1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên

135 2K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trên thế giới cũng như ở Việt Nam lĩnh vực chăn nuôi lợn thường gặp phải những khó khăn và rủi ro, như: thiên tai, dịch bệnh, giá cả đầu vào và đầu ra

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-*** -

NGUYỄN VĂN HUYÊN

QUẢN LÝ RỦI RO DỊCH BỆNH TRONG CHĂN NUÔI LỢN

THỊT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN LỮ,

TỈNH HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-*** -

NGUYỄN VĂN HUYÊN

QUẢN LÝ RỦI RO DỊCH BỆNH TRONG CHĂN NUÔI LỢN

THỊT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN LỮ,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2014

TÁC GIẢ

Nguyễn Văn Huyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài Học viện

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh

tế & Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã hết lòng giúp

đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại Học viện

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS.TS Phạm Văn Hùng, giảng viên Bộ môn Phân tích định lượng, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài

Tôi cũng xin cảm ơn Ban quản lý Dự án LPS/2010/047, “Giảm thiểu

dịch bệnh và cải thiện an toàn thực phẩm trong chuỗi giá trị lợn đối với các tác nhân quy mô nhỏ tại Việt Nam” đã tạo điều kiện cho tôi được trích một

phần số liệu từ dự án để làm luận văn của mình

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các chủ trang trại, các hộ chăn nuôi, cán bộ và nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2014

TÁC GIẢ

Nguyễn Văn Huyên

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, HỘP vii

DANH MỤC VIẾT TẮT viii

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO DỊCH BỆNH TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊT 5

2.1 Cơ sở lý luận về rủi ro và quản lý rủi ro 5

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

2.1.2 Nguyên nhân và đặc điểm rủi ro trong chăn nuôi lợn thịt 12

2.1.3 Các chiến lược quản lý rủi ro 15

2.1.4 Nội dung quản lý rủi ro 18

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro trong chăn nuôi lợn thịt 22

2.1.6 Các bệnh chủ yếu và cách phòng bệnh trong chăn nuôi lợn 25

2.2 Cơ sở thực tiễn về rủi ro và quản lý rủi ro 29

2.2.1 Thực trạng chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam 29

2.2.2 Thực trạng rủi ro trong chăn nuôi lợn ở Việt Nam 31

Trang 6

2.2.3 Các phương thức quản lý nhằm giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong

chăn nuôi lợn ở Việt Nam và trên thế giới 33

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 42

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 42

3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 46

3.2 Phương pháp nghiên cứu 54

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 54

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 55

3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 55

3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 56

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 58

4.1 Thực trạng rủi ro dịch bệnh và quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt tại huyện Tiên Lữ 58

4.1.1 Tổng quan chung về chăn nuôi lợn thịt tại huyện Tiên Lữ 58

4.1.2 Thực trạng rủi ro dịch bệnh và quản lý rủi ro dịch bệnh của hộ chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện Tiên Lữ 61

4.1.3 Quản lý của các cơ quan Nhà nước đối với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện Tiên Lữ 83

4.2 Định hướng và giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên 103

4.2.1 Định hướng 103

4.2.2 Các giải pháp 104

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111

5.1 Kết luận 111

5.2 Kiến nghị 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

PHỤ LỤC 116

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Các chiến lược quản lý rủi ro trong nông nghiệp 16

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Tiên Lữ trong 3 năm (2011 – 2013) 44

Bảng 3.2 Tình hình biến động dân số và lao động của huyện Tiên Lữ 47

Bảng 3.3 Cơ cấu kinh tế của huyện qua các năm 51

Bảng 4.1 Tổng đàn lợn của huyện trong 3 năm (2011 – 2013) 58

Bảng 4.2 Số lượng và sản lượng lợn thịt của huyện trong 3 năm (2011 – 2013) 59

Bảng 4.3 Khối lượng và giá trị thịt lợn hơi xuất chuồng của huyện trong 3 năm (2011 – 2013) 60

Bảng 4.4 Thông tin chung về hộ chăn nuôi lợn thịt theo quy mô điều tra 62

Bảng 4.5 Tài sản của hộ phục vụ chăn nuôi lợn thịt 63

Bảng 4.6 Thông tin về chăn nuôi lợn của hộ 64

Bảng 4.7 Một số loại bệnh thường gặp và tần suất mắc bệnh ở lợn thịt 67

Bảng 4.8 Nguồn cung cấp giống của các hộ chăn nuôi lợn thịt 68

Bảng 4.9 Nguồn gốc mua con giống theo phạm vi của các hộ chăn nuôi lợn thịt 69

Bảng 4.10 Lý do chọn nguồn cung cấp giống của các hộ chăn nuôi lợn thịt 70

Bảng 4.11 Tiêu chí và mục đích chọn giống của các hộ chăn nuôi lợn thịt 71

Bảng 4.12 Phương thức sử dụng thức ăn nhằm giảm dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt của các hộ 72

Bảng 4.13 Phương thức quản lý của các hộ chăn nuôi khi lợn thịt bị bệnh 73

Bảng 4.14 Tiếp cận dịch vụ thú y của hộ 74

Bảng 4.15 Quản lý phòng chống rủi ro dịch, bệnh của các hộ chăn nuôi lợn thịt 76

Bảng 4.16 Phương pháp quản lý rủi ro dịch bệnh của hộ chăn nuôi lợn thịt bằng cách khống chế người đến thăm chuồng 77

Trang 8

Bảng 4.17 Phương thức quản lý của hộ chăn nuôi lợn thịt khi xảy ra

dịch bệnh 79Bảng 4.18 Biện pháp xử lý của hộ chăn nuôi khi lợn bị bệnh chết 80Bảng 4.19 Hệ thống các chủ trương, chính sách quản lý rủi ro trong

ngành chăn nuôi lợn 86Bảng 4.20 Hệ thống phân cấp quản lý rủi ro dịch bệnh 87Bảng 4.21 Kết quả tiêm vaccine phòng dịch bệnh cho đàn lợn thịt trên

địa bàn huyện trong 3 năm (2011 – 2013) 93Bảng 4.22 Hỗ trợ vật tư cho công tác phòng bệnh 95

Trang 9

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, HỘP

Trang

Hình 3.1 Bản đồ huyện Tiên Lữ 42

Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ lợn chết do các bệnh 94

Hộp 4.1 Ý kiến cán bộ thú y xã về quản lý thú y 98

Hộp 4.2 Ý kiến của cán bộ về chất lượng thuốc thú y 99

Hộp 4.3 Ý kiến của cán bộ về chính sách tiêm phòng 101

Hộp 4.4 Ý kiến của hộ chăn nuôi về chất lượng thuốc thú y 102

Trang 10

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 11

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp, với gần 60 triệu người (chiếm 67,5% dân số cả nước) sống ở khu vực nông thôn (Tổng cục Thống kê, 2012) và gần 70% lực lượng lao động xã hội hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Chính vì vậy nông nghiệp, nông thôn luôn được coi là mặt trận hàng đầu trong quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước Trong những năm qua, nền nông nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng kể góp phần chung vào sự phát triển của đất nước, nhưng nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro làm giảm khả năng sinh lời, thậm chí người nông dân còn bị thua lỗ Trong thời kỳ hội nhập như hiện nay, sản xuất ngày càng đa dạng bao nhiêu thì càng chứa nhiều rủi ro bấy nhiêu Hiện tượng được mùa, mất giá hay được giá, mất mùa vẫn luôn là vòng luẩn quẩn bao vây lấy người dân mà chưa thể thoát ra được hoặc liên tiếp hứng chịu thiên tai, dịch bệnh, Nó đã gây ra những thiệt hại lớn và để lại hậu quả nặng

nề cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt như lĩnh vực chăn nuôi lợn, người dân thường gặp nhiều rủi ro trong quá trình sản xuất, cũng như tiêu thụ sản phẩm

Như chúng ta đã biết, chăn nuôi lợn nói chung và lợn thịt nói riêng là ngành khá quan trọng trong nền kinh tế và đời sống của con người Bởi nó cung cấp nguồn thực phẩm thiết yếu hàng ngày cho con người, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm; ngoài ra sản phẩm phụ của ngành chăn nuôi còn hỗ trợ và là đầu vào cho ngành trồng trọt Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trên thế giới cũng như ở Việt Nam lĩnh vực chăn nuôi lợn thường gặp phải những khó khăn và rủi ro, như: thiên tai, dịch bệnh, giá cả đầu vào và đầu ra luôn biến động,… đã gây ra những thiệt hại đáng kể về kinh tế và ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý đầu tư phát triển sản xuất của người chăn nuôi, cũng như đời sống kinh tế, xã hội Đứng trước những khó khăn và rủi ro đó, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ người chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng, như: thuốc tiêu độc, khử trùng, vacxin tiêm phòng, đẩy mạnh công tác thú y, chuyển giao

Trang 12

tiến bộ kỹ thuật, hỗ trợ giống mới, quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân cư, vay vốn phát triển quy mô sản xuất,… Song, những biện pháp này chỉ giảm được một phần nhỏ để phòng, chống những rủi ro và nó mang tính chất khắc phục hơn là chủ động hạn chế ngay từ đầu, còn phần lớn người dân dựa vào sức lực của chính mình để đối phó với rủi ro Họ là người đưa ra quyết định, kế hoạch sản xuất của mình trong khi không có thông tin để biết kết quả của những quyết định ấy ra sao

Tiên Lữ là một huyện thuần nông của tỉnh Hưng Yên, thu nhập chủ yếu của người dân là trồng trọt và chăn nuôi Trong những năm gần đây kinh tế - xã hội của huyện đã từng bước khởi sắc, các cấp uỷ đảng, chính quyền từ huyện đến cơ

sở đã và đang tích cực chỉ đạo chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp, theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn, giảm dần tỷ trọng trồng trọt Xu hướng chuyển dịch đó đã góp phần đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, tiêu thụ thực phẩm, nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay người chăn nuôi lợn đang gặp phải nhiều rủi ro, như: thiên tai, thị trường giá cả đầu vào, đầu ra biến động, đặc biệt là rủi ro do dịch bệnh gây ra khiến cho hiệu quả sản xuất của người chăn nuôi không được như mong muốn, cũng như khó khăn trong việc ra quyết định sản xuất và đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển kinh tế của huyện Qua khảo sát thực tiễn cho thấy, những dạng rủi ro, nhất là rủi ro dịch bệnh mà các hộ chăn nuôi lợn thịt thường gặp và cách thức quản lý ra sao cho đến nay có rất ít nghiên cứu và chủ trương, chính sách chưa được quan tâm cụ thể hoá nhiều để tổ chức triển khai sâu, rộng Vì vậy, mà có những chủ trương, những tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng người dân chưa được tiếp nhận, một số chính sách của Nhà nước đôi khi do ảnh hưởng tác động của rủi ro dịch bệnh cũng bị kém hiệu lực

Xuất phát từ tính cấp thiết đó, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên”

Trang 13

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng rủi ro dịch bệnh và quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, đề xuất hệ thống các giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện trong thời gian tới

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Rủi ro là gì? Có những loại nào? Quản l ý rủi ro là gì? Quản l ý rủi ro dịch bệnh là gì?

- Thực trạng rủi ro và quản l ý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt ở huyện Tiên Lữ trong những năm qua như thế nào?

- Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt là gì?

- Giải pháp nào cần đề xuất để nâng cao khả năng quản lý của hộ và cơ quan nhà nước trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện Tiên Lữ đối với rủi

ro dịch bệnh?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Rủi ro và quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt;

Trang 14

- Người chăn nuôi, cơ quan chức năng và chính sách của nhà nước có liên quan đến quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Tập trung nghiên cứu về thực trạng rủi ro dịch bệnh và sự

tham gia của các cơ quan chức năng có liên quan trong công tác quản lý quá trình chăn nuôi lợn thịt của các hộ có quy mô chăn nuôi khác nhau trên địa bàn huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên Từ đó, đề xuất hệ thống giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu những rủi ro dịch bệnh cho người chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện

- Không gian: Nghiên cứu rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt của

các hộ với quy mô chăn nuôi khác nhau trên địa bàn huyện Tiên Lữ - tỉnh Hưng Yên

- Thời gian: Thực hiện đề tài từ tháng 04/2013 đến tháng 10/2014 Đề

tài thu thập tài liệu, khảo sát, điều tra mẫu có liên quan đến nội dung nghiên cứu trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2013

Trang 15

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO

DỊCH BỆNH TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊT 2.1 Cơ sở lý luận về rủi ro và quản lý rủi ro

Ngành nông nghiệp là một ngành chịu nhiều rủi ro nhất và người trực tiếp phải đối mặt với những rủi ro này đó chính là những người nông dân Rủi

ro có ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất, tới lợi ích cũng như đời sống của người dân Với mức độ rủi ro xảy ra ngày càng thường xuyên hơn như hiện nay thì vấn đề rủi ro ngày trở thành một vấn đề đáng quan tâm của tất cả các ngành và đây cũng là một thách thức lớn đối với các nông hộ Để nghiên cứu

về rủi ro thì trước tiên ta cần phân biệt được hai thuật ngữ đó là rủi ro và không chắc chắn

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

• Theo trường phái truyền thống

- Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy ra (Từ điển Tiếng Việt, 1995)

- Rủi ro đồng nghĩa là điều không may (Từ và tục ngữ Việt Nam, 1998)

- Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm, hoặc bị đau đớn, thiệt hại (Từ điển Oxfort)

- Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến

Trang 16

- Một số từ điển khác đưa ra khái niệm tương tự như: “rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát, hư hại” hay “rủi ro là yếu tố khách quan đến nguy hiểm,

sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn”…

- Hoặc “Rủi ro là sự bất trắc ngoài muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp”

Như vậy theo trường phái truyền thống: “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”

• Theo phái trung hoà: Theo trường phái này có một số định nghĩa như sau:

- Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được (Frank Knight)

- Rủi ro là là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến

cố không mong đợi (Allan Willentt)

- Rủi ro là một tổng hợp những ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất (Irving Preffer)

- Rủi ro là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết đến

- Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất ổn định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước được (C.Arthur Willam, Jr Smith)

Như vậy theo phái trung hòa thì rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro nhưng dù là nguyên nhân gì thì khi xảy ra rủi ro thường gây thiệt hại hoặc gây khó khăn cho con người như làm mất (giảm) thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngừng trệ sản xuất, ảnh hưởng tới đời sống kinh tế xã hội

* Không chắc chắn

Trang 17

Không chắc chắn là do việc không biết trước được xác suất của các kết quả có thể xảy ra Sự không chắc chắn được xem như là một vấn đề đối với sản xuất nông nghiệp hơn là các ngành khác và được thể hiện ở các dạng chủ yếu sau:

- Sự không chắc chắn về sản lượng

Nguyên nhân gây ra sự không chắc chắn này là do gặp phải thiên tai, dịch bệnh,…Đây là những tác động có hại đối với người chăn nuôi lợn mà khó có thể đoán được trước Ảnh hưởng của cùng một loại thiên tai, dịch bệnh đến các vùng là khác nhau và ảnh hưởng đến các hộ cũng khác nhau Điều này dẫn tới, khả năng chống lại nó phụ thuộc nhiều vào khả năng, tiềm lực của các hộ chăn nuôi lợn Mức độ ảnh hưởng này là một trong những nguyên nhân gây nên sự khác biệt về sản lượng trong sản xuất

- Sự không chắc chắn về giá cả: giá cả đó chính là yếu tố để tạo nên lợi nhuận cũng như quyết định đầu tư của nông hộ Trong chăn nuôi lợn thì giá

cả cũng có những biến động nhất định Chẳng hạn thời điểm ra quyết định đầu tư thì người ta khó có thể đoán trước được giá cả những sản phẩm đầu ra

là bao nhiêu Do thị trường luôn tồn tại những yếu tố không hoàn hảo thế nên

sự dao động của thị trường cũng có thể được hiểu là sự không chắc chắn của giá cả

+ Sự không chắc chắn về giá đầu vào: người chăn nuôi lợn khi đầu tư những yếu tố đầu vào: giống, thức ăn, chuồng trại,… thì không thể lường trước được mức độ giá cả, các yếu tố đầu vào biến đổi như thế nào để có những định hướng và ra quyết định cho phù hợp

+ Sự không chắc chắn về giá đầu ra: thị trường luôn có những biến động về giá cả thế nên giá cả của đầu ra trong chăn nuôi lợn là rất khó có thể biết trước được Ở mỗi thời điểm khác nhau thì giá cả đầu ra có thể xuống thấp hoặc lên cao, trong khi đó người chăn nuôi lợn không thể biết được giá cao lên lúc nào để bán và lợn là một loài gia súc phải trải qua một gia đoạn nhất định thì mới có thể xuất chuồng được

Trang 18

- Sự không chắc chắn về xã hội: liên quan đến việc kiểm soát các nguồn lực sản xuất và sự lệ thuộc của một số hộ nông dân vào người khác Điều này xảy ra khi không có sự công bằng trong quyền sở hữu đất đai và các nguồn lực khác: nguồn vốn, kinh nghiệm, kỹ thuật mới,… Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau thì tính chất xã hội quyết định nên sự không chắc chắn này cũng có mức độ khác

- Sự không chắc chắn về con người: sức khỏe của con người thì không thể biết trước được chính vì thế nên sức khỏe của chủ hộ và các thành viên trong gia đình trong tương lai thì không thể biết trước được Điều này ảnh hưởng tới sự quyết định sản xuất của chủ hộ và sự tiếp nhận, thích ứng với cái mới một cách nhanh hay chậm chạp

* Phân biệt giữa rủi ro và không chắc chắn

Theo Frank Knight là người đầu tiên phân biệt giữa rủi ro và không chắc chắn: Trong môi trường rủi ro, ta có thể đoán biết trước điều gì sẽ xảy ra,

kết quả và hậu quả và xác xuất xảy ra của nó như thế nào Trong điều kiện

môi trường không chắc chắn, chúng ta không biết được điều gì sẽ xảy ra, kết

quả và hậu quả của nó và xác xuất xảy ra các sự việc như thế nào

Theo J.B.Hardacer (1997) cho rằng rủi ro và không chắc chắn có thể định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, song cách phân biệt thông thường đó là: Rủi ro là sự biết không hoàn hảo về kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó, còn không chắc chắn là kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó

là không biết trước

Rủi ro đề cập đến nhiều kết quả có thể xảy ra với các khả năng khác nhau Khả năng của một kết quả nào đó hiểu theo nghĩa tần suất trung bình xảy ra kết quả đó Trong khi đó không chắc chắn đề cập đến tình trạng có nhiều kết quả có thể xảy ra trong một quyết định nhưng chưa biết khả năng xảy ra của từng kết quả Như vậy, rủi ro và không chắc chắn chỉ khác nhau ở việc đánh giá được hay không

Trang 19

Khi quyết định đầu tư vào sản xuất thì người ta cần phải cân nhắc đến

sự không chắc chắn vì nó sẽ có những cách khác nhau quan trọng giữa hậu quả tốt và xấu Do đó, đối với những quyết định như vậy thì rủi ro có thể được đánh giá là có ý nghĩa quan trọng Trong chăn nuôi lợn, nhiều quyết định không cần tính đến rủi ro nhưng có nhiều quyết định cũng nên chú ý khi lựa chọn các khả năng sẵn có

* Phân loại rủi ro

Từ nguồn gốc rủi ro người ta phân loại rủi ro thành các nhóm sau:

- Rủi ro và không chắc chắn do thiên nhiên: Đây là nhóm rủi ro do các hiện tượng thiên nhiên gây ra Những rủi ro này thường gây ra những thiệt hại lớn cho những người chăn nuôi Có thể gây ra chi phí trực tiếp hay những chi phí gián tiếp hộ chăn nuôi lợn Đây là những rủi ro tác động trực tiếp đến sản lượng cũng như năng suất của những hộ chăn nuôi lợn

- Rủi ro và không chắc chắn do thị trường hay rủi ro về giá cả:

+ Biến động do các yếu tố đầu vào: bất kỳ một hoạt động kinh tế nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh cũng cần các yếu tố đầu vào Trong chăn nuôi lợn thì những yếu tố đầu vào có tác dụng không nhỏ đến quá trình chăn nuôi

Sự biến động của giá các yếu tố đầu vào là nguyên nhân chứa đựng nhiều rủi

ro Sự tăng giá hay chất lượng các yếu tố đầu vào có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất chăn nuôi lợn

+ Rủi ro thị trường tiêu thụ sản phẩm hay là những rủi ro liên quan đến đầu

ra của sản phẩm Đây là một yếu tố dẫn đến những rủi ro cho các hộ chăn nuôi lợn Giá thịt lợn có thể thay đổi qua từng tháng, thậm chí qua từng ngày Cũng có khi lường trước được nếu như thị trường bên ngoài biến động theo một chu kỳ nhất định Nhưng chu trình chăn nuôi lợn kéo dài, có thể vài tháng nên những

Trang 20

yếu tố như thu nhập của người tiêu dùng, hay thị hiếu của họ, giá cả những hàng hoá thay thế như thịt bò, thịt gà như vậy giá sản phẩm đầu ra cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro

Tại thời điểm ra quyết định thì giá bán thịt lợn thường cao, nhưng do đặc điểm của chăn nuôi lợn là phải mất thời gian dài mới tạo ra sản phẩm nên chưa chắc những mong muốn của người ra quyết định có thể trở thành hiện thực

- Rủi ro và không chắc chắn do tiến bộ khoa học kỹ thuật:

+ Biến động về năng suất: Trong chăn nuôi lợn thịt, ngoài những yếu

tố tạo nên năng suất cũng như sản lượng của các hộ chăn nuôi lợn thì hoạt động chăn nuôi còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố không kiểm soát được (thời tiết, dịch bệnh )

Đối với ngành nông nghiệp, yếu tố tự nhiên đóng vai trò hết sức quan trọng Do tác động của các yếu tố đó nên xảy ra trường hợp sử dụng cùng số lượng và chất lượng các yếu tố đầu vào nhưng vẫn cho kết quả khác nhau Sự biến động này có thể nói là do rất nhiều nguyên nhân mà bản thân con người không có khả năng đối phó được, cho dù KHKT ngày càng phát triển và tiên tiến hơn Sự biến động đó đã làm cho năng suất giảm đi rõ rệt Đây là một đặc điểm riêng mà trong ngành nông nghiệp mới có

Trong điều kiện các yếu tố đầu vào không thay đổi nhưng vẫn cho năng suất khác nhau bởi vì điều kiện tự nhiên ở các trạng thái khác nhau Trong điều kiện thuận lợi thì năng suất chăn nuôi sẽ cao và ngược lại, vì vậy nó có thể gây ra tình trạng rủi ro và không chắc chắn về đầu ra

+ Rủi ro do dịch bệnh

Con người càng ngày càng có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm chất lượng, cho nên những yêu cầu về sản phẩm đòi hỏi ngày càng cao Trong chăn nuôi, ngày càng có nhiều giống mới được đưa vào, con người ngày càng

sử dụng nhiều yếu tố đầu vào nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như tăng số lượng đầu lợn thịt Khi có dịch bệnh xảy ra người chăn nuôi rất khó

Trang 21

phòng tránh các thiệt hại do dịch bệnh gây ra Điều này cũng chứa đựng nhiều yếu tố không may

- Rủi ro và không chắc chắn do chính sách gây ra: Các cơ chế, chính sách cũng là một nguồn chứa đựng nhiều rủi ro Thay đổi các quy định có ảnh hưởng đến người chăn nuôi lợn, có thể làm cho lợi nhuận đã định không đạt được như mong muốn Chẳng hạn như thay đổi luật quản lý chất thải trong chăn nuôi có thể ảnh hưởng tốt, nhưng những thay đổi quá nhiều các điều khoản thuế thu nhập hoặc trả nợ thì lại có ảnh hưởng ngược lại Hay người chăn nuôi bị ảnh hưởng nhiều bởi quy định hạn chế dùng thuốc chữa bệnh hoặc một quyết định về chuyển đổi đất đai cũng dẫn đến rủi ro cho người chăn nuôi

Ngoài ra còn có rủi ro về con người: đến rủi ro mang tính cá nhân hoặc

do sức khỏe bị ảnh hưởng bởi ốm đau bệnh tật, bị thương, bị chết hoặc do bất cẩn làm hỏng máy móc Tình trạng này kéo dài có thể ảnh hưởng đến sản xuất

và tăng chi phí một cách một cách đáng kể

Và rủi ro tài chính và rủi ro tín dụng: rủi ro về tài chính liên quan đến sự

an tâm hoặc mất an toàn về mặt tài chính của doanh nghiệp An toàn tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng trả nợ và khả năng thanh toán Rủi ro tài chính là phần rủi ro tăng lên ngoài rủi ro kinh doanh do doanh nghiệp sử dụng nợ hay sử dụng vốn vay

* Quản lý rủi ro

Quản lý rủi ro là một khái niệm mới được đưa vào sử dụng trong những năm gần đây Trước hết cần phải phân biệt quản lý rủi ro và khắc phục rủi ro Quản lý rủi ro đề cập tới việc điều chỉnh trong sản xuất và sử dụng nguồn lực trước khi xảy ra các biến cố về sản xuất tức là trước khi rủi ro xảy ra Quản lý rủi ro không chỉ bao hàm ý chống rủi ro mà còn bao hàm cả ý về lập kế hoạch nhằm để thích ứng với rủi ro

Trang 22

- Chống lại hoặc không chấp nhận rủi ro để đảm bảo an toàn các hoạt động của mình trong trường hợp khả năng xấu có thể xảy ra, mặc dù khả năng xảy ra cũng chỉ có một xác suất nhất định

- Thái độ trung hòa với rủi ro với mong muốn đạt được thu nhập trung bình giữa sự kiện rủi ro và thuận lợi

- Từ thái độ với rủi ro mà chia nông hộ thành 3 loại người là sợ rủi ro, trung hòa rủi ro và chấp nhận rủi ro

Trong khi đó, khắc phục rủi ro là các hành động hay phản ứng sau khi xảy ra rủi ro nhằm tối thiểu hóa tác hại Các loại phản ứng thuộc loại này dựa trên cơ sở lý thuyết phân chia rủi ro, được chia làm 2 loại:

- Ổn định chi tiêu thông qua việc phân chia rủi ro: Thỏa thuận chuyển nhượng giữa hàng xóm với nhau

Muốn quản lý rủi ro phải có những thể chế và thông tin cho nông hộ Với mức rủi ro nhỏ thì cơ chế tương hỗ giữa hộ và cộng đồng sẽ là một công

cụ đắc lực cho quản lý rủi ro bên cạnh thể chế và chính sách của nhà nước

Vì vậy, quản lý rủi ro chính là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro

2.1.2 Nguyên nhân và đặc điểm rủi ro trong chăn nuôi lợn thịt

2.1.2.1 Nguyên nhân rủi ro trong chăn nuôi lợn thịt

Nông dân là đối tượng trực tiếp tham gia vào sản xuất nông nghiệp, cho nên khi có bất cứ bất trắc nào xảy ra liên quan đến sản xuất hay đời sống thì

họ đều chịu tổn thất lớn nhất và cũng chính do ngành nông nghiệp có nguy cơ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro bởi đặc thù của ngành gây nên Từ những điều này cộng thêm sự bấp bênh trong đời sống mà có nhiều nguyên nhân gây ra rủi

ro cho người nông dân

Phạm Thị Mỹ Dung (2002) nhìn nhận rủi ro trong sản xuất nông nghiệp ở các khía cạnh, bao gồm:

Trang 23

- Rủi ro xảy ra do thiên nhiên: Các nguyên nhân có nguồn gốc thiên

nhiên bao gồm các yếu tố liên quan đến thời tiết khí hậu như hạn hán, lũ lụt; các loại dịch bệnh, sâu bệnh Nhóm nguyên nhân này gây ra do tự nhiên tạo

ra là chủ yếu Do sự tác động của điều kiện tự nhiên đã gây ra sự biến động về sản lượng của các hộ nông dân Sự biến động về sản lượng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự không ổn định trong thu nhập của người nông dân

- Rủi ro do thị trường tiêu thụ sản phẩm: Nguyên nhân của tình trạng rủi

ro này chủ yếu do sự biến động của giá cả Sản xuất nông nghiệp có đặc thù là tính thời vụ nên giá cả thường có xu hướng biến động Giá cả nông sản vào vụ thu hoạch rộ thường giảm làm cho thu nhập của người sản xuất giảm theo, hay những năm được mùa thì giá lại thấp đi, hoặc có một dạng khác là sản xuất quá nhiều làm cung vượt quá cầu Giá cả thay đổi cũng làm cho người nông dân gặp nhiều rủi ro Trước khi họ bắt đầu sản xuất thì người nông dân thường kỳ vọng sản phẩm sản xuất ra sẽ bán được với mức giá cao nhưng do nhiều yếu tố tác động như chu kỳ của sản phẩm nông nghiệp kéo dài, cung sản phẩm có tính chậm muộn hay các vấn đề về chất lượng sản phẩm không đảm bảo , từ đó làm giá sản phẩm có xu hướng giảm so với dự kiến Điều đó gây ra cho các hộ tâm lý chung là rất sợ đầu tư lớn vào nông nghiệp, bởi ngoài rủi ro do thiên nhiên thì loại rủi ro này mang đến cho các hộ không ít những khó khăn về mặt tài chính

- Rủi ro do chính sách của Nhà nước: Nguyên nhân này xuất phát từ

việc thay đổi quy hoạch xây dựng vùng, diện tích đất của nông hộ bị chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng nhà máy, khu đô thị làm cho nhiều nông dân mất đất nông nghiệp, nên nhiều vùng dân phải thu non sản phẩm hoặc có khi không được thu hoạch Rủi ro trong trường hợp này nếu không có sự quản

lý, hoạch định chặt chẽ về mặt xã hội sẽ dễ dẫn tới những hậu quả liên quan đến vấn đề chính trị xã hội như tranh chấp, tình trạng nông dân không đất, nạn thất nghiệp ở nông thôn nó tác động lớn đến tâm lý suy nghĩ của người nông

dân để có thể duy trì sinh kế

- Rủi ro về con người: Do ốm đau, bệnh tật, qua đời, ly hôn, mắc phải

Trang 24

các tệ nạn xã hội Loại rủi ro này xảy ra làm cho đời sống của nông hộ đã khó khăn lại càng khó khăn hơn do khả năng tài chính của các nông hộ rất thấp Ngoài những rủi ro chung của tất cả các hộ nông dân trên thế giới, hộ nông dân Việt Nam còn gặp phải một số rủi ro sau:

- Rủi ro do không có thị trường chắc chắn để tiêu thụ sản phẩm: Một

số nông sản có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nhưng việc thực hiện và xử lý hợp đồng không nghiêm minh làm cho người nông dân bị thua thiệt Một số nông sản hàng hoá đã được các nhà máy hứa hẹn giá từ đầu vụ nhưng khi có sản phẩm thì họ không mua hoặc mua với giá rẻ

- Rủi ro do thiếu hiểu biết kỹ thuật và thiếu thông tin Trong nông

nghiệp nếu làm sai mùa vụ, sai giống, sai kỹ thuật cũng dễ dẫn đến mất trắng

- Rủi ro do tuyên truyền, quảng cáo sai hoặc lừa đảo của một số cá nhân (thông tin không hoàn hảo) nên nông dân dễ mua phải hàng giả và cả

dịch vụ giả

Như vậy, rủi ro xảy ra trên địa bàn nông thôn có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sản xuất của người nông dân Tình trạng có nhiều rủi ro làm cho nông dân không có động cơ đầu tư vào lĩnh vực sản xuất đòi hỏi đầu tư cao hoặc áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến Vì thế, việc nghiên cứu

và tìm ra các biện pháp phòng tránh và giảm bớt các tác hại của rủi ro sẽ có các ảnh hưởng tích cực đến sản xuất và vấn đề nghèo đói ở nông thôn

2.1.2.2 Đặc điểm rủi ro trong chăn nuôi lợn thịt

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp thì chăn nuôi giữ một vai trò quan trọng và lợn là một trong những số gia súc được người nông dân lựa chọn Đây là một ngành có những đặc điểm khác xa so với các ngành khác, trong chăn nuôi luôn tiềm ẩn những yếu tố không may Sự khác nhau ở đây có thể xuất phát do những đặc điểm vốn có của ngành Nuôi lợn thịt thường gắn liền với quá trình sản xuất nông nghiệp nên mức độ rủi ro thường cao hơn các lĩnh vực khác Trong đó bao gồm những đặc điểm sau:

- Nuôi lợn thịt chịu tác động nhiều của các yếu tố ngoại cảnh như thời tiết, dịch bệnh Đặc biệt là dịch bệnh, mặc dù khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến

Trang 25

và hiện đại, con người ngày càng có điều kiện để chế ngự nó nhưng những chế ngự này thường gây ra những chi phí trực tiếp hoặc chi phí gián tiếp cho chủ hộ Nhiều khi những tiến bộ về khoa học kỹ thuật cũng không chế ngự được những yếu tố đó

- Đối tượng là các gia súc lớn nên chịu tác động nhiều của các quá trình sinh học vì vậy xác suất rủi ro là rất lớn

- Chu kỳ chăn nuôi lợn thường dài từ 6 tháng đến 1 năm nên việc kiểm soát và đánh giá rủi ro là rất khó thực hiện

- Trong chăn nuôi lợn nhiều lúc hộ gia đình muốn vay thêm vốn để mở rộng quy mô chăn nuôi , họ cũng không dám mạnh dạn vay thêm vốn để đầu tư bởi vì lãi suất cho vay khá cao trong khi nông hộ không có tài sản để thế chấp

- Đa phần hộ chăn nuôi theo kinh nghiệm truyền thống, cơ sở vật chất

về chuồng trại theo đúng tiêu chuẩn vật nuôi sạch (HACCP) khó áp dụng do chăn nuôi lợn không tập trung, quy mô nhỏ, gần khu sinh hoạt của nông hộ gây ô nhiễm môi trường, không đảm bảo được quy trình kỹ thuật nuôi sạch Nên khi có dịch bệnh thì việc bùng phát dịch là rất lớn

- Hầu hết nông hộ chăn nuôi đều thiếu thông tin về thị trường lợn thịt

- Trong điều kiện có rủi ro nhiều hộ gia đình có xu hướng giảm chăn nuôi hay chuyển sang chăn nuôi các sản phẩm thay thế thịt lợn hoặc các ngành khác với mong muốn thu được lợi nhuận cao hơn

2.1.3 Các chiến lược quản lý rủi ro

Trên cơ sở các tiêu chuẩn chung về quản lý rủi ro giữa Australia và New Zealand (AS/NZS 4360: 1995), Hardaker và các cộng sự (1997) đưa ra

khái niệm rằng “quản lý rủi ro là sự áp dụng có hệ thống các chính sách quản lý, các nguyên tắc và hành động trong định dạng, phân tích, đánh giá,

xử lý, và giám sát rủi ro nhằm giảm thiểu thiệt hại và tối đa hóa các cơ hội”

Tuy nhiên các nguyên tắc này không cố định và mang tính thích ứng với từng trường hợp cụ thể (Hardaker, 1997)

Trang 26

Ngoài các chiến lược mang tính tự vệ ở cấp nông hộ khi đối mặt với rủi

ro thì cơ chế chia sẻ rủi ro dựa vào thị trường là một trong những chiến lược đang nhận được sự quan tâm như bảo hiểm, sản xuất theo hợp đồng, quản lý

• Đa dạng hóa nguồn thu nhập

• Dự trữ đệm hoặc tích lũy các tài sản có tính lỏng

• áp dụng các kỹ thuật, công nghệ canh tác hiện đại

Đào tạo về quản

lý rủi ro

• Hệ thống khuyến nông

• Cung cấp các yếu tố đầu vào

có chất lượng

• Các chương trình quản lý địch hại

• Hợp đồng sản xuất

• Hợp đồng giao sau

• Bảo hiểm

Thay đổi hệ thống thuế Các chương trình phòng chống chu kỳ kinh tế

Trang 27

Bù đắp bằng thu nhập phi nông nghiệp

• Cứu trợ xã hội

• Dãn nợ, khoanh nợ

• Bảo hiểm nông nghiệp

• Nới lỏng các quy định về thực phẩm

• Hỗ trợ nguyên liệu đầu vào

• Cấp tiền

Nguồn: Ngân hàng thế giới (2000, 2001), Anderson (2005)

- Bảo hiểm nông nghiệp: Theo thống kê của Vụ bảo hiểm- Bộ Tài Chính,

cho tới nay mới chỉ có 1% cây trồng vật nuôi được bảo hiểm Trên thực tế, bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam đã từng có từ năm 1982 bởi Bảo Việt và đến năm

1993 thì công ty này mở rộng bảo hiểm đối với lúa cho 16 tỉnh thành trên cả nước, đồng thời cung cấp các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp khác như bảo hiểm chăn nuôi, bảo hiểm cây công nghiệp, bảo hiểm cháy rừng Tiếp theo Bảo Việt, Groupama, một công ty bảo hiểm nước ngoài cũng đã tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam với các sản phẩm bảo hiểm vật nuôi cho 13 tỉnh thành ở đồng bằng sông Cửu long và mở rộng đối với một vài tỉnh phía bắc và miền trung Tuy nhiên tính đến thời điểm này, các công ty kể trên đều không thành công và buộc phải tháo chạy khỏi thị trường bảo hiểm nông nghiệp Đi sâu vào phân tích sự thất bại nêu trên, Thomas Dufhues và các cộng sự (2004) đã chỉ

ra ba nguyên nhân cơ bản bao gồm: rủi ro đạo đức của người được bảo hiểm, cơ chế cung cấp thông tin thiếu minh bạch của các cơ quan chức năng địa phương,

và cách tính phí bảo hiểm không tương xứng với mức độ rủi ro Jerry Skess (1999) cho rằng cản trở lớn nhất của các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp truyền

Trang 28

thống không thành công ở Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung đó là không loại trừ được các rủi ro có tính hệ thống

- Sản xuất theo hợp đồng (contract farming): Theo Đặng Kim Sơn (2001),

trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của thế giới và Việt Nam cho rằng: “Sản xuất nông sản theo hợp đồng hay hệ thống hợp đồng là hình thức tổ chức gắn kết giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến hoặc kinh doanh nông sản bằng hợp đồng 2 chiều quy định các điều kiện sản xuất và tiếp thị nông sản hàng hóa”

2.1.4 Nội dung quản lý rủi ro

2.1.4.1 Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro

- Nhận dạng rủi ro

Để quản lý rủi ro trước hết phải nhận dạng rủi ro Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động chăn nuôi lợn Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp

- Phương pháp nhận dạng rủi ro

Để nhận dạng rủi ro cần phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi

ro đã, đang và có khả năng xuất hiện, có thể sử dụng các phương pháp sau:

+ Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra Các câu hỏi được sắp xếp theo nguồn gốc rủi ro hoặc môi trường tác động, Các câu hỏi thường xoay quanh vấn đề như:

• Các hộ chăn nuôi lợn đã gặp những loại rủi ro nào?

• Tổn thất là bao nhiêu?

Trang 29

• Số lần xuất hiện các rủi ro đó trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)

• Những biện pháp phòng ngừa, tài trợ rủi ro được sử dụng? kết quả đạt được?

• Những rủi ro chưa xảy ra có thể xuất hiện ? lý do?

• Những ý kiến đánh giá và đề xuất về công tác quản lý rủi ro … + Thanh tra hiện trường: Để quản lý rủi ro đòi hỏi phải thường xuyên thanh tra hiện trường Nhờ quan sát, theo dõi trực tiếp hiện trường sẽ tiến hành phân tích, đánh giá, nhận dạng rủi ro

- Phân tích rủi ro

Nhận dạng được các rủi ro và lập bảng liệt kê các rủi ro có thể xuất hiện, tuy là công việc quan trọng không thể thiếu, nhưng mới chỉ là bước khởi đầu của công tác quản lý rủi ro Bước tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi

ro, xác định được nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra các biện pháp phòng ngừa

- Đo lường rủi ro

Là công việc xác định tần suất xuất hiện rủi ro trong 1 khoảng thời gian nhất định và xác định mức độ nghiêm trọng của rủi ro Có 2 cách tiếp cận chính về việc đo lường mức độ rủi ro:

Cách tiếp cận phương sai- thu nhập và phòng tránh thảm hoạ hay còn gọi là cách tiếp cận an toàn trước tiên Theo cách này dùng độ phân tán của kết quả, như phương sai hay hệ số sai lệch làm thước đo rủi ro Hệ số sai lệch càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại

Trong cách tiếp cận thứ hai, rủi ro được đo bằng xác suất để các kết quả của một hành động nào đó giá trị nhỏ hơn một giá trị định trước Nói cách khác làm xác suất để một hành động tạo ra kết quả nhỏ hơn một giá trị lựa chọn nào đó

Trong việc nghiên cứu hành vi ra quyết định, mô hình thông dụng và

Trang 30

được công nhận hiện nay là mô hình được xây dựng theo giả thuyết về độ thoả dụng mong đợi Nội dung cơ bản của mô hình này là các cá nhân sẽ ra quyết định lựa chọn các phương án khác nhau sao cho có thể tối đa hoá được

độ thoả dụng mong đợi Việc ra quyết định dựa trên các tiêu thức kỳ vọng và phương sai phù hợp với giả thuyết về độ thoả dụng mong đợi, do vậy cách tiếp cận phương sai – thu nhập thường được sử dụng

2.1.4.2 Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro

- Kiểm soát rủi ro

Công việc trọng tâm của quản lý rủi ro là kiểm soát rủi ro Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến luợc, các chương trình, hoạt động,… để ngăn ngừa, né tránh, hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đến Kiểm soát rủi ro phải sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt, bao gồm các biện pháp sau:

+ Các biện pháp né tránh rủi ro: Là các biện pháp né tránh những hoạt động hoặc nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể có Đây là biện pháp đuợc sử dụng thường xuyên trong cuộc sống

+ Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất: Là sử dụng các phương pháp giảm thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại + Các biện pháp giảm thiểu tổn thất: Là những biện pháp cứu vớt những tài sản còn lại, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro, lập quỹ dự phòng phân tán rủi ro…

+ Các biện pháp chuyển giao rủi ro: Là những biện pháp chuyển rủi ro đến cho người khác, tổ chức thông qua các con đường ký hợp đồng

+ Các biện pháp đa dạng rủi ro: Gần giống với kỹ thuật phân tán rủi ro, bao gồm đa dạng hóa mặt hàng, đa dạng hóa khách hàng, đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa vật nuôi, cây trồng … để phòng chống rủi ro

- Phòng ngừa rủi ro: Là những biện pháp dự phòng để giảm rủi ro có thể

xảy ra

2.1.4.3 Tài trợ rủi ro

Trang 31

Rủi ro có nhiều loại, rủi ro có thể xuất hiện mọi lúc, mọi nơi, rủi ro có thể đến với bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào Do đó, dù phòng kỹ đến đâu, dù kiểm soát rủi ro chặt chẽ cách nào thì cũng không thể né tránh, ngăn chặn, được tất cả tổn thất Vì vậy, khi tổn thất xảy ra phải có các biện pháp để tài trợ rủi ro thích hợp Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm các biện pháp chấp nhận rủi ro và bảo hiểm

- Chấp nhận rủi ro

Đây là hình thức mà người nông dân gặp phải tổn thất tự chấp nhận khoản tổn thất đó hay tự khắc phục rủi ro đã xảy ra Có rất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp nhận rủi ro, tuy nhiên có thể chia làm 2 nhóm: Chấp nhận rủi ro thụ động và chấp nhận rủi ro chủ động Trong chấp nhận rủi ro thụ động, người ta gặp tổn thất không có sự chuẩn bị trước và có thể vay mượn để khắc phục hậu quả tổn thất Đối với chấp nhận rủi ro chủ động, người ta lập ra quỹ dự trữ dự phòng và quỹ này chỉ được sử dụng để bù đắp tổn thất do rủi ro gây ra Tuy nhiên, việc này dẫn đến việc nguồn vốn không được sử dụng một cách tối ưu hoặc nếu đi vay sẽ bị động và còn gặp phải vấn đề gia tăng về lãi suất

- Bảo hiểm: Trong cuộc sống dù muốn hay không, thì nhiều loại rủi ro

đã xuất hiện vẫn tồn tại và sẽ còn chi phối đến cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội Rủi ro xảy ra và nhu cầu cần được bảo hiểm phát

sinh Bảo hiểm là một phần quan trọng của chương trình quản lý rủi ro

Thực chất của bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm Phân phối trong bảo hiểm là phân phối không đều, không bằng nhau nghĩa là không phải ai tham gia bảo hiểm cũng được phân phối và phân phối số tiền như nhau Hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít Bảo hiểm có rất nhiều tác dụng đối với người tham gia trong đó quan trọng nhất là góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trước tổn thất rủi ro xảy ra

Trang 32

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro trong chăn nuôi lợn thịt

2.1.5.1 Nhân tố chủ quan

+ Trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của người chăn nuôi

Người Việt Nam từ xưa tới nay vẫn nổi tiếng cần cù, chịu thương chịu khó, tính vươn lên trong cuộc sống, tính cộng đồng Đây là điều kiện cho quá trình phát triển một đất nước mạnh mẽ về cả vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, các chủ hộ ở Việt Nam đa số là chưa được qua đào tạo, hoặc được đào tạo chắp vá, tổ chức sản xuất, kinh doanh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sự học hỏi lẫn nhau Điều này đã khiến không ít người chăn nuôi làm ăn thua lỗ + Quy mô, diện tích chuồng trại

Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai phì nhiêu, cây cối tươi tốt quanh năm, diện tích đất trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn Ngoài ra, đất đai còn là một loại hàng hóa đặc biệt, khi có sự đầu tư của con người thì đất đai ngày càng tốt, độ phì ngày càng cao, diện tích đất canh tác ngày càng lớn, chứ không giống loại tài sản khác là có hao mòn,

và dẫn đến hư hỏng Tuy diện tích lớn nhưng đất canh tác của Việt Nam lại thiếu, vì nước ta phân làm bốn vùng rõ rệt, vùng cao nguyên, vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng Diện tích vùng đồng bằng phù hợp cho phát triển chăn nuôi thì bình quân trên đầu người lại ít, mà vùng núi và trung du lại nhiều Để cải tạo và tạo vùng nguyên liệu rộng lớn là rất khó khăn, thậm chí là không thể Ngoài ra, chuồng trại của người dân thường xây bán kiên cố hoặc sử dụng chuồng tạm bợ nên không đảm bảo trong quá trình chăn nuôi, chịu tác động nhiều bởi thiên nhiên bên ngoài và làm tốn nhiều chi phí sửa, chữa chuồng trại hằng năm

2.1.5.2 Những nhân tố khách quan

+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm

Sản phẩm nông nghiệp có đặc điểm khi tiêu thụ là sản phẩm tươi sống, khó khăn cho việc bảo quản, sản phẩm nông nghiệp mang tính mùa vụ và có

Trang 33

đặc điểm là cung muộn không thể đáp ứng một cách ngay lập tức, vì đối tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vật sống nên cần có thời gian sinh trưởng, phát triển sau đó mới đến bước thu hoạch Do đó, dù giá nông sản rất cao, các nông sản phải mất hàng tháng, thậm chí phải mất hàng năm mới có được sản phẩm Khi giá xuống mới có sản phẩm để bán điều này gây nên thiệt hại cho nông hộ

Khách hàng thu mua sản phẩm nông nghiệp cũng được phân chia thành nhiều nhóm đối tượng khác nhau Mỗi đối tượng khách hàng sẽ có những yêu cầu khác nhau về sản phẩm mà mình sẽ mua, chính vì thế sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến mức giá bán ra Yếu tố thông tin trên thị trường cũng ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tiêu thụ do nếu có thông tin nào sai tác động xấu đến sản phẩm thì giá ngay lập tức sẽ bị giảm và tình hình tiêu thụ sẽ chậm lại

+ Thị trường đầu vào

Đất nước ta do thời gian trải qua chiến tranh quá dài, nên điều kiện phát triển kinh tế rất khó khăn, nông nghiệp và chế biến sản phẩm nông nghiệp phát triển kém Chính điều này làm mất đi thế cạnh tranh so với các nước trong khu vực cũng như các nước trên thế giới Do vậy, việc nhập khẩu nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi đang gây ra những bất lợi cho ngời chăn nuôi nhất là vấn đề giá cả Giá thức ăn trong nước luôn cao hơn nhiều so với giá khu vực và sự biến động phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu nên khi bắt đầu chăn nuôi người dân không biết khi nào giá tăng hay giảm để

có sự đầu tư thích hợp

+ Chính sách về đất đai

Mặc dù chính phủ cũng đã có những quyết sách đổi mới và tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân phát triển kinh tế như: Chính sách giao đất, giao rừng, dồn điền đổi thửa, điều này tạo đà cho sự phát triển kinh tế một cách vững chắc và lâu dài Nhưng việc cải tạo lại bờ vùng, bờ thửa sau khi dồn điền đổi thửa là vô cùng khó khăn và tốn kém và một số khu đất ruộng

Trang 34

gần nhà dân muốn chuyển đổi sang để chăn nuôi nhưng không được phép Bên cạnh đó, quỹ đất có hạn nên việc xây dựng khu chăn nuôi tập trung là rất khó, do đó rất dễ làm cho dịch bệnh lây lan, môi trường ô nhiễm gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người dân

+ Về tài chính

Nhà nước đã thành lập các hệ thống ngân hàng từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là hệ thống Ngân hàng nông nghiệp & PTNT để phục vụ cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp ngày càng tiến xa hơn và vững chắc Bên cạnh hệ thống ngân hàng rất lớn, việc kinh doanh tiền tệ và việc bảo tồn vốn lại là điều tiên quyết từ phía ngân hàng Chính điều này gây không ít khó khăn khi người dân đầu tư vào phát triển kinh tế nông nghiệp, nhất là khi bị gặp rủi ro do dịch bệnh hoặc giá cả thất thường rất dễ làm cho hộ bị lỗ và không thể trả tiền cho ngân hàng được Ngoài ra, việc người chăn nuôi sử dụng cám đầu tư làm cho người chăn nuôi khó chủ động được về vấn đề tài chính nếu như bị thua lỗ

+ Các yếu tố về tự nhiên

Đây là các yếu tố có sự tác động vô cùng to lớn đến hoạt động của chăn nuôi Vì đối tượng là các sinh vật sống có thời gian sinh trưởng và phát triển phụ thuộc rất lớn đối với yếu tố tự nhiên Trong những năm vừa qua đất nước

ta đang trong thời kỳ đổi mới, bắt đầu nền công nghiệp hóa đất nước hình thành các nhà máy, công xưởng, nhà cửa mọc lên như nấm, cũng đồng nghĩa với việc nạn phá rừng tràn lan gây nên thảm họa về môi trường như hạn hán,

lũ lụt xảy ra liên tiếp, môi trường bị tàn phá một cách nghiêm trọng, sự mất cân bằng sinh thái là tất yếu Cụ thể các loại dịch bệnh luôn hoành hành, làm cho các nhà chăn nuôi luôn phải lo lắng khi hết dịch bệnh lở mồm long móng xảy ra ở gia súc, sau đó là dịch bệnh H5N1 xảy ra ở ra cầm, đến nay là dịch bệnh tai xanh,… Thông qua đây ta thấy rằng đối với người sản xuất nông

Trang 35

nghiệp, đặc biệt trong lĩnh chăn nuôi, nhất là chăn nuôi có quy mô vừa và lớn thì dịch bệnh luôn là mối hiểm họa cao nhất

2.1.6 Các bệnh chủ yếu và cách phòng bệnh trong chăn nuôi lợn

- Bệnh dịch tả lợn: là bệnh truyền nhiễm do virus gây ra, thường ghép

với bệnh phó thương hàn lợn và thụ huyết trùng lợn Bệnh lây lan nhanh, mạnh và tỷ lệ chết cao Mắc bệnh ở mọi lứa tuổi, nặng nhất là lợn con, lợn cai sữa Lợn nái có thể truyền bệnh cho lợn con Bệnh xảy ra ở nhiều địa phương

ở nước ta và nhiều nơi trên thế giới

Cách phòng bệnh: Bệnh gây ra do virus gây ra nên không thể điều trị bằng kháng sinh Nếu chăm sóc, hộ lý tốt và điều trị sớm bằng kháng huyết thanh dịch tả, kết hợp với điều trị triệu chứng, bệnh sẽ chuyển sang thể mãn tính và có thể khỏi nhưng rất nguy hiểm vì đó là nguồn gieo rắc mầm bệnh

Có thể tiêm phòng vaccine thẳng vào ổ dịch để dập tắt ổ dịch nhanh chóng, tránh lây lan Tiêm phòng là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh

- Bệnh tụ huyết trùng lợn: Bệnh tụ huyết trùng là bệnh truyền nhiễm

do vi khuẩn tụ huyết trùng gây ra Bệnh có tỷ lệ chết cao, thường ghép với các bệnh dịch tả lợn, phó thương hàn, suyễn lợn, đóng dấu lợn Hầu hết các loài gia súc, gia cầm, động vật hoang dại đều mắc Lợn ở mọi lứa tuổi đều mắc, nhiều nhất từ 3 đến 6 tháng Bệnh xảy ra ở nhiều địa phương và nhiều nơi trên thế giới Vi khuẩn tụ huyết trùng có trong cơ thể lợn khỏe mạnh (40%) tập trung ở niêm mạc đường hô hấp, khi thời tiết thay đổi đột ngột và khi có các yếu tố không thuận lợi như chuyển đàn, tiêm phòng, dinh dưỡng kém, sức đề kháng giảm, vi khuẩn sẽ phát triển thành bệnh Bệnh truyền nhiễm qua không khí, truyền trong đàn với nhau bằng đường hô hấp hoặc qua rác, chất thải và dụng cụ chăn nuôi

Phòng bệnh: Biện pháp tích cực và hiệu quả nhất là 1 năm hoặc 1 lứa tiêm phòng 2-3 lần tùy theo mục đích nuôi Một số vaccine đang được sử dụng tại Việt Nam: Vaccine nhũ hóa, vaccine vô hoạt có bổ trợ keo phèn,

Trang 36

vaccine nhược độc Cần vệ sinh chuồng trại, máng ăn và dụng cụ thường xuyên Cách ly kịp thời những cơn có biểu hiện bị bệnh

- Bệnh phó thương hàn: Là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Salmonella

gây ra Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi của lợn, tuy nhiên bệnh lâm sàng thường chỉ thấy ở lợn con, lợn lớn thường mắc ít hơn và ở thể mãn tính Tác động chủ yếu đến toàn bộ niêm mạc, đường tiêu hóa, gây ra viêm dạ dày, ruột, có thể có mụn loét ở ruột già và làm lợn ỉa chảy nặng Bệnh gây ra ô nhiễm thực phẩm và ảnh hưởng đến người sử dụng và thực phẩm nhiễm bệnh Phòng bệnh: Vệ sinh phòng bệnh, tiêu độc khử trùng chuồng trại, máng

ăn Đảm bảo cung cấp thức ăn và nước uống sạch, không cho lợn ăn thức ăn

ôi thiu, ẩm mốc

Phòng bệnh bằng vaccine: Tiêm vaccine phó thương hàn cho lợn con lần 1 từ 20-30 ngày tuổi, lần 2 tiêm nhắc lại sau 3 tuần Vaccine nhược độc phó thương hàn đông khô Tiêm sau 20 ngày tuổi Vaccine Salsco tiêm cho lợn sau 2-3 tháng tuổi để phòng bệnh ỉa chảy do thương hàn, E.coli, liên cầu khuẩn

- Bệnh đóng dấu lợn: Là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn đóng dấu

lợn gây nên Bệnh thường tạo nên các mảng đỏ xuất huyết hình con dấu vuông, quả trám, bầu dục, hoặc đa giác trên da Bệnh ảnh hưởng đến tim, khớp xương và có thể gây chết lợn Lợn mắc bệnh nhiều nhất từ 3-4 tháng đến 1 năm tuổi Lợn con dưới 2 tháng tuổi ít mắc bệnh hơn do còn kháng thể

từ lợn mẹ truyền sang Lợn nái và lợn vỗ béo có sức đề kháng tốt hơn

Phòng bệnh: Tiêm phòng định kỳ cho đàn lợn như sau Tiêm vaccine cho lợn từ 3-4 tháng tuổi Tiêm vaccine nhược độc dóng dấu cho lợn từ 2 tháng tuổi trở lên, miễn dịch trên 6 tháng

- Bệnh xoắn khuẩn (lợn nghệ): là bệnh truyền nhiễm chung của nhiều

loài như trâu, bò, lợn, dê, chó và người Nguyên nhân gây bệnh là xoắn khuẩn Leptospira Một trong những nguồn gây lây lan của bệnh là chuột- nước tiểu của chuột mang vi trùng gieo rắc bệnh cho gia súc và con người Bệnh được

Trang 37

gọi là bệnh lợn nghệ do đặc điểm gây vàng da và niêm mạc Bệnh gây xảy thai cho đàn gia súc, gia súc ốm, chết, giảm khối lượng, giảm sản lượng sữa Đặc biệt, bệnh còn lây sang người, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Bệnh xảy ra quanh năm, ở nhiều địa phương khác nhau

- Bệnh phù đầu ở lợn con sau cai sữa: Là bệnh do nhiễm độc huyết

gây nên bởi loài vi khuẩn Ecoli dung huyết, cư trú ở ruột non, sản sinh ra ngoại độc tố và máu gây bại thành mạch, phù đầu, phù dạ dày, phù ruột cho lợn con Bệnh này xảy ra ở lợn con sau khi tách mẹ, do thay đổi thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Bệnh thường gây ra triệu chứng thần kinh

và có tỷ lệ chết khá cao (60-100%) Xuất hiện lẻ tẻ, không lây từ đàn này sang đàn khác

Cách phòng, trị bệnh: Có thể dùng E.coli phù đầu, sản xuất tại Viện thú

y Quốc gia Cho lợn ăn tăng thức ăn chất xơ lên 20-25%, giảm đạm thô và năng lượng tiêu hóa nhằm ngăn chặn sự phát triển của E.coli đường ruột Bệnh này hầu như không điều trị được Thường điều trị dự phòng bằng cách

sử dụng một trong các loại kháng sinh khác nhau như Colivilavet, Gentacosmis dạng gói

- Bệnh ký sinh trùng ở lợn: Có nhiều loại giun sán ký sinh trong cơ thể

lợn, một trong những loài gây thiệt hại lớn là giun đũa lợn và sán lá ruột lợn Giun sán ký sinh gây tác hại do hút chất dinh dưỡng, hút máu, tiết ra độc tố gây hại cho gia súc chúng ký sinh, hoặc với số lượng nhiều thì chèn ép, gây tắc nghẽn hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể Một số giun sán ký sinh đòi hỏi có một thời gian phát triển bên ngoài cơ thể gia súc hoặc phát triển trên 1 ký chủ khác trước khi trưởng thành, nếu nắm được các đặc điểm này thì có thể phòng chống bệnh hiệu quả hơn

Các phòng trị bênh: Thời gian tẩy sán tốt nhất là khi sán chưa trưởng thành và chưa đẻ trứng ra môi trường Có thể tẩy bằng các loại thuốc tẩy sán thông thường như Oxyclozamid, Fasinex

Trang 38

- Bệnh ỉa phân trắng ở lợn con: Bệnh phân trắng ở lợn con rất hay gặp

trong chăn nuôi lợn Lứa tuổi mắc ở lợn con từ 2-3 giờ sau khi sinh ra đến 21 ngày tuổi, cũng có khi mắc tới 28 ngày tuổi Bệnh gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi, giảm tăng trọng, làm lợn con bị suy kiệt dẫn đến chết Bệnh do E.coli gây ra Độc tố của vi khuẩn phá vỡ cân bằng nước và điện giải gây ra ỉa chảu trầm trọng Lúc đầu nước phân trong, sau chuyển sang trắng đặc

Phong trị bệnh: Bệnh này yếu tố nhiệt độ rất quan trọng Ngay khi lợn

mẹ đẻ ra ta cần cho lợn con vào ổ riêng sưởi ấm 37 độ, duy trì nhiệt độ như vậy trong vòng 3-4 ngày, sau đó mỗi ngày hạ 1 độ Chuồng cần khô ráo và sạch sẽ, thường xuyên bổ sung chất độn chuồng cho lợn con Khi lợn con bị bệnh thì điều trị một số loại thuốc như sau: Colistin, Belcomgcu, Flumiquiel…

Trang 39

2.2 Cơ sở thực tiễn về rủi ro và quản lý rủi ro

2.2.1 Thực trạng chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam

2.2.1.1 Thực trạng chăn nuôi lợn trên thế giới

Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi trên thế giới đã có nhiều biến động cả về tốc độ phát triển, phân bố lại địa bàn và phương thức sản xuất, đồng thời xuất hiện nhiều nhân tố bất ổn như gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, vệ sinh an toàn thực phẩm và nhiều dịch bệnh mới

Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới - FAO năm

2009 số lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: Tổng đàn trâu 182,2 triệu con và trâu phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò 1.164,8 triệu con, dê 591,7 triệu con, cừu 847,7 triệu con, lợn 887,5 triệu con,

gà 14.191,1 triệu con và tổng đàn vịt là 1.008,3 triệu con Tốc độ tăng về số lượng vật nuôi hàng năm của thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạt trên dưới 1% năm (Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam – Viện cây lương thực và thực phẩm)

Trong những năm gần đây tình hình xuất khẩu thịt lợn trên thế giới có

xu hướng gia tăng, đặc biệt do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm H5N1 và H7N9 gây ra

Các cường quốc về chăn nuôi lợn của thế giới: số đầu lợn hàng năm đứng số một là Trung Quốc (451,1 triệu con), thứ 2 là Hoa Kỳ (67,1 triệu con), thứ ba Brazin (37,0 triệu), Việt Nam đứng thứ 4 (27,6 triệu con) và thứ năm là Đức (26,8 triệu con)

Các cường quốc về sản lượng thịt lợn: thứ nhất là Trung Quốc 49,8 triệu tấn, thứ hai Hoa Kỳ 10,4 triệu tấn, thứ ba Đức 5,2 triệu tấn, thứ tư Brazin 4,29 triệu tấn, thứ năm Tây Ban Nha 3,29 triệu tấn, thứ 6 Việt Nam 2,55 triệu tấn

Phương thức chăn nuôi hiện nay của các nước trên thế giới vẫn có ba hình thức cơ bản đó là:

Trang 40

- Chăn nuôi quy mô công nghiệp thâm canh công nghệ cao

- Chăn nuôi trang trại bán thâm canh

- Chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ và quảng canh

Phương thức chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn thâm canh sản xuất hàng hóa chất lượng cao chủ yếu ở các nước phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc và một số nước ở Châu Á, Phi và Mỹ La Tinh Chăn nuôi công nghiệp thâm canh các công nghệ cao về cơ giới và tin học được áp dụng trong chuồng trại, cho ăn, vệ sinh, thu hoạch sản phẩm, xử lý môi trường và quản lý đàn Các công nghệ sinh học và công nghệ sinh sản được áp dụng trong chăn nuôi như nhân giống, lai tạo nâng cao khả năng sinh sản và điều khiển giới tính Chăn nuôi bán thâm canh và quảng canh gia súc, gia cầm tại phần lớn các nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ La Tinh và các nước Trung Đông Trong chăn nuôi quảng canh, tận dụng, dựa vào thiên nhiên sản phẩm chăn nuôi năng suất thấp nhưng được thị trường xem như là một phần của chăn nuôi hữu cơ

2.2.1.2 Thực trạng chăn nuôi lợn ở Việt Nam

Chăn nuôi lợn là một ngành nghề truyền thống có từ lâu đời của nước

ta, mặc dù số lượng đầu lợn năm 2011 đến 2013 giảm từ 22910,3 nghìn con xuống còn 22269,2 nghìn con, nhưng lượng thịt lợn hơi xuất chuồng vẫn tăng qua các năm, năm 2011 đạt 3098,8 nghìn tấn và đến năm 2013 số lượng đã là

3217,9 nghìn tấn (Tổng cục thống kê năm 2014) Với tốc độ tăng như vậy hàng

năm đã cung cấp phần lớn lượng thịt tiêu dùng cũng như xuất khẩu

Trong vài năm trở lại đây dịch cúm gia cầm liên tục xuất hiện gây hoang mang lo sợ cho người tiêu dùng chính vì thế mà lượng thịt lợn tiêu thụ ngày một tăng

Tăng trưởng về sản lượng sản phẩm chăn nuôi luôn cao hơn so với tăng trưởng về đầu con Điều này phản ánh trình độ chăn nuôi ngày càng cải thiện, các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi được áp dụng, giống mới năng suất cao

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Sỹ An, 2004 Công cụ giảm rủi ro nông nghiệp và điều kiện sử dụng công cụ trong quá trình gia nhập WTO. Tạp chí nghiên cứu kinh tế 323 tháng 4/2005 2. Trần Kim Anh và công sự (2004) “Kỹ thuật chăn nuôi lợn trong nông hộ” NXB Nôngnghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn trong nông hộ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
3. Phạm Thị Mỹ Dung (2002), “Tổng quan bảo hiểm và bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam”, Báo cáo nội bộ của tiểu dự án F2 thuộc Uplands Program Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan bảo hiểm và bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Mỹ Dung
Năm: 2002
4. Đinh Văn Đãn (1996), “Kinh tế hộ nông dân”, trường đại học nông nghiệp Hà Nội 5. Bùi Thị Gia (2005). “Quản trị rủi ro trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nôngnghiệp”. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ nông dân”, trường đại học nông nghiệp Hà Nội 5. Bùi Thị Gia (2005). “Quản trị rủi ro trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp
Tác giả: Đinh Văn Đãn (1996), “Kinh tế hộ nông dân”, trường đại học nông nghiệp Hà Nội 5. Bùi Thị Gia
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
6. Nguyễn Khải Hoàn (2005), “Thực trạng rủi ro của hộ nông dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang” Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng rủi ro của hộ nông dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Khải Hoàn
Năm: 2005
7. Phạm Văn Hùng, bài giảng “Phương pháp nghiên cứu kinh tế”, trường đại học nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu kinh tế
8. Phạm Văn Hùng, Nguyễn Hữu Nhuần, Nguyễn Thị Lý, bài giảng “kinh tế học sản xuất”, trường đại học nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kinh tế học sản xuất
9. Lê Ngọc Hướng, Nguyễn Duy Lin (2012) “Rủi ro và chính sách quản lý rủi ro trong chăn nuôi lợn ở Việt Nam” Tạp chí Khoa học và Phát triển tập 10, số 3.Trang 538 – 545 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro và chính sách quản lý rủi ro trong chăn nuôi lợn ở Việt Nam
10. Phạm Thị Lam (2010), “Phân tích rủi ro trong chăn nuôi lợ thịt ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương” Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích rủi ro trong chăn nuôi lợ thịt ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
Tác giả: Phạm Thị Lam
Năm: 2010
11. Nguyễn Quốc Oánh, bài giảng “tài chính nông nghiệp”, trường đại học nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tài chính nông nghiệp
12. Chu Thị Thảo (2011), “xác định nhu cầu bảo hiểm trong chăn nuôi lợn thịt của các hộ nông dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: xác định nhu cầu bảo hiểm trong chăn nuôi lợn thịt của các hộ nông dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Chu Thị Thảo
Năm: 2011
13. Nguyễn Thị Tâm (2008), “nghiên cứu hành vi ứng xử của nông hộ đối với rủi ro trong chăn nuôi tại xã An Bình, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu hành vi ứng xử của nông hộ đối với rủi ro trong chăn nuôi tại xã An Bình, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Thị Tâm
Năm: 2008
14. Vũ Đình Tôn (2009), “Giáo trình chăn nuôi lợn”, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Vũ Đình Tôn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2009
15. Hồ Sĩ Sáng (2010), “Quản lý rủi ro trong chăn nuôi lợn thịt ở các nông hộ tại xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rủi ro trong chăn nuôi lợn thịt ở các nông hộ tại xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Hồ Sĩ Sáng
Năm: 2010
16. Tổng cục thống kê: Thống kê kinh tế xã hội năm 2011, 2012, 2013, 2014 17. Niên giám thống kê huyện Tiên Lữ - tỉnh Hưng Yên Khác
18. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tiên Lữ năm 2010, 2011, 2012, 2013 Khác
19. Báo cáo sơ kết và tổng kết về tình hình môi trường, biến động đất đai và tình hình phát triển chăn nuôi; công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm (năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014) của Phòng TN & MT; Phòng Nông nghiệp & PTNT và Trạm thú y huyện Tiên Lữ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Bản đồ huyện Tiên Lữ - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Hình 3.1 Bản đồ huyện Tiên Lữ (Trang 52)
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Tiên Lữ trong 3 năm (2011 – 2013) - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Tiên Lữ trong 3 năm (2011 – 2013) (Trang 54)
Bảng 3.2 Tình hình biến động dân số và lao động của huyện Tiên Lữ - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 3.2 Tình hình biến động dân số và lao động của huyện Tiên Lữ (Trang 57)
Bảng 4.4 Thông tin chung về hộ chăn nuôi lợn thịt theo quy mô điều tra - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 4.4 Thông tin chung về hộ chăn nuôi lợn thịt theo quy mô điều tra (Trang 72)
Bảng 4.5 Tài sản của hộ phục vụ chăn nuôi lợn thịt - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 4.5 Tài sản của hộ phục vụ chăn nuôi lợn thịt (Trang 73)
Bảng 4.7 Một số loại bệnh thường gặp và tần suất mắc bệnh ở lợn thịt - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 4.7 Một số loại bệnh thường gặp và tần suất mắc bệnh ở lợn thịt (Trang 77)
Bảng 4.8 Nguồn cung cấp giống của các hộ chăn nuôi lợn thịt - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 4.8 Nguồn cung cấp giống của các hộ chăn nuôi lợn thịt (Trang 78)
Bảng 4.9  Nguồn gốc mua con giống theo phạm vi của các hộ chăn nuôi  lợn thịt - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 4.9 Nguồn gốc mua con giống theo phạm vi của các hộ chăn nuôi lợn thịt (Trang 79)
Bảng 4.11 Tiêu chí và mục đích chọn giống của các hộ chăn nuôi lợn thịt - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 4.11 Tiêu chí và mục đích chọn giống của các hộ chăn nuôi lợn thịt (Trang 81)
Bảng  4.12  Phương  thức  sử  dụng  thức  ăn  nhằm  giảm  dịch  bệnh  trong  chăn nuôi lợn thịt của các hộ - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
ng 4.12 Phương thức sử dụng thức ăn nhằm giảm dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt của các hộ (Trang 82)
Bảng 4.13 Phương thức quản lý của các hộ chăn nuôi khi lợn thịt bị bệnh - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 4.13 Phương thức quản lý của các hộ chăn nuôi khi lợn thịt bị bệnh (Trang 83)
Bảng 4.15 Quản lý phòng chống rủi ro dịch, bệnh của các hộ chăn nuôi  lợn thịt - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 4.15 Quản lý phòng chống rủi ro dịch, bệnh của các hộ chăn nuôi lợn thịt (Trang 86)
Bảng 4.16 Phương pháp quản lý rủi ro dịch bệnh của hộ chăn nuôi lợn  thịt bằng cách khống chế người đến thăm chuồng - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 4.16 Phương pháp quản lý rủi ro dịch bệnh của hộ chăn nuôi lợn thịt bằng cách khống chế người đến thăm chuồng (Trang 87)
Bảng 4.18 Biện pháp xử lý của hộ chăn nuôi khi lợn bị bệnh chết - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 4.18 Biện pháp xử lý của hộ chăn nuôi khi lợn bị bệnh chết (Trang 90)
Bảng 4.21 Kết quả tiêm vaccine phòng dịch bệnh cho  đàn lợn thịt trên  địa bàn huyện trong 3 năm (2011 – 2013) - Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên
Bảng 4.21 Kết quả tiêm vaccine phòng dịch bệnh cho đàn lợn thịt trên địa bàn huyện trong 3 năm (2011 – 2013) (Trang 103)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w