Chuyên đề nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Trang 1Lời mở đầu
Cùng với sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của đấtnước Hệ thống ngân hàng nước ta đã có những bước tiến đáng kể trong hoạtđộng của mình để đáp ứng những yêu cầu của nền kinh tế
Từ những yêu cầu của hệ thống ngân hàng, nước ta đã có những đổimới căn bản về cơ cấu tổ chức cũng như công nghệ của ngân hàng Nét nổibật của những đổi mới đó là sự phân chia thành hai cấp của hệ thống ngânhàng, trong đó Ngân hàng Thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền
tệ và cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, còn Ngân hàng Nhà nước vớivai trò quản lý toàn bộ hệ thống ngân hàng
Sự phát triển của hệ thống Ngân hàng Thương mại đã góp phần quantrọng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển Khi nền kinh tế càng phát triển mạnhthì những đòi hỏi yêu cầu đặt ra với hệ thống ngân hàng ngày càng lớn, buộccác ngân hàng phải không ngừng đổi mới và phát triển hơn nữa để đáp ứng vàthoả mãn những yêu cầu của nền kinh tế.Với nhận thức: để tồn tại và pháttriển vững mạnh trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt thì cácNgân hàng Thương mại không còn cách nào khác là phải mở rộng hoạt độngkinh doanh cũng như không ngừng nâng cao chất lượng của những hoạt động
đó Đối với ngành ngân hàng hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong đó, tín dụng trung và dàihạn là nghiệp vụ quan trọng mang lại hiệu quả cao trong hoạt động tín dụngcủa các ngân hàng Vì vậy, việc không ngừng nâng cao chất lượng tín dụngnói chung và chất lượng tín dụng trung và dài hạn nói riêng là một trongnhững yếu tố quyết định sự phát triển vững chắc của các ngân hàng
Từ nhận thức trên, Em mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng Công thương Từ
Trang 2Sơn” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình nhằm đóng góp những ý kiến trong
phạm vi kiến thức của em về vấn đề nghiên cứu trên
1.Mục đích nghiên cứu:
Chuyên đề nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng tíndụng trung và dài hạn của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế thịtrường Ngoài ra, chuyên đề còn xem xét thực trạng chất lượng tín dụng trung
và dài hạn tại Ngân hàng Công thương Từ Sơn dựa trên các chỉ tiêu cơ bản.Đồng thời, trên cơ sở thực tiễn và lý luận, chuyên đề đặc biệt quan tâm tớiviệc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và dàihạn tại Ngân hàng Công thương Từ Sơn
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề chủ yếu tập trung nghiêncứu tình hình tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng Công thương Từ Sơn
Phạm vi nghiên cứu : Tập trung nghiên cứu một số vấn đề lýluận liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại Ngânhàng Công thương Từ Sơn từ năm 2006 đến năm 2007, từ đó đề xuất một sốđịnh hướng, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng tín dụng nói chung củaNgân hàng
3.Kết cấu:
Ngoài phần mở đầu, kết luận chuyên đề được trình bày ở 3 Chương: Chương 1: Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng trung và dài hạntại Ngân hàng Thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngânhàng Công thương Từ Sơn
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạntại Ngân hàng Công thương Từ Sơn
Do kiến thức,thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên bài viếtchuyên đề này chắc chắn sẽ khó tránh khỏi những sai lầm thiếu sót.Em mongrằng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp bổ ích từ các thầy giáo,cô giáo ,các
Trang 3bạn và những người quan tâm để chuyên đề này được bổ sung và hoàn chỉnhhơn.
Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban lãnh đạo vàcán bộ phòng tín dụng tại Ngân hàng công thương Từ Sơn đã tạo điều kiệnthuận lợi giúp em hoàn thành chuyên đề này
Em xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn chu đáo và tận tình của thầy
giáo PGS-Tiến sỹ.Trần Đăng Khâm đã giúp em có phương pháp nghiên cứu
khoa học để em hoàn thành chuyên đề này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Chương 1:Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng trung và
dài hạn của ngân hàng thương mại
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm,đặc điểm của ngân hàng thương mại
Khái niệm: Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọngđối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương, chủ thểtham gia nói riêng Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng quan niệm như thếnào về một Ngân hàng, và sự phân biệt nó với các tổ chức phi Ngân hàngkhông phải là điều đơn giản Rõ ràng, có thể định nghĩa Ngân hàng thông quachức năng mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Tuy nhiên, vấn đề ở chỗkhông chỉ chức năng của các Ngân hàng thay đổi, mà có sự “thâm nhập” vàochức năng hoạt động Ngân hàng của các đối thủ cạnh tranh Do đó tuỳ theođIều kiện của mỗi nước và sự phát triển của hệ thống tài chính nước đó mà cónhững định nghĩa khác nhau về Ngân hàng
Theo luật Ngân hàng của Pháp thì Ngân hàng được định nghĩa:”Ngânhàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thường xuyên nhận củacông chúng dưới hình thức ký thác, hay hình thức khác số tiền mà họ dùngcho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.”
Còn luật pháp ấn độ lại có cái nhìn về Ngân hàng như sau, họ địnhnghĩa:” Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vayhay tài trợ và đầu tư.”
Đó là các quan niệm về Ngân hàng đứng trên giác độ luật pháp Cònđứng trên giác độ tài chính Ngân hàng thì sao? Một định nghĩa khác về Ngânhàng được Giáo sư Peter Rose đưa ra như sau: ”Ngân hàng là loại hình tổchức tàt chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất -đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức
Trang 5năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinhtế.”
Ở Việt Nam, theo quy định tại luật các tổ chức tín dụng thì Ngân hàngđược định nghĩa như sau: “ Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền
tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng vớitrách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụchiết khấu và làm phương tiện thanh toán.”
Như vậy thông quâ một số khái niệm về Ngân hàng thương mại, ta cóthể hiểu Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinhdoanh trên lĩnh tín dụng với mục đích thu lợi nhuận, và nó có những đặctrưng như sau:
-Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép nhận ký thác củacông chúng với trách nhiệm hoàn trả
-Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký tháccủa công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tàI chínhkhác
Căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động, ở nước ta các loại hìnhNgân hàng thương mại được hoạt phép hoạt động theo luật tổ chức tín dụngbao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư,Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác
1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động chủ yếu của Ngân hàngthương mại tập trung chủ yếu vào nhiệm vụ nhận tiền gửi và cho vay, đó làhai mặt hoạt động tín dụng Trong xu thế hiện nay, các Ngân hàng thương mạihoạt động theo loại hình đa năng thì hoạt động của nó tập trung vào ba hoạtđộng chính: hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn, hoạt động trunggian
Hoạt động huy động vốn đối với Ngân hàng đây là hoạt động “đầuvào” của Ngân hàng Nguồn vốn hoạt động chủ yếu của một Ngân hàng được
Trang 6hình thành từ những nguồn chính sau đây: vốn tự có của doanh nghiệp, vốnvay (vay của các tổ chức tài chính, vay của dân cư, vay của Ngân hàng trungương), lợi nhuận để lại, ngoài ra đối với một số Ngân hàng nguồn vốn hoạtđộng có thể hình thành từ vốn đIều lệ hay vốn uỷ thác Trong quá trình hoạtđộng của mình, Ngân hàng thương mại phần lớn dựa vào việc huy động cácnguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế.
Hoạt động nguyên thuỷ của Ngân hàng là nhận tiền gửi của kháchhàng và đây vẫn là nguồn đầu vào chủ yếu của Ngân hàng Có nhiều yếu tốảnh hưởng tới quy mô tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng như: lãi suất,phương thức huy động của Ngân hàng, tình hình kinh tế xã hội từng thời kỳ,phong tục tập quán của từng vùng, uy tín của từng Ngân hàng, các dịch vụ doNgân hàng cung cấp vv Nắm được yếu tố đó, Ngân hàng có thể đIều chỉnhlượng vốn huy động sao cho phù hợp với nhu cầu vốn của mình
Các loại tiền gửi mà Ngân hàng cung cấp để huy động vốn là: tiền gửithanh toán không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm
Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu tín dụng và đa dạng hoá hoạt động kinhdoanh, Ngân hàng có thể vay vốn từ dân cư , các đơn vị kinh tế, các tổ chứctín dụng khác thông qua một số hình thức như: phát hành trái phiếu, kỳ phiếuhoặc vay tái chiết khấu từ Ngân hàng trung ương
Để được hoạt động và thực hiện huy động vốn, Ngân hàng phải cómột lượng nhất định gọi là vốn tự có Lượng vốn này chiếm một tỷ lệ rất nhỏtrong tổng vốn sử dụng song nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt độngcủa Ngân hàng Vốn tự có là đIều kiện bắt buộc để Ngân hàng có được giấyphép tổ chức và hoạt động trước khi nó có thể huy động được những khoảntiền gửi đầu tiên Vốn tự có còn đóng vai trò là một tấm đệm giúp chống lạirủi ro phá sản, những thua lỗ về tàI chính trong hoạt động tạm thời Nó tạoniềm tin cho công chúng và là sự đảm bảo đối với chủ nợ về sức mạnh tàichính của Ngân hàng Và nó còn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng
Trang 7trưởng và sự phát triển dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bịmới.
Đối với hoạt động sử dụng vốn, đây là hoạt động cho vay và đầu tưbao gồm hoạt động ngân quỹ, hoạt động cho vay, hoạt động đầu tư chứngkhoán
Hoạt động ngân quỹ nhằm bảo đảm khả năng thanh toán thườngxuyên của Ngân hàng cho khách hàng Đây là tài sản không sinh lời hoặc sinhlời thấp nhưng tính lỏng cao được coi như tiền mặt Do đó Ngân hàng phảiduy trì lượng tiền mặt ở một mức độ hợp lý sao cho vừa đảm bảo tính thanhkhoản vừa đảm bảo tính sinh lời
Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất quyết định sự thànhbại của Ngân hàng vì đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của Ngân hàng Cũng
vì vậy mà đây là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất Để tránh đIều đó, việcquản lý tiền cho vay được tiến hành rất chặt chẽ, đặc biệt là món vay lớn, vớithời hạn dài Ngân hàng thương mại có thể cho vay theo nhiều hình thức khácnhau
Ngoài ra Ngân hàng còn sử dụng vốn vào hoạt động đầu tư chứngkhoán trên thị trường để thu lợi nhuận và một phần đảm bảo khả năng thanhtoán của Ngân hàng
Hoạt động trung gian là việc Ngân hàng cung cấp cho khách hàngmột loạt các dịch vụ có liên quan Ngân hàng sẽ nhận được một khoản thudưới hình thức hoa hồng Công nghệ Ngân hàng càng phát triển thì hoạt độngnày càng phong phú và doanh thu càng lớn Các hoạt động tiêu biểu là:chuyển tiền, thanh toán hộ khách hàng thông qua các hình thức ghi chép trêntài khoản của khách hàng tại Ngân hàng, phát hành séc, uỷ nhiệm thu, uỷnhiệm chi, thư tín dụng, môi giới mua bán chứng khoán, quản lý hộ tài sảncho khách hàng, tư vấn cho doanh nghiệp vv
Trang 8Ngày nay, xu hướng của Ngân hàng là hoạt động đa năng trên nhiềulĩnh vực với nhiều nghiệp vụ khác nhau Các nghiệp vụ có quan hệ chặt chẽ,
hỗ trợ cho nhau nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận cao nhất
Đồng thời ngân hàng còn là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chocông chúng và doanh nghiệp, thành công của ngân hàng sẽ phụ thuộc vàonăng lực xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu,thực hiện cácdịch vụ đó một cách có hiệu quả
*Mua bán ngoại tệ:
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là traođổi (mua bán) ngoại tệ-một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấyloại tiền khác và hưởng phí dịch vụ.Trong thị trường tài chính ngày nay,muabán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì nhữnggiao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độchuyên môn cao
*Nhận tiền gửi:
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao,do đó các ngân hàng đãtìm mọi cách để huy động đựoc tiền.Một trong những nguồn quan trọng là cáckhoản tiền gửi(thanh toán và tiết kiệm của khách hàng).Ngân hàng mở dịch
vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúnghạn.Trong cuộc cạnh tranh để ìm và giành được các khoản tiền gửi,các ngânhàng đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵnsàng hy sinh nhu cầu tiêu dung trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạmthời để kinh doanh
*Cho vay:
Cho vay thương mại: Ngay ở thời kỳ đầu,các ngân hàng đã chiết khấu
thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán(Người bánchuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước).Sau đó là bướcchuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các
Trang 9khách hàng(là người mua),giúp họ có vốn để mua hang dự trữ nhằm mở rộngsản xuất kinh doanh.
Cho vay tiêu dùng: Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hang không
tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoảncho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ tương đối cao.Sự gia tăng thu nhập của ngườitiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướngtới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng.Sau chiến tranh thếgiới2, tín dụng tiêu dung đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăngtrưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển
Tài trợ cho dự án: Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn
hạn,các ngân hàng ngày càng trở lên năng động trong việc tài trợ cho xâydựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao.do rủi ro trongloại hình tín dụng này nói chung là cao song lãi lớn.Một số ngân hàng còncho vay để đầu tư vào đất
*Bảo quản vật có giá: Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và
các vật có giá trị khác cho khách hàng trong kho bảo quản.Khi nhận ngânhàng sẽ giao cho khách tò biên nhận Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào chogiấy chứng nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền-dùng đểthanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành
*Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Khi
các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không chỉbảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ Thanhtoán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dung tiền mặt,tức làngười gửi tiền không cần phải đến ngân hàng lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chitrả cho khách( séc),khách hang mang đến ngân hàng sẽ nhận được tiền.Cáctiện ích của thanh toán không dung tiền mặt đã góp phần rút ngắn thời giankinh doanh và nâng cao thu nhập của các doanh nhân Điều này đã khuyếnkhích các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán
hộ Như vậy,một dịch vụ mới,quan trọng nhất được phát triển đó là tài khoản
Trang 10tiền gửi giao dịch (demand deposit)cho phép người gửi tiền viết sé thanh toáncho việc mua hàng hoá và dịch vụ Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới nàyđược xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiêphngân hàng Cùng với sự phát triển của công nghệ thong tin,nhiều thể thứcthanh toán được phát triển như: Uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằngđiện, thẻ…
*Quản lý ngân quỹ: Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần
lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân Nhờ đó, ngân hàng thường có mốilien hệ chặt chẽ với nhiều khách hang.Do có kinh nghiệm trong quản lí ngânquỹ và có khả năng trong việc thu ngân,nhiều ngân hàng đã cung cấp chokhách dịch vụ quản lí ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu
và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặttạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khikhách hang cần tiền mặt để thanh toán
*Tài trợ các hoạt động của chính phủ: Khả năng huy động và cho
vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của cácchính phủ Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường cấp bách trong khi thu không
đủ, Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngânhàng Trong điều kiện các ngân hàng tư nhân không muốn tài trợ thì Chínhphủ sẽ dùng một số đặc quyển trao đổi lấy các khoản vay
*Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng
rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có
uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng.Trong những năm gần đây,nghiệp vụbảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh Ngân hàng thường bảo lãnhcho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hànhchứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác
*Cho thuê thiết bị trung và dài hạn: Nhằm để bán được các thiết bị,
đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn,nhiều hãng sản xuất và thương mại đã chothuê các thiết bị.Cuối hợp đồng thuê,khách hàng có thể mua Rất nhiều ngân
Trang 11hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn thuê các thiết bị,máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng muathiết bị và cho khách hàng thuê Hợp đồng cho thuê thường phải đảm bảo yêucầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê Do vây, chothuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay và được xếp vàotín dụng trung và dài hạn.
*Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn: Do hoạt động trong lĩnh vực
tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lí tài chính.Vì vậynhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lýhoạt dộng tài chính hộ Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷthác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư…
*Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Nhiều ngân hàng
đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thoảmãn mọi nhu cầu Đây là một trong những lý do chính khiến ngân hàng bắtđầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán,cung cấp cho khách hàng cơ hộimua cổ phiếu trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đếnngười kinh doanh chứng khoán.Trong một vài trường hợp các ngân hàng tổchức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán
*Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: các ngân hàng bán bảo hiểm cho
khách hàng, điều đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bịchết, bị tàn phế hoặc gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán
*Cung cấp các dịch vụ đại lý: Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt
động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi Nhiềungân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lí cho các ngân hàng khác nhưthanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ,…
Trang 121.2 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại
1.2.1 Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại 1.2.1.1 Khái niệm
Thuật ngữ tín dụng đang được sử dụng phổ biến hiện nay có xuất xứ
từ chữ La-tinh “creditum”, nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm Trong thực tế, thuậtngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Ngay cả trong quan hệtài chính, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nộidung riêng Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau:
Dưới góc độ chuyển dịch quỹ cho vay: Tín dụng được coi là phươngpháp chuyển dịch quỹ từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiếtkiệm
Theo chức năng hoạt động của ngân hàng: Tín dụng là một giao dịch
về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chếtài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác).Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng một thờigian nhất định theo thoả thuận
Vậy tín dụng ngân hàng là quan hệ kinh tế thể hiện sự chuyển nhượngtạm thời một lượng giá trị dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật từ người sở hữusang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu lại một lượng giá trịlớn hơn giá trị ban đầu
Từ những cách quan niệm trên, có thể thấy bản chất của tín dụng làgiao dịch về tài sản trên cơ sở có thời hạn và hoàn trả
Tài sản trong quan hệ tín dụng có một số đặc trưng như sau:
Thứ nhất, tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng bao gồm hai hình
thức là cho vay và cho thuê Trong những năm trước đây, hoạt động tín dụngchỉ có hình thức chủ yếu là cho vay Xuất phát từ đó mà nhiều lúc thuật ngữtín dụng và cho vay được coi là đồng nghĩa với nhau Từ những năm 1970 trởlại đây, cho thuê tài chính đã được các ngân hàng hoặc các định chế tài chính
Trang 13cung cấp cho khách hàng Đây là một hình thức tín dụng bằng tài sản thực(nhà ở, văn phòng, máy móc thiết bị )
Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, người cho vay khi chuyển
giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay
sẽ trả đúng hạn Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng Trongthực tế, các nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sởđánh giá mức độ tín nhiệm mà lại chú trọng đến các bảo đảm về tài sản.Chính quan điểm này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Chínhnhững nhà kinh tế học cổ điển đã đưa khái niệm tín dụng với chữ “tín” lênhàng đầu không phải là vấn đề ngẫu nhiên
Thứ ba, giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay.
Nói cách khác, người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc
Thứ tư, trong quan hệ tín dụng ngân hàng,rủi ro là tất yếu do thông tin
không cân xứng,sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức nên tiền vay đượccấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện
1.2.1.2 Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn
Thời hạn cho vay dài: Vì hoạt động tín dụng trung và dài hạn nhằm
đáp ứng nhu cầu vốn cố định của khách hàng để mua sắm máy móc, trangthiết bị, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
Vốn đầu tư lớn : Việc đầu tư được thực hiện bởi các dự án lớn và
những hoạt động mang tầm chiến lược của các doanh nghiệp nên tỷ trọng vốnvay lớn gấp nhiều lần so với những khoản vay ngắn hạn
Mức độ rủi ro cao: Vì thời gian thu nợ kéo dài nên trong khoảng thời
gian đó có thể xảy ra nhiều biến động về lạm phát, về quy chế, chính sáchpháp luật… Những biến động này sẽ làm ảnh hưởng xấu đến quá trình hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, làm cho họ chưa trả được nợ hoặc khôngtrả được nợ cho ngân hàng dẫn tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn củangân hàng bị giảm sút
Trang 14Lãi suất cao: Lãi suất cho vay, ngoài lãi suất cơ bản còn phụ thuộc
vào cấu trúc rủi ro và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất Mức độ rủi ro cao, thời hạnvay dài thì lãi suất sẽ cao Như chúng ta thấy, chi phí huy động vốn trung vàdài hạn - nguồn vốn chủ yếu dùng để cho vay trung và dài hạn là rất lớn
Trong tín dụng trung và dài hạn, rủi ro cao hơn bởi đây là hình thứctài trợ dự án:
1.2.1.3.Vai trò của tín dụng trung và dài hạn
a) Đối với nền kinh tế.
Cung cấp vốn phục vụ sự phát triển kinh tế -xã hội Tín dụng trung vàdài hạn góp phần giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nền kinh tế về nhu cầuvốn tiền tệ, nó thực hiện việc điều hoà vốn nhằm phục vụ sản xuất và lưuthông hàng hoá Bên cạnh đó, tín dụng trung và dài hạn còn là đòn bẩy thúcđẩy sản xuất và cơ cấu lại sản xuất trong nền kinh tế Hoạt động tín dụng lànhmạnh, chính sách tín dụng đúng đắn sẽ góp phần kiềm chế lạm phát, ổn địnhtiền tệ, tăng trưởng kinh tế và tăng uy tín quốc gia
So với hình thức cấp vốn từ ngân sách, hình thức cấp tín dụng trung vàdài hạn hiệu quả hơn nhiều, đồng vốn lúc này gắn liền với quyền lợi của ngânhàng cũng như của doanh nghiệp
Với ngân hàng, để đảm bảo đồng vốn sinh lời họ phải theo dõi sát saođồng vốn của mình và trong những trường hợp cần thiết phải tư vấn hoặc đưa
ra những lời khuyên bổ ích cho doanh nghiệp Còn đối với doanh nghiệp, lãisuất tín dụng trung và dài hạn với chi phí rất cao nên nếu không sử dụng cóhiệu quả thì doanh nghiệp sẽ mất đi một khoản chi phí đáng kể thậm chí phảichịu lãi suất phạt hoặc bị tịch thu tài sản thế chấp
Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế đối ngoại pháttriển: Tín dụng trung và dài hạn đã trở thành một trong những phương tiện đểliên kết nền kinh tế giữa các nước với nhau Bởi ngân hàng thông qua hoạtđộng cho các doanh nghiệp trong nước vay ngoại tệ để đầu tư ra nước ngoàihoặc cho các đối tác nước ngoài vay để đầu tư vào trong nước hoặc cho vay
Trang 15xuất nhập khẩu đã tạo ra mối quan hệ giao lưu, hợp tác giữa các doanh nghiệptrong và ngoài nước, dần dần thiết lập quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa nền kinh
tế của nước đó và nền kinh tế các nước khác trong khu vực và trên thế giới
Tạo công ăn việc làm cho người lao động: Ngoài những tác động trựctiếp kể trên thì tín dụng trung và dài hạn còn có những tác động gián tiếp tớinền kinh tế Những dự án mở rộng, đầu tư mới của doanh nghiệp đã tạo racông ăn việc làm cho người lao động, giải quyết nỗi bức xúc của xã hội Việcđầu tư mới, mua sắm dây chuyền công nghệ, máy móc hiện đại của doanhnghiệp từng bước làm thay đổi lực lượng sản xuất cho phù hợp với quan hệsản xuất mới, thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước
b) Đối với ngân hàng.
Mục tiêu lợi nhuận:
Trong hoạt động của mình các Ngân hàng Thương mại là các doanhnghiệp kinh doanh tiền tệ Do vậy, trong cơ chế thị trường, ngân hàng phảitính toán sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, hạn chế rủi ro ở mức thấpnhất Mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu quan trọng nếu không nói là hàng đầu
mà bất cứ một NHTM nào cũng muốn đạt được, đó là tối đa hoá lợi nhuậntrong phạm vi cho phép Nếu phủ nhận lợi nhuận sẽ dẫn đến một hoạt độngkhông có hiệu quả Với tư cách là hoạt động sinh lời chủ yếu thì việc nângcao chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng trung và dài hạn nóiriêng sẽ tạo điều kiện tăng lợi nhuận cho ngân hàng
Kinh doanh luôn tiềm ẩn rủi ro xảy ra, kinh doanh càng lớn thì khảnăng thu lợi nhuận càng cao nhưng đồng thời với nó là khả năng gặp rủi rocàng lớn.Trong hoạt động cho vay thì hình thức cho vay trung và dài hạn đặcbiệt được quan tâm, bởi nó đem lại lợi nhuận cao nhưng đi kèm lại là rủi rorất lớn Khi đã có rủi ro xảy ra thì hậu quả rất nặng nề do những khoản vaytrung và dài hạn thường có giá trị lớn
Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện cho tín dụng ngắn hạn pháttriển:
Trang 16Như chúng ta thấy, các dự án đầu tư của doanh nghiệp sẽ không thựchiện được và trở nên vô nghĩa khi thiết bị, công nghệ lạc hậu, không được cảitiến, đổi mới cho phù hợp Vì vậy, nhờ có các khoản đầu tư trung và dài hạn –nền tảng cho sự phát triển thì các doanh nghiệp mới yên tâm sử dụng cáckhoản vay ngắn hạn của ngân hàng để sản xuất và kinh doanh Do đó, tíndụng trung và dài hạn chính là động lực từng bước thúc đẩy tín dụng ngắn hạnphát triển
c)Đối với khách hàng
Bên cạnh vai trò đối với ngân hàng và nền kinh tế thì tín dụng trung
và dài hạn còn có vai trò hết sức quan trọng đối với khách hàng
Tạo điều kiện mở rộng quy mô, phát triển sản xuất, nâng cao chấtlượng sản phẩm đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Sở dĩ như vậy, là do tín dụng trung và dài hạn rất phù hợp với điềukiện thực tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp này dokhông có được những ưu thế về quy mô và vốn tự có như các doanh nghiệplớn nên họ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường vốn Vì vậy, họkhó có thể đầu tư cho những dự án lớn mà không dựa vào sự tài trợ thông quatín dụng trung và dài hạn của ngân hàng
Tín dụng trung và dài hạn cung ứng vốn giúp phát triển tiềm năng,tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp hiện nay đứng trước sự cạnh tranh gay gắt của nềnkinh tế thị trường đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng mộtngành với nhau, giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệpnước ngoài… Vì vậy, nhờ có nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn được sửdụng cho việc mua sắm nhà xưởng, máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất…
Mà chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp được tăng lên, đẩy nhanh quá trìnhtiêu thụ từ đó giúp doanh nghiệp từng bước chiếm lĩnh thị trường mới Đồngthời, cũng nhờ nguồn vốn này mà các doanh nghiệp có thể định hướng pháttriển cho phù hợp với nhu cầu của thị trường nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Trang 17Tín dụng trung và dài hạn là một trong những yếu tố nâng cao nănglực sản xuất - kinh doanh góp phần khẳng định tính khả thi của dự án:
Như chúng ta đã biết, khi tham gia đầu tư vốn vào doanh nghiệp cónghĩa là ngân hàng đã tìm hiểu nghiên cứu kỹ những dự án của doanh nghiệp.Điều này buộc các nhà đầu tư khi lập dự án phải hết sức thận trọng cân nhắckhi đưa ra các dữ kiện, số liệu, luận cứ… để thuyết phục ngân hàng cho vay
Vì vậy, ngay từ khi lập dự án tiền khả thi cho đến khi lập được dự án khả thingân hàng đã đóng vai trò là một là nhà tư vấn quan trọng giúp doanh nghiệpphát triển tiềm năng Đây cũng chính là một ưu thế của vốn trung và dài hạn,
nó sẽ góp phần làm tăng năng lực sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
Đồng thời, do ngân hàng không cho vay đối với các doanh nghiệp làm
ăn kém hiệu quả nên bắt buộc người vay phải năng động sáng tạo, nâng caochất lượng đi đôi với hạ giá thành sản phẩm để đứng vững trong cạnh tranh
Từ đó, người vay vốn sẽ phải sử dụng vốn vay một cách tiết kiệm nhất, hiệuquả nhất để có thể trả được nợ vay ngân hàng và tái sản xuất mở rộng
1.2.2 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại 1.2.2.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển được, các doanhnghiệp phải trả lời ba câu hỏi lớn đó là: sản xuất cái gi? Sản xuất cho ai? Vàsản xuất bằng cách nào? đây là ba vấn đề cơ bản mà các doanh nghiệp gặpphải trong nền kinh tế thị trường Để làm được đIều này các doanh nghiệpphải quan tâm đến một yếu tố rất quan trọng đó là chất lượng của sản phẩm.Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ trên thịtrường, những khoản cho vay cũng là một sản phẩm, nó cũng có giá cả vàchất lượng như những hàng hoá khác
Chất lượng của một khoản tín dụng là : "Mức độ đáp ứng yêu cầu củakhách hàng (cả người vay lẫn người cho vay tiền), phù hợp với các điều kiệnkinh tế - xã hội và điều kiện đặc thù của bản thân ngân hàng, đảm bảo sự tồntại và phát triển của ngân hàng “
Trang 18Chất lượng cho vay được xem xét trên những góc độ:
- Đối với khách hàng: Đó là vay được tiền phù hợp với mục đích sửdụng với các điều khoản về lãi suất, kỳ hạn nợ, thủ tục đơn giản, thuận tiệnđảm bảo thanh toán phù hợp với lợi ích của khách hàng và luật pháp hiệnhành nhằm đảm bảo khả năng duy trì và mở rộng sản xuất, tăng cường hiệuquả sản xuất kinh doanh của khách hàng
- Đối với Ngân hàng thương mại: cho vay cung cấp phù hợp với thựclực tài chính và quản lý của Ngân hàng, phù hợp với chiến lược khách hàng,phù hợp với nguyên tắc cho vay, chiến lược cạnh tranh và phát triển, đảm bảonguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi với giá thành hợp lý, đảm bảo việctuân thủ pháp luật hiện hành và thực hiện vai trò của Ngân hàng trong nềnkinh tế thị trường
- Đối với nền kinh tế: Cho vay cung cấp đáp ứng được nhu cầu vốncho sản xuất kinh doanh hàng hóa, đảm bảo cung cấp vốn đầy đủ, kịp thời và
có hiệu quả cho việc duy trì sản xuất Mở rộng kinh doanh, tăng cường hiệuquả và năng lực hoạt động của các doanh nghiệp, góp phần giải quyết các vấn
đề xã hội như tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, xây dựng các vùng kinh tếmới, tạo điều kiện để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
Như vậy, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề về cách tiếp cận kháiniệm chất lượng cho vay hay chất lượng tín dụng:
-Đây là một khái niệm tương đối: nó vừa cụ thể (thể hiện qua các chỉtiêu tính toán như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn ) lại vừa trừu tượng (thểhiện qua năng lực thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế )
-Chất lượng cho vay là một chỉ tiêu tổng hợp và được xác định quanhiều yếu tố như: lãi, mức độ an toàn vốn của kinh doanh, khả năng đáp ứngnhu cầu vốn của khách hàng
Trang 191.2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại
Chất lượng tín dụng trung và dài hạn là một chỉ tiêu tổng hợp, nóphản ánh độ thích nghi của Ngân hàng Thương mại (NHTM) với sự thay đổicủa môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của mỗi ngân hàng trong quátrình cạnh tranh để tồn tại và phát triển Do đó, để có thể đánh giá được mộtngân hàng là mạnh hay yếu thì phải đánh giá được chất lượng tín dụng trung
và dài hạn vì đây là thước đo chủ yếu
a Các chỉ tiêu định tính.
Chúng ta sẽ cùng nhau xem xét các chỉ tiêu định tính trên cả ba giácđộ: nền kinh tế, ngân hàng và khách hàng
Đối với nền kinh tế:
Chỉ tiêu định tính được thể hiện ở khả năng đáp ứng vốn phù hợp vớinhu cầu phát triển của nền kinh tế, một khoản vay trung và dài hạn muốn cóchất lượng tốt thì phải đảm bảo được đầu tư đúng theo đường lối phát triểnkinh tế-xã hội nhằm thực hiện mục tiêu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước
Hơn nữa môi trường kinh tế phát triển, môi trường chính trị, pháp luật
ổn định… cũng chính là điều kiện tốt để nâng cao chất lượng tín dụng trung
và dài hạn bởi thời hạn cho vay trung và dài hạn thường rất dài và tiềm ẩnnhiều rủi ro
Đối với ngân hàng:
Tính định tính đối với ngân hàng thể hiện trước hết ở khả năng thuhút khách hàng của ngân hàng Một ngân hàng muốn thu hút được nhiềukhách hàng về phía mình thì phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩmngân hàng mà đặc biệt là phải nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng trung
và dài hạn Bởi đây là hoạt động có nhiều khách hàng tiềm năng trong tươnglai Vì vậy, khi lượng khách hàng ngày một tăng sẽ cho thấy chất lượng tíndụng trung và dài hạn của ngân hàng ngày càng tốt