9 người /10.000 phương tiện” (Nếu tính theo dự báo (1) đến 2020 có 35,62 triệu phương tiện tham gia giao thông thì số chết do TNGT sẽ là 32.058 hoặc theo dự báo (2) có 52,6 triệu phương tiện tham gia giao thông thì số chết do TNGT sẽ là 47.340 đều cao hơn gấp 2,5 đến 3 lần số chết được công bố 2007
b Phần 2: Những giải pháp, mục g) nêu rõ:
- “Ngành y tế phải có sự chuẩn bị đầy đủ, chu đáo nguồn lực bao gồm phương tiện, thuốc và nhân lực để cấp cứu kịp thời nạn nhân, tổ chức tốt việc cứu chữa, phục hồi chức năng”
- “Tổ chức hệ thống cấp cứu ở những địa bàn cần thiết để có thể đưa người bị nạn vào các cơ sở cấp cứu nhanh nhất, an toàn nhất Các
cơ sở y tế, nhất là ở tuyến quận huyện, xã phường cần đánh giá đúng và chính xác về số lượng những tai nạn, thương tích, mức
độ tai nạn, thương tích thường xảy ra trên địa phương, những phương tiện, thuốc men thường phải được sử dụng để chủ động chuẩn bị và chủ động về nhân lực cứu chữa nạn nhân kịp thời, có hiệu quả Các cơ sở y tế từ trạm y tế xã, phường đến các bệnh viện
ở gần các trục đường giao thông quan trọng được trang bị phương tiện đầy đủ hơn, các cán bộ y tế đựợc đào tạo kỹ hơn về năng lực cấp cứu nạn nhân Tổ chức huấn luyện các nhân viên y tế thôn bản
và nhân dân trên địa bàn kỹ năng sơ cứu người bị nạn”
- “Tăng cường năng lực của các bệnh viện tuyến huyện , tuyến tỉnh , tuyến trung ương trong việc cấp cứu nạn nhân, đặc biệt chú ý với những ca nặng Tổ chức tốt việc cứu chữa và phục hồi chức năng”
c Mục 3: Tổ chức thực hiện, phần b nêu rõ:
- “Bộ Y tế chủ trì , phối hợp với các Bộ ngành liên quan chỉ đạo tổ chức việc cứu chữa nạn nhân, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng cho người bị nạn; chủ trì và phối hợp theo dõi, tổng hợp, phân loại các tai nạn, thương tích xảy ra; chịu trách nhiệm chính và phối hợp với các Bộ, ngành khác và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đi sâu vào việc phòng, chống tai nạn, thương tích để xây dựng mô hình những tỉnh, thành, huyện, thị, xã, phường, trường học thành những cộng đồng an toàn, tổng kết những kinh nghiệm để mở rộng xây dựng cộng đồng dân cư an toàn trong phạm
vi toàn quốc”
- “Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thực hiện chương trình sức khỏe học đường, trong đó có nội dung phòng, chống tai nạn, thương tích; xây dựng nhà trường an
Trang 12toàn, biên soạn tài liệu giáo dục về phòng, chống tai nạn, thương tích trong nhà trường.”
(3) Chỉ thị số 04 /2007/CT-BYT ngày 08/11/2007 của Bộ Y tế về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ về một
số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông đã nêu ra một số nhiệm vụ cụ thể như sau:
a Quy định việc thành lập các trạm cấp cứu tai nạn giao thông trên các quốc lộ; Tiêu chuẩn về trang thiết bị, kiến thức và kỹ năng của nhân viên
y tế trong chăm sóc chấn thương thiết yếu
b Chỉ đạo các Sở Y tế xây dựng mạng lưới các trạm cấp cứu, các bệnh viện nhằm kịp thời cứu chữa nạn nhân bị tai nạn giao thông trên các quốc lộ trọng điểm Thống kê, báo cáo tình hình tai nạn thương tích tại các cơ sở y tế theo qui định, tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng ghi chép thống kê báo cáo các trường hợp mắc và tử vong do tai nạn giao thông
c Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập bản đồ mạng lưới cấp cứu tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh: quy định địa bàn của từng
cơ sở y tế dọc trên tuyến quốc lộ chịu trách nhiệm cấp cứu tai nạn giao thông;
d Rà soát lại quy hoạch và thực trạng trung tâm vận chuyển cấp cứu 115
để bổ sung các trạm, chốt và trang thiết bị cho trung tâm vận chuyển cấp cứu 115 và các cơ sở y tế trên các quốc lộ trọng điểm và nơi có nguy cơ tai nạn giao thông cao
e Tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến kiến thức và huấn luyện kỹ năng sơ cứu, cấp cứu tai nạn giao thông cho đội ngũ cộng tác viên tại các trạm, chốt cấp cứu và các đối tượng liên quan đến cứu hộ, cứu nạn và giải quyết tai nạn giao thông;
(4) Quy chế cấp cứu mới được ban hành theo Quyết định số 01/2008/QĐ-BYT ngày 21/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế (Nhiều nội dung đã được đưa vào chiến lược này)
(5) Đề án tăng cường đảm bảo trật tự ATGT quốc gia đến năm 2010 của Bộ Giao thông năm 2007
a Mục 2.1.2 "Mục tiêu" nêu rõ: số người chết trên 10.000 phương tiện cơ giới đường bộ giảm từ 6,5 xuống còn 4,5 vào năm 2010
b Mục 2.10.2 “dịch vụ y tế cấp cứu” có nội dung như sau:
- Nâng cao năng lực của các Trung tâm cấp cứu
- Quy hoạch và xây dựng các trạm y tế cấp cứu dọc quốc lộ quan trọng
- Xây dựng hệ thống thông tin cấp cứuTNGT trên các tuyến quốc lộ
Trang 13- Đầu tư cung cấp các trang thiết bị y tế cơ bản bắt buộc phải có đối với các Khoa cấp cứu của các bệnh viện trung ương và bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố, trạm y tế trên các tuyến quốc lộ
- Đào tạo nghiệp vụ cấp cứu cho nhân viên y tế, tuyên truyền phổ biến cho người dân sống dọc theo các tuyến quốc lộ, lái xe về những kiến thức cấp cứu cơ bản trong sơ cứu TNGT
- Củng cố các Trung tâm cấp cứu 115 tại các tỉnh, thành phố Quy hoạch và xây dựng hệ thống trạm sơ cứu TNGT trên mạng đường sắt để cấp cứu cho nạn nhân bị tai nạn đường sắt
2) Phát triển hệ thống cấp cứu trước khi đưa đến bệnh viện
(1) Tăng cường hệ thống thông tin cấp cứu y tế
a Thời gian trong cấp cứu nói chung và trong cấp cứu tai nạn giao thông nói riêng có vai trò quyết định đến chất lượng cấp cứu Giới hạn “thời gian vàng” trong cấp cứu TNGT là trong 1 giờ đầu, nếu để quá giới hạn này sẽ gây ra các biến chứng phức tạp, đôi khi quyết định đến cả tính mạng bệnh nhân và khả năng phục hồi chức năng sau điều trị
b Phương tiện thông tin: Ngày nay hệ thống thông tin cố định và di động
dã được trải rộng hầu khắp đất nước Tuy nhiên do cơ chế chính sách,
do cấu tạo của mạng thông tin dẫn đến tình trạng nhân dân không thể gọi được đến các cơ sở y tế khi phát hiện có nạn nhân tai nạn giao thông Để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhân dân thông tin đến các cơ
sở y tế, xin đề xuất các giải pháp sau:
- Thống nhất trên cả nước mã thông tin cấp cứu là 115 Ngành Bưu chính - Viễn Thông tổ chức sao cho người dân có thể gọi số 115 miễn phí tại bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Hệ thống tự động của bưu điện sẽ kết nối ngay với cấp cứu y tế của bệnh viện huyện gần nhất (có thể khác địa giới hành chính)
- Tổ chức các điểm gọi điện thoại công cộng trên dọc các tuyến đường giao thông, có dấu hiệu để mọi người tham gia giao thông đều biết Các hộp điện thoại này chỉ có một nút bấm duy nhất, gọi được cho cảnh sát giao thông và 115 để đồng thời cả cảnh sát giao thông và y
tế đều nắm được thông tin để đến hiện trường xử lý (nếu là cảnh sát)
và cấp cứu nạn nhân (nếu là y tế) Có biện pháp thông tin, tuyên truyền và giao cho chính quyền địa phương vận động nhân dân tham gia bảo vệ và sử dụng đúng hệ thống thông tin này
- UBND các tỉnh, huyện có văn bản giao nhiệm vụ cho hệ thống cảnh sát giao thông và hệ thống y tế phải kịp thời đáp ứng khi nhận được các thông tin về tai nạn giao thông; phải kịp thời xử lí ngay, không phân biệt địa bàn lãnh thổ Thí dụ năm 2005, cả hệ thống cấp cứu của Đà Nẵng và Huế đều được huy động và tham gia tích cực trong cấp cứu hàng trăm nạn nhân bị đổ tầu thống nhất tại Lăng Cô (Huế)
Trang 14- Hiện nay các nhà khoa học Việt Nam đã thiết kế được hệ thống định
vị vệ tinh và đã phóng được vệ tinh viễn thông riêng Nhờ đó có thể xác định được vị trí chính xác của phương tiện giao thông Cần đầu
tư để từng bước đưa vào sử dụng, trước hết là cho ô tô Việc áp dụng này sẽ giúp xác định ngay vị trí nơi xẩy ra tai nạn để công tác tìm kiếm, cấp cứu nạn nhân được nhanh chóng
- Tăng cường hệ thống thông tin, chỉ huy hiện đại để khắc phục hậu quả tai nạn giao thông: Tại các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà nẵng, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh… nghiên cứu sớm đưa hệ thống điều hành thông tin cấp cứu đô thị bằng bản đồ số và
hệ thống điều hành trung tâm như các đô thị lớn trên thế giới để từng bước tiếp cận và theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới
(2) Cấp cứu và vận chuyển cấp cứu
a Theo thống kê hiện nay có tới 30,16% số nạn nhân tai nạn giao thông được chuyển ngay đến các bệnh viện mà không được xử trí cấp cứu ban đầu tại hiện trường Tình trạng này đã làm tăng nguy cơ tử vong, làm nặng thêm và để lại nhiều di chứng cho nạn nhân sau điều trị Vì vậy việc tăng cường năng lực cấp cứu ngay tại hiện trường có vai trò đặc biệt quan trọng Cần thực hiện phương châm “4 tại chỗ” là chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ đối với cấp cứu nạn nhân TNGT
b Thực tế hiện nay chỉ có 37,55% nạn nhân được vận chuyển đến bệnh viện bằng xe cấp cứu chuyên dụng, còn lại được vận chụyển bằng các phương tiện giao thông khác không có đủ phương tiện cấp cứu, vận chuyển không đúng cách, không được xử trí ban đầu đã làm tăng nguy
cơ tử vong hoặc trầm trọng hơn các thương tích ban đầu Để làm tốt hơn cần thực hiện các khuyến cáo sau đây:
- Các bệnh viện tuyến huyện, nhất là ở những nơi thường xuyên hay xẩy ra tai nạn giao thông nghiêm trọng cần được trang bị ít nhất 2 xe
ô tô cấp cứu có đú thiết bị chuyên môn sẵn sàng vận chuyển nạn nhân tai nạn giao thông
- Trường hợp ở xa cơ sở y tế, không liên lạc được do thiếu phương tiện thông tin có thể vận chuyển bằng các phưong tiện khác nhưng cần đảm bảo vận chuyển đúng cách và được sơ cứu ban đầu trước khi vận chuyển Có phương án kết hợp quân – dân y trong cấp cứu nạn nhân TNGT Trường hợp có nhiều nạn nhân lại xa cơ sở y tế, đường vận chuyển khó khăn thì có thể thiết lập đội điều trị dã chiến
để cấp cứu nạn nhân, khi ổn định mới chuyển đến cơ sở y tế tuyến cao hơn
- Ngành đường sắt cần bố trí nơi cấp cứu và phương tiện vận chuyển nạn nhân đến các cơ sở y tế, nhất là đối với các cung đường nằm xa khu dân cư và cơ sở y tế
Trang 15c Tăng cường năng lực cấp cứu cho cán bộ y tế cơ sở:
- Cán bộ y tế cơ sở (Huyện, xã) là nơi tiếp xúc sớm nhất đối với nạn nhân tai nạn giao thông Cán bộ y tế phải thành thạo các kỹ thuật cấp cứu cơ bản nhất như: cầm máu, băng bó, cố định gẫy xương, hồi sức ban đầu và vận chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế
- Sẵn sàng các phương tiện, thuốc cấp cứu, các đội cấp cứu lưu động
để khi cần có thể triển khai hoạt động được ngay
- Thường xuyên thực tập, diễn tập các tình huống cấp cứu nạn nhân trên địa bàn để khi xẩy ra tai nạn giao thông có thể cấp cứu nạn nhân kịp thời
- Có kế hoạch phối hợp với y tế tuyến trên (tuyến tỉnh, thành phố) để yêu cầu chi viện khi có tình huống tai nạn giao thông nghiêm trọng có nhiều nạn nhân hoặc tình trạng nạn nhân vượt quá khả năng của tuyến cơ sở
(3) Phát triển hệ thống cấp cứu 115
a Hiện nay, hệ thống cấp cứu 115 chủ yếu làm nhiệm vụ cấp cứu các bệnh thông thường, số nạn nhân TNGT được vận chuyển, cấp cứu bằng 115 còn thấp, chỉ chiếm khoảng 10 - 15% số nạn nhân TNGT đến các cơ sở
y tế Nhiều trường hợp bệnh cấp cứu kể cả nạn nhân TNGT phải vận chuyển bằng các phương tiện không đảm bảo chuyên môn dễ gây biến chứng hoặc tử vong trước khi đến bệnh viện Để khắc phục cần tập trung vào các trọng tâm sau đây:
- Hệ thống vận chuyển cấp cứu 115 hiện chỉ còn tồn tại tại các tỉnh, thành phố lớn Nhiều địa phương đã giải thể các Trạm vận chuyển cấp cứu 115, gắn với các bệnh viện tỉnh để tăng hiệu suất sử dụng phương tiện ô tô cấp cứu
- Khi kinh tế xã hội phát triển thì nhu cầu cấp cứu ban đầu cho trẻ nhỏ, người già ngày càng cao Hệ thống vận chuyển cấp cứu 115 không chỉ làm nhiệm vụ cấp cứu TNGT mà còn rất cần thiết để cấp cứu các bệnh khác Theo cơ chế thị trường, nhân dân sẵn sàng chi trả chi phí cấp cứu và vận chuyển cấp cứu đến các bệnh viện vì nếu đi bằng các phương tiện khác như xe taxi nhân dân vẫn phải trả tiền mà không được hỗ trợ kỹ thuật từ cán bộ y tế
b Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 01/2008/QD-BYT ngày 21/01/2008
về việc ban hành quy chế cấp cứu, hồi sức tích cực và chống độc trong
đó đã có quy định rõ về hệ thống cấp cứu ngoài bệnh viện như sau:
- Tại tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Trung tâm cấp cứu ngoài bệnh viện (Trung tâm cấp cứu 115) Trung tâm này là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Sở Y tế Đối với các địa phương chưa có điều kiện thành lập trung tâm cấp cứu 115, trước mắt thành lập Tổ cấp cứu 115 thuộc bệnh viện đa khoa tỉnh Bệnh viện tuyến