MỞ ĐẦU ơ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Nước ta là một nước nông nghiệp; nông dân, nông thôn luôn có vị trí chiến lược trong xây dựng và phát triển đất nước, là cơ sở và lực lượng quan
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hiệp
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay Luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ “ Huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam” đã được hoàn thành
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình và đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân Tôi xin bày
tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Mai Thanh Cúc, người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, tổ bộ môn Phát triển nông thôn đã giúp tôi hoàn thành quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo các cơ quan, đơn vị huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam: Phòng Tài chính kế hoạch, Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Chi cục Thống kê, Phòng Tài nguyên môi trường, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, Công Ty Cổ phần khoáng sản Fecon, Công ty Khai thác công trình thủy lợi huyện Kim Bảng; lãnh đạo, cán bộ, các xã, thị trấn và các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu, cung cấp thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hiệp
Trang 4PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HUY ĐỘNG
2.1.2 Vai trò, đặc điểm của xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn 11
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Trang 53.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
4.1 Thực trạng huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng nông
4.1.3 Kết quả và hiệu quả huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực xây dựng cơ sở
4.2.4 Một số yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng huy động nguồn lực 90 4.3 Giải pháp huy động tốt hơn nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng
Trang 65.2 Kiến nghị 105
Trang 7Giá trị sản xuất Kiên cố hóa kênh mương
Kế hoạch Khai thác công trình thủy lợi Kinh tế-Xã hội
Nông nghiệp Lao động
Số lượng
Ủy ban nhân dân
Vệ sinh môi trường Xây dựng
Trang 84.3 Nguồn lực XD hệ thống thủy lợi, KCHKM 3 năm (2011-2013) 56
4.6 Nguồn lực xây dựng trụ sở, nhà văn hoá 3 năm (2011-2013) 63 4.7 Nguồn lực xây dựng Trạm Y tế giai đoạn 3 năm (2011-2013) 66 4.8 Nguồn lực xây dựng hệ thống nước sạch, VSMT 3 năm
4.9 Nguồn lực XD hạ tầng kỹ thuật khu dân cư 3 năm (2011-2013) 70
4.13 Nguồn lực huy động từ các tổ chức khác 3 năm (2011-2013) 79
Trang 9DANH MỤC BIỂU
4.2 Tỷ lệ nguồn lực XD hệ thống thủy lợi, KCHKM (2011-2013) 57
4.4 Tỷ lệ nguồn lực kiên cố trường lớp học 3 năm (2011-2013) 62
Trang 10DANH MỤC HÌNH HỘP
Trang 11PHẦN I MỞ ĐẦU
ơ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp; nông dân, nông thôn luôn có vị trí chiến lược trong xây dựng và phát triển đất nước, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, nông nghiệp và nông thôn đã đạt được những bước phát triển ổn định, khá toàn diện, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp
và phát triển nông thôn thì nông thôn Việt Nam còn nhiều khó khăn, yếu kém,
mà dưới góc độ quản lý nhà nước cần nhìn nhận một cách đúng đắn để có giải pháp khắc phục
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kinh tế- xã hội chậm phát triển là do sự yếu kém về hệ thống cơ sở hạ tầng, nhân tố quan trọng hàng đầu để mở mang sản xuất, tiếp cận thị trường, tiếp thu khoa học và mở mang dân trí Phát triển cơ sở hạ tầng là giải pháp quan trọng bậc nhất trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Do đó, phát triển
cơ sở hạ tầng nông thôn là một yêu cầu cấp thiết để phát triển kinh tế nông thôn, thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nông thôn mới Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là vấn đề luôn được quan tâm chú trọng Bằng nhiều biện pháp thu hút các nguồn lực từ ngân sách Nhà nước,
từ các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và huy động nguồn lực trong dân đã góp phần xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn ngày càng hoàn thiện
Nghị quyết số 13, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa XI) đã đánh giá: “Nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng ngày càng
Trang 12lớn và đa dạng Ngoài nguồn lực của Nhà nước, đã và đang mở rộng sự tham gia của toàn xã hội, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp vào các dự án giao thông, khu công nghiệp, khu đô thị mới và đóng góp tự nguyện của nhân dân vào phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn Các hình thức đầu tư, xây dựng, vận hành, kinh doanh được đa dạng hoá, mở rộng”
Sau hơn 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hệ thống kết cấu hạ tầng của đất nước đã có nhiều thay đổi rõ rệt, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển Bên cạnh những thành tựu đã đạt được nêu trên, Nghị quyết số 13-
NQ/TW Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) cũng chỉ rõ “hệ thống kết cấu hạ tầng
ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, lạc hậu, thiếu đồng bộ, kém tính kết nối, hiện đang là điểm nghẽn của quá trình phát triển”; Hệ thống kết cấu hạ tầng
chưa đáp ứng kịp yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hạ tầng xã hội thiếu về số lượng, kém về chất lượng, hiệu quả sử dụng chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là y tế, giáo dục; giao thông, thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương Tư duy về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng chậm đổi mới, chưa phù hợp với cơ chế thị trường; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vẫn dựa vào ngân sách Nhà nước là chủ yếu; Cơ chế chính sách để thu hút nguồn lực từ các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chưa thật phù hợp
Như vậy, cơ sở hạ tầng có tầm quan trọng không ai phủ nhận được; Nếu tiếp tục để tình trạng lạc hậu về cơ sở hạ tầng kéo dài, chắc chắn Việt Nam khó
có thể bứt phá vươn lên; cần có một thể chế về phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại,
mở đường cho một thời kỳ phát triển mới; thể chế này phải bao gồm cả luật lệ,
bộ máy điều hành quản lý và phương thức điều hành Tuy nhiên trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn thì phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn là giải pháp quan trọng nhất trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay
Trang 13Kim Bảng là một huyện của tỉnh Hà Nam, nằm trong vùng bán sơn địa, có địa hình đa dạng bao gồm vùng đồi núi, nửa đồi núi và vùng đồng chiêm trũng Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, Nhà nước và Chương trình Quốc gia xây dựng nông thôn mới, huyện Kim Bảng thường xuyên quan tâm lãnh đạo chỉ đạo, có nhiều giải pháp tích cực huy động các nguồn lực, vừa để đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn, đồng thời tạo điều kiện giúp người dân đẩy mạnh phát triển sản xuất Vì vậy, cơ sở hạ tầng ở Kim Bảng từng bước được đầu tư nâng cấp, góp phần đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân và sự phát triển của các ngành nghề, dịch vụ Đây sẽ là tiền đề thuận lợi để địa phương có sự phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong thời gian tới và xây dựng nông thôn mới
Cơ sở hạ tầng được thực hiện đồng bộ sẽ góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của huyện Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là một số công trình đã xuống cấp, chưa đáp ứng nhu cầu vận tải và đi lại của các khu công nghiệp, khu
du lịch, phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân và phát triển kinh tế ở địa phương, vì vậy các công trình cơ sở hạ tầng cần được ưu tiên xây dựng, tu bổ để từng bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Để phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn thì khó khăn nhất là làm thế nào để
có vốn? Có vốn chúng ta mới có thể xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, duy tu bảo dưỡng thường xuyên các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn Thực tế hiện nay, vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng còn bị hạn chế; nguồn vốn huy động để đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cơ sở hạ tầng nông thôn Lượng vốn cung ứng cho việc phát triển cơ sở hạ tầng là rất lớn, nên chúng ta không chỉ trông chờ vào ngân sách Nhà nước mà còn cần phải có chính sách và giải pháp tăng cường huy động nguồn vốn của mọi thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các công trình
cơ sở hạ tầng
Trang 14Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề nói trên, tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “ Huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm huy động tốt hơn nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn tại địa phương
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để huy động tốt hơn nguồn lực xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu, khảo sát
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc huy động nguồn lực xây dựng cơ
sở hạ tầng trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
- Đối tượng khảo sát: Cán bộ, người dân một số xã, thị trấn; công nhân viên chức một số doanh nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chủ yếu đánh giá quá trình thực hiện và những kết quả đạt được trong việc huy động nguồn lực
Trang 15xây dựng một số cơ sở hạ tầng chủ yếu như đường giao thông, thủy lợi, đường nội đồng, kiên cố hóa kênh mương, trụ sở làm việc, nhà văn hóa, hệ thống nước sạch và vệ sinh môi trường, cơ sở giáo dục và y tế nông thôn huyện Kim Bảng
- Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Trang 16PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Huy động
“Huy động” lần đầu tiên được sử dụng trong một bối cảnh quân sự, để
mô tả việc chuẩn bị của quân đội Nga trong những năm 1850 và năm 1860 Lý thuyết và kỹ thuật huy động đã liên tục thay đổi kể từ đó
Huy động là "quá trình hình thành đám đông, nhóm, assiciations, và tổ chức cho việc theo đuổi các mục tiêu tập thể" (Oberschall trích dẫn trong Scott p 169) Như vậy, “huy động” là điều nhân lực, của cải cho một công việc lớn; huy động nguồn lực, kinh phí cho công trình
Phương thức huy động: Bằng tiền, hiện vật hoặc ngày công lao động Nguyên tắc huy động: Huy động được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ bàn bạc, công khai minh bạch và quyết định theo đa số
2.1.1.2 Nguồn lực
Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Ngô Doãn Vịnh - Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển: Trong những năm vừa qua, khi bàn về các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế, bao giờ người ta cũng bàn tới hai vấn đề cơ bản là nguồn lực và động lực phát triển Cho đến nay, về hai vấn đề này cũng còn nhiều điểm, khía cạnh phải bàn thêm cho rõ Về nguồn lực, quan niệm thế nào là nguồn lực, làm thế nào huy động được nguồn lực và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực? Nhìn chung đến nay chúng ta chưa nhận thức đầy đủ về nguồn lực, mới nói chung mà chưa hướng tới định lượng, không chỉ rõ chủ thể của nguồn lực Nhìn nhận về nguồn lực chưa nhất quán và thiếu cách nhìn định lượng Việc lãng phí nguồn lực cũng chưa được xem xét đúng mức
Trang 17Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem là nguồn lực
Các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ:
Người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với chúng thích hợp Với cách nhận thức như thế và trên quan điểm thiết thực, việc phân chia các nguồn lực được tiến hành theo hai cách chủ yếu:
Cách thứ nhất, người ta chia ra thành nhóm nguồn lực vật chất và nguồn
lực con người
Nhóm nguồn lực vật chất gồm có: tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thuỷ điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, vị trí địa kinh tế ) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng (nhà cửa, công trình công cộng, đường sá, hải cảng, sân bay, hệ thống sản xuất và truyền tải điện, hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống viễn thông và truyền thông )
Nhóm nguồn lực con người (gắn với tài nguyên trí thức) và tài nguyên thông tin Trí tuệ của con người có giá trị đặc biệt và không thể tự có được mà con người phải mất công, mất sức mới có Muốn có trí tuệ, con người phải có thể lực và trí lực cùng hoàn cảnh thuận lợi Đối với vấn đề xây dựng trí tuệ, việc giáo dục quan trọng như thế nào thì việc cải tạo nòi giống cũng quan trọng không kém Trong lĩnh vực xây dựng nguồn lực con người, không thể xem nhẹ việc bồi dưỡng sức dân và thực hiện nhân đạo hiện đại đối với vấn đề sinh sản
Để có được nguồn thông tin chất lượng cao nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ cho người dân, Nhà nước phải tiến hành xây dựng hệ thống thông tin thống nhất từ
Trang 18trung ương tới các địa phương Có như thế mới khắc phục được tình trạng thiếu thông tin trầm trọng như hiện nay ở nước ta
Cách thứ hai, căn cứ vào nguồn gốc của các nguồn lực để phân loại
Người ta chia chúng ra thành hai nhóm lớn: nguồn lực trong nước và nguồn lực ngoài nước Nguồn lực trong nước bao giờ cũng giữ vai trò quyết định Bằng cơ chế, chính sách, người ta tạo ra môi trường hấp dẫn để thu hút các nguồn lực bên ngoài, nhất là thu hút nhân tài Thông qua cơ chế, chính sách, nhà nước và các doanh nghiệp có thể biến ngoại lực thành nội lực Phần lớn các nguồn lực đều hữu hạn Vì thế, việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực và dự trữ các nguồn lực trong điều kiện có thể là một trong những quốc sách quan trọng
2.1.1.3 Huy động nguồn lực
Huy động nguồn lực là một chính lý thuyết xã hội học trong việc nghiên cứu các phong trào xã hội mà nổi lên trong những năm 1970 Nó nhấn mạnh đến khả năng của các thành viên của phong trào để có được nguồn tài nguyên và huy động người dân đối với việc hoàn thành các mục tiêu của phong trào
Huy động nguồn lực là hướng dẫn huy động các nguồn lực, chủ yếu là nội lực, để tăng cường năng lực tổ chức và mang lại lợi ích cho cộng đồng
Mục đích của huy động nguồn lực là làm thế nào để một tổ chức có thể gây quỹ cần thiết để thực hiện sứ mệnh của mình? Các nguồn lực cần có đang ở đâu? Làm thế nào để bạn có thể duy trì tổ chức và công việc của mình? Đó là những câu hỏi chính mà các tổ chức phải đối mặt khi họ phải xem xét làm thế nào để duy trì công việc của họ và tăng cường tính bền vững của tổ chức
Việc xây dựng một kế hoạch hoặc một chiến lược huy động nguồn lực có thể dẫn đến các nỗ lực sáng tạo trong việc sử dụng các tài sản của chính bạn để đạt được sự ủng hộ cho tổ chức của bạn Các nguồn tài trợ khác nhau có thể làm tăng tính độc lập và linh hoạt để thực hiện các chương trình và giảm thiểu sự phụ thuộc vào các nguồn quỹ bên ngoài (và của nước ngoài)
Trang 192.1.1.4 Cơ sở hạ tầng
Thuật ngữ “cơ sở hạ tầng” được sử dụng lần đầu tiên trong lĩnh vực quân
sự Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nó được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như: giao thông, kiến trúc, xây dựng… Đó là những cơ sở vật chất kỹ thuật được hình thành theo một “kết cấu” nhất định và đóng vai trò “ nền tảng” trong các hoạt động diễn ra trong đó thuật ngữ “cơ sở hạ tầng” được mở rộng ra cả các lĩnh vực hoạt động có tính chất xã hội để chỉ các cơ sở trường học, bệnh viện… phục vụ cho các hoạt động giáo dục, văn hóa, y tế…
- Theo quan điểm triết học: Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định Cơ sở hạ tầng của một
xã hội cụ thể bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai trong đó quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo chi phối các quan hệ sản xuất khác Nó quy định xu hướng chung của đời sống kinh tế xã hội Bởi vậy, cơ sở
hạ tầng của một xã hội cụ thể được đặc trưng bởi quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội đó
Ngân hàng Thế giới đưa ra cách định nghĩa cơ sở hạ tầng bằng việc chỉ ra những lĩnh vực liên quan và cho rằng những tài sản vốn để hình thành lĩnh vực này được xem là cơ sở hạ tầng
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của một xã hội phát triển là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những phương tiện vật chất và thiết chế làm nền tảng cho kinh tế - xã hội phát triển
Cơ sở hạ tầng hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cơ sở hạ tầng kinh tế và cơ
sở hạ tầng xã hội
Như vậy, “cơ sở hạ tầng” là tổng thể những điều kiện, yếu tố vật chất kỹ thuật, kiến trúc được hình thành theo một cấu trúc nhất định và đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội được diễn ra một cách bình thường
Trang 20Cho đến nay, khái niệm về cơ sở hạ tầng vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Lâm thì “Cơ sở hạ tầng là tổng thể các ngành kinh tế, các ngành công nghiệp dịch vụ”, cụ thể cơ sở hạ tầng bao gồm việc xây dựng đường xá, kênh đào tưới nước, bến cảng, cầu cống, sân bay, kho tàng, cơ
sở cung cấp năng lượng, cơ sở kinh doanh, giao thông vận tải, bưu điện, cấp thoát nước, cơ sở giáo dục, khoa học, y tế, bảo vệ sức khỏe
Theo PGS.TS Mai Thanh Cúc thì “Cơ sở hạ tầng là hệ thống các công trình, làm nền tảng cung cấp những yếu tố cần thiết cho phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống” Cơ sở hạ tầng bao gồm cung cấp nước, tưới tiêu và phòng chống lụt bão, cung cấp năng lượng, giao thông, thông tin liên lạc Như vậy, mặc dù còn nhiều quan điểm ý kiến khác nhau, cụm từ khác nhau nhưng các quan điểm, ý kiến này đều cho rằng: Cơ sở hạ tầng hay kết cấu hạ tầng hay hạ tầng đều là những nhân tố vật chất làm nền tảng cho các quá trình sản xuất và đời sống xã hội hình thành, phát triển
2.1.1.5 Cơ sở hạ tầng nông thôn
Cơ sở hạ tầng nông thôn là một bộ phận trong tổng thể hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân Hệ thống này được xây dựng trong khu vực nông thôn, trong khu vực sản xuất nông nghiệp và trở thành nền tảng cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn
Cơ sở hạ tầng nông thôn được chia thành hai nhóm:
- Các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế: đây là tổ hợp của các công trình giao thông, thủy lợi, cung cấp vật tư nguyên liệu
- Các công trình cơ sở hạ tầng xã hội: đây là tổ hợp các công tình vật chất
kỹ thuật có chức năng phục vụ đời sống cư dân nông thôn như các cơ sở y tế, văn hóa, trường học… trong nhóm này, cơ sở hạ tầng còn được phân chia theo nhu cầu hoặc nhóm nhu cầu, theo đối tượng dân cư lựa chọn, những đối tượng cần được xã hội quan tâm đặc biệt để xây dựng cơ sở hạ tầng riêng Trong xã hội
Trang 21những người đó là những người già, người tàn tật, những người có công đối với dân tộc và xã hội Ngoài ra, tùy theo chế độ và hoàn cảnh đặc biệt mà mỗi nước
có những ưu tiên riêng theo chế độ phục vụ tức là theo đó người sử dụng cơ sở
hạ tầng xã hội phải trả tiền hay không phải trả tiền
Tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính tương đối bởi vì một công trình
có thể thực hiện nhiều chức năng, ở các lĩnh vực khác nhau
2.1.1.6 Huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
Huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là điều nguồn nhân lực, vật lực cho quá trình xây dựng hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng kĩ thuật
ở nông thôn, đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế xã hội được diễn ra một cách bình thường
Huy động nguồn lực phát triển cơ sở hạ tầng bao gồm nguồn lực nhiều nhóm của nhân lực và vật lực; trong đề tài nghiên cứu chỉ đề cập đến vật lực và công lao động của cộng đồng; không đề cập đến nguồn lực về trí óc
2.1.2 Vai trò, đặc điểm của xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
2.1.2.1 Vai trò của cơ sở hạ tầng nông thôn
Huy động nguồn lực để đầu tư xây dựng bảo dưỡng công trình kết cấu hạ
tầng nông thôn theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" Nội dung,
hình thức huy động đóng góp tự nguyện của cộng đồng dân cư thực hiện theo Pháp lệnh dân chủ cơ sở đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền cơ sở Các khoản đóng góp của cộng đồng, cá nhân đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn bao gồm: Đóng góp xây dựng công trình công cộng của làng, xã bằng công lao động, tiền mặt, vật liệu, máy móc thiết bị, hiến đất…(nếu đóng góp bằng tiền thì cần được cộng đồng bàn bạc quyết định, Hội đồng nhân dân xã thông qua); Đóng góp tự nguyện và tài trợ từ các doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước
Trang 22Cơ sở hạ tầng là một trong những nút thắt cho sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam nên phát triển cơ sở hạ tầng luôn là trọng tâm chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam từ 1991 đến nay và từ nay đến năm 2020, khi cơ bản trở thành nước công nghiệp như chúng ta mong muốn
Theo Tiến sĩ Vũ Đình Ánh, hạ tầng cơ sở hiện vẫn được coi là một điểm nghẽn trong phát triển kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên, do chúng ta còn thiếu quá nhiều cơ sở hạ tầng, chất lượng cơ sở hạ.tầng hiện có chưa đáp ứng yếu phát triển kinh tế - xã hội nên nguồn vốn cần để phát triển cơ sở hạ tầng là rất lớn, vượt ra khỏi khả năng của ngân sách Nhà nước, thậm chí của quốc gia Hơn nữa,
cơ sở hạ tầng lại rất đa dạng, thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn trong thời gian dài, trong khi không phải cơ sở hạ tầng nào cũng có khả năng hoàn vốn hay có thể đánh giá được hiệu quả kinh tế
Thực hiện cơ chế đa dạng hóa các nguồn vốn huy động bao gồm: lồng ghép các nguồn vốn chương trình Mục tiêu Quốc gia, chương trình Chính phủ
và các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu khác của cấp trên (Trung ương, tỉnh); huy động các nguồn lực của địa phương (huyện, xã); huy động đóng góp của nhân dân, nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp và các tổ chức khác Khi nói đến cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn chúng ta thường nhắc tới các hạng mục công trình như: Đường giao thông (trong thôn, liên thôn, liên
xã, liên huyện ), hệ thống thuỷ lợi (các công trình thuỷ nông tưới tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp), hệ thống cấp nước sinh hoạt, hệ thống điện, công trình văn hoá thể thao, trạm y tế, trường học, thông tin liên lạc
Cơ sở hạ tầng nông thôn là điều kiện vật chất quan trọng, có tính quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn cũng như sự chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp
Cơ sở hạ tầng tốt sẽ giúp làm giảm giá thành sản xuất, giảm rủi ro, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong sản xuất kinh doanh và các ngành liên quan trực
Trang 23tiếp tới lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, là khu vực phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thiên nhiên
Cơ sở hạ tầng phát triển sẽ tác động đến sự phát triển và tăng trưởng nhanh khu vực nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tạo ra điều kiện cạnh tranh lành mạnh, tăng sức thu hút vốn đầu tư nước ngoài và vốn đầu tư trong nước vào thị trường nông nghiệp nông thôn Những vùng có cơ sở hạ tầng đảm bảo sẽ là một nhân tố để thu hút nguồn lao động, hạ giá thành trong sản xuất và mở rộng thị trường nông thôn, bởi cơ sở hạ tầng đảm bảo các điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết cho các hoạt động sản xuất thường xuyên và phát triển
Cơ sở hạ tầng là điều kiện quan trọng tác động tới việc phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn sẽ tạo điều kiện phát triển đồng đều giữa các vùng trong cả nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội, bởi vì thực hiện công bằng xã hội không chỉ thể hiện ở khâu phân phối kết quả mà nó còn hiện ở chỗ sử dụng tốt năng lực của mình, đó chính là cơ hội được học tập, được chăm lo sức khỏe, và đặc biệt là cơ hội được làm việc, tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội
Cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển sẽ tăng cường được khả năng giao lưu hàng hóa, thị trường nông thôn được mở rộng, kích thích kinh tế hộ gia đình tăng gia sản xuất, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thu nhập của các hộ nông dân tăng, đời sống nông dân được tăng cao, thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, giảm
sự phân hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn
Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn sẽ tạo điều kiện tổ chức tốt đời sống
xã hội trên từng địa bàn, tạo một cuộc sống tốt hơn cho nhân dân, nhờ đó mà giảm được dòng di dân tự do từ nông thôn ra thành thị, giảm bớt gánh nặng cho thành thị
Trang 24Nói tóm lại, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn là nhân tố đặc biệt quan trọng, là khâu then chốt để thực hiện chương trình phát triển kinh tế -xã hội nói chung, thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng Vì vậy trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, cấu trúc nền kinh tế thế giới thay đổi đã đặt ra nhu cầu: Cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước để tạo điều kiện cho các ngành, các vùng phát triển
Trong thời gian tới, nhu cầu về đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn mà Đảng, Nhà nước ta đặt ra là rất lớn như: Phấn đấu đến năm 2020 cấp đủ nước để khai thác 11 triệu ha đất nông nghiệp; 80% diện tích đất nuôi trồng được cấp nước chủ động; 100% cư dân nông thôn có nước sạch và bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh Đảm bảo điện cho sản xuất nông nghiệp; Điện cho sinh hoạt; Chất lượng điện ở địa bàn nông thôn Đến năm 2020 phấn đấu 100% hộ nông thôn có điện sử dụng
2.1.2.2 Đặc điểm của cơ sở hạ tầng nông thôn
Thứ nhất, kết quả các công trình cơ sở hạ tầng là dịch vụ phục vụ trực tiếp
nhu cầu sản xuất và đời sống trên phạm vi lãnh thổ đó
Thứ hai, cơ sở hạ tầng khác với khu vực công cộng Cơ sở hạ tầng chỉ là
một phần của khu vực công cộng, do cả Chính phủ và tư nhân đầu tư xây dựng Khu vực công cộng do Chính phủ đầu tư
Thứ ba, các công trình cơ sở hạ tầng đòi hỏi số vốn đầu tư lớn, chủ yếu
thuộc vốn dài hạn, thời gian thu hồi vốn lâu và vốn thu hồi thông qua các hoạt động sản xuất khác Vì vậy khu vực tư nhân không tích cực tham gia xây dựng
cơ sở hạ tầng mà chủ yếu là Chính phủ Trong công tác kế hoạch hóa phát triển
cơ sở hạ tầng đòi hỏi phải làm tốt công tác thăm dò tài nguyên, thiên, phải nghiên cứu phương hướng phát triển lâu dài của vùng, có như vậy mới đảm bảo hiệu quả sử dụng công trình
Trang 25Thứ tư, các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng sau khi được sản xuất sẽ có
thời gian tồn tại lâu dài cho hoạt động sản xuất và đời sống, vì vậy khi xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng cần làm sao để các công trình này không lạc hậu so với sản xuất
2.1.3 Nội dung huy động
2.1.3.1 Các bước huy động
Bước 1 Khi có nhu cầu đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp sửa chữa các công trình cơ sở hạ tầng của xã, Ủy ban nhân dân xã lập dự toán,thiết kế công trình và các hồ sơ có liên quan gửi Ủy ban nhân dân cấp huyện để thẩm định Hồ
sơ dự án công trình gồm:
Tổng nhu cầu vốn để xây dựng và hoàn thành công trình, phân bổ chi tiết theo từng hạng mục công trình (nếu có); Thiết kế và báo cáo dự kiến tiến độ thực hiện công trình
Dự kiến và cân đối các nguồn vốn bố trí cho công trình, trong đó có phần huy động nhân dân đóng góp; Mức đóng góp đối với từng hộ gia đình, mức huy động đối với các tổ chức, cá nhân
Bước 2 Ủy ban nhân dân xã tổ chức để nhân dân bàn, quyết định về dự toán công trình và mức huy động đóng góp của nhân dân Cách thức tổ chức để nhân dân bàn thực hiện theo quy định
2.1.3.2 Đối tượng huy động
- Huy động nguồn ngân sách nhà nước: từ Ngân sách cấp trên (Trung ương, tỉnh), ngân sách địa phương (huyện, xã, thị trấn)
- Tài trợ, ủng hộ trực tiếp của các tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài cho đầu tư xây dựng công trình;
- Huy động đóng góp tự nguyện của nhân dân
2.1.3.3 Hình thức huy động
Trang 26Căn cứ vào tính chất thi công và tình hình thực tế của mỗi công trình, có thể thực hiện việc đóng góp theo các hình thức huy động bằng tiền, bằng hiện vật và bằng ngày công lao động
Đối với các khoản đóng góp bằng hiện vật và ngày công lao động, các địa phương cần phải lập sổ kế toán để theo dõi riêng Trên cơ sở đó tính vào giá trị quyết toán xây dựng công trình
Mức huy động của các nguồn lực Nhu cầu vốn cần huy động, đóng góp
tự nguyện của nhân dân trong xã được xác định bằng tổng nhu cầu vốn cho đầu
tư xây dựng công trình, trong đó: Ngân sách nhà nước (hỗ trợ từ Ngân sách cấp trên, từ ngân sách địa phương); Tài trợ, ủng hộ trực tiếp của các tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài cho đầu tư xây dựng công trình; huy động từ nhân dân
và các nguồn vốn khác
Xác định mức đóng góp cho từng đối tượng; nhu cầu vốn cần huy động trong từng giai đoạn phù hợp với tiến độ thi công và tiến độ huy động cho đầu tư xây dựng công trình Việc xác định căn cứ vào dự toán thi công công trình và tình hình thực tế thi công Xác định mức đóng góp cụ thể của từng đối tượng phải được thực hiện công khai, dân chủ và đảm bảo tính công bằng, hợp lý
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng
Do đặc điểm đầu tư phát triển trong nông nghiệp và nông thôn thường kém hấp dẫn, nhiều rủi ro, hoạt động đầu tư trong nông thôn thường tiến hành trên một phạm vi không gian rộng là những nơi có điều kiện phát triển kinh tế -
xã hội thấp, địa hình địa lý phức tạp Hơn nữa, cơ sở hạ tầng lại đa dạng, thường đòi hỏi vốn lớn trong thời gian dài, trong khi không phải cơ sở hạ tầng nào cũng
có khả năng hoàn vốn hay đánh giá được hiệu quả kinh tế Điều này làm tăng thêm tính phức tạp của việc huy động xây dựng các công trình cũng như thời gian khai thác các công trình đầu tư Các nhóm nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến huy động nguồn lực phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp bao gồm:
Trang 272.1.4.1 Nhân tố về quy hoạch và kế hoạch
Kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội là một phương thức quản lý kinh
tế của nhà nước Xét về bản chất, nó là hoạt động có ý thức của nhà nước trên cơ
sở nhận thức khách quan nhằm định hướng phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như xác định các giải pháp lớn, để thực hiện định hướng đó với hiệu quả kinh tế - xã hội lớn nhất
Khác với thời kỳ phát triển trước đây, kế hoạch hóa được hình thành từ đòi hỏi khách quan của thị trường, xuất phát từ nhu cầu của thị trường Thoát ly thị trường, kế hoạch chứa đựng các yếu tố không khả thi Một kế hoạch đúng là
kế hoạch đó phản ánh được lợi ích của các bên tham gia thị trường Mặt khác, thị trường có thể giải quyết các vấn đề ngắn hạn, lâu dài, bền vững, toàn cục Vì vậy phải sử dụng kế hoạch như một công cụ để nhà nước hướng dẫn thị trường và điều chỉnh thị trường nhằm kết hợp giữa lợi ích ngắn hạn với lợi ích dài hạn, giữa phát triển trước mắt với phát triển bền vững của đất nước, hoạt động cũng không nhằm ngoài quy luật phát triển đó Song, chất lượng của các dự án quy hoạch nói chung cần phải quan tâm trong một mối quan hệ tổng thể thống nhất,
xử lý liên ngành, liên vùng và luận chứng của các phương án, các điều kiện thực hiện quy hoạch cần được chỉ rõ; quy hoạch về tổ chức lãnh thổ tránh tình trạng chồng chéo, không ăn khớp quy hoạch sai sẽ gây lãng phí lớn cho nền kinh tế Các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng phải được nằm trong quy hoạch, chúng
ta không đủ tiền để xây dựng tất cả cơ sở hạ tầng cùng một lúc nên càng cần phải thực hiện theo quy hoạch để đảm bảo hiệu quả khai thác tối đa, ngay cả các dự
án cơ sở hạ tầng cấp xã cũng cần trong quy hoạch chứ không phải do huy động
từ nguồn ngoài ngân sách Nhà nước mà cấp huyện hay cấp xã tùy ý quản lý, thực hiện
2.1.4.2 Nhân tố về tổ chức thực hiện
Lĩnh vực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng là lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn, thời gian thực hiện dài trong khi đó ngân sách lại eo hẹp, đến nay
Trang 28việc đầu tư mới chỉ tập trung từ nguồn vốn ngân sách, các nguồn vốn khác như vay tín dụng ưu đãi, vay ngân hàng, huy động từ nguồn vốn trong dân mặc dù đã phát triển song còn hạn chế Chương trình tạo vốn cho đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn chưa quan tâm đúng mức Nguồn vốn đầu tư nước ngoài ít được thu hút vào lĩnh vực xây dựng hạ tầng nông thôn Thị trường thứ cấp chưa được phát triển phục vụ cho việc huy động vốn
Các cơ quan chức năng chưa thật sự quyết liệt trong chỉ đạo huy động từ nguồn ngoài ngân sách nhà nước Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn đã được nâng cấp một bước song còn nhiều bất cập như: Các công trình thuỷ lợi đầu mối đầu tư không đồng bộ đã bị xuống cấp, giảm năng lực tưới tiêu, hệ thống chậm được đâu tư nâng cấp gây tổn hao lớn, hệ thống đường giao thông nông thôn, nước sạch nông thôn còn chưa hoàn chỉnh Bên cạnh đó vấn đề quản lý cơ sở
hạ tầng cũng như việc phân cấp đầu tư còn bất cập ảnh hưởng đến quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn
2.1.4.3 Các nhân tố khác
Nhân tố tự nhiên môi trường có ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng Ảnh hưởng tới hình thức, quy mô, kích thước công trình, từ đó ảnh hưởng tới khối lượng vật liệu, vốn đầu tư và tính khả thi của dự án; ảnh hưởng tới chi phí quản lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng hàng năm của các dự án công trình
Nhân tố văn hoá- xã hội: Mức độ dân trí sẽ ảnh hưởng đến tính khả thi của công trình, dự án thông qua nhận thức và sự đóng góp của nhân dân trong vùng; ảnh hưởng tới chất lượng thực hiện, qua đó ảnh hưởng tới vốn đầu tư, chí phí vận hành và hiệu quả khai thác
Nhân tố kinh tế- dịch vụ: Khả năng tài chính của khu vực ảnh hưởng quyết định tới quy mô, tiến độ thực hiện và sự đồng bộ của dự án Vùng có kinh tế- dịch vụ phát triển sẽ cho hiệu quả cao, thu hút được nguồn lực
Nhân tố khoa học kỹ thuật- công nghệ: Kỹ thuật công nghệ tiên tiến,
Trang 29hiện đại ảnh hưởng đến vốn đầu tư, chi phí quản lý và vận hành, quy mô của công trình dự án; kỹ thuật công nghê lạc hậu làm giảm hiệu quả, gây ra sự thiếu đồng bộ trong quá trình đầu tư và vận hành
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm, bài học một số nước trên thế giới
Tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của các nước trong khu vực châu
Á, đặc biệt là những nước có nền nông nghiệp phát triển nói chung hiện nay đang theo xu hướng xã hội hoá về đầu tư, khuyến khích ưu tiên cho các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp, điện lực, thông tin,…theo hướng đáp ứng nhu cầu thị trường là phát triển hàng hoá lớn chất lượng cao giá thành hạ
Hiệu quả thấp của đầu tư công là một trong những yếu tố khiến tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với tiềm năng, từ thực tế hạn chế đó các nước châu Á
có nền nông nghiệp phát triển từ lâu đã thay đổi phương thức đầu tư, hình thức
sở hữu các tài sản có nguồn gốc ngân sách nhà nước để huy động nhiều nguồn vốn khác nhau ngoài ngành nông nghiệp, từ mọi thành phần kinh tế đặc biệt là kinh tế tư nhân Cơ cấu kinh tế hợp lý thì trong đó GDP nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp và có xu hướng giảm, phát triển nông nghiệp có xu hướng chuyển sang phát triển nông nghiệp sinh thái lấy mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bảo
vệ môi trường là chính
Thực tế phát triển kinh tế thế giới trong vòng 2- 3 thập niên vừa qua đã chỉ rõ, tất cả các nước có nền kinh tế phát triển nhanh đều đề ra chủ trương phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng đi trước một bước đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Có thể thấy rõ điều này qua tình hình thực hiện đầu tư và chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn của một số nước như Hàn Quốc và một số nước trong khu vực Đông Nam
Á có điều kiện tự nhiên và đặc điểm sản xuất nông nghiệp như nước ta
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Trang 30Những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, Hàn Quốc vẫn là một nước chậm phát triển, nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính, với khoảng 2/3 dân số sống ở nông thôn Nông dân sống trong cảnh nghèo nàn, an phận thủ thường, thiếu tinh thần trách nhiệm GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp, lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo Do vậy, cần có chính sách mới phải khơi dậy được niềm tin, tính tích cực đối với việc phát triển nông thôn, khơi dậy tính độc lập, hăng say lao động của nông dân ở khu vực nông thôn và nâng cao vai trò
của họ trong cuộc sống Tổng thống Hàn Quốc phát biểu: “Nếu chúng ta có thể
tạo ra hay khai thác được tinh thần chăm chỉ, tự vượt khó khăn và hợp tác tiềm
ẩn trong mỗi thành viên sống trong khu vực nông thôn, tôi tin tưởng rằng tất cả các làng xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng để sống Chúng ta có thể gọi
là phương hướng hành động của mô hình Saemaul Undong đó là lời tuyên ngôn của phong trào làng mới” Như vậy, phong trào làng mới nhấn mạnh đến yếu tố
quan trọng nhất tạo động lực cho phát triển là “phát triển tinh thần của người
nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ để kích thích tinh thần, qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân
Phong trào Làng mới (SU-Saemaul Udong) ra đời với 3 tiêu chí, đó là “Sự cần cù, tự lực và hợp tác” Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU
và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng
Cấp được coi trọng nhất vẫn là cấp cơ sở, việc đầu tiên được tiến hành là
bầu ra một tổ chức ở cấp cơ sở được gọi là “Uỷ ban Phát triển Làng mới”; Uỷ
ban này có khoảng 5 - 10 người, những người này là đại diện cho cộng đồng ở
Trang 31làng và chịu trách nhiệm lập kế hoạch, thực thi các tiểu dự án phát triển nông thôn cho làng mình Ngoài ra ở cấp tỉnh và cấp huyện, thị cũng được thành lập
Uỷ ban này nhằm giúp, hướng dẫn, tư vấn mọi hoạt động cho Uỷ ban Phát triển làng mới và giúp họ trong vấn đề huy động vật lực Khác với các nước khác, chương trình này do Tổng thống đứng ra trực tiếp lãnh đạo Bộ trưởng Bộ Nội
vụ đứng đầu Uỷ ban điều phối Trung ương với 12 điều phối viên là các Bộ trưởng của các bộ
- Đội ngũ lãnh đạo thôn làm nòng cốt cho chương trình phát triển
Cuộc họp toàn dân mỗi làng bầu ra hai lãnh đạo, một nam và một nữ để lãnh đạo cho phong trào của mình Những người này độc lập với hệ thống chính trị, hành chính ở nông thôn và không được hưởng một khoản trợ cấp nào, nguồn tinh thần chính cho họ này là sự kính trọng của cộng đồng và sự vận động tinh thần kịp thời từ Chính phủ, những người lãnh đạo tinh thần này không bị một sức ép nào về chính trị hay ảnh hưởng về kinh tế, mà chỉ chịu sự phán xét của nông dân và được cộng đồng tin yêu
- Đào tạo cán bộ các cấp theo các mô hình, gắn cả nước với phong trào phát triển nông thôn Để giảm khoảng cách giữa dân thường và quan chức Chính phủ, cần gắn bó thực sự cán bộ nhà nước với nhân dân Các quan chức Trung ương được đưa về và sống cùng với nông dân, lãnh đạo các cấp chính quyền sống với lãnh đạo nông dân
- Phát huy dân chủ, đưa nông dân tham gia vào quá trình ra quyết định phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của Chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình
- Nét nổi bật trong phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc là hàng năm
có đánh giá hiệu quả tham gia chương trình một cách nghiêm túc, công khai
Trang 32Nơi nào thực hiện thành công từng giai đoạn của dự án mới được hỗ trợ chương trình khác
- Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công, của; sự giúp đỡ và hỗ trợ của Nhà nước được giảm dần khi quy mô của địa phương và sự tham gia của dân gia tăng Nông dân chủ động trong vấn đề ra quyết định thứ tự ưu tiên trước, sau, họ tự quyết định các loại thiết kế, chỉ đạo thi công, xây lắp, nghiệm thu, giám sát công trình
Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631 km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322 m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220 km, trung bình mỗi làng là 1.280 m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839 km đê, kè; xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế
Bộ mặt nông thôn thay đổi một cách nhanh chóng, sau tám năm các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Sau hơn 30 năm thực hiện phong trào “làng mới”, môi trường sống và cuộc sống vật chất của người dân nông thôn đã được cải thiện đáng kể; sản xuất mang tính thương mại Cái được lớn nhất là những người nông dân nghèo đói bắt đầu trở nên tự tin hơn, khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có khả năng tích luỹ, tự đầu tư và nhờ đó mà có khả năng tự phát triển
Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn; trong đó quan tâm phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn,
Trang 33phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1 vật tư,
nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự
án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình
Đầu tư phát triển nông thôn là quá trình lâu dài và tốn kém, để hạn chế nguồn kinh phí hạn hẹp thì mô hình phong trào “làng mới” Saemaul là một trong
số những mô hình phát triển nông thôn cần được nghiên cứu và áp dụng một cách có chọn lọc, phù hợp với tình hình thực tế tại nước ta
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước
đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…Những thập kỷ cuối thế kỷ 20 đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho sản xuất nông nghiệp và nông thôn ở Thái Lan đã góp phần chuyển dịch nền sản xuất nông nghiệp truyền thống sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn hướng tới chiếm lĩnh được thị trường xuất khẩu nông sản của thế giới
Trong 15 năm thực hiện đầu tư đa sở hữu (1990-2004) có 81 số dự án và 89% tổng vốn đầu tư các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng có sự tham gia của các thành phần tư nhân trong nước, phần còn lại do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện Nếu xét trên góc độ đầu tư tư nhân từ các thứ cấp có tác động gián tiếp hoặc trực tiếp đến đầu tư phát triển CSHT trên 4 lĩnh vực đầu tư trên trên thì có đến 81 dự án với kinh phí cam kết là 25,745 triệu đô la từ 1990-2004
2.2.2 Kinh nghiệm, bài học trong nước
Trang 342.2.2.1 Kinh nghiệm của huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng
Cát Tiên là huyện vùng sâu, vùng xa lại thuần nông với cây trồng chính
là lúa nước nên thu nhập của nhân dân Cát Tiên không cao so với nông dân các huyện trồng rau, hoa hoặc trồng cây công nghiệp dài ngày, mặc dù số hộ diện nghèo hiện đang ngày càng giảm Để triển khai có kết quả cao Chương trình Xây dựng nông thôn mới, ngay từ đầu năm 2011, thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy và UBND, tất cả 11/11 xã của huyện đều đã thành lập ban chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới
Từ đầu năm 2010 tới cuối tháng 4/2013 vừa qua, tổng nguồn vốn mà Cát Tiên huy động được để đầu tư vào Chương trình Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn là 1.012,8 tỷ đồng, và số vốn huy động được năm sau đã luôn cao hơn năm trước Cụ thể: trong năm 2010, đã huy động được 150,4 tỷ đồng, năm 2011 huy động được 259,7 tỷ đồng, năm 2012 huy động 351,15 tỷ đồng và 4 tháng đầu năm 2013 đã huy động được trên thực tế 251,5 tỷ Đặc biệt, trong tổng số 812,2 tỷ đồng vốn huy động được thời gian qua chỉ có khoảng 11,4 tỷ đồng là vốn của Chương trình Xây dựng nông thôn mới, vốn nhân dân đóng góp khoảng 8,8 tỷ đồng còn lại là vốn lồng ghép (384,41 tỷ đồng) từ các chương trình và dự
án khác đang đầu tư trên cùng địa bàn và vốn tín dụng (609 tỷ đồng) Với nguồn vốn huy động, địa phương đã đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH phục vụ xây dựng nông thôn mới gồm có 2 công trình chứa nước (hồ Bê Đê và hồ Tư Nghĩa), kiên cố hóa 6,45 km kênh mương nội đồng; đưa điện lưới quốc gia tới 9.417 hộ dân - đạt 97% tổng số hộ và tăng trên 3% so với năm 2010; đầu tư thi công 49 tuyến đường giao thông nông thôn với tổng chiều dài 27,2 km; xây dựng 2 chợ cụm xã và chợ nông thôn tại các xã Tiên Hoàng, Nam Ninh, Phù
Mỹ, Phước Cát 2, Đức Phổ; đầu tư xây mới 7 trường học và kiên cố hóa từng bước cho khoảng 200 phòng học các cấp; hầu hết các xã, thôn đều đã có cơ sở y
tế và các thiết chế văn hóa - thể thao Hiện nay trên 80% dân số nông thôn của
Trang 35huyện Cát Tiên đã được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trên 70% số thôn đạt chuẩn thôn buôn văn hóa, 85% số hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa
Mặt mạnh của huyện Cát Tiên là đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong cả hệ thống chính trị và các tầng lớp dân cư về xây dựng nông thôn mới, nên nhân dân đã coi xây dựng nông thôn mới là quyền lợi và nghĩa vụ của chính mình, từ đó đã tích cực tham gia việc đóng góp công sức, tiền của, đất đai để cùng chính quyền địa phương đầu tư thi công các công trình hạ tầng phục vụ
phát triển KT-XH theo phương châm “Nhân dân làm công trình, nhà nước hỗ
trợ vật tư” và tự đầu tư xây mới - chỉnh trang nhà cửa, đầu tư phát triển sản xuất 2.2.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh
Trong năm 2012, tổng nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông thôn tại các xã của tỉnh Quảng Ninh gần 1.100 tỷ đồng, số xã có tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hoá đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới tăng thêm 17 xã; số xã có tỷ lệ đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa tăng thêm 8 xã; số xã có hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất
và dân sinh tăng thêm 12 xã, số xã tỷ lệ trường học các cấp có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia tăng thêm 10 xã… Riêng đối với hệ thống giao thông nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh đã và đang triển khai được 201 công trình, với tổng số trên
70 km Trong bối cảnh nguồn lực hạn chế, nhiều địa phương đã có những cách làm sáng tạo, có chính sách hỗ trợ phù hợp nên đã huy động được nhiều hơn sự tham gia của người dân và cộng đồng, hình thành các phong trào ở khu dân cư
về xây dựng đường giao thông nông thôn, đường nội đồng Việc bố trí lồng ghép các nguồn lực để đầu tư hạ tầng khu vực nông thôn được các địa phương thực hiện khá linh hoạt cộng với các chính sách hỗ trợ phù hợp như hỗ trợ xi măng, huy động nguồn lực từ bên ngoài, hỗ trợ vật tư, máy móc, thiết bị, cho phép doanh nghiệp ứng vốn làm trước, không tính lãi
2.2.2.3 Kinh nghiệm của xã Hải Toàn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Trang 36Trong 3 năm (2011-2013), tổng nguồn vốn huy động xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn của xã đạt 41,42 tỷ đồng; trong đó nhân dân đóng góp 6,7 tỷ đồng (chiếm 16,2%), nguồn vốn của Trung ương đầu tư cho chương trình xây dựng nông thôn mới cùng ngân sách xã là 11,97 tỷ đồng (chiếm 28,8%), các nguồn vốn khác là 22,75 tỷ đồng (chiếm 55%) Khó khăn lớn nhất của xã khi xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đó là nâng cấp và cải tạo hệ thống giao thông Ngoài nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, xã đã tập trung thực hiện nhiều biện pháp để tăng nguồn thu cho ngân sách xã, đồng thời kêu gọi các nguồn lực xã hội hoá, nguồn xây dựng các công trình Xây dựng quy chế rõ ràng, công khai minh bạch các nguồn vốn đầu tư xây dựng, phân cấp xây dựng và quản lý các hạng mục công trình theo từng thôn, xóm Chất lượng công trình ở thôn, xóm được đảm bảo dưới sự giám sát chặt chẽ của đơn vị tư vấn, ban giám sát cộng đồng, đại diện thanh tra nhân dân và đại diện các đoàn thể chính trị xã hội Đến nay, hầu hết các tuyến đường nội đồng đã được bê tông hoá đạt tiêu chuẩn mặt rộng 2 m, nền đường rộng từ 4 - 6 m Năm 2013, xã đã “bê tông hoá” được 800 m đường trục xã với tổng kinh phí hơn 1 tỷ đồng Các tuyến đường liên thôn đã được bê tông hoá 6,3/6,9 km, đường rộng từ 4 - 6 m Hơn 90% đường dong ngõ xóm được bê tông hoá, có hệ thống cống thoát nước đồng bộ, phấn đấu đến hết năm 2014 sẽ bê tông hoá 100% các tuyến đường trục xã, đường trục thôn, xóm và giao thông nội đồng; đưa vào sử dụng công trình nhà máy nước sạch công suất 2.000m3/ngày đêm với tổng mức đầu tư 20 tỷ đồng, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của 2 xã Hải An, Hải Toàn, bãi xử lý rác thải mới rộng 1ha của xã đảm bảo tập kết, chôn lấp toàn bộ rác thải trên địa bàn Khánh thành công trình trạm y tế xã với tổng mức đầu tư xây dựng 2,8 tỷ đồng, Các chương trình quốc gia về y tế được triển khai đồng bộ, trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia mức độ 2; có 3 trường học đạt chuẩn quốc gia cấp độ I Trong 3 năm qua, xã đã xây dựng mới 9/12 nhà văn hóa ở các thôn, xóm
Trang 38PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Kim Bảng nằm ở phía tây bắc tỉnh Hà Nam, vị trí địa lý vào khoảng 2003 vĩ độ bắc và 105030 kinh độ đông; Phía bắc giáp huyện Ứng Hoà, Thành phố Hà Nội; Phía nam giáp huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; Phía đông giáp huyện Duy Tiên và Thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; Phía tây giáp huyện
Mỹ Đức, thành phố Hà Nội và huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình Huyện Kim Bảng nằm gần trục quốc lộ 1A ở phía Đông và vùng du lịch nổi tiếng Chùa Hương của Thành phố Hà Nội ở phía Tây Từ đông sang tây được nối liền bởi sông Đáy và có các trục 21A, 21B, tỉnh lộ 793, 798 (đường Mỹ Kim) Từ bắc xuống nam được nối bởi sông Nhuệ, tỉnh lộ 797 (đường Biên Hoà) và các tuyến đường liên huyện, liên xã Kim Bảng có vị trí rất thuận lợi để giao lưu kinh tế, văn hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội của huyện
3.1.1.2 Địa hình, khí hậu và chế độ thủy văn
- Đặc điểm địa hình: Kim Bảng nằm trong vùng tiếp xúc giữa vùng trũng đồng bằng sông Hồng và dải đá trầm tích ở phía tây nên có địa hình rất đa dạng Phía bắc sông Đáy là đồng bằng thấp với các dạng địa hình ô trũng, phía nam sông Đáy là vùng đồi núi có địa hình cao, tập trung nhiều đá vôi, mỏ sét
- Điều kiện khí hậu: Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, huyện Kim Bảng chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt
độ trung bình năm là 230C, thấp nhất vào tháng 1 là 160C, cao nhất vào tháng 7
là 290 C Lượng mưa trung bình trong năm 1825 mm, thấp nhất là 978 mm và cao nhất là 2754 mm
Trang 39- Chế độ thủy văn: Trên địa bàn huyện có hai con sông chính chảy qua là sông Đáy và sông Nhuệ Sông Đáy là một phần dòng tự nhiên của sông Hồng, sông Đáy chảy theo hướng tây bắc - đông nam, đoạn chảy qua huyện có chiều dài 29,5km; chiều rộng trung bình từ 100 đến 120m; vừa đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất, vừa là tuyến giao thông quan trọng của huyện
Sông Nhuệ có cửa từ sông Hồng tại cống Liên Mạc (Hà Nội) chảy vào Kim Bảng theo hướng từ bắc xuống nam Đoạn sông qua huyện có chiều dài 10
km thuộc địa phận phía đông của hai xã Nhật Tựu và Hoàng Tây Đây là con sông nằm trong hệ thống thuỷ nông, nông giang sông Nhuệ nên chủ yếu để tưới tiêu và phục vụ sản xuất nông nghiệp Ngoài ra huyện còn hai con sông nhỏ khác
là sông Ngăm và sông Bùi chủ yếu phục vụ tưới tiêu trong nội huyện
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Kim Bảng gần các trung tâm kinh tế lớn của đất nước, điều kiện giao thông thuận tiện, có lợi thế lớn để phát triển kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
3.1.2.1 Tình hình đất đai
Kim Bảng thuộc vùng châu thổ Sông Hồng, có tổng diện tích tự nhiên là 18.662,62 ha, được phân bổ cho những mục đích sử dụng đất khác nhau, bao gồm: vùng đồi núi, nửa đồi núi và đồng chiêm trũng Toàn bộ vùng rừng núi hình thành một vòng cung chắn phía tây và tây nam huyện Trên địa bàn có nhiều nhà máy xi măng đang hoạt động như Nhà máy xi măng Bút Sơn, Xi măng X77, Xi măng nội thương Kim Bảng còn có than bùn, đất sét trắng rất thuận lợi cho việc sản xuất vật liệu xây dựng Tình hình đất đai của huyện Kim Bảng qua 3 năm được thể hiện qua bảng 3.1
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29
Bảng 3.1: Tình hình đất đai của huyện Kim Bảng qua 3 năm (2011-2013)
A.Tổng diện tích đất tự nhiên Ha 18662,62 100,00 18662,62 100 18662,62 100 100,00 100,00 100,00
I Đất nông nghiệp Ha 12322,16 66,03 12127,98 64,99 11992,20 64,26 98,42 98,88 98,65 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp Ha 6565,33 53,28 6470,52 53,35 6425,27 53,58 98,56 99,3 98,93 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm Ha 6187,70 94,25 6102,77 94,32 6060,86 94,33 98,63 99,31 98,97 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm Ha 337,63 5,14 367,75 5,68 364,41 5,67 108,92 99,09 103,89