Chính vì vậy, quản lý tổng hợp các hoạt động trên là một việc làm rất cần thiết nhằm góp phần giải quyết những mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển và bảo vệ môitrường, đưa Phú Quốc theo hư
Trang 1MỤC LỤC
Danh mục bảng biểu i
Danh mục hình vẽ ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ 4
1.1 Một số khái niệm về đường bờ và đới bờ 4
1.2 Mục tiêu và cách tiếp cận 9
1.3 Bản chất của quản lý tổng hợp đới bờ 11
1.4 Quá trình lập kế hoạch quản lý tổng hợp đới bờ 12
1.5 Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ 13
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU24 2.1 Tình hình nghiên cứu 24
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 24
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp kế thừa 31
2.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát bổ sung 31
2.2.3 Phương pháp thành lập hệ thống bản đồ 32
2.2.4 Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái 42
CHƯƠNG 3 CƠ SỞ KHOA HỌC PHỤC VỤ QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC 44
3.1 Cơ sở khoa học cho quản lý tổng hợp đới bờ 44
3.1.1 Cơ sở về điều kiện tự nhiên 44
3.1.2 Cơ sở về tài nguyên môi trường 51
3.1.3 Cơ sở về tai biến thiên nhiên 78
3.1.4 Cơ sở về kinh tế - xã hội 80
3.1.5 Ảnh hưởng của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội đến tài nguyên môi trường 86
3.2 Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc 91
Trang 23.3 Giải pháp thực thi quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
huyện đảo Phú Quốc 102
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện chính sách và pháp luật 103
3.3.2 Giải pháp về tổ chức và cán bộ 106
3.3.3 Giải pháp tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức cộng đồng 110
3.3.4 Các giải pháp giải quyết các xung đột trong hoạt động quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc 111
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 3i
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tính nhạy cảm và kháng chế của đới bờ 9
Bảng 2.1 Quy hoạch phân vùng chức năng sử dụng biển ở Hạ Môn- Trung Quốc 27 Bảng 2.2: Ma trận quản lý các hoạt động phát triển trong vùng công viên biển 35
Bảng 3.1 Nhiệt độ trung bình (oC) tháng và năm vùng biển Phú Quốc 49
Bảng 3.2: Phân loại và đặc điểm các loại đất 52
Bảng 3.3 Lượng mưa tháng tại Phú Quốc giai đoạn 2003-2012 54
Bảng 3.4 Bảng tổng hợp các mỏ và điểm quặng 57
Bảng 3.5: Độ phủ và mật độ cỏ biển tại các thảm cỏ biển quan trắc ở khu bảo tồn biển Phú Quốc 61
Bảng 3.6: Diện tích (ha) rạn san hô ở các khu vực vùng biển Phú Quốc 63
Bảng 3.7: Độ phủ (%) của một số thành phần nền đáy rạn san hô chủ yếu tại các trạm quan trắc 65
Bảng 3.8: Độ phủ (%) của các giống san hô ưu thế tại các trạm quan trắc 66
Bảng 3.9: Độ phủ (%) chung và một số giống san hô bị tẩy trắng 67
Bảng 3.10: Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại các điểm du lịch trên đảo Phú Quốc 89
Bảng 3.11 Ma trận tương thích vùng đảo Phú Quốc 96
Bảng 3.12: Phân vùng sử dụng theo đặc điểm tự nhiên, tài nguyên – môi trường và mức độ dễ bị tổn thương vùng đảo và ven đảo Phú Quốc 97
Trang 4ii
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa đới bờ và hệ thống tài nguyên đới bờ 5
Hình 1.2: Vị trí chuyển tiếp của đới bờ 7
Hình 2.1: Sơ đồ các phương pháp nghiên cứu 30
Hình 2.2: Phân vùng quy hoạch quản lý biển của Mỹ 34
Hình 2.3: Phân vùng quản lý tổng hợp ở công viên biển quốc tế Dải San Hô Lớn đông bắc Ustralia 34
Hình 2.4: Phân vùng chức năng và quản lý đới bờ Hạ Môn – Trung Quốc 36
Hình 2.5 Sơ đồ phân vùng quản lý tổng hợp ven biển vịnh Hạ Long, Quảng Ninh 37 Hình 2.6: Sơ đồ phân vùng quản lý tổng hợp vùng bờ biển phía Tây Vịnh Bắc Bộ cấp tỉnh 38
Hình 2.7 Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam (mảnh 4: Xuyên Mộc – Hà Tiên) 39
Hình 2.8: Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp ở Cù Lao Chàm 40
Hình 3.1: Vị trí đảo Phú Quốc trên ảnh vệ tinh 44
Hình 3.2: Bản đồ đất đảo Phú Quốc 53
Hình 3.3: Bản đồ phân bố tài nguyên khoáng sản đảo Phú Quốc 58
Hình 3.4 Mũi nhô tại khu vực cảng An Thới 59
Hình 3.5 Bãi tắm trong khu du lịch tại Bãi Sao 59
Hình 3.6: Khu du lịch suối Tranh 59
Hình 3.7: Phân bố của các thảm cỏ biển ở vùng biển Phú Quốc 62
Hình 3.8: Phân bố rạn san hô ở tây bắc đảo Phú Quốc 63
Hình 3.9: Phân bố rạn san hô ở nam Phú Quốc 63
Hình 3.10: San hô dạng phiến bị tẩy trắng tại Hòn Xưởng 67
Hình 3.11: San hô dạng khối bị tẩy trắng tại Hòn Móng Tay 67
Hình 3.12: Rừng ngập mặn ở cửa Cạn 68
Hình 3.13: Rừng ngập mặn ở cửa Lấp 68
Hình 3.14: Bản đồ phân bố hệ sinh thái đảo Phú Quốc 69
Hình 3.15: Ô nhiễm nước khu vực cửa sông Dương Đông do hoạt động dân sinh 72
Trang 5iii
Hình 3.16: Bản đồ địa hóa môi trường nước vùng biển Phú Quốc 76 Hình 3.17: Bản đồ địa hóa môi trường trầm tích vùng biển Phú Quốc 77 Hình 3.18: Biến động địa hình tại Cửa Cạn giữa hai thời điểm 78 Hình 3.19: Tài liệu sonar quét sườn Tu-PQ34 (phía Tây Nam Vũng Bàu) cho thấy
có thể tồn tại lỗ thoát khí trên bề mặt đáy biển 80 Hình 3.20: Bản đồ hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội huyện đảo Phú Quốc 86 Hình 3.21: Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc 101
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nằm trong quần thể đảo ven bờ biển tây nam, quần đảo Phú Quốc thuộc huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang là một vùng đảo giữ vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế biển và đảm bảo an ninh quốc phòng, nơi giao lưu thương mại và dịch vụ mang ý nghĩa quốc tế và khu vực Là vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam thuộc vịnh Thái Lan, biển Phú Quốc nhạy cảm về an ninh quốc phòng và giàu tiềm nămg phát triển kinh tế
Huyện đảo Phú Quốc nổi tiếng như một ngư trường lớn với nguồn tài nguyên sinh vật biển phong phú và đa dạng Nơi đây còn là khu du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái đang thu hút được sự chú ý của nhiều du khách trong và ngoài nước với nhiều bãi tắm đẹp, phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ
Để phát triển đồng bộ huyện đảo Phú Quốc, những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đầu tư cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh phát triển dịch vụ du lịch, kinh tế của huyện Phú Quốc với mục tiêu xây dựng đảo Phú Quốc thành một đảo du lịch, trong đó có Quyết định số 178/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt: “Đề án phát triển tổng thể đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” trong đó nhấn mạnh “ưu tiên cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn với giữ gìn cảnh quan và môi trường sinh thái”
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đô thị trên toàn đảo đã làm biến đổi các thành phần và chất lượng môi trường đất, nước, không khí ảnh hưởng đến môi trường sinh thái cũng như tác động đến sức khỏe cộng đồng Đảo Phú Quốc hiện đang đối phó với nhiều vấn đề về môi trường: vấn đề ô nhiễm môi trường biển,
ô nhiễm môi trường do quá trình phát triển công nghiệp, đô thị, đặc biệt là do hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy hải sản, vấn đề quản lý và xử lý chất thải…Công tác bảo vệ môi trường trên đảo còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển trên đảo Do đó, để phát triển đảo Phú Quốc theo định hướng phát triển tổng
thể kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, đề tài luận văn: “Xác lập cơ sở khoa học
Trang 72
cho quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc” là rất cần thiết
Tỉnh đã đề xuất Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ thành lập Đặc khu kinh
tế Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, với cơ chế chính sách ưu đãi đặc biệt, vượt trội,
đủ sức cạnh tranh quốc tế để thu hút đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài
Chính vì vậy, quản lý tổng hợp các hoạt động trên là một việc làm rất cần thiết nhằm góp phần giải quyết những mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển và bảo
vệ môitrường, đưa Phú Quốc theo hướng phát triển kinh tế bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường bền vững
- Đề xuất các giải pháp thực thi về việc hoàn thiện chính sách và pháp luật, tổ chức và cán bộ, tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức cộng đồng, giải quyết xung đột trong hoạt động quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp vùng nghiên cứu
4 Nội dung và nhiệm vụ
Trang 8huyện đảo Phú Quốc 0-30m nước tỉ lệ 1/50.000
Đề xuất giải pháp phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc Đồng thời xây dựng các thiết chế và chính sách để điều hòa các giải pháp trên
5 Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý tổng hợp đới bờ
Chương 2 Tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Cơ sở khoa học phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc
Kết luận
Trang 94
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ 1.1 Một số khái niệm về đường bờ và đới bờ
1.1.1 Quan niệm về đới bờ ở một số nước trên thế giới
Đới bờ (Coastal Zone) hay vùng bờ (Coastal Area) là một bộ phận đặc biệt và quan trọng của bề mặt Trái Đất, nơi có sự chuyển tiếp dần cho nhau giữa biển và lục địa, có sự tiếp xúc giữa các quyển: thạch quyển, sinh quển, thủy quyển, khí quyển của Trái Đất và là nơi chứa đựng các hệ sinh thái có năng suất cao nhất, giàu có và đa dạng sinh học
* Định nghĩa về mặt tự nhiên của đới bờ
Mang tính khái quát và được sử dụng khá rộng rãi là định nghĩa đới bờ trong mối tương tác giữa môi trường biển và lục địa: “Đới bờ là một vùng chuyển tiếp mà
ở đó môi trường lục địa tương tác lẫn nhau và hình thành một môi trường thống nhất” (Barbara E Brown, 1997) Về mặt lý thuyết, định nghĩa thể hiện một cách đầy
đủ bản chất của đới bờ, là một không gian cụ thể mà ở đó môi trường tự nhiên mang đặc thù riêng bởi sự kết hợp giữa môi trường của biển và môi trường lục địa, đồng thời mang tính tổng quát cao Đây cũng là định nghĩa được rất nhiều các sách khi viết về môi trường tự nhiên của đới bờ sử dụng
Trong chương trình quản lý nguồn tài nguyên ven biển khu vực Đông Á, khi
đề cập đến việc phân định ranh giới của đới bờ, các nhà nghiên cứu của các nước ASEAN đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa vấn đề sinh thái nhân văn với các vấn
đề địa kinh tế - xã hội trong việc phân định đới bờ Với cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu cho rằng đới bờ là vùng kinh tế - xã hội và nhân văn có liên quan đến quá trình khai thác tài nguyên ven biển theo quan điểm phát triển bền vững phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Quan điểm phân định này nghiêng về khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, các yếu tố về địa sinh thái còn mờ nhạt Mặt khác phạm vi không gian của đới bờ ở đây là tương đối mở và không xác định cụ thể Việc xác định phạm vi ranh giới của đới bờ là bao nhiêu km từ bờ biển vào trong đất liền phụ thuộc vào mức độ đầu tư phát triển của các ngành dựa vào khai thác các nguồn tài nguyên biển và ven biển
Trang 105
của mỗi quốc gia Theo chúng tôi quan điểm này chỉ phù hợp đối với các quốc gia
nhỏ ven biển như Singapore và các quốc gia đảo khác
Đối với khoa học địa mạo, đới bờ được xem là nơi tương tác giữa đất liền và
biển cả để tạo ra các dạng địa hình đặc thù cho nó Tại đây, sóng biển và các loại
dòng chảy do nó sinh ra là yếu tố động lực rất quan trọng đối với sự hình thành và
biến đổi địa hình cũng như trầm tích Bên cạnh đó, các yếu tố thủy triều, sông, dòng
chảy, gió, sinh vật,… cũng giữ vai trò không kém phần quan trọng.[14]
* Định nghĩa trong nghiên cứu khai thác sử dụng tài nguyên và hoạch định
chính sách quản lý tổng hợp đới bờ
Đới bờ là nơi có môi trường sống hết sức đa dạng và bao gồm nhiều hệ sinh
thái phong phú khác nhau như cửa sông, cỏ biển, san hô, đầm phá, vũng vịnh, bãi
triều… Các sản phẩm tự nhiên của đới bờ với các hệ thống đới bờ với các hệ xung
quanh nó Trên thực tế, việc quản lý đới bờ xuất phát từ những hành vi tác động của
con người Các hành vi này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến đới bờ hoặc thông qua
mối quan hệ giữa hệ thống đới bờ với các hệ xung quanh nó Trên thực tế, việc quản
lý đới bờ xuất phát từ những hành vi tác động của con người lên hệ thống đới bờ với
mục đích là bảo vệ và phát triển hệ thống tài nguyên đới bờ
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa đới bờ và hệ thống tài nguyên đới bờ
Đới bờ
Hệ thống tài nguyên đới bờ
Trang 116
1.1.2 Quan niệm về đới bờ ở Việt Nam
Trong đề tài “Nghiên cứu xây dựng phương án quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam, góp phần bảo đảm an toàn môi trường và phát triển bền vững” (KT.06.07) thuộc Chương trình “Điều tra nghiên cứu biển” giai đoạn 1996 - 2000 do Phân viện hải dương học tại Hải Phòng, nay là Viện Tài nguyên và Môi trường biển thực hiện (1996 – 2000), các tác giả đã đưa ra khái niệm về đới bờ (hay đới bờ) như sau: Đới
bờ là một khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển, một đới động và nhạy cảm, là một hệ thống tự nhiên đặc trưng bởi các quá trình tương tác; một khu vực có tiềm năng tài nguyên phục vụ phát triển đa ngành và là nơi chịu tác động mạnh của các hoạt động của con người
Về phạm vi ranh giới của đới bờ, các tác giả cho rằng có nhiều cách phân định khác nhau phụ thuộc vào quan niệm và mục đích khác nhau của các hoạt động quản lý Theo các tác giả thì trên quy mô toàn cầu, người ta thường xác định giới hạn về phía lục địa của đới bờ là các đồng bằng ven biển, ở nơi khác là giới hạn của thủy triều; còn giới hạn về phía biển là rìa thềm lục địa Còn ở quy mô một Quốc gia thì đới bờ có không gian hẹp hơn Về phía lục địa là đường nối các điểm còn chịu tác động của biển như: ranh giới xâm nhập mặn, tác động của sóng bão, giới hạn thủy triều…, ở nơi khác thì lấy điểm cách đường bờ 10km, là phạm vi mà ở đó các hoạt động của con người có thể tác động trực tiếp đến môi trường cửa sông ven biển Còn về phía biển là đường đẳng sâu bằng một phần hai bước sóng (thường nằm giữa 30 - 50m nước) Tại khu vực này, sóng biển có thể tác động trực tiếp, làm biến cải địa hình đáy
Theo quyết định Số: 158/2007/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ:
Phạm vi không gian đới bờ bao gồm:
a) Phần đất liền: bao gồm tất cả các quận, huyện, thị xã ven biển của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nêu trên;
b) Phần biển: bao gồm vùng biển ven bờ cách bờ 6 hải lý trở vào của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nêu trên
Trang 127
Tóm lại , với cách tiếp câ ̣n khác nhau , các tác giả đã đưa ra các khái niệm khác nhau về dải ven biển và các phương pháp khác nhau để xác định ranh giới dải ven biển Trong đó, phần lớn viê ̣c phân đi ̣nh ranh giới c ủa dải ven biển dựa trên các căn cứ về tự nhiên Riêng mô ̣t số nghiên cứu về kinh tế xã hô ̣i la ̣i thiên về viê ̣c phân
đi ̣nh theo ranh giới hành chính Theo tôi , viê ̣c phân đi ̣nh ranh giới dải ven biển nhằm mu ̣c đích xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho một khu vực lãnh thổ đặc thù này cần được xem xét trong mối quan hệ thống nhất giữa các yếu tố về tự nhiên sinh thái với các yếu tố về xã hô ̣i nhân văn và phát triển kinh tế xã
hô ̣i của khu vực này
1.1.3 Đặc tính chung của đới bờ
* Khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển
Trên bề mặt Trái Đất, 2/3 là biển và đại dương, chỉ có 1/3 là lục địa Khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển gọi là đới bờ (coastal) - nơi gặp gỡ của các quyển: khí quyển, thủy quyển, thạch quyển và sinh quyển Một cách đơn giản có thể mô tả
vị trí chuyển tiếp của đới bờ so với vùng lục địa và biển lân cận qua sơ đồ hình 1.2
Hình 1.2: Vị trí chuyển tiếp của đới bờ
Do vị trí chuyển tiếp, nên đới bờ chịu sự tác động tương hỗ của 4 quyển và hình thành ở đây đặc tính hỗn tạp cả về mặt môi trường tự nhiên, sinh thái tài nguyên- là kết quả của quá trình tương tác Chính quá tình này đã tạo ra thang bậc của các tham số môi trường tự nhiên theo cấu trúc ngang bờ Các thang bậc này kéo theo sự hình thành các diễn thế sinh thái với sự xuất hiện của các loài khác nhau
Trang 138
* Một hệ tự nhiên có quy mô hành tinh
Trên bình diện toàn cầu, đới bờ được xem là một hệ tự nhiên trong hệ trái đất Nói cách khác đó là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh, độc lập và ngang cấp với lục địa và biển/ đại dương Nó đặc trưng bởi sự phát sinh- phát triển, tiến hóa- suy tàn, vận động theo quy luật tiến hóa của tự nhiên Đới bờ tồn tại độc lập nhờ các quá trình tương tác, ràng buộc lẫn nhau trong nội bộ hệ và phát triển nhờ các mối quan hệ tương tác giữa hệ với các hệ khác xung quanh Phá vỡ tính hoàn chỉnh của các mối quan hệ hữu cơ đó sẽ dễ làm tổn thương hệ và gây ra các sự cố sinh thái- môi trường
* Một đới động lực và tương tác
Đới bờ là một hệ cân bằng động, thường xuyên biến đổi theo quy mô thời gian khác nhau: từ những biến động chu kỳ ngắn (chu kỳ triều, vài tuần hoặc tháng) đến dài (trên nghìn năm) Nơi đây luôn xảy ra các hoạt động tương tác giữa quá trình lục địa (sông) và biển (sóng, dòng chảy, thủy triều) giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh Các hoạt động tương tác như vậy biểu hiện rất khác nhau về mức độ và xu thế ở những khu vực khác nhau của đới bờ Điều này sẽ quyết định xu thế tiến hóa khác nhau ở các khu bờ biển cụ thể
Trong phạm vi đới bờ có sự trao đổi rõ rệt giữa nước ngọt (bề mặt/ nước ngầm) với nước mặn và giữa các khối nước nhạt ven bờ với khối nước mặn thềm lục địa Quá trình trao đổi nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc vận chuyển và trao đổi này tạo ra sự hòa trộn phức tạp bên trong đới bờ và tác động biến đổi hóa học liên quan tới các phản ứng nước- các phần tử và các quá trình tạo gradient độ muối Kết quả đã hình thành các khu vực nước khác nhau về mặt thủy hóa và dinh dưỡng, tạo ra các vùng nước ngọt, nhạt, lợ và mặn Sự hòa trộn này cũng gây ra tác động đến ánh sang và dinh dưỡng cần cho sức sản xuất sơ cấp trong các thủy vực và điều kiện bồi
tụ hoặc xói lở đường bờ biển Đó là quá trình tương tác ngoại sinh tác động trao đổi vật chất thông qua các cặp: đất- khí, nước- trầm tích và sông- biển
* Một đới nhạy cảm
Trang 149
Đới bờ nói chung và hệ tự nhiên trong nó nói riêng dễ bị lệ thuộc vào nhiễu loạn tự nhiên và nhân sinh, đồng thời cũng có nhiều cách hiểu về những ứng xử đối
với các tình huống thay đổi như vậy Tính nhạy cảm và tính kháng chế là hai khái
niệm thường dùng để giải thích khả năng ứng xử (response) của các hệ thống môi trường Tính nhạy cảm (sensitivity) là mức độ mà tương ứng với nó, một hệ thống môi trường phục hồi lại sau những thay đổi như vậy Kết hợp hai đặc tính này trong một ma trận 2x2 chúng ta có thể phân biệt được những loại khác nhau của hệ thống
bờ biển mà có khả năng ứng xử khác nhau đối với các sức ép
Bảng 1.1 Tính nhạy cảm và kháng chế của đới bờ
San hô (đối với sao biển gai vương miện)
Các bãi biển (đối với bão- gây xói lở)
Các đụn cát (đối với bão) San hô (đối với bão)
Bờ phẳng (đối với ô nhiễm)
* Một đới dễ bị tổn thương
Đới bờ nói chung và hệ tự nhiên trong nó nói riêng dễ bị lệ thuộc vào tác động tiềm ẩn của tự nhiên và nhân sinh, đồng thời cũng có nhiều cách hiểu về
những ứng xử đối với các tình hướng thay đổi như vậy Tính dễ bị tổn thương là
khái niệm thường dùng để giải thích khả năng ứng xử (response) của các hệ thống
tự nhiên và xã hội Kết hợp hai đặc tính này trong một ma trận tương thích chúng ta
có thể phân biệt được những loại khác nhau của hệ thống đới bờ mà có khả năng ứng xử khác nhau đối với các sức ép, lấy ví dụ cho đới bờ huyện đảo Phú Quốc
Trang 15- Chấp nhận phát triển đa ngành
- Giảm thiểu các mâu thuẫn lợi ích, các tác hại và mất mát không thể đảo ngược trong việc lựa chọn sự phát triển cho tương lai
- Bảo toàn chức năng của các hệ thống tự nhiên và sinh thái
- Tối ưu hóa việc sử dụng đa mục tiêu
Như vậy mục tiêu chung của quản lý tổng hợp vùng bờ là tạo ra lợi ích tối đa trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên bờ, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích tối đa trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên bờ, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích và những ảnh hưởng qua lại có hại của các hoạt động trong vùng này
Nhìn từ góc độ thể chế và chính sách, người ta còn hiểu quản lý tổng hợp là một tổng thể các biện pháp quản lý của Chính phủ dưới hình thức thể chế tổ chức và luật pháp nhằm đảm bảo cho các chương trình phát triển quản lý vùng bờ biển được hòa nhập trong các mục tiêu kinh tế- xã hội, an ninh – quốc phòng, kết hợp với những vấn đề môi trường quốc gia đã được đề ra và hình thành trên cơ sở có tính đến tất cả những nhân tố có tương tác lẫn nhau trên vùng bờ biển Theo cách hiểu này quản lý vùng ven bờ là những hành vi chức năng của các cơ quan quản lý của chính phủ và áp dụng cho cấp quốc gia Đối với cấp địa phương và một khu vực cụ thể, sự bắt đầu bằng thể chế và chính sách là hoàn toàn không có căn cứ Cho nên, trong phạm vi một khu vực hoặc một địa phương quản lý tổng hợp tiếp cận điều chỉnh các phương án truyền thông trong quy hoạch và quản lý vùng bờ Nói cách khác nó kết hợp và lồng ghép các kế hoạch quản lý môi trường và tài nguyên với các kế hoạch phát triển theo ba kiểu phối hợp dưới đây:
- Phối hợp các hệ thống tài nguyên bờ với các hệ thống kinh tế- xã hội
Trang 1611
- Phối hợp nhiệm vụ, nghĩa là xây dựng kế hoạch quản lý môi trường vùng
bờ (hoặc quy hoạch môi trường) Trên cơ sở đó so sánh kế hoạch quản lý môi trường với kế hoạch phát triển (đã có hoặc sẽ xây dựng) Kế hoạch phát triển này phải nhằm vào các mục tiêu của phát triển bền vững
- Phối hợp chính sách: căn cứ vào nhu cầu kế hoạch quản lý môi trường mà điều chỉnh kế hoạch phát triển bằng việc xây dựng hoặc lồng ghép các chính sách
và các thể chế của chính phủ, ngành và địa phương trên cùng địa bàn
1.3 Bản chất của quản lý tổng hợp đới bờ
Tham gia xây dựng và thực hiện một chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ, không ai khác ngoài các tổ chức, các ngành có quyền lợi và đang tiến hành việc sử dụng tài nguyên vùng này Đặc biệt là vai trò tham gia với tư cách là nòng cốt kỹ thuật của các nhà khoa học Vai trò của họ khác nhau nhưng nhìn chung là họ mới đáp ứng được các giải pháp phát triển đa ngành, phối hợp quản lý liên ngành và giải quyết các mâu thuẫn lợi ích
- Quản lý tổng hợp khai thác và giải quyết vấn đề theo một hệ thống theo chức năng trong mối liên kết giữa các hệ thống và việc sử dụng vùng bờ
- Quản lý tổng hợp bảo đảm sự cân bằng giữa việc bảo vệ các hệ sinh thái quan trọng đối với phát triển kinh tế đới bờ Nó định hình các mục tiêu ưu tiên có tính đến yêu cầu giảm thiểu, trong trường hợp cần thiết thì khôi phục mọi tác động đến môi trường và định ra những hướng dẫn hợp lý nhất để xử lý vấn đề
Trang 17Nó được thực hiện thông qua các thỏa thuận pháp lý giữa các ngành, các cấp
- Quản lý tổng hợp định ra một cơ cấu để giảm thiểu hay giải quyết các mâu thuẫn có thể phát sinh ở mức độ khác nhau liên quan đến việc phân phối và sử dụng tài nguyên ở những khu vực đặc biệt của vùng bờ
- Quản lý tổng hợp đới bờ khuyến khích nâng cao nhận thức về phát triển bền vững và ý nghĩa của công tác bảo vệ môi trường vùng bờ
- Quản lý tổng hợp là một hành vi chủ động, đi cùng với nhân tố phát triển, chứ không phải là hành vi thụ động, đợt có những dự kiến phát triển rồi mới hành động Như vậy quản lý tổng hợp cũng chứa đựng cả những nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng các chương trình tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.4 Quá trình lập kế hoạch quản lý tổng hợp đới bờ
Quản lý tổng hợp đới bờ được tiến hành theo 7 bước cơ bản sau:
- Xác định vấn đề quản lý
- Phân tích và đánh giá (hiện tại và tương lai)
- Lựa chọn ưu tiên
Trang 18bờ nghiên cứu
* Các công cụ kỹ thuật cần thiết:
- Đánh giá nhanh môi trường
- Phân tích và đề xuất khung thể chế chính sách
- Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ nghiên cứu
- Kết hợp sử dụng GIS để xử lý các thông tin không gian
- Đánh giá tác động môi trường tổng thể (integrated EIA)
- Phân vùng chức năng (zoning)
- Thiết lập và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên biển
- Phục hồi đa dạng sinh học
- Lựa chọn các kỹ thuật môi trường
- Phân tích mâu thuẫn lợi ích
- Sử dụng công cụ kinh tế môi trường trong việc xây dựng kế hoạch phát triển bền vững đới bờ
- Thiết lập hệ thống monitoring
- Quản lý cộng đồng
Sản phẩm của bước này chính là kế hoạch quản lý môi trường
1.5 Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
1.5.1 Cách tiếp cận và mục tiêu phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
a Cách tiếp cận phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
Trang 19để phân biệt với “phân vùng hành chính” trong phân chia, phân cấp quản lý các vùng biển/bờ cho các đơn vị hành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương
và giữa các địa phương
Trong quản lý tổng hợp đới bờ, phân vùng chức năng được định nghĩa là sự
“phân chia lãnh thổ” ở đới bờ theo những tiêu chí nhất định để có hướng và cách thức phát triển và sử dụng tài nguyên đới bờ một cách hiệu quả và bền vững Một trong những nguyên tắc và tiêu chí quan trọng được sử dụng như là một căn cứ để phân vùng chức năng chính là các đặc điểm tự nhiên hay chức năng tự nhiên, và các chức năng khai thác, sử dụng của các hệ sinh thái và các nguồn lợi trong đới bờ Ngoài ra,
để đảm bảo các kết quả phân vùng mang tính khả thi và dễ dàng được chấp nhận bởi những người hưởng lợi, việc phân vùng chức năng trong đới bờ phải phản ánh được lợi ích và các đặc điểm xã hội của đới bờ cũng như phải căn cứ vào việc sắp xếp lại các thể chế sẵn có trong việc quản lý sử dụng các nguồn lợi của đới bờ Các kết quả
về phân vùng cung cấp một quy chế phù hợp cho việc phân định không gian đới bờ theo mục đích bảo tồn và phát triển, cung cấp khung pháp lý cho việc sử dụng các nguồn lợi và tài nguyên của đới bờ theo các vùng chức năng đã phân định
Qua phân tích trên, tôi quan niệm phân vùng quản lý gắn liền với phân vùng chức năng Trước khi phân vùng quản lý phải phân vùng chức năng Trên cơ sở phân vùng chức năng, xác định các đối tượng và hành động quản lý Nói cách khác, phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ là phân chia đới bờ của một khu vực, một quốc gia hay một địa phương theo các mục đích, tiêu chí để quản lý các đối tượng, các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, giảm thiểu tai biến thiên
Trang 2015
nhiên, giảm thiểu tối đa mâu thuẫn lợi ích trong xã hội để đạt kết quả sử dụng tài nguyên, môi trường tối ưu, tạo một xã hội phát triển hài hòa và bền vững Kế hoạch trong quản lý tổng hợp đới bờ chính là giai đoạn đầu của quy hoạch quản lý tổng hợp đới bờ, giúp tổ chức không gian phát triển đới bờ cho việc lập kế hoạch quản lý tổng hợp đới bờ được rõ ràng hơn, mang tính khoa học hơn và khả thi hơn
b Mục tiêu của phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
Mục tiêu chung của phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ nhằm đảm bảo nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý sao cho sử dụng bền vững đới bờ theo chức năng, để hài hoà về lợi ích của các ngành/ người sử dụng tài nguyên bờ, trong khi vẫn đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững Còn các mục tiêu
cụ thể của phân vùng thường là:
- Bảo vệ các hệ sinh thái điển hình/đặc trưng và quan trọng của đới bờ, các nơi sinh cư (habitat) của các loài đặc trưng và các quá trình diễn tiến sinh thái ở đới bờ quản lý
- Bảo vệ chất lượng và giá trị tự nhiên cũng như giá trị văn hoá của đới bờ
mà vẫn đảm bảo được các hoạt động phát triển trong chừng mực cho phép
- Giúp giải quyết hoặc ngăn chặn các mâu thuẫn lợi ích của các ngành kinh tế trong quá trình phát triển ở đới bờ
- Bảo tồn các vùng sử dụng đặc biệt và giảm thiểu các tác động tiêu cực có thể nảy sinh trong quá trình khai thác, sử dụng đới bờ
- Xây dựng và bảo vệ được các khu bảo tồn nghiêm ngặt để phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và giáo dục lâu dài
Theo Charles Ehler và Fanny Douvere (2009), các nội dung cơ bản của cách tiếp cận phân vùng trong quy hoạch không gian bờ và biển là:
- Định vị và thiết kế các vùng (zones) dựa trên sự chồng khít các yếu tố địa hình, hình thể, hải dương học, sinh học, các yếu tố phát triển,… ở đới bờ quản lý
- Xác định một hệ thống cấp phép, quy định pháp lý, và các qui tắc sử dụng trong mỗi vùng đã xác định
Trang 21tế, xã hội, cơ chế chính sách, văn hóa,…) của đới bờ quản lý, cũng như vào cơ quan
có trách nhiệm đối với việc phân vùng
1.5.2 Nguyên tắc phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
Các chuyên gia của chương trình PEMSEA (2003) [25] đã khuyến nghị 15 nguyên tắc cơ bản khi thực hiện phân vùng chức năng trong đới bờ Nghĩa là một kế hoạch phân vùng phải đảm bảo được các nguyên tắc sau:
(1) Được xây dựng theo các phương pháp đơn giản, dễ hiểu và mang tính khả thi
(2) Hạn chế các tác động tiêu cực lên các hoạt động kinh tế đang diễn ra ở đới bờ (nếu có thể được), đồng thời phải đồng nhất với mục tiêu bảo vệ và phát triển các nguồn lợi của đới bờ
(3) Các vùng chức năng trong đới bờ được phân chia nên có sự thống nhất
và tương tự cả về mặt chức năng và điều kiện sử dụng và khai thác với các vùng bảo tồn hiện có trong đới bờ
(4) Các vùng được phân chia nên đảm bảo tính liên tục, ví dụ: vùng được bảo vệ nghiêm ngặt, vùng đệm, vùng được phép khai thác có điều kiện, vùng khai thác tự do,… Tránh việc phân vùng „đột ngột‟, ví dụ đặt vùng bảo vệ nghiêm ngặt cạnh vùng được phép khai thác tự do Nên sử dụng „vùng đệm – buffer zone‟ như những vùng chuyển tiếp giữa các vùng có đặc tính khác nhau
(5) Các vùng đơn lẻ nên được đặt ở những nơi có đặc điểm riêng biệt, đặc trưng hoặc có vị trí địa lý cách biệt với các vùng còn lại, ví dụ các đảo hoặc các rạn san hô,…
Trang 22(8) Các bãi đẻ, bãi sinh sản, bãi ương ấp có giá trị về đa dạng sinh học (đặc biệt là của những loài có giá trị khai thác hoặc đang bị khai thác phổ biến) nên được khoanh vùng thành những vùng khai thác hạn chế hoặc khai thác theo mùa để tránh mùa sinh sản, ấp nở của các loài này
(9) Các vùng nuôi thả tự nhiên (ví dụ như các vùng thường được con người thả giống thuỷ sản ra tự nhiên để tái tạo nguồn lợi) nên được khoanh vùng ở cạnh các ngư trường khai thác để đảm bảo việc bổ sung quần đàn vào nguồn lợi trong vùng (10) Các vùng được khai thác hạn chế hoặc khai thác theo mùa nên được phân loại thành các “vùng khai thác hoặc sử dụng chung” (general use) trong phân loại các vùng
(11) Theo nguyên tắc chung, các vùng có ý nghĩa lớn về đa dạng sinh học hoặc giá trị văn hoá lịch sử hoặc những vùng bị cấm khai thác nên thành lập thành các vườn quốc gia hoặc nâng cấp bảo vệ lên mức độ quốc gia
(12) Khi một vùng được khoanh theo định hướng ngăn cấm một hoạt động kinh
tế nào đó sử dụng nguồn lợi trong vùng, nên cung cấp kèm theo các hướng dẫn hoặc định hướng cho các ngành kinh tế đó tiếp cận việc khai thác hoặc sử dụng nguồn lợi thay thế trong các vùng khác
(13) Các hướng dẫn về tiếp cận hoặc khai thác các nguồn lợi thay thế này đặc biệt quan trọng đối với những người dân bản địa của địa phương, đặc biệt là những cộng đồng địa phương đang sống phụ thuộc vào nguồn lợi tự nhiên qua các phương thức săn bắt hoặc đánh bắt tự nhiên
(14) Vùng neo đậu tàu thuyền nên nằm xa các khu vực nhạy cảm về nguồn lợi như các rạn san hô, bãi đẻ thủy sản,…
Trang 2318
(15) Trong các vùng bảo vệ hoặc bảo tồn nên khoanh các tiểu vùng dành cho công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục
Tuy nhiên, những nguyên tắc này được áp dụng chủ yếu cho phần biển ven bờ,
ví dụ như đối với các khu bảo tồn, các khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn loài,…Thông thường, các nguyên tắc này được áp dụng ở vùng quản lý tổng hợp đới bờ trên biển tính từ đường bờ ra đến độ sâu từ 30 – 50m
1.5.3 Cơ sở khoa học và pháp lý của phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
Trên thế giới hiện nay đang có 2 xu hướng phân vùng: đó là phân vùng dựa trên cơ sở khoa học tự nhiên và phân vùng dựa trên cơ sở pháp lý
Phân vùng quản lý dựa trên cơ sở khoa học tự nhiên
Phân vùng dựa trên cơ sở khoa học đã và đang được nhiều nước trên thế giới
áp dụng trong việc quản lý tổng hợp đới bờ của mình Phân vùng sử dụng đất hiện nay đang là hoạt động rất phổ biến ở nhiều quốc gia Trong khi đó, phân vùng sử dụng đới bờ/phân vùng sử dụng biển lại rất hạn chế và chỉ có một số quốc gia đang bắt đầu tiến hành Việc sử dụng lưu vực sông, các vùng nước ở đới bờ phục vụ các mục đích khác nhau đang ngày càng gia tăng đòi hỏi phải có quy hoạch hợp lý
Từ trước đến nay phân vùng sử dụng đất thường được sử dụng nhiều nhất trong công tác quy hoạch, quản lý nói chung và quản lý đời bờ nói riêng Khi quy hoạch sử dụng đất thích hợp thì hoàn toàn tránh được thảm họa Một minh chứng cụ thể là vụ lở đất ở Antipolo, Rizan của Philippine năm 1999 đã làm phá hủy nhiều công trình và nhà cửa ở nơi đây Thảm họa này là do sai lầm đặc biệt nghiêm trọng trong công tác quy hoạch sử dụng đất vì nhà cửa được xây dựng ở trên nền đất yếu
ở vùng đồi
Quy hoạch sử dụng đất có thể được sử dụng để nhận diện được các vùng rủi
ro và giải quyết nhu cầu về định cư Tuy nhiên, quy hoạch sử dụng đất là một quá trình phức tạp và lặp đi lặp lại Có nhiều vấn đề bất đồng nảy sinh trong công tác quy hoạch đất đai, các ngành nhìn nhận và đánh giá đất đai rất khác nhau làm cho các giá trị của nó mâu thuẫn nhau Quy hoạch sử dụng đất diễn ra trong bối cảnh chính trị nhất định và thường ưu tiên những lợi ích trước mắt
Trang 2419
Phân vùng sử dụng biển, hoặc phân vùng chức năng, phân chia diện tích sử dụng theo các tiêu chí cụ thể, trước nhất là theo các chức năng sinh thái, các hoạt động truyền thống và sự phát triển tương lai
Phân vùng sử dụng biển/đới bờ được thiết kế để điều chỉnh các hoạt động kinh tế tại các khu vực ở đới bờ và bảo vệ môi trường sống Cách làm này cũng thúc đẩy việc sử dụng tài nguyên một cách hợp lý và bền vững và nó càng làm cho
sự phát triển kinh tế và công bằng xã hội được vững chắc hơn Khi một quá trình được hậu thuẫn bởi các đầu vào là khoa học thực tiễn, nó có thể đẩy nhanh các quá trình quản lý tổng hợp đới bờ khác như các kế hoạch phát triển đới bờ và giải quyết xung đột Trong khi việc phân vùng chức năng có thể giải quyết các vấn đề phát triển, hiệu quả của nó như một công cụ quản lý chủ yếu phụ thuộc vào luật pháp và các quy định hiện hành, cũng như ý chí chính trị để thực thi
Phân vùng bảo vệ thường được sử dụng nhiều hơn trong các dự án bảo tồn nói chung và bảo vệ vùng ven biển nói riêng Một ví dụ về việc nghiên cứu cơ sở khoa học trong phân vùng bảo vệ biển là ”Dự án nghiên cứu thiết kế và phân vùng các khu vực bảo vệ biển thuộc Tây Ấn Độ Dương” trong đó cơ sở khoa học được dùng để xác định vị trí của đường ranh giới, kích thước của các vùng bảo vệ Vị trí đường ranh giới của các vùng bảo vệ biển phải dựa trên các nhân tố sinh thái như sự sinh sản, sự thu nhận các yếu tố ngoại lai và bãi ươm giống, bãi đặc sản, hệ sinh thái
dễ phục hồi, sự ổn định về quần thể các loài và quần xã quan trọng Nếu như việc thiết kế ranh giới này ban đầu dựa trên các nhân tố kinh tế - xã hội thì các vùng sinh thái quan trọng có thể nằm ngoài ranh giới được bảo vệ Tuy nhiên khi kết hợp với các cơ sở khoa học nói trên thì việc xác định ranh giới chỉ phải thay đổi một chút
Đó là cơ sở để bao trong ranh giới trên các hệ sinh thái có thể chịu được các tác động có hại và những vùng có tính đa dạng sinh học cao có nguy cơ bị suy thoái để
có thể bảo vệ và phục hồi chúng
Nhằm mục đích bảo tồn sinh thái thì kích thước của vùng bảo vệ càng lớn càng tốt do bản chất mở của các hệ sinh thái biển, tuy nhiên đối với cộng đồng thì
Trang 25ấu trùng và trao đổi dinh dưỡng và các vật chất khác giữa các hệ sinh thái Những đại lượng đó là cơ sở khoa học cho phân vùng bảo vệ biển
Ứng dụng nghiên cứu trên vào một khu vực cụ thể, công viên quốc gia Quirimbas, Mozambique Công viên quốc gia Quirimbas được phân thành vùng bảo vệ hoàn toàn, vùng sử dụng đặc biệt, vùng sử dụng và phát triển cộng đồng và vùng đệm
Cùng cách phân vùng như trên, công viên biển Great Barrier Reef (Australia) cũng được phân thành vùng sử dụng, vùng bảo vệ hệ sinh thái, vùng công viên bảo tồn, vùng đệm, công viên quốc gia, vùng nghiên cứu khoa học, vùng bảo tồn
Về phân vùng quản lý tổng hợp bờ biển, đới bờ biển của Thổ Nhĩ Kỳ được phân thành các vùng theo các đường gần như song song với bờ biển về phía đất liền như đường bờ khi triều thấp, đường bờ khi triều cao, đường mép bờ trong đó bờ là vùng giữa đường bờ và đường mép bờ được định nghĩa như giới hạn tự nhiên của những hệ sinh thái hình thành do sự chuyển động của nước biển về phía bờ xuất phát từ đường bờ như bờ cát, bờ đá, đầm lầy, đất ngập nước,… Theo đó, dải bờ biển
là vùng giới hạn trong phạm vi 100 m từ mép bờ Cách phân vùng như vậy bắt buộc phải dựa vào cơ sở khoa học về điều kiện thủy văn, hải văn như hoạt động của sóng, thủy triều cũng như những hiểu biết về đặc điểm của các hệ sinh thái trong các vùng
đó để có những quy định mang tính pháp lý cho sử dụng hợp lý các vùng đó
Dựa vào sự phân vùng này, Thổ Nhĩ Kỳ có những quy định quản lý ở đới bờ như không được khai quật, đào bới và khai thác cát, sỏi… ở đới bờ Cấm đổ đất, chất thải, rác thải công nghiệp, xây dựng, sinh hoạt … ở đới bờ biển và dải bờ biển
Ở đới bờ biển, các chủ thể được sử dụng đất cho các mục đích sau: (1) xây dựng các
cơ sở hạ tầng và các phương tiện khác như cảng, bến cảng, bến tàu, các công trình cho tàu cập bến, đê chắn sóng, cầu, đập ngăn nước biển, đèn biển, các trạm bơm
Trang 2621
khô, kho giữ hàng, máy sản xuất muối, thiết bị xử lý, phục vụ đánh bắt cá … với mục đích bảo vệ bờ biển và sử dụng bờ biển cho lợi ích cộng đồng (2) xây dựng các công trình và các phương tiện không thể đặt trong đất liền do bản chất của hoạt động như xưởng đóng tàu, các phương tiện bốc dỡ, phương tiện phục vụ nuôi cá trang trại, …
PEMSEA xúc tiến việc áp dụng phân vùng sử dụng biển và kết hợp với quy hoạch sử dụng đất ở cấp địa phương cũng như quốc gia Kế hoạch phân vùng sử dụng đới bờ ở thành phố Hạ Môn – Trung Quốc và Vịnh Batangas – là những điển hình tiên phong về phân vùng chức năng sử dụng đới bờ tại khu vực các biển Đông Á
Ở Trung Quốc, thành phố Hạ Môn đã xây dựng và thực hiện kế hoạch phân vùng sử dụng đới bờ vào giữa những năm 1990 bằng cách phân loại sử dụng vùng biển theo các chức năng sinh thái và kinh tế và các hoạt động truyền thống Kế hoạch phân vùng này vạch ra các vùng cụ thể để sử dụng cho các mục đích khác nhau như hải quân, hàng hải, cảng biển, du lịch, đánh bắt, nuôi trồng hải sản và bảo tồn Như vậy chức năng sinh thái là một cơ sở khoa học quan trọng trong phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ ở Trung Quốc Vai trò của pháp lý trong phân vùng và thực hiện phân vùng của mô hình ở thành phố Hạ Môn sẽ được trình bày trong phần sau
về nghiên cứu cơ sở pháp lý trong phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
Phân vùng quản lý đới bờ trên cơ sở pháp lý
Việc phân vùng ở thành phố Hạ Môn, Trung Quốc đã được Quốc hội Trung Quốc phê chuẩn thành luật Các quy định về kiểm soát việc sử dụng các khu vực ở đới bờ có hiệu lực năm 1997 Hệ thống giấy phép cũng được xây dựng và triển khai thực hiện nhằm điều chỉnh các đối tượng sử dụng theo các tiêu chí phân vùng Kế hoạch phân vùng được kết hợp chặt chẽ với kế hoạch sử dụng đất của thành phố, điều chỉnh một cách hiệu quả hoạt động phát triển ở đới bờ
Xác định ranh giới phân vùng là một việc đặc biệt khó khăn, đòi hỏi ứng dụng các công cụ và kỹ thuật khoa học Trong trường hợp Hạ Môn, kế hoạch phân vùng được chính quyền thành phố hậu thuẫn bằng cách đưa ra những quy định quản
lý hành chính, bảo đảm có cơ sở pháp lý thích đáng thể thực thi Nhờ sự trợ giúp
Trang 2722
của GIS và viễn thám, các cơ quan liên quan có khả năng kiểm soát hiệu quả việc
sử dụng diện tích đới bờ theo như kế hoạch phân vùng đã đề ra
1.5.4 Các tiêu chí phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
* Tiêu chí sự phân dị về điều kiện tự nhiên đới bờ nghiên cứu
Nghĩa là trên cơ sở đặc điểm địa hình- địa mạo, dòng chảy, địa chất,… vv, chúng ta phân ra các vùng có những đặc trưng khác biệt
Đây là hình thức được áp dụng khá phổ biến trong việc quản lý tổng hợp đới
bờ của các quốc gia, tổng hợp về địa lý là một trong những thuộc tính về tính tổng hợp trong quản lý đới bờ Theo đó, tổng hợp về địa lý có nghĩa là việc sử dụng ranh giới được xác định bởi dòng chảy hoặc các quá trình tự nhiên khác, hơn là sử dụng ranh giới hành chính Cụ thể áp dụng với đới bờ, khi phân định vùng ven bờ biển nên kết hợp sử dụng ranh giới xác định bởi tác động của biển với ranh giới hành chính, để xác định các đơn vị cho quản lý vùng ven bờ biển
* Tiêu chí về sự phân dị tài nguyên và mức độ khai thác tài nguyên của các hoạt động phát triển kinh tế và xã hội
- Điều tra nghiên cứu sự phân bố các nguồn tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên vị thế, tài nguyên văn hóa, lịch sử nguồn nhân lực… vv Từ
đó, phân chia ra các vùng có các đặc điểm khác nhau, có thể phát triển các ngành kinh tế điển hình
- Khu khai thác hạn chế/hạn định: dành cho các hoạt động kinh tế phụ thuộc vào hoặc có liên quan đến một ngưỡng chất lượng môi trường nước nhất định
- Khu khai thác độc quyền: dành cho các hoạt động phát triển đòi hỏi việc sử dụng tài nguyên không hạn chế
- Khu khai thác đa ngành: dành cho các hoạt động phát triển đòi hỏi sự di chuyển, vận chuyển và sự hợp tác hoặc chia sẻ với nhau trên cùng một khu vực tại các thời điểm khác nhau
* Các tiêu chí về pháp lý
- Phân vùng biển theo quy định của Công ước về Luật biển 1982 của Liên Hợp Quốc là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, điều chỉnh tổng thể các quy định
Trang 2823
pháp luật được áp dụng rộng rãi đối với các quốc gia thành viên Trong Công ước chế độ pháp lý của các vùng biển được quy định như sau:
+ Nội thủy (Internal water): là toàn bộ vùng nước nằm phía trong đường cơ
sở và tiếp giáp với bờ biển Tại nội thủy, quốc gia ven bờ biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền của mình
+ Lãnh hải (Territorial sea): là vùng biển tiếp liền và nằm phía ngoài đường
cơ sở Theo quy định tại Công ước 1982, các quốc gia ven bờ biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình tới một giới hạn không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở
+ Vùng tiếp giáp (Contiguos zone): là vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền với lãnh hải Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải
+ Vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive economic zone): là vùng biển nằm tiếp liền và ở phía ngoài lãnh hải, rộng không quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dụng để tính chiều rộng lãnh hải
+ Thềm lục địa (Continental Shelf): là phần bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở cách khoảng cách gần hơn
Phân vùng theo địa giới hành chính: trong phân vùng quản lý tổng hợp đới
bờ đặc biệt quan tâm đến ranh giới hành chính Trong điều kiện cho phép để các ranh giới phân vùng quản lý tổng hợp phù hợp với các ranh giới hành chính để tạo nên tính khả thi cao của phân vùng quản lý tổng hợp
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ luôn phải trùng với phân vùng quản lý hành chính Như vậy, một vùng quản lý tổng hợp đới bờ có thể nằm trong nhiều đơn vị quản lý hành chính Nhưng chúng ta cần nhắc lại là trong điều kiện cho phép cần đưa về một đơn vị hành chính
Trang 2924
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
a Tình hình nghiên cứu ở các nước phát triển
* Tình hình nghiên cứu ở Hoa Kỳ
Với lợi thế là quốc gia ven biển với vùng biển rộng lớn và giàu có về tài nguyên, Hoa Kỳ đã biết khai thác các tài nguyên biển từ rất sớm để phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước
Trong lĩnh vực quản lý biển, Hoa Kỳ cũng là một trong số các quốc gia đi đầu trong chiến lược quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ Ngay từ khi khái niệm này còn chưa được phổ biến rộng rãi và chưa được nhiều quốc gia trên thế
giới quan tâm thì Hoa Kỳ đã ban hành Đạo luật Quản lý tổng hợp đới bờ số 6217 năm 1972 Luật này đã thể hiện ưu điểm vượt trội so với luật của các quốc gia khác là
Đạo luật này đã có đề cập đến vấn đề phân vùng quản lý Trong đó, ngoài việc quản
lý về mặt hành chính và chuyên môn theo các cơ quan trung ương, các cơ quan quản
lý ngành thì hoạt động quản lý vùng biển của Hoa Kỳ còn được phân theo từng bang, từng địa phương Đồng thời, giữa các phương thức quản lý này có sự kết hợp chặt chẽ và được hỗ trợ bởi các cơ chế trung gian có thẩm quyền nhà nước Đây là một mô hình quản lý tổng hợp tương đối chặt chẽ, hiệu quả được thể hiện trong Luật quản lý tổng hợp đới bờ của Hoa Kỳ
* Tình hình nghiên cứu tại Austraylia
Ở Austraylia người ta rất quan tâm đến phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
và vùng trọng điểm quan trọng, ví dụ tại dải san hô lớn hay vùng hồ lớn Tại đây, các vùng được phép hoạt động và không được phép hoạt động đã được xác định Thực chất việc phân chia trên vừa mang tính chất phân vùng sử dụng đa ngành, vừa mang tính chất phân vùng quản lý tổng hợp đa ngành Từ cách phân vùng trên cho phép chúng ta chi tiết hóa thêm nội dung quản lý tổng hợp
b Tình hình nghiên cứu ở các nước đang phát triển
* Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc:
Trang 3025
Để phát triển kinh tế biển và chấn hưng nền kinh tế, năm 2003 Quốc Vụ Viện
Trung Quốc đã ban hành “Cương yếu quy hoạch phát triển kinh tế biển toàn quốc”
do Ủy ban phát triển và cải cách quốc gia, Cục Hải dương quốc gia soạn thảo Chính sách biển của Trung Quốc được thể hiện rất rõ trong bản Cương yếu này Trong Cương yếu, phân định vùng biển là một trong những nội dung quan trọng và đặc biệt được chính quyền nơi đây quan tâm Việc phân vùng được thể hiện trong Cương yếu như sau:
Phân chia theo các ngành nghề biển trụ cột như nghề cá, vận tải biển, dầu
khí biển, ngành du lịch ven bờ biển, công nghiệp đóng tàu và ngành thuốc sinh vật biển, thúc đẩy kéo theo sự phát triển các ngành nghề biển khác Cụ thể mục tiêu đối với các ngành nghề như sau:
(+) Nghề cá: Tích cực thúc đẩy điều chỉnh mang tính chiến lược cơ cấu kinh
tế nghề cá và vùng cá, thúc đẩy chuyển biến phương thức đánh bắt cá truyền thống sang hướng đánh bắt cá hiện đại, chuyển đổi mô hình đánh bắt cá số lượng sang chất lượng Nghề đánh bắt cá biển phải từng bước thực hiện chế độ đánh bắt có hạn ngạch, khống chế và giảm số lượng tàu đánh bắt cá vùng biển gần bờ Ngành nuôi trồng thủy sản phải phân bổ hợp lí cải biến phương thức nuôi trồng thủy sản truyền thống, nâng cao trình độ thâm canh hóa và hiện đại hóa Tích cực phát triển ngành chế biến thủy sản, nâng cao trình độ kĩ thuật chế biến, làm tốt công tác sản xuất chế biến sạch các sản phẩm thủy sản
(+) Ngành giao thông vận tải biển: Sự phát triển của ngành giao thông vận tải biển phải tiến hành điều chỉnh kết cấu, ưu hóa bố cục các cảng khẩu, mở rộng công năng các cảng, thúc đẩy thị trường hóa, từng bước xây dựng cường quốc vận tải biển Tới năm 2010, phải cơ bản thiết lập hệ thống thị trường vận tải các cảng tương đối hoàn thiện Mạng lưới vận tải tổng hợp, vận tải bằng côngtenơ quốc tế lấy cảng biển làm trung tâm, không ngừng nâng cao trình độ trang bị kĩ thuật, cơ bản thiết lập hệ thống quản lý thông minh tại các cảng chủ yếu
(+) Ngành du lịch ven bờ biển: Phải thể hiện rõ hơn những đặc sắc sinh thái biển và đặc sắc văn hóa biển, nỗ lực khai thác thị trường khách du lịch trong nước
Trang 3126
và du khách quốc tế Trọng điểm phân bố các vùng ngành du lịch ven bờ biển là: vùng ven bờ biển Bột Hải, Bắc Hải, Hoàng Hải, Thượng Hải, Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, đảo Hải Nam và Vịnh Bắc Bộ
(+) Công nghiệp tàu biển: Công nghiệp tàu biển phải thể hiện rõ ngành chủ lực, kinh doanh lớn, phát triển ổn định từ một nước lớn về đóng tàu thành nước mạnh về đóng tàu
(+) Nghề muối và công nghiệp hóa chất biển: Nghề muối phải kiên trì phương châm lấy muối làm chủ, nâng cao trình độ công nghệ kĩ thuật và trình độ trang bị Công nghiệp hóa chất phải từng bước hình thành các ngành khai thác tài nguyên hóa học nước biển có quy mô tương đối lớn
(+) Ngành sử dụng nước biển: Tiếp tục tích cực phát triển kĩ thuật sử dụng nước biển và kĩ thuật làm ngọt nước biển Tới năm 2010, sản lượng nước biển được làm ngọt hóa hàng năm đạt trên 20 triệu tấn, tổng lượng nước biển sử dụng hàng năm đạt trên 50 tỉ m3
(+) Ngành thuốc sinh vật biển: Nỗ lực khai thác các loại thuốc từ biển có hàm lượng kĩ thuật cao, dung lượng thị trường lớn, hiệu quả kinh tế cao Tới năm
2010, hình thành ngành thuốc và chế phẩm sinh hóa biển bước đầu có quy mô
Phân chia theo các vùng kinh tế biển: Cương yếu xác định bốn vùng kinh tế
biển trọng điểm: Vành đai ven bờ và các vùng biển gần (Vùng kinh tế biển bán đảo Liêu Đông, châu thổ Liêu Hà, miền Tây Bột Hải, Tây nam bộ Bột Hải, bán đảo Sơn Đông, Tô Đông, cửa sông Trường Giang, nam Phúc Kiến, bắc Nam Hải, Vịnh Bắc
Bộ, đảo Hải Nam); Hải đảo và các vùng biển phụ cận; Thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (gồm: vùng ngư nghiệp và vùng dầu khí); Vùng đáy biển quốc tế
Thành công của thành phố Hạ Môn trong việc phân vùng sử dụng đới bờ đã góp phần quan trọng vào việc ban hành Luật Sử dụng không gian đới bờ được Quốc hôi Trung Quốc phê chuẩn Luật này bắt buộc các tỉnh và các địa phương ven biển phải tiến hành quy hoạch sử dụng đới bờ cho toàn bộ dải ven biển Đến nay, toàn bộ dải ven biển Trung Quốc đã được phân vùng sử dụng (bảng 2.1)
Trang 3227
Bảng 2.1 Quy hoạch phân vùng chức năng sử dụng biển ở Hạ Môn- Trung Quốc
Diện tích/chức
năng
Cảng phía Tây Vịnh Tông An Biển phía Đông Biển Dadeng
Ưu thế Hàng hải/cảng Nuôi trồng thủy
sản
Du lịch Tăng các loại
tài nguyên sống
ở nước Phù hợp Du lịch/bảo tồn Du
lịch/cảng/bảo tồn
Hàng hải/xây
bờ/bảo tồn
Hàng hải/du lịch
Dựa trên những kinh nghiệm của Hạ Môn, một số thành phố, đô thị của các nước thành viên PEMSEA đã bắt đầu tiến hành xây dựng quy hoạch phân vùng sử dụng vùng biển/đới bờ như: Bataan – Philippines, Bali – Indonesia, Port Klang – Malaysia và Sihanoukville – Campuchia
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về quản lý tổng hợp đới bờ được tiến hành
ở nhiều cơ quan nghiên cứu từ trung ương đến địa phương, từ các dự án hợp tác quốc tế khác nhau Nhưng có thể nói các nghiên cứu, áp dụng các mô hình quản lý tổng hợp đới bờ chủ yếu vẫn từ các nguồn: các đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước, các dự án, đề án của các ngành và các địa phương và các chương trình, dự án hợp tác quốc tế đa phương và song phương khác nhau:
- Các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước: Tiếp cận quản lý tổng hợp đới bờ ở Việt Nam đã trải qua hơn 10 năm kể từ đề tài cấp Nhà nước KHCN 06-07
“Nghiên cứu xây dựng phương án quản lý tổng hợp đới bờ biển Việt Nam góp phận đảm bảo an toàn môi trường và phát triển bền vững” do Viện Tài nguyên và Môi trường biển chủ trì thực hiện trong thời gian 1996- 1999 với 2 trọng điểm nghiên cứu là khu vực Đồ Sơn- Cát Bà- Hạ Long và Đà Nẵng (Nguyễn Chu Hồi và nnk,
Trang 3328
2000) [12] Trong thời gian 2000- 2002, Viện Hải dương học đã tiến hành nhiệm vụ nghiên cứu nhằm xây dựng phương án quản lý tổng hợp đới bờ Nam Trung Bộ với trọng điểm Bình Định theo Nghị định thư hợp tác Việt Nam- Ấn Độ (Nguyễn Tác
An và nnk, 2003) [1]
Tiếp theo, một số dự án triển khai đã được tiến hành với sự hỗ trợ về chuyên gia tài chính của một số nước và tổ chức quốc tế Thành công nhất về mặt lý luận và thực tiễn có lẽ là dự án quản lý tổng hợp đới bờ tại Đà Nẵng, nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác về quản lý môi trường các biển Đông Á (IMO/GEF/PEMSEA) giai đoạn một vào năm 2000- 2006 và giai đoạn hai đã được tiếp tục từ năm 2009 (Hứa Chiến Thắng, 2007) [23] Dự án Việt Nam- Hà Lan về quản lý tổng hợp đới
bờ Việt Nam (VNICZM) giai đoạn 2000- 2006 [4] được thực hiện ở 3 điểm trình diễn Nam Định, Thừa Thiên Huế và Bà Rịa- Vũng Tàu Dự án hợp tác về quản lý tổng hợp đới bờ Hạ Long do IUCN Việt Nam, Bộ Thủy sản và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh thực hiến trong khuôn khổ hợp tác với Hoa kỳ (NOAA) trong giai đoạn 1 2003- 2004 và giai đoạn 2: 2006- 2008 (Nguyễn Chu Hồi và nnk, 2005) Gần đây nhất là dự án quản lý tổng hợp các hoạt động trên đầm phá Tam Giang- Cầu Hai (IMOLA) do FAO tài trợ với sự hỗ trợ của các chuyên gia Italia thực hiện
từ năm 2005 và hiện đang tiếp tục ở pha hai Chỉ riêng dự án quản lý tổng hợp đới
bờ Quảng Nam (2005- 2007) là mô hình quản lý tổng hợp đới bờ cấp tỉnh lần đầu tiên do các nhà khoa học và quản lý Việt Nam xây dựng và thực hiện theo kinh nghiệm của Đà Nẵng (Hứa Chiến Thắng, 2007) [23]
Các hoạt động nói trên đã có những đóng góp quan trọng về phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức và tích lũy kinh nghiệm quản lý tổng hợp đới bờ ở Việt Nam (Nguyễn Hữu Cử, 2005 [8]; Nguyễn Ngọc Sinh và nnk [21]; 2003; Hứa Chiến Thắng, 2007) [23] Ở mức độ khác nhau, các dự án triển khai đều chú ý đến thu thập, đánh giá và xây dựng cơ sở dữ liệu và phổ biến thông tin, kể cả việc lập các trang web phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ; quan tâm xây dựng cơ sở vật chất và năng lực quản lý từ việc thành lập hoạt động của các văn phòng dự án, các nhóm
Trang 34Gần đây đề tài KC 09.13/ 06- 10: lập luận chứng khoa học kỹ thuật về mô hình quản lý tổng hợp và phát triển bền vững dải ven bờ Tây Vịnh Bắc Bộ, do Trần Đức Thạnh chủ biên đã đề xuất được các tiêu chí, phương pháp phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ Tây vịnh Bắc bộ và xây dựng được Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp theo cấp tỉnh [22]
Đề tài 17/2004/HĐ-ĐTNĐT hợp tác Việt Nam- Hoa Kỳ theo Nghị định thư:
”Quy hoạch và lập kế hoạch quản lý tổng hợp đới bờ Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh”,
cơ quan chủ trì: Viện Kinh Tế và Quy hoạch thủy sản (Bộ Thủy Sản), chủ nhiệm: PGS TS Nguyễn Chu Hồi, đã đưa ra được sơ đồ phân vùng chức năng đới bờ Vịnh
Hạ Long và xây dựng được chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ vịnh Hạ Long [13]
* Các đề tài có liên quan đến đảo Phú Quốc:
Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam” mã số KC.09.27/06-10 do Nguyễn Thế Tưởng chủ trì bước đầu đã xác lập được cơ sở khoa học và pháp lý quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam, trong đó
có vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, tỷ lệ 1:500.000 Các kết quả này bước đầu đã định hướng việc sử dụng và quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam, trong đó có áp dụng phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ đã phân đới bờ Việt Nam thành 3 miền.[29]
Trang 3530
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Hình 2.1: Sơ đồ các phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra phỏng vấn về KT-XH, cơ sở pháp lý
Phương pháp
xử lý kết quả
và lập các bản đồ
Cách tiếp cận
tổng hợp
Sinh thái học
Tích hợp và liên ngành
Phát triển bền vững
Bộ tư liệu về điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội, chính
sách pháp luật liên quan đến
quản lý tổng hợp đới bờ đảo
Phú Quốc
Luận chứng về cơ sở khoa học quản lý tổng hợp đới bờ đảo Phú Quốc
Giải pháp thực thi hiệu quả quản lý tổng hợp đới bờ đảo Phú Quốc
Lịch sử
Cơ sở về điều kiện tự
nhiên, tài nguyên môi
Cơ sở khoa học phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc
Phương pháp nghiên cứu
sở pháp lý
Phương pháp điều tra khảo sát
Phương pháp
xử lý kết quả
và lập các bản đồ
Cách tiếp cận
tổng hợp
Sinh thái học
Tích hợp và liên ngành
Phát triển bền vững
Bộ tư liệu về điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội, chính
sách pháp luật liên quan đến
quản lý tổng hợp đới bờ đảo
Phú Quốc
Luận chứng về cơ sở khoa học quản lý tổng hợp đới bờ đảo Phú Quốc
Giải pháp thực thi hiệu quả quản lý tổng hợp đới bờ đảo Phú Quốc
Lịch sử
Cơ sở về điều kiện tự
nhiên, tài nguyên môi
tổng hợp đới bờ
Trang 3631
2.2.1 Phương pháp kế thừa
Thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá và sử dụng tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên môi trường, kinh tế xã hội có kế thừa và chọn lọc có liên quan đến đảo Phú Quốc và các khu vực lân cận Các kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài khoa học, các đề án quốc tế có liên quan tại đảo Phú Quốc Kết quả của phương pháp này là đánh giá được hiện trạng tài liệu (phương thức nghiên cứu, cách tiếp cận, phạm vi nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng, kết quả đạt được, ) theo các giai đoạn khác nhau từ các ngành, địa phương khác nhau
2.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
+ Các phương pháp được được áp dụng trong điều tra khảo sát bao gồm:
- Phương pháp trầm tích: xác định thành phần cấp hạt, hóa học trầm tích và thành lập bản đồ trầm tích, thủy thạch động lực…
- Phương pháp địa hóa khoáng vật: xác định thành phần sa khoáng, vật liệu xây dựng, thành lập bản đồ sa khoáng và vật liệu xây dựng
- Phương pháp điều tra hệ sinh thái và tài nguyên sinh học, xác định phân bố tài nguyên sinh học, suy thoái hệ sinh thái nhằm thành lập các bản đồ hệ sinh thái và tài nguyên sinh vật Trong đề tài này, tôi không điều tra thực địa về hệ sinh thái mà chỉ sử dụng các kết quả điều tra của các tác giả khác nhau
- Phương pháp điều tra môi trường nhằm xác định môi trường hóa học trầm tích, nước, không khí và phóng xạ nhằm thành lập các bản đồ ô nhiễm môi trường trầm tích, nước, không khí, phóng xạ và mức độ dễ bị tổn thương tài nguyên – môi trường
- Phương pháp điều tra về kinh tế xã hội các vùng trọng điểm Phương pháp này có mục tiêu, nhiệm vụ và các bước thực hiện như:
+ Mục tiêu của phương pháp này nhằm làm rõ tình hình phát triển kinh tế xã hội trước mắt và hướng quy hoạch phát triển trong tương lai của các vùng nghiên cứu
+ Nhiệm vụ của phương pháp là điều tra các vấn đề sau:
(+) Phân bố dân cư: dân số, dân tộc, độ tuổi, giới, lực lượng lao động, trình độ văn hóa
(+) Cơ sở hạ tầng và tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng
Trang 3732
(+) Cơ cấu các ngành kinh tế công nghiệp, nông, ngư nghiệp - dịch vụ
(+) Đời sống vật chất và văn hóa tinh thần
(+) Tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương phục vụ cho xóa đói giảm nghèo và công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(+) Chuyển dịch cơ cấu hình thái phiếu điều tra tới các cơ quan chức năng có liên quan, bước tiếp theo phỏng vấn trực tiếp kinh tế của các địa phương
(+) Các chỉ tiêu phát triển
(+) Các giải pháp thực hiện
(+) Các bước thực hiện: Để có các tài liệu trên có 2 bước: bước đầu tiên gửi phiếu điều tra tới các cơ quan chức năng có liên quan, bước tiếp theo phỏng vấn trực tiếp
Phương pháp điều tra bổ sung về cơ sở pháp lý
+ Mục tiêu: có được kết quả điều tra bổ sung các băn bản pháp lý Nhà Nước các địa phương và đánh gia được hiệu lực hiệu quả tác động các văn bản pháp luật
do trung ương và địa phương ban hành
+ Nhiệm vụ của phương pháp này là thu thập và đánh giá
(+) Các văn bản pháp luật về các điều ước quốc tế có liên quan quản lý tổng hợp
và phân vùng quản lý tổng hợp, Việt Nam có tham gia và có trách nhiệm thực hiện
(+) Hiện trạng, chính sách, pháp luật của nhà nước liên quan đến sử dụng và quản lý đới bờ Việt Nam nói chung và đới bờ huyện đảo Phú Quốc nói riêng
(+) Các văn bản pháp quy của các địa phương (tỉnh, huyện) liên quan về phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc
+ Các bước tiến hành: bước đầu tiên thu thập các văn bản, bước thiếp theo đánh gia hiệu lực và hiệu quả tác động của các văn bản, pháp luật nêu trên bằng cách gửi phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp
2.2.3 Phương pháp thành lập hệ thống bản đồ
a Phương pháp lập hệ thống bản đồ về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường đới bờ đảo Phú Quốc
Trang 38b Phương pháp lập hệ thống bản đồ về hiện trạng và quy hoạch kinh tế xã hội đới bờ đảo Phú Quốc
Các bản đồ này phản ánh các đặc trưng sau:
- Các đặc trưng kinh tế - xã hội đảo Phú Quốc
- Tiềm năng, thế mạnh về phát triển kinh tế đảo Phú Quốc
- Đánh giá quy mô, những tác động của các dự án phát triển kinh tế - xã hội đảo Phú Quốc
Các bước tiến hành thành lập bản đồ này được vận dụng từ phương pháp thành lập bản đồ hiện trạng kinh tế xã hội vùng biển Nam Bộ của Nguyễn Thế Tưởng trong đề tài KC09.27/06-10
c) Phương pháp lập bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc tỷ lệ 1:50.000
Việc thành lập Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam nói chung, đới bờ huyện đảo Phú Quốc nói riêng là vấn đề phức tạp và trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều quan niệm khác nhau của các tác giả khác nhau
Sau đây tôi giới thiệu các Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ khác nhau của thế giới và Việt Nam trong các công trình nghiên cứu khác nhau như sau:
Một số Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp của thế giới
- Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp của Mỹ (hình 2.2)
Trang 3934
Hình 2.2: Phân vùng quy hoạch quản lý biển của Mỹ [15]
- Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp của Úc
Hình 2.3: Phân vùng quản lý tổng hợp ở công viên biển quốc tế Dải San Hô Lớn
đông bắc Ustralia [15]
Trang 4035
Bảng 2.2: Ma trận quản lý các hoạt động phát triển trong vùng công viên
biển quốc tế Dải San Hô Lớn
sử dụng chung
Khu vực bảo vệ môi trường
Bảo tồn khu công nghiệp
Vùng đệm
Khu vực nghiên cứu khoa học
Khu công nghiệp biển quốc gia
Khu bảo tồn
Nuôi trồng thủy sản phép Cho phép Cho phép Cho x x x x
Cho phép
Cho phép
Cho phép
Cho phép x
Chương trình du lịch phép Cho phép Cho phép Cho phépCho phépCho phép Cho x Truyền thông sử dụng