PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn đề tài : Trong xu thế toàn cầu hoá, với nền kinh tế tri thức và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, chuyển giao từ nền văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ, tất cả các nước trên thế giới đang thực hiện cuộc chạy đua để đạt đến cái đích đó. Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ( CNHHĐH ) đất nước đang diễn ra rầm rộ ở các quốc gia và tiếp cận ngày càng sâu văn minh trí tuệ một sự đầu tư vô cùng lớn cho tương lai. Và trong sự nghiệp phát triển đó, yếu tố về con người là yếu tố quan trọng bậc nhất chi phối các yếu tố khác và cả quá trình đổi mới. Con người là trung tâm và động lực của vận hội đất nước, giai cấp công nhân (GCCN) lại là trung tâm của trung tâm đó. Đất nướcViệt Nam chúng ta cũng đang trên con đường hội nhập cùng bạn bè quốc tế, tiếp tục xây dựng và phát triển GCCN Việt Nam trong thời kì hiện nay là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, nhà nước, của cả hệ thông chính trị, của mỗi công dân và của toàn xã hội. Nước ta đã chính thức là thành viên của WTO, sức ép cạnh tranh và chuyển dịch lao động diễn ra rất phức tạp và quyết liệt. Đến năm 2020 ta cơ bản hoàn thành CNHHĐH để có một đất nước “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh “. Vì thế yêu cầu đặt ra là phải có một GCCN đủ mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng, có trình độ tay nghề cao, có kỉ luật và tác phong công nghiệp. GCCN chiếm giữ một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, là trung tâm của xã hội. GCCN Việt Nam có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, các ngành nghề đồng thời là lực lượng sản xuất cơ bản nắm giữ cơ sở vật chất quan trọng, quyết định phương hướng phát triển của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Là lực lượng nòng cốt của liên minh công – nông – trí thức, là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc. Do đó, GCCN cần có những thay đổi tích cực nhằm thích ứng với những thay đổi của xã hội hiện đại cũng như không để mình bị tụt hậu và thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 / Lí do chọn đề tài :
Trong xu thế toàn cầu hoá, với nền kinh tế tri thức và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, chuyển giao từ nền văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ, tất cả các nước trên thế giới đang thực hiện cuộc chạy đua để đạt đến cái đích đó Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ( CNH-HĐH ) đất nước đang diễn ra rầm rộ ở các quốc gia và tiếp cận ngày càng sâu văn minh trí tuệ - một sự đầu tư vô cùng lớn cho tương lai Và trong sự nghiệp phát triển
đó, yếu tố về con người là yếu tố quan trọng bậc nhất chi phối các yếu tố khác và cả quá trình đổi mới Con người là trung tâm và động lực của vận hội đất nước, giai cấp công nhân (GCCN) lại là trung tâm của trung tâm đó Đất nướcViệt Nam chúng ta cũng đang trên con đường hội nhập cùng bạn
bè quốc tế, tiếp tục xây dựng và phát triển GCCN Việt Nam trong thời kì hiện nay là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, nhà nước, của cả hệ thông chính trị, của mỗi công dân và của toàn xã hội Nước ta đã chính thức
là thành viên của WTO, sức ép cạnh tranh và chuyển dịch lao động diễn ra rất phức tạp và quyết liệt Đến năm 2020 ta cơ bản hoàn thành CNH-HĐH
để có một đất nước “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh “ Vì thế yêu cầu đặt ra là phải có một GCCN đủ mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng, có trình độ tay nghề cao, có kỉ luật và tác phong công nghiệp GCCN chiếm giữ một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp
Trang 2đổi mới của đất nước, là trung tâm của xã hội GCCN Việt Nam có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, các ngành nghề đồng thời là lực lượng sản xuất
cơ bản nắm giữ cơ sở vật chất quan trọng, quyết định phương hướng phát triển của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Là lực lượng nòng cốt của liên minh công – nông – trí thức, là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc Do đó, GCCN cần có những thay đổi tích cực nhằm thích ứng với những thay đổi của xã hội hiện đại cũng như không để mình bị tụt hậu và thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình
Thực trạng của GCCN Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải có những thay đổi, chuyển biến cụ thể, thiết thực Nếu không họ vẫn mãi là những con người nghèo khổ không chỉ về vật chất mà còn nghèo cả về tư duy, kiến thức Như thế họ sẽ dần mất đi vai trò tiên phong của Đảng cộng sản Việt Nam, không còn là lực lượng nòng cốt của Đảng, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Vấn đề về phương hướng nâng cao chất lượng của GCCN Việt Nam trong thời kì CNH-HĐH đất nước là một vấn đề quan trọng mang tính chất thời đại cần được quan tâm sâu sắc và nếu giải quyết tốt thì nước ta sẽ nhanh chóng thành công trên con đường sự nghiệp trong tương lai Với tất cả những lí do trên, tôi chọn vấn đề này để làm đề tài cho bài nghiên cứu của mình
2 / Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 32.2) Nhiệm vụ.
Nêu lên những vấn đề lí luận chung về GCCN
Làm rõ thực trạng của GCCN Việt Nam hiện nay
Đưa ra những phương hướng nhằm nâng cao chất lượng của GCCN Việt Nam trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước
3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1) Đối tượng nghiên cứu
Giai cấp công nhân Việt Nam
3.2) Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề về GCCN Việt Nam hiện nay là một vấn đề nóng cần được quan tâm, nghiên cứu về vấn đề này là một việc làm mang tính xã hội cao Tuy nhiên do trình độ kiến thức có hạn và thời gian không cho phép nên phạm vi nghiên cứu còn hạn chế Ở đây chúng ta chủ yếu chú trọng vào tình hình GCCN Việt Nam từ những năm đổi mới (1986) đến nay và chủ trương phát triển GCCN hiện nay của Đảng và nhà nước ta
4) Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu.
4.2) Phương pháp nghiên cứu :
Sử dụng những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm nghiên cứu hệ thống lí luận về GCCN của chủ nghĩa Mác- Lênin, vận dụng nó để đề ra phương hướng nhằm nâng cao chất lượng của GCCN Việt Nam trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước
Trang 4Đọc và phân tích những tài liệu liên qua đến GCCN thế giới nói chung và GCCN Việt Nam nói riêng
Sử dụng các qui tắc diễn dịch, qui nạp nhằm trình bày nội dung bài tiểu luận
5) Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.
5.1) Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu lí luận về GCCN trong điều kiện CNH-HĐH đất nước theo định hướng XHCN để thấy được vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của GCCN trong giai đoạn hiện nay
5.2) Ý nghĩa thực tiễn
Nêu lên thực trạng của GCCN trong giai đoạn hiện nay đồng thời đưa ra một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng của GCCN Việt Nam, giúp thích nghi với sự thay đổi của xã hội vượt qua những khó khăn đưa đất nước
đi lên
6) Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận , mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 2 chương và 5 tiết
Trang 51.1.1) Quan điểm của Mác – Ănghen về GCCN.
Trong hai tác phẩm “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” của CacMác (1848)
và “CácMác”của Ănghen (1877) , hai ông đã nêu ra được những nét tổng quát, chỉ rõ sự khác nhau về địa vị , đặc điểm, sứ mệnh của từng giai cấp trong lịch sử Trên cơ sở đó, hai ông đã có những nhận định về GCCN
Thứ nhất : Về phương thức lao động của GCCN:
Hai ông cho rằng ,họ là những tập đoàn người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành những công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và có trình độ xã hội hóa cao Đặc trưng này phân biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công “Trong công trường thủ công và trong nghề nghiệp thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còn trong công xưởng thì người công nhân phải phục vụ máy móc”
Trong xã hội tư bản thì “ tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn GCVS lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”
Từ đặc trưng này mà Mác và Ănghen gọi GCCN là GCCN hiện đại hay GCCN đại công nghiệp
Thứ hai: Về địa vị của GCCN trong hệ thống quan hệ sản xuất TBCN:
Về mặt này, hai ông đã thấy được người công nhân không có tư liệu sản
Trang 6xuất buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để kiếm sống, khiến họ trở thành giai cấp lao động làm thuê cho giai cấp tư sản (GCTS) và là lực lượng đối kháng của GCTS Từ đặc trưng thứ hai này mà Mác và hen gọi GCCN là GCVS.
Trong tác phẩm “Những nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản” , Ăghen có định nghĩa : “GCVS là giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán sức lao động của mình chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ
tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn
bộ sự sống của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình diễn biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi Nói tóm lại, GCVS hay những người
vô sản là giai cấp lao động trong thế kỉ XIX”
1.1.2) Quan điểm của Lênin về GCCN.
Kế thừa và phát triển các quan điểm của chủ nghĩa Mác, trong tác phẩm sáng kiến vĩ đại” của mình, Lênin nhận định : “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn người to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng.Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác,
do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một thể chế kinh tế xã hội nhất định” Từ đó Lênin đã hoàn thiện thêm khái niệm về GCCN Theo ông trong các nước đi theo con đường XHCN về cơ bản GCCN cùng với nhân dân lao động đã trở thành những người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Địa vị kinh tế và chính trị của họ đã có những thay đổi căn
Trang 7bản”
Như vậy trên con đường hoàn thiện chủ nghĩa Mác, Lênin đã hé mở ra con đường giải phóng cho GCCN và nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột, đó
là giành quyền làm chủ cho chính mình
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa maxit cũng đã bàn về sứ mệnh lịch sử (SMLS) của GCCN, các ông cho rằng GCCN là giai cấp có SMLS lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột và xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa
Đẻ thực hiện được nhiệm vụ đó thì GCCN phải là giai cấp thống trị về chính trị, là động lực và lực lượng lãnh đạo cuộc đấu tranh nhằm thủ tiêu mọi sự
áp bức, bóc lột và sự tha hóa của con người, sáng tạo xã hội mới, là lực lượng lãnh đạo toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu toàn bộ giai cấp
Quá trình hoàn thành sứ mệnh đó phải trải qua hai giai đoạn là “ GCVS chiếm lấy chính quyền nhà nước và biến tư liệu sản xuất trước hết trở thành của nhà nước” tiếp đó GCVS cũng tự thủ tiêu với tư cách là GCVS ,chính vì thế mà nó cũng xóa bỏ mọi sự phân biệt giai cấp và mọi đối kháng giai cấp”
Có như vậy GCCN mới xóa bỏ được xã hội có giai cấp, xóa bỏ chế độ áp bức bóc lột và hoàn thành SMLS của mình
1.1.3) Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng ta về GCCN.
Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã làm rất nhiều công việc của người công nhân để kiếm sống và Người đã rút ra được kết luận :”Ở đâu CNTB cũng tàn ác vô nhân đạo, ở đâu GCCN và nhân dân lao động cũng bị áp bức boác lột dã man, ở dâu người dân mất nước cũng khổ nhục như nhau “.Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh thì tư tưởng về GCCN trong sự nghiệp giải phóng dân tộc là một quan điểm nhất quán, đánh giá đúng bản chất cách mạng và năng lực lãnh đạo của GCCN Trong cuốn
Trang 8“Đường cách mệnh “ và các văn kiện được thông qua tại hội nghị thành lập Đảng, các quan điểm về GCCN được Người khẳng định : “GCCN là gốc cách mạng, là lực lượng, là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đandr cộng sản Việt Nam là Đảng của GCCN Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng và kim chỉ nam cho các hoạt động của Đảng, GCCN cần phải đoàn kết với giai cấp nông dân và các thành phần dân tộc khác để đấu tranh giải phóng dân tộc, thực hiện dân chủ và đi tới xã hội cộng sản, GCCN Việt Nam có mối liên hệ mật thiết với GCCN quốc tế” Người nhận rõ: “GCCN các nước kể cả thuộc địa và chính quốc phải đoàn kết để chống kẻ thù chung
là CNTB, để giành lấy thắng lợi, cách mạng nhất định phải do GCCN lãnh đạo ,vì nó là giai cấp tiền tiến nhất ,giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỉ luật nhất và có tổ chức chặt chẽ nhất”
Mở đầu nghị quyết 6 (khóa 10), Trung ương Đảng đã đưa ra khẳng định :
“GCCN là một lực lượng xã hội to lớn đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”
Bác Hồ và Đảng ta đã có những nhận định đúng đắn về GCCN quốc tế nói chung và GCCN việt Nam nói riêng.Người cũng đã đề ra những đường lối, chủ trương phát triển GCCN nước nhà Trong thời đại CNH-HĐH, Đảng ta cũng đã và đang lãnh đạo tiếp tục xây dựng và phát triển GCCN theo chủ trương của Bác
Dựa trên quan điểm của các nhà triết học và tình hình của GCCN trong
sự phát triển khoa học công nghệ rút ra được định nghĩa : “GCCN là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất
Trang 9có tính xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội, là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ CNTB lên CNXH Ở các nước TBCN, GCCN là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho GCTS
và bị GCTS bóc lột giá trị thặng dư Ở các nước XHCN, họ là những người
đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của chính bản thân họ”
1.2.1) Nguồn gốc ra đời.
GCCN Việt Nam ra đời từ rất sớm, là sản phẩm trực tiếp của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897) Thời kì này giai cấp nông dân chiếm trên 90% số dân, bị đế quốc phong kiến bóc lột nặng nề bằng các thủ đoạn sưu cao, thuế nặng, tô tức, phu phen, tạp dịch, tước đoạt ruộng đất…Họ bị bần cùng hóa và phá sản trên qui mô lớn Trong lúc đó, thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, chúng tước đoạt , phá hoại mọi thứ, thành lập các xưởng công nghiệp, xí nghiệp,đồn điền, hầm mỏ…và người nông dân phá sản phải vào làm việc ở đó rồi trở thành GCCN GCCN Việt Nam phát triển khá nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng trong cuộc khai thác lần hai (1924-2929) của thực dân Pháp ở Việt Nam Họ thật sự trở thành GCCN Việt Nam và là một bộ phận của GCCN thế giới
1.2.2) Đặc điểm.
Áp dụng chính sách khai thác thuộc địa trên toàn thế giới vào Việt Nam, thực dân Pháp khai thác nước ta một cách triệt để và bóc lột dân ta một cách thậm tệ Bọn đế quốc thực dân sử dụng những cách thức bóc lột giống nhau
Trang 10trên toàn cầu nên GCCN trên toàn thế giới đều chịu tác động của những môi trường giống nhau do đó họ hình thành những đặc điểm chung giống nhau GCCN Việt Nam cũng mang những đặc điểm chung của GCCN quốc tế như
là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất của xã hội, có điều kiện lao động và sinh sống tập trung…Nhưng bên cạnh đó do ảnh hưởng của những điều kiện lịch sử của đất nước, những bản chất và truyền thống của dân tộc nên GCCN Việt Nam còn mang những đặc điểm riêng của mình Đó là :
Bị ba tầng áp bức bóc lột : Lúc bấy giờ, nước ta là một nước thực dân nửa phong kiến nên tồn tại nhiều tầng lớp trong xã hội, những tầng lớp thống trị đua nhau áp bức GCCN để làm giàu cho mình,đó là bọn thực dân xâm lược, bọn địa chủ phong kiến và cả bọn tay sai bán nước Nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ nằm trong tình trạng “một cổ ba tròng”
Có quan hệ gắn bó tự nhiên mật thiết với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác : Người dân Việt Nam phần lớn là những người nông dân chất phác đi ra từ gốc ruộng, GCCN hầu hết xuất phát từ những người nông dân, họ cùng có chung một nguồn gốc với nhau lại cùng chịu cảnh cực khổ
và sự bóc lột của giai cấp thống trị nên họ có sự gắn bó mật thiết với nhau Đây là nguồn gốc để hình thành liên minh công nông vững mạnh và và khối đại đoàn kết dân tộc trong đó GCCN là lực lượng đi đầu lãnh đạo trong công cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng xã hội
Kế thừa truyền thống yêu nước anh hùng ,bất khuất của dân tộc : Sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, có truyền thống yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc và dần lớn lên trong không khí sục sôi của các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân, GCCN chịu sự ảnh hưởng và tiếp thu những nét tinh hoa đó tạo thành bản chất quí báu luôn được nung nấu trong mình
Trang 11Tất cả những đặc điểm đó tạo thành nét đặc trung cho GCCN Việt Nam, góp phần thúc đẩy lực lượng phát triển và thực hiện nhiệm vụ cách mạng của mình.
Từ khi trở thành giai cấp cầm quyền, GCCN Việt Nam luôn phát huy bản chất cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn là lực lượng đi đầu
và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH, xây dựng
và phát triển nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức hiện đại
Hiện nay, quá trình trí thức hóa GCCN diễn ra mạnh mẽ, từng bước hình thành GCCN trí thức Việt Nam
1.2.3) Vai trò lãnh đạo – sứ mệnh lịch sử.
Nói về SMLS của GCCN toàn thế giới, Ănghen đã khẳng định : “Thực hiện sự nghiệp giải phóng ấy đó là SMLS của GCVS hiện đại” SMLS của GCCN do những điều kiện lịch sử quyết định :
Địa vị kinh tế - xã hội của GCCN là yếu tố quyết định đầu tiên : trong nền sản xuất đại công nghiệp, GCCN vừa là chủ thể trực tiếp nhất, vừa là sản phẩm căn bản nhất của nền sản xuất đó Họ đại diện cho lực lượng sản xuất có trình độ công nghiệp hóa ngày càng cao và tiêu biểu cho phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn phương thức sản xuất TBCN, tiêu biểu cho xu thế phát triển của xã hội loài người Hơn nữa GCCN có những lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của đại đa số quần chúng nhân dân lao động là xóa bỏ chế độ tư hữu TBCN, giành lấy chính quyền, tổ chức xây dựng xã hội mới không còn tình trạng áp bức bóc lột Trong xã hội TBCN, GCCN là những người vô sản , không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, họ phải đi làm thuê cho nhà tư bản và bị bóc lột nặng nề, lâm vào tình trạng không còn gì để mất Từ đó GCCN quyết đấu tranh và có khả năng tập hợp, đoàn kết các lực lượng quần chúng lao động để giải phóng mình và toàn xã hội
Trang 12Về mặt chính trị, GCCN là giai cấp tiên phong cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để nhất ,là giai cấp có ý thức tổ chức kỉ luật cao và có bản chất quốc tế Do đó GCCN mang trong mình sứ mệnh cao cả lãnh đạo nhân dân lao động xóa bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột và xây dựng xã hội mới – xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa Đối với GCCN Việt Nam, về mảng lãnh đạo nhân dân xóa bỏ chế độ áp bức bóc lột, xây dựng xã hội mới XHCN, họ đã thực hiện hết sức thành công Mở đầu là cuộc đấu tranh của công nhân viên chức các sở công thương của tư nhân ở Bắc Kì năm 1922, tiếp đó là cuộc bãi công của thợ nhuộm ở Chợ Lớn (11/1922) Sang năm 1924 có nhiều cuộc bãi công của công nhân ở các nhà máy dệt, rượu, xay gạo ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương…quan trọng hơn là cuộc bãi công của thợ máy xưởng Ba Son Tháng 2/1930 ,nổ ra cuộc bãi công của công nhân đồn điền Phú Riềng ,tiếp là công nhân nhà máy sợi Nam Định, nhà máy diêm và cưa Bến Thủy, xi măng Hải Phòng , hãng dầu Nhà Bè, đồn điền Dầu Tiếng…đến đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh và nhiều phong trào khác Sau khi giành độc lập, đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới quá độ lên CNXH và thực hiện CNH-HĐH đất nước.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần 6 (khóa 10) khẳng định
“GCCN nước ta có SMLS to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng cộng sản Việt Nam, giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, lực lượng nòng cốt trong liên minh GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng” Trước mắt trong những năm tới thực hiện thắng lợi mục tiêu
“nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân
Trang 13tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho CNH-HĐH đất nước, phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Trước yêu cầu và thách thức lớn của thời đại, GCCN Việt Nam mang trên mình trọng trách nặng nề và để thực hiện được nhiệm vụ đó, GCCN nước ta cần phải được hoàn thiện và phát triển về mọi mặt
1.3) TÌNH HÌNH GCCN VIỆT NAM SAU 20 NĂM ĐỔI MỚI
Qua 20 năm đổi mới, GCCN Việt Nam đã có những chuyển biến quan
trọng Tính đến đầu năm 2007, tổng số công nhân nước ta khoảng 9,5 triệu người ,chiếm 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội Trong đó có 1,94 triệu công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước, 3,37 triệu công nhân trong các doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế nhà nước, 1,45 triệu công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tửtực tiếp nước ngoài và khoảng 2,27 triệu công nhân trong các loại hình sản xuất, kinh doanh khác GCCN nước ta đang tăng nhanh về số lượng và có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế So với cuối năm 2003, đầu năm 2007 số công nhân trong các doanh nghiệp tăng 30,5%, trong đó doanh nghiệp tư nhân và tập thể tăng 63%, công nhân doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 68%, công nhân doanh nghiệp giảm 15%
Đội ngũ công nhân nước ta ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành nghề, trình
độ học vấn, chuyên môn, kĩ thuật được nâng lên đáng kể Đội ngũ công nhân tăng nhanh trong một số ngành kinh tế mũi nhọn : điện lực, dầu khí, điện tử, tin học, viễn thông…đồng thời cũng phát triển ở một số ngành sản xuất, chế
Trang 14biến hàng xuất khẩu : dệt may, giày da, chế biến thủy sản…Đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức có trình độ cao đẳng, đại học trở lên làm công tác quản lí sản xuất kinh doanh, nghiên cứu và quản lí khoa học kĩ thuật gắn với sản xuất kinh doanh hoặc trực tiếp sản xuất Hàng chục vạn cán bộ khoa học kĩ thuật, cán bộ quản lí doanh nghiệp, công nhân bậc cao và thợ giỏi năng động , sáng tạo, có nhiều sáng kiến có giá trị cao được
áp dụng GCCN nước ta thích nghi tương đối nhanh với cơ chế thị trường , ý thức được giá trị của bản thân trong lao động, một bộ phận công nhân có cổ phần trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa Một bộ phận công nhân có bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp vững vàng Đại đa số có ý thức dân tộc , tinh thần yêu nước, cần cù lao động, tinh thần đoàn kết tương thân tương
ái Cùng với các giai cấp ,tầng lớp khác trong xã hội , GCCN là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng và nhà nước
Trong liên minh GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự
lãnh đạo của Đảng, họ đã phối hợp với nhau chặt chẽ và đồng bộ hơn Đã có một số mô hình liên kết trực tiếp công nhân với nông dân và nghiên cứu khoa học; công nhân, nông dân và trí thức trong sản xuất kinh doanh như mô hình công ty mía đường Lam Sơn; hình thức liên kết bốn nhà : nhà nông, nhà doanh nghiệp,nhà khoa học, nhà nước; các hình thức liên kết trong thực hiện xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng\ ha\ năm và hộ nông dân thu nhập 50 triệu đồng \ năm
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu GCCN nước ta cũng còn một số hạn chế : Sự phát triển của GCCN chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội về số lượng, cơ cấu, trình độ học vấn, chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp , thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kĩ thuật, cán bộ quản lí giỏi, công nhân lành nghề , tác phong công nghiệp và kỉ luật lao động còn nhiều hạn chế, chưa
Trang 15được đào tạo có hệ thống , chậm thích nghi với cơ chế thị trường của thời đại CNH-HĐH Địa vị chính trị của GCCN chưa được thể hiện đầy đủ , còn nhiều hạn chế trong phát huy vai trò nòng cốt của liên minh công nhân-nông dân-trí thức, giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị không đồng đều, hiểu biết pháp luật còn thấp Tỉ lệ Đảng viên và cán bộ lãnh đạo xuất thân từ công nhân rất ít Việc làm và đời sống vật chấtđược cải thiện nhưng chưa công nhân được hưởng tương ứng với công sức của mình, đời sống vật chất và tinh thần còn nhiều khó khăn và thách thức
* Nguyên nhân của thực trạng trên:
Đảng đã có những đường lối đổi mới , phát triển kinh tế- xã hội nhưng chưa được thực hiện triệt để , còn nhiều hạn chế yếu kém
Đảng có chú trọng xây dựng GCCN nhưng chưa đầy đủ, chưa ngang tầm với vị trí, vai trò của GCCN trong thời đại mới
Nhà nước ban hành nhiều chính sách pháp luật xây dựng GCCN nhưng còn nhiều hạn chế, bất cập
Tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị khác có đóng góp tích cực vào việc xây dựng GCCN nhưng hiệu quả chưa cao, còn nhiều yếu kém công đoàn phát huy chưa hết vai trò là một tổ chức của GCCN
Bản thân GCCN có nổ lực vươn lên nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu Các doanh nghiệp và người sử dụng lao động có đóng góp tích cực cho việc làm và thu nhập của công nhân nhưng còn nhiều trường hợp vi phạm pháp luật đối với người lao động
Trong tình hình đó, GCCN Việt Nam phải phấn đấu hoàn thiện và phát triển mình hơn nữa mới có thể đảm đương SMLS dân tộc Đảng, nhà nước
và nhân dân ta cũng đã và đang tiếp tục xây dựng , phát triển GCCN Việt Nam trong thời kì CNH-HĐH để phục vụ đất nước
Trang 16CHƯƠNG 2 : NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GCCN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC.
2.1) THỰC TRẠNG GCCN VIỆT NAM HIỆN NAY.
2.1.1)Vài nhận xét về GCCN Việt Nam hiện nay.
Sau hơn 20 năm đổi mới, GCCN nước ta có những thành tựu và hạn chế nhất định.Trước công cuộc đổi mới của đất nước, công nhân Việt Nam cũng
có những vận động và biến đổi không ngừng, về cơ bản có thể nhìn nhận GCCN Việt Nam hiện nay một cách tổng quát như sau :
Về cơ cấu trình độ học vấn và chuyên môn : Trình độ văn hóa, tay nghề ,kĩ thuật của công nhân còn thấp, một bộ phận công nhân mới là những học sinh mới rời trường phổ thông Số công nhân có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam khoảng 150 nghìn người , chiếm 3,3 % so với đội ngũ công nhân nói chung ở Việt Nam Theo số liệu điều tra thì hiện nay 3% số người lao động chưa biết chữ , 12% chưa tốt nghiệp tiểu học , 73% chưa qua đào tạo nghề một cách chuyên nghiệp GCCN bao gồm những người lao động có tính công nghiệp (chân tay, thủ công) tại các công trường xây dựng; các doanh nghiệp, nông, lâm trường và các hộ tiểu chủ sản xuất; nhóm công nhân công nghiệp cơ khí, nhất là các ngành công nghiệp nặng; nhóm công nhân tự động hóa hay lao động công nghệ cao, lao động trí thức tại các khu công nghệ cao Trong các ngành nghề của công nhân, tỉ lệ công nhân cơ khí
và công nghiệp nặng còn rất thấp khoảng 20% tổng số công nhân cả nước Trong khi đó, công nhân trong các ngành công nghiệp nhẹ và chế biến thực phẩm lại chiếm tỉ lệ cao khoảng 40%
Về cơ cấu thành phần kinh tế : GCCN gồm có số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (doanh nghiệp nhà nước,