Ngày nay những tác động xấu do hoạt động của con người đến môi trường nước với hậu quả là tình trạng chất lượng nước bị suy thoái, các dạng ô nhiễm đều xuất hiện nhất là ô nhiễm vi sinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC CỦA SUỐI NGỌC TUYỀN ĐOẠN CHẢY QUA ĐỘNG NHỊ THANH, PHƯỜNG TAM THANH, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC CỦA SUỐI NGỌC TUYỀN ĐOẠN CHẢY QUA ĐỘNG NHỊ THANH, PHƯỜNG TAM THANH, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
MÃ SỐ : 60.44.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS CAO VIỆT HÀ
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn đã chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Cao Việt Hà, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Với những lời chỉ dẫn, những tài liệu, sự tận tình hướng dẫn và những lời động viên của Cô đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy chương trình cao học
“Khoa học Môi trường” đã truyền dạy những kiến thức quý báu, những kiến thức này rất hữu ích và giúp tôi nhiều khi thực hiện nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin cám ơn về những góp ý có ý nghĩa rất lớn khi tôi thực hiện đề cương nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Yêu cầu nghiên cứu 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tầm quan trọng của nước 3
1.1.1 Tầm quan trọng của nước đối với con người 3
1.1.2 Tầm quan trọng của nước đối với động thực vật 3
1.1.3 Tầm quan trọng của nước đối với hoạt động du lịch 3
1.2 Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới và Việt Nam 4
1.2.1 Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới 4
1.2.2 Tình hình ô nhiễm nước tại Việt Nam 8
1.2.3 Tác động của du lịch tới môi trường nước 11
1.2.4 Các nguồn gây ô nhiễm nước 14
1.3 Các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt 16
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
Trang 62.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 23
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 23
2.2 Nội dung nghiên cứu: 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu: 23
2.3.1 Nhóm phương pháp điều tra thực địa 23
2.3.2 Nhóm phương pháp xử lý số liệu, phân tích trong phòng thí nghiệm 25
2.3.3 Nhóm phương pháp kế thừa số liệu sẵn có 26
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Điều kiện tự nhiện – kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 27
3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 27
3.1.2 Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội 34
3.1.3 Tình hình và ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến chất lượng nước suối Ngọc Tuyền 35
3.2 Đánh giá các nguồn thải của khu dân cư có ảnh hưởng đến chất lượng nước suối Ngọc Tuyền 36
3.2.1 Các nguồn thải từ khu dân cư thải vào suối Ngọc Tuyền 36
3.2.2 Đặc trưng nguồn thải tác động đến nước suối Ngọc Tuyền 39
3.3 Đánh giá hiện trạng chất lượng nước suối Ngọc Tuyền 40
3.3.1 Chất lượng nước suối ngọc tuyền tại thời điểm không có lễ hội 41
3.3.2 Chất lượng nước suối ngọc tuyền tại thời điểm có lễ hội 46
3.3.3 Đánh giá biến động chất lượng nước suối Ngọc Tuyền theo không gian và thời gian 49
3.4 Hiện trạng các giải pháp quản lý môi trường đang được áp dụng đối với suối Ngọc Tuyền 58
3.5 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước suối Ngọc Tuyền vùng nghiên cứu 59
Trang 73.5.1 Quy hoạch hoạt động du lịch 59
3.5.2 Tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường của người dân trong khu vực và du khách 61
3.5.3 Xử lý ô nhiễm suối Ngọc Tuyền 63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BOD Nhu cầu oxy sinh học BTCT Bê tông cốt thép BTNMT Bộ Tài nguyên Môi trường COD Nhu cầu oxy hóa học
DO Hàm lượng oxy hòa tan
KT - XH Kinh tế - Xã hội QCVN Quy chuẩn Việt Nam
QĐ Quyết định TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam TDS Tổng chất rắn
UBND Ủy ban nhân dân WHO Tổ chức y tế thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 1.1 Tình hình chất lượng nước trên thế giới 5
Bảng 2.1 Phương pháp phân tích mẫu nước 25
Bảng 3.1 Đặc điểm của trạm khí tượng thủy văn Lạng Sơn 30
Bảng 3.2: Diễn biến nhiệt độ không khí năm 2013 tại Lạng Sơn (0C) 31
Bảng 3.3: Độ ẩm không khí tương đối trung bình tháng (%) 31
Bảng 3.4 Tốc độ gió trung bình tháng trạm Lạng Sơn (m/s) 32
Bảng 3.5 Lượng mưa tại trạm Lạng Sơn (mm) 32
Bảng 3.6 Lượng bốc hơi đo bằng ống Piche tại trạm Lạng Sơn (%) 33
Bảng 3.7 Kết quả phân tích tháng 11/2013, 01/2014 và 07/2014 42
Bảng 3.8 Kết quả phân tích tháng 03 năm 2014 47
Trang 10DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
STT TÊN HÌNH TRANG
Hình 1.1 Sông Đồng Nai tại hợp lưu suối Linh 11
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí nghiên cứu 28
Biểu đồ 3.1 Biến động hàm lượng DO tại điểm nghiên cứu 51
Biểu đồ 3.2 Biến động hàm lượng TSS tại điểm nghiên cứu 52
Biểu đồ 3.3 Biến động hàm lượng COD tại điểm nghiên cứu 53
Biểu đồ 3.4 Biến động hàm lượng BOD5 tại điểm nghiên cứu 54
Biểu đồ 3.5 Biến động hàm lượng (NH+ 4) tại điểm nghiên cứu 55
Biểu đồ 3.6 Biến động hàm lượng Phosphat tại điểm nghiên cứu 56
Biểu đồ 3.7 Biến động hàm lượng Coliform tại điểm nghiên cứu 57
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khu Danh lam thắng cảnh Nhị Thanh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
có nhiều hang động kỳ thú nằm trong quần thể danh lam thắng cảnh: Chùa Tam Thanh, núi Tô Thị, Thành nhà Mạc Tổng diện tích của khu thắng cảnh Nhị - Tam Thanh là 34,73 ha, đã được xếp hạng di tích Quốc gia từ năm 1962
Điểm đặc biệt nhất của khu danh thắng là động Nhị Thanh với cảnh đẹp thiên tạo trong động có suối Ngọc Tuyền chảy uốn lượn bên trong lòng động với chiều dài khoảng 364 m Giữa động có cửa Thông Thiên tỏa ánh sáng mặt trời rọi xuống dòng nước, trong động còn có Chùa Tam Giáo (Tam Giáo tự), thờ Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo Đỉnh vòm động có tượng Ngô Thì Sĩ (Đốc trấn Lạng Sơn năm 1777) và là người có công phát hiện ra động Nhị Thanh từ năm 1779 Trên các vách đá của động đều có lưu bút tích của các thế hệ danh nhân, trong đó có nhiều văn bia có giá trị là nguồn tư liệu quý giá Hàng năm quần thể Danh lam thắng cảnh Nhị Thanh đã thu hút hàng nghìn lượt khách trong nước và du khách nước ngoài đến tham quan
Tuy nhiên, trong những năm gần đây do tốc độ đô thị hóa nhanh của thành phố Lạng Sơn đã có những tác động tới khu Danh lam thắng cảnh trong
đó có động Nhị Thanh và thể hiện ở đây là việc lấn chiếm đất khu danh lam thắng cảnh của người dân khu vực, lấn chiếm lòng suối Ngọc Tuyền làm cản trở dòng chảy từ cửa động Tam Thanh đến cửa sau động Nhị Thanh và đặc biệt hơn cả là việc thải nước thải không qua xử lý vào dòng suối Ngọc Tuyền Chính vì vậy, trong hai năm gần đây nước suối Ngọc Tuyền trong động Nhị Thanh vào mùa khô có màu đen sẫm, bốc mùi khó chịu, vào mùa mưa nước dồn về làm ngập úng, kéo theo rác rưởi, bùn đất trôi vào trong hang động Để ngăn rác thải rắn, bùn đất không chảy theo nước suối Ngọc Tuyền vào hang động Nhị Thanh, Ban quản lý khu di tích tỉnh Lạng Sơn đã xây dựng 01 bể
Trang 122001 nhưng chưa áp dụng công nghệ nào để xử lý nước suối Ngọc Tuyền nên đến nay vẫn chưa xử lý được tình trạng ô nhiễm cho nước suối Ngọc Tuyền đoạn chảy qua động Nhị Thanh
Suối Ngọc Tuyền có vai trò vô cùng quan trọng trong quần thể danh thắng Nhị - Tam Thanh Mục đích sử dụng nước của suối Ngọc Tuyền là phục
vụ cho du lịch tâm linh, bảo tồn động thực vật thủy sinh Tại Lạng Sơn chưa
có đề tài nào thực hiện về nội dung đánh giá chất lượng nước suối Ngọc Tuyền và đưa ra biện pháp xử lý cho vấn đề này
Từ những nội dung nêu trên, việc lựa chọn đề tài “Đánh giá thực trạng
và đề xuất hướng cải thiện chất lượng nước của suối Ngọc Tuyền đoạn chảy qua động Nhị Thanh, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn” là cần thiết
2.2 Yêu cầu nghiên cứu
- Xác định được các yếu tố tự nhiên - kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến
chất lượng nước suối Ngọc Tuyền
- Xác định được các hoạt động của người dân (như: sinh hoạt, sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ…) và hoạt động du lịch tại khu danh thắng Nhị Thanh có ảnh hưởng đến chất lượng nước suối Ngọc Tuyền
- Đưa ra hướng cải thiện chất lượng nước của suối Ngọc Tuyền đoạn chảy qua khu danh lam thắng cảnh Nhị Thanh, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn phải có tính khả thi và phù hợp với tình hình thực tế
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tầm quan trọng của nước
1.1.1 Tầm quan trọng của nước đối với con người
Nước là một loại tài nguyên quý giá và được coi là vĩnh cửu Không có nước thì không có sự sống trên hành tinh của chúng ta Nước là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh, kinh tế của con người Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ điện, giao thông vận tải, nuôi trồng thuỷ sản… Do tính chất quan trọng của nước như vậy nên UNESCO lấy ngày 22/3 hàng năm làm ngày Nước Thế giới
Nước là trung tâm của cuộc sống Điều này lý giải tại sao không ai có thể sống hơn 3 đến 5 ngày mà không có bất kỳ lượng nước uống vào
1.1.2 Tầm quan trọng của nước đối với động thực vật
Trong đời sống nước nuôi sống thực vật và sinh động vật cung cấp chất thực phẩm dinh dưỡng, thuốc men cho con người và các nguyên vật liệu chế tác các đồ dùng, tạo ra rừng xanh, sông rộng, biển cả bao la, tạo môi trường xanh mát che chở cho con người
Đối với môi trường tự nhiên nước tạo ra vòng tuần hoàn “ mưa – nước ngọt – nuớc biển – mưa” để duy trì sự sống và phát triển muôn loài, điều hòa khí hậu toàn cầu tránh những tổn hại nguy hiểm khi nhiệt độ thay đổi quá nhanh giữa ngày và đêm
Với tầm quan trọng của nước sạch nói riêng và nước nói chung, mọi người trong chúng ta cần trân trọng, bảo vệ nguồn nước, xử lý nguồn nước thải trước khi trả lại môi trường
Trang 14Nguồn nước sạch có vai trò rất quan trọng trong hoạt động du lịch, từ khách sạn, nhà hàng cho đến các khu vui chơi giải trí và giao thông vận tải Quan trọng hơn, du lịch ở các điểm gắn với tài nguyên nước như tại các hang động, sông suối ngày càng phát triển Nhiểu bãi biển, hồ và điểm du lịch gắn với nguồn tài nguyên nước đã trở thành các điểm đến nổi tiếng trên thế giới
Du lịch là một trong những ngành kinh tế lớn trên thế giới, trách nhiệm của ngành Du lịch dẫn dắt và đảm bảo các doanh nghiệp và các điểm đến có đầu tư xứng đáng cho công tác quản lý nguồn nước trong chuỗi giá trị Nếu được quản lý bền vững, du lịch có thể mang lại lợi ích cho quốc gia, các cộng đồng địa phương và hỗ trợ bảo tồn tài nguyên nước
Hang động Việt Nam bao gồm hệ thống các hang và các động trên địa bàn Việt Nam, chủ yếu nằm ở nửa phía bắc của đất nước này do tập trung nhiều dãy núi đá vôi Hang thường được hiểu là khoảng trống sâu tự nhiên hay được đào vào trong đất, trong đá còn động là hang rộng ăn sâu vào trong núi Hệ thống hang động ở Việt Nam thường là các hang động nằm trong các vùng núi đá vôi có kiểu địa hình karst rất phát triển Ba di sản thiên nhiên thế giới của Việt Nam là vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
và quần thể danh thắng Tràng An đều là những danh thắng có những hang động nổi tiếng Đặc biệt rất nhiều hang động ở Việt Nam có những mạch sông suốt gầm chảy xuyên qua vung núi đá vôi và thông với hệ thống sông suối bên ngoài Nhiều hang động ở Việt Nam có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ và rất kỳ
ảo, có sức hấp dẫn đặc biệt với khách du lịch Bên cạnh những vẻ đẹp tự nhiên do tạo hóa sinh ra, các hang động còn chứa đựng những di tích khảo cổ học, những di tích lịch sử - văn hóa rất đặc sắc của dân tộc nên càng có giá trị
để phát triển du lịch
1.2 Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới
Trang 15Mặc dù nước là yếu tố để duy trì cuộc sống, nhưng trong quá trình hoạt động của mình, con người đã gây ra những tác động xấu đến chất lượng nước Cùng với quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá, ô nhiễm nước và suy thoái chất lượng nước ngày càng trở nên trầm trọng Ngày nay những tác động xấu
do hoạt động của con người đến môi trường nước với hậu quả là tình trạng chất lượng nước bị suy thoái, các dạng ô nhiễm đều xuất hiện nhất là ô nhiễm
vi sinh vật và ô nhiễm phú dưỡng không còn giới hạn ở một địa phương hay
khu vực nữa mà đã mang tính toàn cầu
Bảng 1.1 Tình hình chất lượng nước trên thế giới
(Trích dẫn theo tác giả Nguyễn Thái Lai (1999)
Ghi chú:
*** Mức độ trầm trọng * Chỉ ở mức địa phương
** Mức độ vừa phải - Không có, hay rất ít Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật thì sự mở rộng các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp và với quá trình đô
Trang 16thị hoá đã và đang đưa môi trường đến nhiều biến đổi bất lợi Một trong những vấn đề đó là sự phá vỡ mối quan hệ cân bằng vốn có của thiên nhiên
Con người đã khai thác thiên nhiên một cách quá mức để lấy nguyên liệu, nhiên liệu, đã sáng tạo ra hàng loạt các công nghệ mới để sản xuất những sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống Trong quá trình mưu sinh đó, con người đã vô tình làm thay đổi môi trường thiên nhiên xung quanh Các nguồn tài nguyên đang bị cạn kiệt, thêm vào đó môi trường phải tiếp nhận các loại chất thải từ các ngành sản xuất nông nghiệp cũng như công nghiệp và chất thải sinh hoạt…với một số lượng khổng lồ
Nhìn chung, chúng ta thấy rõ tính phức tạp của việc nghiên cứu môi trường đặc biệt là sự tương hỗ giữa nước tưới nông nghiệp với đất nông nghiệp, giữa quá trình phát triển với chất lượng nước sông Ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ nghệ Do đó vấn đề này đã thu hút rất nhiều các nhà khoa học của tất cả các quốc gia trên thế giới nghiên cứu nhằm kiểm soát, ngăn chặn và hạn chế sự ô nhiễm môi trường đến sự sống trên trái đất
Cho đến những năm 60 của thế kỷ 19, ô nhiễm nguồn nước chủ yếu là
do nước thải công nghiệp, nước cống rãnh ở các khu dân cư và trang trại chăn nuôi không được xử lý, đổ vào nguồn nước và mới chỉ xảy ra ở các khu vực
đô thị, nơi có hoạt động công nghiệp phát triển, dân số tập trung đông đúc, lượng chất thải vượt quá khả năng tự làm sạch của các dòng sông
Tại Anh Quốc, đầu thế kỷ 19 dòng sông Tamise rất sạch Nhưng chỉ đến giữa thế kỷ 19 nó đã trở thành ống cống lộ thiên Chất lượng nước sông Tamise bị ô nhiễm nặng nề do các hoạt động sống của con người gây ra, chính điều này đã huỷ hoại các loài thực vật thuỷ sinh trên dòng sông và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân sống ven sông
Trang 17Tại nước Pháp, tuy đã chú trọng nhiều hơn đến công nghệ phân tán chất
ô nhiễm trong nước nhưng chất lượng nước trên các dòng sông vẫn bị ô nhiễm nghiêm trọng Cuối thế kỷ 18, dân Paris còn uống nước sông Seine Nhưng đến đầu thế kỷ 19, nhiều con sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa Sông Rhin trước đây là khu vực sinh sống thuận lợi của hơn 30 triệu người Nhưng từ khi xuất hiện các xí nghiệp công nghiệp, các nhà máy hoá chất, luyện kim một lượng lớn các chất thải đã thải trực tiếp vào dòng sông làm cho chất lượng nước sông Rhin bị ô nhiễm, ảnh hưởng xấu đến đời sống của người dân sống ven lưu vực con sông này
Sự ô nhiễm môi trường chủ yếu là do các nguồn thải các chất khí, lỏng, rắn từ các nhà máy sản xuất công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, hoá chất… Các chất này không qua xử lý đã đổ trực tiếp vào môi trường, đồng thời việc
sử dụng phân bón hoá học, thuốc kích thích sinh trưởng…trong thời gian dài làm ô nhiễm nguồn nước Khí thải của các động cơ ô tô, xe máy, chất đốt có pha chì và nguồn nước thải sinh hoạt chưa được xử lý đã làm ô nhiễm môi trường, mặt khác do tốc độ đô thị hoá quá nhanh và mật độ dân cư quá lớn cũng đã tác động trực tiếp đến môi trường sống
Trong thời gian gần đây, vấn đề ô nhiễm nguồn nước các con sông đã được đề cập tới nhiều, trên phạm vi toàn cầu, tại cả những nước phát triển, đang phát triển và kém phát triển
Theo Liên Hợp Quốc thì một nửa trong tổng số 500 dòng sông lớn nhất thế giới đang trở nên cạn kiệt và ô nhiễm trầm trọng Lượng nước của các con sông lớn nhất thế giới đang sụt giảm làm ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, các loài vật và tương lai của cả hành tinh Liên Hợp Quốc đã đưa ra cảnh báo về một thảm hoạ đối với một số con sông trong số này: Sông Nile ở châu Phi và sông Hoàng Hà ở Trung Quốc từng được xem là các hệ thống
Trang 18kinh khủng Tất cả 20 con sông lớn nhất thế giới hiện đang bị các con đập ngăn chặn Liên Hợp Quốc đã đưa ra báo cáo chính thức để cảnh báo các chính phủ về tốc độ xuống cấp đáng báo động của các dòng sông, ao hồ và các hệ thống cung cấp nước khác Báo cáo này được đưa ra cùng lúc với một báo cáo khác của Liên Hợp Quốc cho biết toàn thế giới hiện có 1,1 tỷ người thiếu nước sạch Như vây, cứ trung bình 5 người thì có 1 người không có nước sạch để dùng Đây là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại dịch bệnh như dịch tả và sốt rét vốn làm 3,1 triệu người chết trong năm 2002 (Theo mạng báo SGGP, 3:27', 13/3/ 2006)
Chúng ta đã làm thay đổi quá lớn trật tự dòng chảy của các con sông trên toàn cầu do việc xây dựng các con đập khổng lồ và tình trạng ấm lên toàn cầu Khoảng 45.000 con đập lớn đang án ngữ các con sông trên thế giới
đã làm giảm 15% lượng nước đưa từ đất liền ra biển Đứng trước tình thế nguy kịch của hệ thống sông ngòi trên thế giới, Liên Hợp Quốc chọn ngày 14-3 hàng năm là ngày thế giới hành động để tập trung sự chú ý của toàn cầu đối với các dòng sông
1.2.2 Tình hình ô nhiễm nước tại Việt Nam
Chúng ta đang ở thế kỷ 21 với nhiều thách thức mới nảy sinh trong nhiều lĩnh vực An ninh hoà bình thế giới lại có thêm “những mối đe doạ mềm” mới, mà một số trong đó có thể kể ra là: Suy thoái môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên, nhất là tài nguyên nước Quyền được hưởng nước sạch và dịch vụ vệ sinh là điều kiện tiên quyết để đạt được các mục tiêu khác nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người
Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật Khi sự thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh ở người
Trang 19Hiến chương Châu Âu đã có định nghĩa ô nhiễm nước như sau: “Sự ô
nhiễm nước là một biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi - giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại”
Công nghiệp là một trong những ngành làm ô nhiễm nước đáng kể Vấn đề lớn nhất đối với chất thải công nghiệp là ở chỗ chúng có khối lượng lớn, thành phần chất thải đa dạng và chứa nhiều chất rất độc, rất bền vững và khó phân huỷ qua con đường sinh học như các kim loại nặng: Cu, Pb, Cr… các chất thải hữu cơ có chứa phenol, dầu mỡ…
Do công nghệ sản xuất của nước ta phần lớn là cũ và lạc hậu, lại không hoặc có rất ít thiết bị xử lý nước thải, khí thải, rác thải, hạ tầng cơ sở
đô thị như hệ thống cấp nước, thoát nước, hệ thống quản lý chất thải rắn…rất thấp kém, đồng thời quá trình đô thị hoá phát triển trong mấy năm gần đây lại khá nhanh, gây ra hiện tượng môi trường bị quá tải Ô nhiễm môi trường nước ở các đô thị và khu chế xuất ở nước ta nói chung và đặc biệt vùng ĐBSH nói riêng đang ở tình trạng báo động do các nguồn nước mặt (sông, ao, hồ) đều là nơi tiếp nhận nước thải chưa xử lý và có nông độ các chất ô nhiễm cao như chất rắn lơ lửng, nhu cầu oxy sinh hóa, nhu cầu ôxy hoá học, amôn,…Giá trị các thông số này đều gấp từ 5 đến 10 lần, thậm chí 20 lần trị số tiêu chuẩn cho phép
Thành phố Hồ Chí Minh với gần 8 triệu dân, mỗi ngày sử dụng nguồn nước máy từ sông Đồng Nai đưa về Nhưng hiện nay, trên đầu nguồn của dòng sông này có đến 53 Khu công nghiệp, trong đó có những nhà máy sản xuất nguyên liệu dùng để sản xuất thuốc trừ sâu, phân bón, xà phòng…ngày ngày xả nước thải chưa được xử lý ra sông với lượng từ 3.000 – 10.000 m3 nước
Trang 20giảm nghiêm trọng, mặt khác theo dòng chảy đến hạ lưu, chất lượng nước Thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng nặng nề
Nguồn nước sông Sài Gòn đã và đang bị ô nhiễm nặng do nhiễm bẩn hữu cơ rất cao.Theo Phân viện Khảo sát quy hoạch Thuỷ lợi Nam Bộ, nguyên nhân khiến sông Sài Gòn đổi màu đột ngột là do nước thải của các cơ sở sản xuất công nghiệp dọc kênh Tham Lương gia tăng đột biến Các nhà nghiên cứu cảnh báo, chất lượng nước sông sẽ ngày càng tồi tệ hơn nếu không có biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời nguồn nước thải trên
Lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình là lưu vực sông có nguồn nước dồi dào cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt tại 16 tỉnh thành trên lưu vực Tuy nhiên nguồn nước hiện nay đang bị ô nhiễm do nhiều nguồn thải từ Trung Quốc chảy về và từ các khu công nghiệp, đô thị lớn Để đánh giá hiện trạng
và diễn biến chất lượng nước phục vụ cho công tác quản lý quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước và sản xuất cho toàn lưu vực, Viện Quy hoạch Thuỷ lợi đã tiến hành thực hiện dự án giám sát chất lượng nước lưu vực sông Hồng phục
vụ cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất Kết quả cho thấy chất lượng nước trên dòng chính, dòng nhánh và trên các hệ thống thuỷ lợi có diễn biến rất phức tạp, luôn biến đổi theo không gian, thời gian và phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên, phát triển dân sinh kinh tế xã hội, đặc biệt là quá trình thải nước từ các khu dân cư đô thị, các khu công nghiệp thuộc lưu vực sông Hồng như: Lâm Thao – Bãi Bằng - Việt Trì
Thông tin từ Trung tâm Quan trắc và kỹ thuật môi trường (Sở Tài nguyên - môi trường Đồng Nai), chất lượng nước sông Đồng Nai tại hợp lưu các suối xả nước thải sinh hoạt của TP.Biên Hòa bị ô nhiễm nặng Các tiêu chuẩn về chất rắn lơ lửng, chất thải hữu cơ và vi khuẩn E.coli trong nước đều
ở ngưỡng vượt mức cho phép
Trang 21Hình 1.1 Sông Đồng Nai tại hợp lưu suối Linh
Theo đó, các hợp lưu gây ô nhiễm sông Đồng Nai, gồm: suối Linh (phường Tam Hiệp), suối Săn Máu (phường Tân Mai), suối Siệp (thuộc TX.Dĩ An, Bình Dương, hợp lưu với sông Đồng Nai tại phường Tân Vạn); suối Bà Lúa (phường Long Bình Tân) Nguồn nước từ những con suối này chủ yếu là nước thải sinh hoạt, có màu đen và luôn bốc mùi khó chịu Kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước tại các hợp lưu này đều cho kết quả ô nhiễm nghiêm trọng, không đạt tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt (Nguồn: Báo Đồng Nai - 03/2014)
1.2.3 Tác động của du lịch tới môi trường nước
Ngày nay, đời sống của người dân được nâng cao cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, trong đó phải kể đến là vấn đề du lịch Người dân ngày nay có nhiều điều kiện đi du lịch cả trong nước lẫn ngoài nước Điều này vừa góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nâng cao đời sống tinh thần của người dân lên một tầm mới; tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó thì vấn đề du lịch của người dân ảnh hưởng không tốt đến chất lượng môi trường, đặc biệt
là môi trường nước
Trang 22Vùng di sản Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận có diện tích 434 kilomet vuông Khu vực đó gồm 775 đảo Đảo Đầu Gỗ nằm ở đỉnh phía tây,
hồ Ba Hầm ở đỉnh phía nam và đảo Cống Tây ở đỉnh phía đông Những đảo
đá nhấp nhô trên sóng nước tạo thành một khung cảnh huyền ảo Trong những đảo đá có những hang động đẹp nổi tiếng…Tất cả được xem như là tuyệt tác của tạo hóa Nhìn chung chất lượng nước ngoài khơi Vịnh Hạ Long vẫn tốt, chưa có biểu hiện ô nhiễm Tuy nhiên, ở một số khu vực gần bờ có biểu hiện của ô nhiễm - như độ đục tăng, rác thải trôi nổi trên mặt Vịnh, xuất hiện dầu
mỡ trong nước biển…Nguyên nhân của việc ô nhiễm là do việc xả thải rác của người dân ở khu vực ven bờ (ví dụ, sau lễ hội du lịch Hà Long, các khu vực ven bờ, rác chất thành đống) Nguyên nhân nữa xuất phát từ các tàu du lịch Hiện khoảng trên 520 tàu du lịch đang hoạt động trên vịnh Hạ Long, song chỉ 20% tàu có hệ thống xử lý môi trường đạt tiêu chuẩn Ngoài ra hoạt động sinh sống từ các làng chài trên Vịnh và từ các tàu chở hàng cũng góp phần gây nên tình trạng ô nhiễm trên Vịnh Hạ Long là một kỳ quan mà thiên nhiên ban tặng cho Việt Nam Nhiều người trong nước và du khách từ khắp nơi trên thế giới đều muốn có dịp đến với Vịnh tự nhiên này Nếu không biết giữ gìn, bảo tồn thì tác phẩm tự nhiên đó sẽ không được toàn vẹn và sẽ bị mai một do sự tắc trách của nhiều người
Thiên nhiên đã ban tặng trên mảnh đất Xứ Lạng nhiều danh thắng nổi tiếng từ ngàn xưa, trong đó có động Nhị Thanh, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn với những nét riêng biệt, độc đáo Trong động Nhị Thanh có con suối Ngọc Tuyền chảy xuyên qua động trong xanh, lung linh huyền ảo, mê hồn khách du ngoạn Nhưng đó là cảnh vật trong những thập niên trước đó, còn mới đây, Nhị Thanh thường nhận được nhiều lời thán trách về con suối Ngọc Tuyền
"sao lại" nổi váng từng mảng, dậy mùi nồng nặc Hiện nay dòng suối Ngọc Tuyền chủ yếu là chứa nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình sống gần khu
Trang 23vực dòng suối và dòng suối chỉ được rửa trôi nước thải sinh hoạt khi trời mưa
to Nên nước suối Ngọc Tuyền đoạn chảy qua động Nhị Thanh có màu đen và bốc mùi khó chịu do dòng nước không được chảy lưu thông, còn khi trời mưa
to lưu lượng nước dồn về suối lớn nên nước thải sinh hoạt tích tụ trong động Nhị Thanh được rửa trôi đáng kể Đặc biệt là vào những mùa lễ hội, lượng du khách đến tham quan động Nhị Thanh ngày một lớn thì lượng rác thải, nước thải của du khách thải ra ngày một nhiều cũng ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước của suối Ngọc Tuyền
Tại Bình Thuận, chất thải từ đất liền theo bảy dòng sông lớn đổ ra biển rồi bị sóng đánh tấp vào bờ gây ô nhiễm các bãi tắm, khu du lịch Đặc biệt, tại vịnh Phan Thiết, chất thải từ sông Cà Ty và sông Cái đổ ra ứ đọng dài ngày với nhiều loại rác sinh hoạt, sản xuất, chế biến thủy sản Bãi biển Thuận An đang dần trở thành một “bãi rác” lớn Dọc bãi biển có rất nhiều các loại rác thải, từ túi nilon, bao bì, vỏ bánh kẹo đến vỏ bánh lọc, vỏ hoa quả, hộp sữa… Rác thải ra đã gây ô nhiễm nghiêm trọng bờ biển, gây ấn tượng không tốt cho
du khách đến tham quan Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm này là: các cơ sở kinh doanh du lịch chưa có hệ thống xử lý nước thải; du khách vứt rác tùy tiện; những người bán hàng rong không thu nhặt thức ăn thừa khách vứt trên bãi cát Ngoài ra, lượng chất thải sinh hoạt tăng nhanh, phần lớn chưa được xử lý, hoặc xử lý bằng phương pháp chôn lấp, vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến cảnh quan, môi trường tự nhiên, chất lượng các nguồn nước Hệ thống xử lý nước thải, rác thải sinh hoạt tại các điểm du lịch, bãi tắm hiện yếu kém Nhiều điểm du lịch chưa làm hệ thống xả nước bẩn, không
có thùng đựng rác công cộng Một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm
2008 dự báo, mỗi năm, Việt Nam đang mất đi ít nhất 69 triệu USD thu nhập
từ ngành du lịch do hệ thống xử lý vệ sinh kém Ô nhiễm môi trường cũng
Trang 24làm giảm đi sức thu hút khách của ngành du lịch (Nguồn: Báo Môi trường và Sức khỏe - của tác giả Lê Thị Hoàng Mai ngày 03/7/2012)
1.2.4 Các nguồn gây ô nhiễm nước
Dựa vào nguồn gốc gây ô nhiễm, như ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp hay sinh hoạt; dựa vào môi trường nước, như ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương; dựa vào tính chất của ô nhiễm như ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý
* Ô nhiễm nước sinh học:
- Do các nguồn thải đô thị hay kỹ nghệ có các chất thải sinh hoạt, phân, nước rữa của các nhà máy đường, giấy
- Sự ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là do sự thải các chất hữu cơ có thể lên men được: sự thải sinh hoạt hoặc kỹ nghệ có chứa chất cặn bã sinh hoạt, phân tiêu, nước rửa của các nhà máy đường, giấy, lò sát sinh
- Sự ô nhiễm sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vi khuẩn rất nặng, đặt thành vấn đề lớn cho vệ sinh công cộng chủ yếu các nước đang phát triển Các bệnh cầu trùng, viêm gan do siêu vi khuẩn tăng lên liên tục ở nhiều quốc gia chưa kể đến các trận dịch tả Các sự nhiễm bệnh được tăng cường do
ô nhiễm sinh học nguồn nước
* Ô nhiễm hoá học do chất vô cơ:
- Do thải vào nước các chất nitrat, phosphat dùng trong nông nghiệp và các chất thải do luyện kim và các công nghệ khác như Zn, Cr, Ni, Cd, Mn, Cu,
Hg là những chất độc cho thủy sinh vật
- Sự ô nhiễm do các chất khoáng là do sự thải vào nước các chất như nitrat, phosphat và các chất khác dùng trong nông nghiệp và các chất thải từ các ngành công nghiệp
Trang 25- Nhiễm độc chì (Saturnisne) : Ðó là chì được sử dụng làm chất phụ gia trong xăng và các chất kim loại khác như đồng, kẽm, chrom, nickel, cadnium rất độc đối với sinh vật thủy sinh
- Thủy ngân dưới dạng hợp chất rất độc đối với sinh vật và người Tai nạn
ở vịnh Minamata ở Nhật Bản là một thí dụ đáng buồn, đã gây tử vong cho hàng trăm người và gây nhiễm độc nặng hàng ngàn người khác Nguyên nhân ở đây
là người dân ăn cá và các động vật biển khác đã bị nhiễm thuỷ ngân do nhà máy ở đó thải ra
- Sự ô nhiễm nước do nitrat và phosphat từ phân bón hóa học cũng đáng
lo ngại Khi phân bón được sử dụng một cách hợp lý thì làm tăng năng suất cây trồng và chất lượng của sản phẩm cũng được cải thiện rõ rệt Nhưng các cây trồng chỉ sử dụng được khoảng 30 - 40% lượng phân bón, lượng dư thừa sẽ vào các dòng nước mặt hoặc nước ngầm, sẽ gây hiện tượng phì nhiêu hoá sông hồ, gây yếm khí ở các lớp nước ở dưới
* Ô nhiễm do các chất hữu cơ tổng hợp:
Ô nhiễm này chủ yếu do hydrocarbon, nông dược, chất tẩy rửa
- Hydrocarbons (CxHy)
- Chất tẩy rữa: bột giặt tổng hợp và xà bông
- Nông dược (Pesticides): Các nông dược hiện đại đa số là các chất hữu cơ tổng hợp Việc sử dụng nông dược mang lại nhiều hiệu quả trong nông nghiệp, nhưng hậu quả cho môi trường và sinh vật cũng rất đáng kể
Trang 26Nhiều chất thải công nghiệp có chứa các chất có màu, hầu hết là màu hữu cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ
Ngoài ra các chất thải công nghiệp còn chứa nhiều hợp chất hoá học như muối sắt, mangan, clor tự do, hydro sulfur, phènol làm cho nước có
vị không bình thường Các chất amoniac, sulfur, cyanur, dầu làm nước có mùi lạ Thanh tảo làm nước có mùi bùn, một số sinh vật đơn bào làm nước
có mùi tanh của cá
1.3 Các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt
Việc giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt hiện nay đang là nhiệm vụ quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường tại các quốc gia trên thế Vì nguồn nước mặt tại một số nơi đã có dấu hiệu ô nhiễm hoặc bị ô nhiễm nghiêm trọng Đứng trước nguy cơ chất lượng nguồn nước mặt bị suy giảm, nhiều quốc gia đã xây dựng các kế hoạch, biện pháp, công nghệ xử
lý để cải thiện, giảm thiểu ô nhiễm cho nguồn nước mặt đặc biệt là cho nguồn nước sông, suối, ao hồ…như:
Trong bản kế hoạch đầu tiên về quản lý lưu vực sông năm 2011 của Đan Mạch, các biện pháp đã được xây dựng nhằm giảm phát thải nước thải đô thị và giảm nồng độ ô nhiễm ở những điểm phi nông nghiệp Ô nhiễm nước thải đô thị sẽ được giảm thiểu thông qua các khoản đầu tư vào các nhà máy
xử lý nước thải, vệ sinh môi trường và các bể lưu trữ nước mưa Các phương pháp nhằm giảm thiểu nồng độ ô nhiễm tại các điểm ô nhiễm phi nông nghiệp bằng các việc trồng cây xen canh, tạo các vùng đất ngập nước ven sông, giảm việc cắt cỏ nước Các biện pháp khác bao gồm đầu tư vào việc mở lại các kênh dẫn nước, loại bỏ vật cản dòng chảy và khôi phục lại dòng chảy… Nghiên cứu tính toán rằng nếu tính toán hiệu quả chi phí kết hợp các phương pháp trên của 23 lưu vực sông ở Đan Mạch sẽ có thể đạt được hiệu quả giảm
Trang 27thiểu nồng độ chất dinh dưỡng theo mục tiêu đề ra (Nguồn: Cục Quản lý tài nguyên nước - Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Trung Quốc đã đưa ra “Kế hoạch quản lý toàn diện môi trường nước lưu vực sông Thai Hồ” khi nguồn nước sông ngày có dấu hiệu ô nhiễm nghiên trọng Nhiệm vụ chủ yếu của Kế hoạch là tổng kiểm soát phát thải trên toàn quốc (phân bổ lượng xả dựa trên việc tính toán tải lượng của môi trường nước) Cùng với đó là việc đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải, hỗ trợ các dự án phục hồi sinh thái và kiểm soát nguồn ô nhiễm, đồng thời tăng cường nhiều hoạt động cải thiện môi trường của lưu vực sông (Nguồn: Tạp chí môi trường - số 6/2014 – T49)
Dự án cải thiện môi trường nước thành phố Huế do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ: Dự án tập trung cải tạo, xây mới 298,149 km
hệ thống cống thoát nước hỗn hợp (thu gom nước mưa và nước thải) và 8 trạm bơm Nước thải từ hệ thống thoát nước hỗn hợp được tách ra tại 96 giếng tách Nước bẩn qua các tuyến cống bao về Nhà máy xử lý nước thải với công suất 20 ngàn m3/ngày đêm trên diện tích 9,5 ha và được xử lý bằng công nghệ bùn hoạt tính… (Nguồn: Báo Thừa Thiên Huế - của tác giả Hoài Thương đăng ngày 20/12/2013)
Dự án "Cải thiện môi trường nước thông qua việc ứng dụng hệ thống
xử lý nước thải độc lập không thu gom, không đảo trộn tại Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới" do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh kết hợp với hai Công ty của Nhật Bản thực hiện: Trong dự án áp dụng các giải pháp như lắp đặt thử nghiệm 7 hệ thống nhà vệ sinh sinh học (Bio-Toilet) và
7 hệ thống xử lý nước thải kiểu mới (New Jhoka system) tại khu vực Vịnh Hạ Long…đồng thời kết hợp tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức của người dân địa phương trong việc bảo vệ môi trường trên khu vực Vịnh Hạ
Trang 28Giải pháp cứu chất lượng nguồn nước sông Sài Gòn - Đồng Nai: Xây dựng công trình thoát nước mưa, thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt; di dời các cơ sở kinh doanh gây ô nhiễm… kết hợp phòng ngừa ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, đồng thời, tăng cường năng lực cho các đơn vị liên quan và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường lưu vực sông (Hà Tuấn, năm 2013)
Dự án xử lý ô nhiễm môi trường nước tại một đoạn kênh mương dài khoảng 4km trên địa bàn thị trấn Lâm và xã Yên Xá, Ý Yên, Nam Định và hồ Thanh Nhàn 2B Hà Nội bằng Công nghệ IDRABEL của Bỉ (công nghệ vi sinh) Công nghệ này gồm 3 dòng chính, đó là: xử lý các loại bùn hữu cơ trong sông, hồ, bến cảng được gọi là Bio-Vase, là một dạng bột tan trong nước, với thành phần vi sinh vật đa dạng giúp giảm thiểu đáng kể lớp bùn hữu
cơ trong sông, hồ và kênh rạch Khi áp dụng sản phẩm này tại nhiều nơi cho thấy, lượng bùn giảm thiểu có thể lên tới 50% thể tích sau 18 tháng xử lý Xử
lý nước thải trong hệ thống thoát nước và cống thải (Bio-Col), cũng là dạng bột tan trong nước có tác dụng triệt tiêu cả mùi môi khó chịu gây ra từ việc phát sinh H2S và Nitơ hữu cơ với chi phi thấp làm sạch, nạo vét, bảo trì hệ thống cống thoát nước và bơm Xử lý nước thải tại các trạm xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp (Bio-Epur), là dạng bột không tan trong nước, sau khi được đưa vào nước, các vi sinh vật sẽ sinh sôi phá vỡ các thành phần hữu
cơ trong bùn, giảm lượng bùn phát sinh và tiêu thụ năng lượng dẫn đến tiết kiệm chi phí vận hành (Nguồn: Trung tâm Tư vấn và Công nghệ môi trường- Tổng cục Môi trường)
Một số giải pháp cải thiện, bảo vệ nguồn nước mặt vùng Đông Nam Bộ: Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2012 về môi trường nước mặt, vùng Đông Nam bộ là vùng phát sinh lượng nước thải công nghiệp lớn nhất trong 6 vùng kinh tế của cả nước (chiếm 50%) Báo cáo của Bộ Tài nguyên và
Trang 29Môi trường về môi trường khu công nghiệp Việt Nam năm 2009 cũng cho thấy, tổng lượng nước thải phát sinh từ các khu công nghiệp của TP Hồ Chí Minh 57.700m3/ngày; Bà Rịa - Vũng Tàu 93.550m3/ngày; Bình Dương 45.900m3/ngày Tại các địa phương này các chỉ số ô nhiễm trong nước thải
từ các KCN (TSS, BOD5, COD, tổng N, tổng P) đều ở mức cao Cụ thể TP.Hồ Chí Minh TSS là 12.694kg/ngày, BOD5 là 7.905 kg/ngày, COD 18.406kg/ngày; Bình Dương các chỉ số này lần lượt là 10.908 kg/ngày, 6.288kg/ngày, 14.642kg/ngày Riêng tỉnh Đồng Nai, với hệ thống sông Đồng Nai là nơi có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế -
xã hội vùng kinh tế trọng điểm vùng Đông Nam bộ, hiện tổng lượng nước thải phát sinh từ các khu công nghiệp trên địa bàn khoảng 179.066m3/ngày Trong
đó các chỉ số ô nhiễm trong nước thải từ các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện ở mức cao nhất trong vùng (TSS 39.395 kg/ngày, BOD5 24.532 kg/ngày, COD 57.122 kg/ngày) Tính trên toàn bộ lưu vực sông Đồng Nai có
114 khu công nghiệp (với 57.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp), tuy nhiên mới chỉ có 79 khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải, còn lại các khu công nghiệp đều xả nước thải trực tiếp ra sông Đồng Nai Hiện tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông Đồng Nai đang ở mức báo động, trung bình mỗi tháng có gần 30 tấn chất thải gây ô nhiễm như dầu mỡ, chất thải hữu cơ, kim loại nặng đổ ra sông này Bên cạnh những nguồn nước thải
từ khu công nghiệp, nước thải sinh hoạt từ các khu đô thị cũng đang đe dọa trực tiếp cuộc sống của người dân nơi đây Vùng Đông Nam bộ là nơi có tốc
độ đô thị hóa lớn nhất cả nước, mật độ dân số tăng cao nên lượng nước thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao trong số các nguồn thải Trong số các nguồn tiếp nhận nước thải đô thị, sông Sài Gòn tiếp nhận nước thải sinh hoạt nhiều nhất, chiếm 76,21% tổng lượng nước thải Chất lượng nước sông Sài Gòn khu vực
Trang 30tiêu BOD5, COD… đều không đạt QCVN 08:2008 loại A2, tại một số điểm vượt B1 Đây là một trong những nguồn thải cơ bản nhất gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm do dầu mỡ, hoạt động của vi trùng gây bệnh Phần lớn nước sinh hoạt cho các khu đô thị lớn như TP.Hồ Chí Minh, thành phố Biên Hòa, thị xã Thủ Dầu Một đều lấy nước từ sông Đồng Nai và sông Sài Gòn Chất lượng nguồn nước cấp cho các nhà máy sản xuất nước sinh hoạt được kiểm tra chặt chẽ Nhưng với mức độ gia tăng phát triển công nghiệp và đô thị hóa như hiện nay, mối đe dọa ảnh hưởng đến chất lượng nước nguồn cung cấp cho các nhà máy nước cũng gia tăng Ngoài ra, nguồn nước thải từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, làng nghề cũng gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sống của người dân ven đô vùng Đông Nam Bộ Nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt đang phát triển trên toàn vùng Đông Nam bộ, năm 2010 sản lượng nuôi đạt 94.382 tấn/năm Nước thải và các chất thải từ các hoạt động nuôi thủy sản không được kiểm soát, xử
lý mà thải trực tiếp vào môi trường nước mặt ở các lưu vực sông Bên cạnh đó các loài, tôm cá chết hàng hàng loạt không được xử lý kịp thời cũng gây ô nhiễm môi trường nước mặt Về nguồn nước thải phát sinh từ làng nghề, trên lưu vực sông Đồng Nai có khoảng 710 tiểu thủ công nghiệp, với các loại hình sản xuất như chế biến thực phẩm, chiếu cói, sơn mài, mây tre đan, gốm sứ, kim loại…Phần lớn các cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề có công nghệ đơn giản, mặt bằng sản xuất nhỏ, khả năng đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải hạn chế, do đó nước thải xả trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước Báo cáo điều tra các nguồn thải trên lưu vực sông Đồng Nai của Tổng cục Môi trường năm 2010 cho thấy, một số chất ô nhiễm trong nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, làng nghề của một số tỉnh, thành phố trên lưu vực sông Đồng Nai rất cao Mặt khác, nguồn nước thải từ hoạt động
y tế trong vùng được xem là nguồn thải độc hại nếu không được xử lý trước
Trang 31khi thải ra môi trường Vẫn còn nhiều cơ sở y tế tại vùng Đông Nam bộ chưa được đầu tư hệ thống xử lý nước thải y tế TP.Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước
về phát triển các cơ sở y tế, song tỷ lệ các cơ sở khám chữa bệnh chưa được
xử lý nước thải khá cao Theo kết quả quan trắc của Viện Vệ sinh - Y tế công cộng TP.Hồ Chí Minh tại 12 bệnh viện, có 4/12 bệnh viện không có bể lắng lọc nên lượng nước thải của bệnh viện xả thẳng ra cống thoát nước chung của thành phố, chỉ có 8/12 bệnh viện có hệ thống này Do đó, muốn bảo vệ nguồn nước vùng Đông Nam bộ cần thực hiện một số giải pháp để kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, như tập trung xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp TP.Hồ Chí Minh và các đô thị lớn trong vùng Đồng thời kiểm soát chặt chẽ và có biện pháp xử lý kịp thời các khu vực bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng lưu vực sông Đồng Nai (cầu La Ngà), sông Sài Gòn (cầu Phú Cường đến Tân Thuận) và các sông, kênh rạch trên địa bàn Thành phố Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Đồng Nai cần tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm việc thực hiện Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Đồng Nai để có những thay đổi, điều chỉnh phù hợp với giai đoạn tiếp theo Các địa phương trên lưu vực sông Đồng Nai nên phối hợp rà soát, phân loại và xác định những điểm nóng ô nhiễm, nhất là tại khu vực lấy nước cấp sinh hoạt… từ đó xây dựng những giải pháp ưu tiên bảo vệ chất lượng nguồn nước tại những khu vực này Thiết lập các trạm kiểm soát tự động chất lượng nước sông tại các trạm thu nước thô cấp nước sinh hoạt; hoàn chỉnh hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt sông, tăng tần suất quan trắc để kiểm soát chất lượng nguồn nước Đi đôi với việc rà soát và điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến xả nước thải ra sông, hạn chế các ngành nghề, khu công nghiệp có mức phát thải ô nhiễm cao về lưu lượng và tải lượng Tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra ngăn chặn các nguồn gây ô nhiễm môi
Trang 32trường Triển khai các giải pháp trồng cây hay vùng đệm ven sông đối với các khu vực nguồn nước mặt đã bị ô nhiễm hoặc có nguy cơ bị ô nhiễm cao Tại các đô thị và khu công nghiệp mới, cần xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung; tăng cường vai trò của cộng đồng trong các khu dân cư về công tác bảo vệ nguồn nước Công khai hóa trên các phương tiện thông tin đại chúng về thông tin, dữ liệu liên quan đến tình hình ô nhiễm và các nguồn gây
ô nhiễm môi trường nước trong vùng
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Chất lượng nước suối Ngọc Tuyền và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước của suối
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: chiều dài 800m bắt nguồn từ cửa trước động
Tam Thanh đến cửa sau động Nhị Thanh
- Phạm vị về thời gian: từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 7 năm 2014
2.2 Nội dung nghiên cứu:
1 Đánh giá điều kiện tự nhiên Kinh tế - xã hội tại khu vực phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn
- Đánh giá thực trạng du lịch tại động Tam Thanh và Nhị thanh cùng các ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường nước
- Đánh giá các nguồn thải ảnh hưởng đến chất lượng nước suối Ngọc Tuyền
2 Đánh giá hiện trạng chất lượng nước suối Ngọc tuyền
3 Đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng nước suối Ngọc Tuyền
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Nhóm phương pháp điều tra thực địa
2.3.1.1 Phương pháp điều tra thực địa, lấy mẫu:
Khảo sát thực địa theo dòng chảy của suối từ khu vực trước động Tam Thanh là 800m tới động Nhị thanh để xác định địa hình đặc điểm dòng chảy, kiểm kê nguồn thải, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước suối
- Vị trí lấy mẫu: Tôi tiến hành lấy 4 mẫu tại các vị trí cụ thể như sau:
Trang 34+ Điểm thứ nhất (NM2): Nước suối Ngọc Tuyền tại cửa động Tam Thanh (đây được coi như mẫu đối chứng vì tại điểm này chưa tiếp nhận nước thải của khu dân cư vào lòng suối)
+ Điểm thứ hai (NM3): Nước suối Ngọc Tuyền tại điểm bắt đầu chảy vào khu dân cư (điểm này để đánh giá chất lượng nước suối khi bắt đầu chảy vào khu dân cư)
+ Điểm thứ ba (NM4): Nước suối Ngọc Tuyền tại điểm cuối chảy qua khu dân cư (điểm này để đánh giá chất lượng nước suối Ngọc Tuyền thay đổi như thế nào sau khi chảy qua khu dân cư)
+ Điểm thứ tư (NM5): Nước suối Ngọc Tuyền tại cửa sau động Nhị Thanh (điểm này để đánh giá chất lượng nước suối Ngọc Tuyền tại động Nhị Thanh)
- Tần suất lấy mẫu: Mẫu được lấy vào các tháng sau:
+ tháng 11 năm 2013 (mùa khô, không lễ hội)
+ tháng 01 năm 2014 (mùa khô, không lễ hội)
+ tháng 3 năm 2014 (mùa khô, mùa lễ hội)
+ tháng 7 năm 2014 (mùa mưa không lễ hội)
2.3.1.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Mục đích của phương pháp này là để xác định các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nước
Tôi tiến hành điều tra 80 phiếu tại các khối 2, 6, 7, 8 và 11 phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn nhằm thu thập thông tin các nguồn thải ảnh hưởng đến chất lượng nước suối Ngọc Tuyền Trong phiếu có thống kê lượng chất thải phát sinh của từng hộ gia đình và phương pháp xử lý, đồng thời thống kê các điểm xả nước thải vào suối Ngọc Tuyền Cụ thể:
+ Đối với các hộ gia đình: Thống kê lượng nước thải sinh hoạt, chất thải rắn phát sinh và biện pháp xử lý đối với từng loại Thống kê về các công trình xử lý môi trường của từng hộ gia đình và điểm xả nước thải sau xử lý
Trang 35+ Đối với các hộ chăn nuôi lợn: Thống kê lượng nước thải sinh hoạt, nước thải chăn nuôi và chất thải rắn phát sinh hàng ngày, biện pháp xử lý đối với từng loại Thống kê các công trình xử lý môi trường đang áp dụng và điểm xả nước thải sau xử lý
2.3.2 Nhóm phương pháp xử lý số liệu, phân tích trong phòng thí nghiệm
2.3.2.1 Phương pháp phân tích nước
• Phương pháp lấy mẫu:
- TCVN 5992:1995 (ISO 5667-2: 1991) - Chất lượng nước - Lấy mẫu Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu
- TCVN 5993:1995 (ISO 5667-3: 1985) - Chất lượng nước - Lấy mẫu Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu
- TCVN 5996:1995 (ISO 5667-6: 1990) - Chất lượng nước - Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối
• Phương pháp phân tích mẫu:
Phương pháp phân tích mẫu nước được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1 Phương pháp phân tích mẫu nước
3 BOD5 Phương pháp cấy và pha loãng
4 TDS Xác định bằng phương pháp trọng lượng
5 TSS Lọc qua cái lọc sợi thuỷ tinh: TCVN 6625
- 2000
6 Cl- Phương pháp chuẩn độ bạc nitrat với chỉ
thị cromat (phương pháp MO)
7 NO3- Phương pháp so màu bằng thuốc thử
Phenoldisunfonic
+
Trang 362.3.2.4 Phương pháp ước tính lượng nước thải phát sinh
Phương pháp này nhằm mục đích ước tính được lượng nước thải đổ vào dòng suối Ngọc Tuyền để từ đó đề ra được biện pháp xử lý thích hợp Dựa vào định mức nước cấp sinh hoạt (theo TCXDVN 33: 2006 của Bộ xây dựng) đối với đô thị loại II, đô thị loại III đến năm 2020 là 150 lít/người/ngày
có thể tính được nhu cầu cấp nước của các hộ dân trong khu vực nghiên cứu
2.3.3 Nhóm phương pháp kế thừa số liệu sẵn có
Thu thập và kế thừa có chọn lọc các số liệu, tài liệu và các văn bản của tỉnh liên quan đến khu vực động Nhị Thanh;
Tham khảo và nghiên cứu một số hệ thống, công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt của các đơn vị, Công ty đăng tải trên mạng hiện nay
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiện – kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Hang Nhị Thanh nằm trong quần thể Di tích danh lam thắng cảnh: Chùa Tam Thanh, núi Tô Thị, Thành nhà Mạc cổng chính hang Nhị Thanh
là trên đường Nhị Thanh, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn Tọa độ
và ranh giới địa lý là 21051' 06,28" vĩ độ Bắc và 106044'59,03" kinh độ Đông, địa giới hành chính như sau:
- Phía Bắc và Tây giáp với xã Hoàng Đồng;
- Phía Nam giáp với sông Kỳ Cùng;
- Phía Đông giáp với phường Hoàng Văn Thụ
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí nghiên cứu
Trang 393.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Khu vực nghiên cứu gồm nhiều ngọn núi đá và núi đất cao trung bình 350m so với mặt nước biển của xã Hoàng Đồng và phần lớn diện tích phường Tam Thanh Lưu vực suối Ngọc Tuyền tại khu vực danh lam thắng cảng Nhị-Tam Thanh có diện tích khoảng 5.65km2 Nguồn nước mưa, nước thải từ lưu vực này tập trung và chảy dồn qua động Nhị Thanh đổ ra sông Kỳ Cùng ở phía Nam và Tây Nam
Suối Ngọc Tuyền có điểm đầu từ cầu qua đường Tam Thanh đi Kéo Tấu, điểm cuối trước cửa sau động Nhị Thanh Đoạn này suối Ngọc Tuyền đã được kiên cố lòng dẫn bằng kết cấu đá xây và chảy qua khu dân cư có địa hình tương đối bằng phẳng
3.1.1.3 Địa chất thuỷ văn
- Nước tầng phủ: Nguồn nước trong lớp đất sét thuộc hệ trầm tích đệ tứ
có chiều dày từ 0,5 - 2 m, nhưng nguồn cung cấp cho tầng này chủ yếu là nước mưa và nước thải sinh hoạt, thời gian ngắn, lượng bốc hơi nhanh
- Nguồn nước trong nham thạch cứng, nước khe nứt: Nguồn nước này khá phong phú, nước sạch không mùi vị và trong
3.1.1.4 Khí tượng, thuỷ văn công trình, sông ngòi
a Đặc điểm thuỷ văn vùng nghiên cứu
Tại khu vực nghiên cứu mạng lưới sông suối, ao hồ tương đối ít chủ yếu là dòng suối Ngọc Tuyền chảy trong khu vực nghiên cứu còn ngoài ra cách 700 m về phía Đông Bắc có Hồ Phai Loạn và cách 1000 m về phía Nam
có sông Kỳ Cùng Hướng dòng chảy của các suối, ao hồ tại khu vực nghiên cứu có hướng từ Đông Bắc, Bắc chảy sang Tây Nam và Nam
Lưu lượng nước tại các khu vực nghiên cứu tập trung nhiều và chảy nhanh vào mùa mưa (từ tháng 6 đến 8) vào mùa khô hầu như lưu lượng nước ít
Trang 40Lưu lượng nước suối Ngọc Tuyền mùa lũ đạt 0,062m3/s Lưu lượng nước suối Ngọc Tuyền vào mùa kiệt chỉ đạt 0,009m3/s (Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Lạng Sơn)
b Đặc điểm khí hậu
Khu vực dự án nằm trong vùng khí hậu Bắc bộ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm: Nắng nóng, ẩm ướt, mưa nhiều, có 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Đông) nhưng chia rõ rệt nhất là theo 2 thời kỳ trong năm
Từ tháng 5 đến tháng 10, mưa nhiều, khí hậu nóng ẩm, lượng mưa tập trung vào tháng 7, 8, 9 (chiếm 70% lượng mưa cả năm)
Từ tháng 11 đến tháng 4, ít mưa, thời tiết lạnh, hướng gió chính là hướng Đông Bắc
* Mạng lưới khí tượng thuỷ văn công trình
Công tác quan trắc khí tượng thuỷ văn ở lưu vực đã được tiến hành từ rất sớm Năm 1905 bắt đầu đo mưa tại thị xã Lạng Sơn Hiện nay khu vực xây dựng công trình có trạm khí tượng Lạng Sơn trên sông Kỳ Cùng
Bảng 3.1 Đặc điểm của trạm khí tượng thủy văn Lạng Sơn
Trạm Vĩ độ
bắc
Kinh độ đông
độ cao Yếu tố đo
số năm
đo Lạng Sơn 21050' 106046 258 mưa, gió, nhiệt độ, độ