Trên thế giới Nhiều nước trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu về phát triển du lịch từ những năm 80, đặc biệt là các quốc gia sớm có định hướng xác định du lịch là một ngành kinh tế mũ
Trang 1ii
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 – LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu 3
1.1.2 Cơ sở lý luận về du lịch và du lịch bền vững 6
1.1.3 Cơ sở lý luận về đới ven biển 9
1.2 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
1.2.1 Phương pháp tiếp cận 11
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 13
Chương 2 - TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 15
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 15
2.1.1 Vị trí địa lý 15
2.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn, hải văn 17
2.1.3 Đặc điểm địa chất 24
2.1.4 Đặc điểm địa hình - Địa mạo 28
2.1.5 Lịch sử phát triển địa chất Đệ tứ đới bờ 30
2.2 ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG ĐỚI VEN BIỂN 33
2.2.1 Tài nguyên và môi trường nước 33
2.2.2 Tài nguyên và môi trường đất 35
2.2.3 Tài nguyên sinh vật 39
2.2.4 Tài nguyên khoáng sản 40
2.3 ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN DU LỊCH 43
Trang 2iii
2.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 43
2.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 48
2.3.3 Các điểm du lịch khu vực lân cận 51
2.4 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI 53
2.4.1 Dân số, lao động và nguồn lực xã hội 53
2.4.2 Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội 54
2.4.3 Cơ sở hạ tầng, vật chất 55
2.5 ĐÁNH GIÁ NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI DU LỊCH VEN BIỂN VÙNG ĐÈO NGANG ĐẾN CỬA NHẬT LỆ 57
2.5.1 Những thuận lợi cho phát triển du lịch 57
2.5.2 Tai biến thiên nhiên và những khó khăn khác cho phát triển du lịch 61
CHƯƠNG 3 - ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 66
3.1 HIỆN TRẠNG DU LỊCH 66
3.2 CÁC GIẢI PHÁP CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 68
3.2.1 Giải pháp giảm thiểu tai biến cho phát triển du lịch bền vững 68
3.2.2 Các giải pháp phát triển tại điểm du lịch 70
3.3 ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH DU LỊCH BỀN VỮNG 72
3.3.1 Định hướng tổ chức không gian 72
3.3.2 Định hướng quy hoạch phát triển du lịch bền vững 74
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 3iv
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu Error! Bookmark not defined
Hình 2.2 Sơ đồ mạng lưới thủy văn khu vực nghiên cứu 22
Hình 2.3 Bản đồ địa chất vùng ven biển từ Đèo Ngang đến cửa Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình Error! Bookmark not defined Hình 2.4 Mô hình DEM tỉnh Quảng Bình 288
Hình 2.5 Mô hình DEM khu vực nghiên cứu 29
Hình 2.6 Mặt cắt trầm tích Đệ tứ qua cồn cát phía Nam Nhật Lệ 322
Hình 2.7 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất vùng ven biển từ Đèo Ngang đến Nhật Lệ, Quảng Bình Error! Bookmark not defined.8 Hình 2.8 Bãi Đá Nhảy 433
Hình 2.9 Bãi biển Nhật Lệ 444
Hình 2.10 Vũng Chùa – Đảo Yến 47
Hình 2.11 Đồi cát Quang Phú 467
Hình 2 12 Bản đồ tài nguyên du lịch vùng ven biển từ Đèo Ngang đến cửa Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình Error! Bookmark not defined Hình 2.13 Hang Sơn Đoòng 51
Hình 2 14 Suối khoáng Bang 52
Hình 2.15 Nhà tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp 522
Hình 3.1 Thống kê lượng khách du lịch tới Quảng Bình qua các năm 677 Hình 3.2 Bản đồ định hướng quy hoạch du lịch vùng ven biển từ Đèo Ngang đến
cửa Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình Error! Bookmark not defined.6
Trang 4v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số ví dụ về xác định ranh giới cố định của đới bờ biển 10
Bảng 2.1 Lượng mưa trung bình nhiều năm tại các trạm 17
Bảng 2.2 Nhiệt độ trung bình nhiều năm tại các trạm đo 18
Bảng 2.3 Số giờ nắng bình quân nhiều năm tại các trạm đo 19
Bảng 2.4 Lượng bốc hơi bình quân nhiều năm tại các trạm đo 20
Bảng 2.5 Độ ẩm trung bình tại các trạm đo 20
Bảng 2.6 Tốc độ gió bình quân nhiều năm tại các trạm đo 21
Bảng 2.7 Tiêu chí đánh giá hải văn cho loại hình du lịch tắm biển 24
Bảng 2.8 Phân phối dòng chảy trung bình nhiều năm tại các trạm thuỷ văn 34
Bảng 2.9 Thống kê diện tích đất các huyện ven biển 36
Bảng 2.10 Tiêu chí đánh giá các bãi tắm (Phạm Trung Lương, 2001) 57
Bảng 2.11 Đánh giá một số bãi tắm ở khu vực nghiên cứu 58
Bảng 2.12 Tiêu chí phân loại chất lượng bãi tắm khu vực 58
Bảng 2.13 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người 59
Bảng 2.14 Đặc điểm một số cơn bão lớn đổ bộ vào vùng nghiên cứu 62
Bảng 3.1 Định hướng sử dụng hợp lý không gian vùng nghiên cứu 73
Trang 61
MỞ ĐẦU
Là một tỉnh ven biển miền Trung, Quảng Bình có đặc điểm là ít tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất (đất cát nghèo dinh dưỡng), khí hậu khô nóng khắc nhiệt, nhiều đụn cát, bãi cát rộng, chịu tác động mạnh mẽ của tai biến thiên nhiên Lợi thế của khu vực nói chung và của tỉnh Quảng Bình nói riêng là nằm trên hành lang kinh tế đông - tây, là nơi giao thoa của miền bắc và miền nam, khu vực
có vai trò quan trọng trong chiến lược kinh tế hướng ra biển đông đặc biệt là đảm bảo an ninh quốc phòng Quảng Bình cách Huế 150 km về phía Bắc, là nơi giao thoa hội tụ của nhiều luồng văn hóa, đồng thời là chiến trường ác liệt trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc nên ngày nay còn lưu giữ được nhiều di tích lịch sử, văn hóa của nhiều thời đại khác nhau Quảng Bình mang đặc trưng của khu vực Bắc Trung Bộ, là địa phương có nhiều dân tộc lưu trú nên truyền thống văn hóa khá phong phú, kho tàng văn hóa đa dạng
Đới ven biển từ Đèo Ngang tới cửa Nhật Lệ có những đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch đã tạo ra cho tỉnh những ưu thế về tiềm năng, lợi thế và cơ hội của đới bờ Đới bờ là kết quả tiến hóa của trầm tích Đệ tứ trong mối quan hệ với sự thay đổi của mực nước biển Vì vậy đã tạo ra đê cát ven bờ và các lagun tàn dư tiềm năng về tài nguyên du lịch chủ yếu phát triển các bãi tắm và khu nghỉ dưỡng Tài nguyên đặc thù của đới ven biển từ Đèo Ngang tới cửa Nhật Lệ là các đê cát và cồn cát kéo dài dọc đường bờ biển Đê cát ven bờ và cồn cát là tài nguyên khổng lồ về vật liệu xây dựng, là thành tạo địa chất chứa nước ngọt phục vụ dân sinh, tuy nhiên việc khai thác, sử dụng hiện nay chưa được quan tâm và có giải pháp hợp lý
Hiện nay, phát triển du lịch tại khu vực đới ven biển từ Đèo Ngang đến cửa Nhật Lệ mới chỉ phát triển cục bộ tại các điểm mà chưa có đánh giá, quy hoạch tổng thể, do vậy chưa tận dụng được hết các tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch của khu vực
Trang 72
Xuất phát từ các nhu cầu thực tiễn trên, học viên lựa chọn đề tài “Xác lập cơ
sở khoa học cho phát triển du lịch bền vững dải ven biển từ Đèo Ngang tới cửa Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình” với mục tiêu và nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích, đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch đới ven biển
từ Đèo Ngang đến cửa Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình bao gồm:
+ Đánh giá tiềm năng tài nguyên tự nhiên và tài nguyên du lịch
+ Đánh giá các hiện tượng tai biến thiên nhiên ảnh hưởng tới đới ven biển
- Đề xuất các giải pháp và định hướng quy hoạch du lịch bền vững
Từ mục tiêu và nội dung của luận văn đã nêu như trên, học viên đã xây dựng
bố cục luận văn gồm 3 chương chính như sau:
Chương 1 - Lịch sử nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 - Tiềm năng phát triển du lịch
Chương 3 - Định hướng và giải pháp cho phát triển du lịch bền vững
Trang 8ra những mô hình phát triển du lịch mang lại hiệu quả nhất (hạn chế được những tác hại và gia tăng tối đa lợi ích mà du lịch mang lại) nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững
a Trên thế giới
Nhiều nước trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu về phát triển du lịch từ những năm 80, đặc biệt là các quốc gia sớm có định hướng xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, các nghiên cứu này được tiến hành theo hai hướng [18]:
- Nghiên cứu một cách tổng thể những vấn đề đặt ra liên quan tới phát triển
du lịch bền vững trên quy mô quốc gia rồi sau đó tiến tới xây dựng các mô hình điểm về du lịch bền vững Ví dụ, ở Úc bước đầu việc nghiên cứu được tiến hành với việc xây dựng chính sách về du lịch bền vững, chiến lược du lịch sinh thái quốc gia… rồi sau đó tiến tới xây dựng mô hình điểm về phát triển du lịch bền vững ở Great Barrier Reef; ở Mỹ bước đầu là chính sách phát triển du lịch bền vững tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn rồi đến xây dựng mô hình điểm ở khu bảo tồn san hô ngầm Florida; ở Malaysia là chiến lược quốc gia về du lịch sinh thái và văn hóa bản địa rồi đến xây dựng mô hình ở Langkawi…
- Dựa trên việc xây dựng các mô hình điểm về phát triển du lịch bền vững để rút kinh nghiệm xây dựng các chính sách triển khai trên toàn quốc Ví dụ ở Nepal việc nghiên cứu phát triển du lịch bền vững được bắt đầu bằng việc nghiên cứu mô hình phát triển tại khu bảo tồn Annapurna rồi đến xây dựng Chính sách phát triển
du lịch sinh thái quốc gia; ở Ecuado được bắt đầu xây dựng mô hình phát triển du
Trang 94
lịch tại quần đảo Galapagos rồi đến xây dựng Chính sách phát triển du lịch bền vững của Ecuado…
Việc nghiên cứu này là một trong những nội dung cơ bản của khoa học địa lý
để phục vụ cho quy hoạch và tổ chức không gian du lịch tối ưu nhất Trên thế giới
đã có một số công trình khoa học như đánh giá các thể tổng hợp tự nhiên phục vụ giải trí (Mukhinua, 1972; Sepfer, 1973) Một trong số nhà địa lý cảnh quan của trường đại học tổng hợp Matxcova như E.D Xmiarnova, V.B Nhefedova, L.V Xvittrenco đã tiến hành nghiên cứu thích hợp cho mục đích nghỉ dưỡng trên lãnh thổ Liên Xô trước đây [19] Nhà địa lý B.N.Likhanov 1973 đã xác định tài nguyên nghỉ ngơi giải trí có trên lãnh thổ khai thác cho du lịch [19]
Các nhà địa lý Mỹ như Bô-ha (1918 - 1971), nhà địa lý Anh H Robinson và các nhà địa lý Canada như Vôn-phơ, 1966; Henayno 1972 cũng đã tiến hành đánh giá sử dụng tài nguyên thiên nhiên để phục vụ mục đích giải trí du lịch
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà địa lý trên thế giới trong lĩnh vực du lịch như M Buchavarov, N.X Mironhenke và I.T Tverdokhalebop, H Robinson…Nhiều nhà địa lý du lịch đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lý du lịch là các hệ thống lãnh thổ, phân tích các cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa phương để phát triển du lịch
b Tại Việt Nam
Du lịch và phát triển bền vững mới chỉ được nghiên cứu từ thấp niên 90 trở lại đây, tuy nhiên các ngành khoa học đơn lẻ đã được nghiên cứu từ rất sớm
Vấn đề địa chất khu vực miền Trung nói chung và vùng Đèo Ngang đến Nhật Lệ nói riêng đã được tiến hành điều tra từ đầu thế kỷ 20, thể hiện ở tờ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000 (Jacob C., 1921 và Fromaget J., 1927) Thời kỳ Pháp thuộc, trong tờ bản đồ địa chất Huế - tỷ lệ 1/500.000 (Hofet J.H., 1935) đã nghiên cứu và đánh giá quá trình thành tạo đụn cát và thành phần của chúng Các thành tạo cát màu vàng ven biển từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế được gọi là phù sa mới thuộc trầm tích Đệ Tứ [16]
Trang 105
Sau năm 1954, quá trình thành tạo cát ven biển miền Trung đã được đầu tư nghiên cứu nhiều hơn, trong đó, Tổng Cục Địa chất đã tiến hành chỉnh lý và khảo sát thực địa trên toàn miền Bắc [16] Đặc điểm địa tầng địa chất vùng nghiên cứu trong đó có các trầm tích Đệ tứ đa nguồn gốc được thể hiện trên tờ bản đồ Mahaxay
- Đồng Hới, tỷ lệ 1: 200.000 thành lập trong những năm 1979 - 1983 và được hiệu đính năm 1992 -1993; bản đồ địa chất Đệ tứ Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 (Nguyễn Đức Tâm và Đỗ Tuyết, 1994),… Ngoài ra, một số hợp phần tự nhiên cũng đã được tiến hành nghiên cứu ở nhiều mức độ khác nhau như về nhu cầu sử dụng đất ven biển (Lê Đức An, 1982, 1996; Phan Liêu, 1987); về địa mạo bờ biển, lịch sử phát triển đồng bằng (Đặng Văn Bào, Nguyễn Vi Dân, Bùi Văn Nghĩa, 1977, 1996; Nguyễn Đức Tâm, 1992); về trầm tích cát (Trần Nghi, 1996); về phân loại cát bề mặt (Nguyễn Tiến Hải, 2001); về địa mạo, xói lở bờ biển miền Trung trong mối tương quan đến sự vận động các dải cồn cát (Vũ Văn Phái, 1996 - 2006)…
Những năm gần đây, vấn đề nghiên cứu và đánh giá hiện trạng tài nguyên trong khu vực nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đã được tiến hành khá tỷ mỷ Điển hình trong số đó là các Đề tài đánh giá tổng thể sử dụng hợp lý dải cát ven biển miền Trung và bảo vệ môi trường, KC.08.07 (Trương Quang Học, 2003) và KC.08-21 (Trần Văn Ý, 2005); các đề tài điều tra địa chất khoáng sản đới biển nông ven bờ (0 -30m nước) của Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển [17]… Đới bờ Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế cũng đã được các nhà khoa học như Đặng Văn Bào, Nguyễn Cao Huần (2010) nghiên cứu xác lập luận chứng khoa học
về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, KT - XH, môi trường và tai biến thiên nhiên, mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng tài nguyên…
Trước năm 2000, vấn đề nghiên cứu phát triển du lịch tại Việt Nam, do nhiều điều kiện khách quan và chủ quan, nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững mới chỉ hạn chế ở một số công trình có liên quan như nghiên cứu cơ sở cho phát triển du lịch sinh thái, đánh giá tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên môi trường [14]…Có thể kể tới một số công trình tiêu biểu đó là: Sơ đồ phát triển và phân bố ngành du lịch Việt Nam (1986), Dự án VIE/89/003 về kế hoạch chỉ đạo, phát triển
Trang 116
du lịch Việt Nam do tổ chức du lịch thế giới (OMT) thực hiện (Madrit 1992), đề tài khoa học cấp Nhà nước KT 03 - 18 về luận cứ khoa học phát triển hệ thống du lịch biển Việt Nam thuộc chương trình biển KT-03 Dự án quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch Việt Nam 1995 - 2010 do Viện Nghiên cứu và Phát triển du lịch thực hiện, Tổng cục Du lịch đã phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) triển khai nghiên cứu du lịch bền vững dưới góc độ du lịch cộng đồng tại Sapa [19]
Từ năm 2002 trở lại đây, nghiên cứu phát triển du lịch bền vững đã được nhiều cấp
bộ ngành quan tâm và nghiên cứu Tiêu biểu trong số đó là công trình định hướng phát triển du lịch đến năm 2010, 2020 các vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, địa bàn kinh tế miền Trung…thuộc các chương trình quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội do Viện Nghiên cứu và Phát triển
du lịch thực hiện; Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam do Tổng Cục du lịch phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu Ngay sau đó đã có rất nhiều đề tài khoa học cấp ngành về phát triển du lịch bền vững như phát triển du lịch sinh thái, phát triển du lịch cộng đồng và là cơ sở dữ liệu đánh tin cậy cho quy hoạch du lịch của địa phương Những đề tài, dự án trên đã bắt đầu đánh giá tổng hợp các loại tài nguyên phục vụ phát triển du lịch, dự báo nhu cầu du lịch, chiến lược phát triển du lịch
Tại Quảng Bình, mang đặc thù là vùng đất với nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, cảnh quan địa chất địa mạo độc đáo nên đã có những nghiên cứu để phát triển du lịch tại khu vực Một số công trình tiêu biểu phải kể tới là đề tài đánh giá sức chịu tải tới hạn của hệ sinh thái môi trường tự nhiên, xã hội khu di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình, đề xuất mô hình phát triển bền vững kinh tế du lịch do Trần Nghi (chủ trì) thực hiện…
1.1.2 Cơ sở lý luận về du lịch và du lịch bền vững
a Khái niệm du lịch
Ứng với mỗi hoàn cảnh (thời gian, khu vực), mục tiêu nghiên cứu thì du lịch
lại được hiểu theo nghĩa khác nhau
Trang 127
Trong số những học giả đưa ra định nghĩa ngắn gọn nhất phải kể đến Ausher
và Nguyễn Khắc Viện Theo Ausher thì du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân, còn viện sĩ Nguyễn Khắc Viện lại quan niệm rằng du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người
Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch
họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hợp các mối
quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” Định nghĩa này là cơ sở cho định nghĩa du khách đã được Liên minh quốc tế
các tổ chức du lịch chính thức, tiền thân của Tổ chức du lịch thế giới thông qua Trong các từ điển tiếng Việt (Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội 1995), du lịch được giải thích là đi chơi cho biết xứ người.
Ở Việt Nam, khái niệm này được định nghĩa chính thức trong Pháp lệnh du
lịch (1999) và Luật Du lịch (2005) như sau: “Du lịch là hoạt động của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Điều kiện kinh tế ngày càng tăng lên, chính vì vậy nhu cầu thưởng ngoạn của con người cũng ngày càng nhiều, đặc biệt là loại hình gắn với tự nhiên và những nơi cảnh quan nguyên thủy ngày càng được ưa chuộng Tuy nhiên, khi tiến hành hoạt động du lịch tự phát, thiếu định hướng, quy hoạch khiến môi trường chịu nhiều tác động tiêu cực Do vậy, vấn phát triển bền vững trong hoạt động du lịch được quan tâm sâu sắc hơn, từ đó khái niệm về du lịch bền vững được ra đời
b Khái niệm về du lịch bền vững
Cho đến nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về phát triển du lịch bền vững, theo Butler's (1993) cho rằng phát triển du lịch bền vững là quá trình phát triển và duy trì trong một không gian và thời gian nhất định (ở đó tồn tại cộng đồng, môi trường), thêm nữa sự phát triển sẽ không làm giảm khả năng thích ứng môi
Trang 138
trường của con người trong khi vẫn có thể ngăn chặn những tác động tiêu cực tới sự phát triển lâu dài [6] Đây là quan điểm đã nhận được sự đồng thuận khá cao của các tác giả khác như Murphy (1994), Mowforth và Munt (1998) Trong khi đó, Machado (2003) nhấn mạnh đến tính bền vững của các sản phẩm trong phát triển du lịch, ông cho rằng phát triển du lịch bền vững là quá trình phát triển các sản phẩm
du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa phương mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai Nghiên cứu của Tosun (1998) đề xuất phát triển du lịch bền vững như là một trong những thành phần của phát triển du lịch và nó tạo ra những đóng góp đáng kể hoặc ít hoặc phủ nhận sự duy trì các nguyên tắc của sự phát triển trong một thời kỳ nhất định mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của thế hệ tương lai Bổ sung vào quan điểm này, Hens (1998) chỉ ra rằng phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự quan tâm của các bên có liên quan đến việc quản lý các nguồn tài nguyên theo các cách thức khác nhau nhằm khai thác và cung cấp các sản phẩm du lịch đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, đa dạng hệ sinh thái và bảo đảm sự sống cho thế
hệ mai sau Tổ chức du lịch thế giới (WTO) định nghĩa “phát triển bền vững trong
du lịch là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Sự phát triển này quan tâm đến lợi ích kinh tế, xã hội mang tính lâu dài trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương” (WTO, 2002) [14]
Theo tổ chức bảo tồn thế giới, du lịch bền vững được định nghĩa là: “Việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn,
Trang 149
có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về
KT - XH của cộng đồng địa phương”
Khái niệm du lịch bền vững mà học viên cho là đầy đủ và có tính tổng hợp cao đó là:
Du lịch bền vững là du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào [6]
Các tiêu chí để phát triển du lịch bền vững: Đóng góp vào sự thỏa mãn các nhu cầu của du khách và cộng đồng tại một điểm đến nhất định; đóng góp vào việc giảm sự bất bình đẳng và nghèo đói của cộng đồng tại điểm đến nhất định; hỗ trợ cộng đồng tại điểm cảm thấy được tự do, được tiếp cận với các dịch vụ du lịch tốt hơn, giảm các tệ nạn xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giảm tình trạng ô nhiễm môi trường; không chỉ góp phần tăng trưởng kinh tế của quốc gia, khu vực
và địa phương mà sự phát triển còn góp phần nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong xã hội; không chỉ chú ý đạt được các mục tiêu trên trong một thời kỳ nhất định mà còn không ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ tương lai
1.1.3 Cơ sở lý luận về đới ven biển
Ranh giới của khu vực ven biển được định xác định là đới chuyển tiếp giữa đất liền và biển, có độ rộng phụ thuộc vào quy mô và cường độ của sự tương tác giữa lục địa và đại dương Ranh giới của ĐVB rất khó xác định một cách rõ ràng vì phụ thuộc vào bản chất của các quá trình tương tác tự nhiên không ổn định và thường xuyên thay đổi, phụ thuộc vào chế độ thuỷ triều, mùa, khí hậu, thiên tai (bão biển, các trận lũ lụt, sạt lở v.v.), chính sách của chính phủ, quan điểm của từng nước, từng chương trình quản lý ĐVB Cho đến nay, vẫn chưa có một quy chuẩn
Trang 15giới hạn trong vùng biển, đới bãi và vùng đất sau bãi Vùng biển được mở rộng từ
mức nước triều thấp nhất về phía biển với các hệ sinh thái biển nông như cỏ biển,
san hô v.v Đới bãi được mở rộng từ mực nước triều thấp nhất đến mực nước triều
cao nhất Tiếp theo về phía lục địa của đới bãi là vùng đất phía sau bãi, ranh giới phía lục địa của nó phụ thuộc vào các điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia [22, 23] Tuy nhiên định nghĩa này chưa hoàn thiện cho mục đích quản lý ĐVB
Các nhà quản lý ở nhiều nước cho rằng ranh giới ĐVB nên được xác định theo mục đích và nhiệm vụ của các chương trình quản lý Một số cách xác định ranh giới chính được sử dụng trong các chương trình quản lý là: xác định trong một khoảng cố định; xác định theo một khoảng cách có thể thay đổi; xác định theo ranh giới hành chính; xác định theo ranh giới của các hệ sinh thái; xác định dựa theo các nguồn tài nguyên cơ bản mà chương trình quản lý quan tâm v.v Bởi vậy, ranh giới ĐVB trong nhiều trường hợp không trùng với ranh giới quốc gia [20, 24]
Ở Việt Nam ĐVB được định nghĩa là một phạm vi không gian nơi mà đất liền và biển gặp nhau ĐVB Việt Nam được mở rộng ở hai đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ, phần còn lại là một dải đất hẹp Các tiêu chí xác định ranh giới của ĐVB
là điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, quản lý xã hội và hành chính pháp luật Ranh giới ĐVB về phía đất liền (theo Cục Môi trường) được lấy theo đường ranh giới của các huyện chịu ảnh hưởng của biển [8]
Bảng 1.1 Một số ví dụ về xác định ranh giới cố định của đới bờ biển [23]
Tên nước Ranh giới trên đất liền Ranh giới trên mặt biển
Nước Úc (Bang
3 hải lý tính từ đường cơ
sở ven biển Brazil 2 km tính từ mực nước cao trung bình 12 km tính từ mực nước cao trung bình
Trang 1611
bình
Srilanka 300 m tính từ mực nước cao trung bình 2 km tính từ mực nước thấp trung bình
Trong luận văn, ranh giới vùng Đèo Ngang tới Cửa Nhật lệ được lấy tới độ cao địa hình là 25m về phía trung du (phần cồn cát) Lấy ranh giới này trên cơ sở ranh giới phân bố địa chất các thành tạo Đệ tứ và đặc điểm địa hình của khu vực nghiên cứu, đồng thời đáp ứng mục tiêu quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên Việc lựa chọn giới hạn phần lục địa của vùng nghiên cứu dựa trên thành tạo địa chất và sự tương tác giữa lục địa và biển, nghĩa là tại những nơi mà ở đó có xuất hiện các tương tác giữa lục địa và biển trong suốt giai đoạn Holocen trở lại đây
Về phía biển khu vực nghiên cứu được xác định theo đường đẳng sâu 30 m nước bao gồm các đảo và vùng nước ven đảo Lấy đường đẳng sâu 30m nước trên
cơ sở đường bờ cổ gần nhất trong giai đoạn Holocen Tuy nhiên, do mục đích của
đề tài là xác lập cơ sở khoa học cho phát triển du lịch bền vững nên học viên chỉ tập trung vào phần điều kiện tự nhiên phần lục địa trong phạm vi vùng nghiên cứu, khu vực phía biển học viên chỉ tập trung đánh giá, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng phát triển du lịch của vùng mà không tập trung đi sâu phân tích các yếu tố khác
1.2 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.2.1 Phương pháp tiếp cận
Trong quá trình thực hiện, luận văn đã dựa trên một số hướng tiếp cận: Tiếp cận về PTBV, tiếp cận sinh thái, tiếp cận tích hợp và liên ngành, tiếp cận hệ thống…
+ Tiếp cận hệ thống
Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó (L.v Bertalanffy, 1956) Theo đó có thể coi vùng ven biển là một
Trang 1712
hệ thống được cấu thành bởi các hợp phần đất, nước và sinh vật Các hợp phần này tương tác với nhau tạo nên đặc trưng cho mỗi kiểu vùng ven biển Đồng thời chúng tác động qua lại với môi trường bên ngoài hệ thống Kết quả là dẫn đến sự biển động trong mỗi thành phần của vùng ven biển Như vậy, cách tiếp cận hệ thống cung cấp cái nhìn tổng quát nhất về mối tương tác giữa các hợp phần bên trong của vùng ven biển và mối tương tác giữa các vùng ven biển đó với môi trường bên ngoài Trên cơ sở đó việc đánh giá sự biến động của vùng ven biển khu vực Đèo Ngang tới cửa Nhật Lệ sẽ toàn diện hơn
+ Tiếp cận về phát triển bền vững
Quan điểm về phát triển bền vững hiện nay đã trở thành phổ biến và áp dụng rộng rãi trong tất cả các hoạt động của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong khai thác sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường Trong quy hoạch phát triển bền vững, các yếu tố KT - XH luôn gắn liền với bảo vệ môi trường để đảm bảo việc khai thác tài nguyên và phát triển sản xuất đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế hiện tại mà không tổn hại tới sự phát triển của thế hệ tương lai Theo quan điểm này, để khu vực nghiên cứu phát triển bền vững thì các hoạt động khai thác tài nguyên phục vụ phát triển KT - XH, các tiêu chí về bền vững sinh thái - môi trường
- xã hội phải được đặt lên hàng đầu
+ Tiếp cận sinh thái
Đới biển ven bờ là một hệ sinh thái được cấu thành từ các hợp phần chính như đất, cát, nước và sinh vật đồng thời cũng là những HST nhạy cảm, có sức chịu đựng tới hạn nhất định, phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tự nhiên và đặc biệt nhạy cảm với hoạt động nhân sinh Các điều kiện tự nhiên (đặc điểm địa hình, địa mạo, địa chất, khí hậu, thủy văn, hải văn, thổ nhưỡng,…) vừa là cơ sở, vừa là yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các HST trên vùng ven biển Bên cạnh đó các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên đới ven biển là yếu tố tác động trực tiếp đến HST, làm biến động HST ven biển Do vậy, khi nghiên cứu, đánh giá các HST ven biển khu vực từ Đèo Ngang tới cửa Nhật Lệ nhất thiết phải dựa vào cách tiếp
Trang 1813
cận sinh thái Trên cơ sở tiếp cận đó, đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý khu vực ven biển trong khả năng chịu đựng và phục hồi của các HST ven biển, đảm bảo cân bằng sinh thái
+ Tiếp cận lịch sử
Các hợp phần tự nhiên tồn tại, phát triển theo quy luật riêng của chúng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau Nghiên cứu tự nhiên trên quan điểm này cần xuất phát từ lịch sử phát sinh, phát triển của chúng trong mối tương quan giữa các yếu tố với nhau, từ đó có biện pháp sử dụng hợp lý nhằm hướng tới sự phát triển bền vững
+ Tiếp cận tích hợp liên ngành
Đặc điểm của vùng đất ven biển vừa phản ánh, vừa phụ thuộc vào các yếu tố
tự nhiên cũng như các yếu tố KT - XH Do vậy, để đánh giá được đặc điểm điều kiện tự nhiên của vùng ven biển cần phải nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, tức
là có sự tích hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu, tài liệu
Bằng các phương pháp tổng hợp, xử lý có chọn lọc các số liệu, tài liệu, học viên đã tiến hành phân tích, so sánh đánh giá để xác định những đặc điểm, tính đặc trưng phù hợp với từng nội dung nghiên cứu
b Phương pháp khảo sát thực địa
Trong quá trình hoàn thành luận văn, đề tài đã tiến hành khảo sát thực địa tại dải ven biển từ Đèo Ngang tới cửa Nhật Lệ thuộc các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, thành phố Đồng Hới Tuyến khảo sát được thiết kế từ Bắc vào Nam Nội dung khảo sát bao gồm đánh giá đặc điểm điều kiện tự nhiên gồm đặc điểm địa hình, khí hậu, chế độ thủy văn, hải văn, thảm thực vật, lớp phủ thổ nhưỡng, tình hình phát triển du lịch tại khu vực nghiên cứu, lấy mẫu tại một số bãi tắm điển hình
Trang 1914
c Phương pháp viễn thám và GIS và phương pháp bản đồ
Phương pháp viễn thám và GIS là phương pháp hữu ích trong nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường, trong đó rất có ý nghĩa đối với quy hoạch không gian và nghiên cứu xói lở - bồi tụ đới ven biển Trên cơ sở kế thừa các thế hệ ảnh vệ tinh, ảnh máy bay được chụp và các hệ thống bản đồ đo vẽ trong các thời gian khác nhau là cơ sở quan trọng trong công tác nghiên cứu Đặc trưng của GIS có khả năng lưu trữ và xử lý một tập hợp lớn lượng thông tin không gian và thuộc tính của nó, tập hợp thông tin từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau về nội dung, định dạng, lưới chiếu, tỷ lệ, khả năng chồng chập tạo nên một cơ sở dữ liệu thống nhất và sử dụng chúng dễ dàng
Phương pháp bản đồ được sử dụng trên cơ sở kết quả các nội dung nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tổng hợp của quy hoạch Với các kết quả đã được nghiên cứu, thông qua phương pháp bản đồ sẽ thể hiện 1 cách trực quan các nội dung nghiên cứu, các số liệu thể hiện trên biểu đồ, xác định đặc điểm và sự phân bố của các đối tượng theo lãnh thổ trên bản đồ
d Phương pháp phân tích mẫu trầm tích
Phân tích độ hạt: phương pháp này sử dụng bộ rây và pipet (đối với trầm tích bở rời) để tính hàm lượng % các cấp hạt (sạn, cát, bột, sét ) từ đó xây dựng các biểu đồ tích luỹ độ hạt, biểu đồ phân bố độ hạt, tính toán các tham số Md, So, Sk để xác định chế độ thuỷ động lực của môi trường
Trong luận văn, học viên sử dụng phương pháp nghiên cứu mẫu trầm tích để xác định hệ số Md, S0 qua đó đánh giá chất lượng cát của bãi tắm
e Phương pháp đánh giá tiềm năng du lịch
Phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch cụ thể là đánh giá chất lượng các bãi tắm Trong luận văn học viên sử dụng các tiêu chí đánh giá dựa theo các công trình công bố của các nhà khoa học về du lịch đã nghiên cứu Lựa chọn phương pháp phù hợp nhất để từ đó chấm điểm cho các tiêu chí, tổng hợp lại đánh giá khả năng phù hợp cho du lịch
Trang 20- Phía Bắc chắn bởi Đèo Ngang - một nhánh Hoành Sơn của dãy Trường Sơn, lấy là đường ranh giới của tỉnh Quảng Bình tiếp giáp với Hà Tĩnh
- Phía Nam lấy gianh giới khu vực sông Nhật Lệ, lấy ranh giới hành chính của thành phố Đồng Hới tiếp giáp với huyện Quảng Ninh
- Phía Tây là diện tích phần trung du, lấy đường cao địa hình 25 mét làm ranh giới
- Phía Đông lấy ra đường đẳng sâu 30m nước, bao gồm cả 5 hòn đảo là Hòn
La, hòn Nồm, hòn Gió, Hòn Cò và hòn Vũng Chùa
Về mặt tự nhiên, khu vực nghiên cứu từ Đèo Ngang đến cửa Nhật Lệ nằm trong đới kiến tạo Bắc Trường Sơn, phía tây là dãy Trường Sơn, phía đông là dải đồng bằng nhỏ hẹp và những dãy cồn cát chạy dọc bờ biển Vượt qua Đèo Ngang, tính chất lạnh có phần giảm sút, khu vực nghiên cứu nói riêng chịu ảnh hưởng của gió mùa á chí tuyến không có mùa đông lạnh và khô rõ rệt, với lượng nhiệt và ẩm dồi dào
Vị trí này đã quyết định đến sự thành tạo các yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực nghiên cứu trong việc phát triển KT
- XH nói chung và hoạt động du lịch nói riêng
Quảng Bình có thể phát triển đa dạng các loại hình giao thông vận tải, có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam, đường Hồ Chí Minh chạy ngang qua, ven biển có cảng Gianh, cảng Hòn La phát triển giao thông đường biển, xây dựng cảng hàng
Trang 22- Mưa:
Lượng mưa trung bình nhiều năm dao động từ 1.900 - 2.200 mm [3] Lượng mưa phân phối không đều cả về thời gian, không gian, tập trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa lũ, từ tháng 9 đến tháng 11 chỉ kéo dài 3 tháng nhưng lượng mưa đã chiếm tới 80% tổng lượng mưa cả năm Mưa lớn nhất trong năm xảy ra vào tháng 9, tháng 10 thường có các trận mưa cường độ lớn, kéo dài liên tục trong một số ngày
do bão, dải hội tụ, hoặc các nhiễu động thời tiết khác gây nên Sau mùa mưa lũ kể
từ tháng 12 lượng mưa giảm đi rất nhanh và kéo dài cho đến tháng 4 năm sau, thời
kỳ này các tháng có lượng mưa nhỏ dưới 100 mm, tháng 2, tháng 3 có lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất trong năm và thông thường chỉ đạt từ 30 - 50 mm mỗi tháng (Bảng 2.1) Tiếp đến tháng 5, tháng 6 là thời kỳ lượng mưa lại bắt đầu tăng đáng kể, đây là thời kỳ mưa phụ trong năm, gọi là mưa tiểu mãn, loại mưa này không phải năm nào cũng xảy ra nhưng theo thống kê nhiều năm thì số năm xảy ra chiếm tỷ lệ khá lớn, khoảng 60-70% [3] Số ngày mưa trung bình là 150 ngày/ năm
Bảng 2.1 Lượng mưa trung bình nhiều năm tại các trạm [3]
Đơn vị: mm
Ba Đồn 49,9 38,1 38,4 45,1 99,9 100,6 82,3 163,1 413,0 628,5 207,8 98,2 1964,9 Đồng Hới 62,8 43,7 43,4 50,9 111,6 86,2 83,2 150,7 436,9 625,0 336,0 127,7 2158,1
Trang 23- Chế độ nhiệt, nắng, bốc hơi, độ ẩm, gió
Chế độ nhiệt:
Toàn bộ khu vực nghiên cứu nằm trong vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu, một năm có hai lần mặt trời đi qua thiên đỉnh Độ dài của thời gian ban ngày giữa các mùa trong năm chênh lệch không nhiều do vậy lượng bức xạ mặt trời rất phong phú
và tương đối đều trong năm Tổng lượng bức xạ cao, trung bình đạt 120-140 kcal/cm2/ngày Tổng bức xạ trong mùa hè (từ tháng 4 - tháng 9) chiếm từ 64 - 69% tổng lượng bức xạ năm Lượng bức xạ dồi dào dẫn đến nhiệt độ ở vùng tương đối cao, tổng nhiệt độ trung bình năm đạt 8.5000C đến 8.7000C Nhiệt độ trung bình nhiều năm có xu hướng tăng dần từ Bắc xuống Nam, ở vùng đồng bằng ven biển thường cao hơn ở vùng đồi núi Tại Ba Đồn và Đồng Hới đều lớn hơn 240C (dao động từ 24,10C - 24,70C)
Bảng 2.2 Nhiệt độ trung bình nhiều năm tại các trạm đo [3]
Đơn vị: 0 C
Ba Đồn 18,7 19,3 21,7 24,7 28,0 29,6 29,6 28,8 27,1 24,7 22,0 19,4 24,5 Đồng Hới 19,2 19,4 21,7 24,8 28,0 29,8 29,8 29,1 27,0 24,8 22,6 19,9 24,7
Các tháng mùa hè (từ tháng 4 - tháng 10) có nhiệt độ trung bình cao hơn các tháng mùa đông, nhiệt độ đều đạt trên 240C đến gần 300C Tháng 7 là tháng có nhiệt
độ trung bình cao nhất và tháng 1 là tháng có nhiệt độ thấp nhất Sự biến đổi nhiệt
độ có mức độ khác nhau tại các vùng và các thời kỳ, nhất là ở các thời kỳ chuyển tiếp giữa các mùa, tăng nhanh vào tháng 3 - 4 và giảm nhanh vào tháng 10 - 11
Trang 2419
Chênh lệch nhiệt độ trung bình nhiều năm giữa tháng lớn nhất với tháng nhỏ nhất cũng khá lớn, biên độ dao động từ 100C - 12,50C Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối hàng năm thường xảy ra vào những tháng mùa nóng, nhất là khi có gió mùa Tây Nam kéo dài
Kết quả phân tích số liệu trên cho thấy, chế độ nhiệt ở khu vực nghiên cứu về
cơ bản tương đối thuận lợi cho sinh hoạt và du lịch Tuy nhiên, thi thoảng vẫn xảy
ra một số hiện tượng chế độ nhiệt quá cao hoặc quá thấp gây bất lợi cho đời sống
Nắng:
Đây là một yếu tố khí hậu có sự liên quan chặt chẽ với bức xạ mặt trời và bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sự chi phối của lượng mây Về mùa đông số giờ nắng trung bình mỗi tháng từ 60 giờ - 100 giờ, trong mùa hè trung bình mỗi tháng có từ 170 giờ - 250 giờ nắng, lớn hơn khoảng trên hai lần so với mùa đông Bình quân số giờ nắng trong năm đạt 1.700 - 1.800 giờ, nhiều hơn so với giờ nắng ở đồng bằng Bắc
Bộ và ít hơn so với vùng cực nam Trung Bộ Tháng có số giờ nắng ít nhất là tháng 2 tương ứng với thời kỳ có số ngày nhiều mây lớn nhất trong năm Trong ba tháng 5,
6, 7 có số giờ nắng đều lớn hơn 200 giờ trong tháng và cao nhất là tháng 7 Vào khoảng tháng 3, tháng 4 số giờ nắng tại các nơi trong vùng đều tăng nhanh, đây là thời kỳ chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hè Còn từ tháng 11-12 số giờ nắng giảm khá nhanh, tương ứng với thời kỳ chuyển tiếp từ mùa hè sang mùa đông
Bảng 2.3 Số giờ nắng bình quân nhiều năm tại các trạm đo [3]
Đơn vị: Giờ
Ba Đồn 99,4 67,3 106,5 164,1 239,3 214,5 241,1 192,4 156,6 147,8 95,5 88,8 1813,1 Đồng Hới 96,2 68,9 99,8 161,4 228,6 217,2 218,9 178,0 166,1 141,9 94,2 79,0 1750,2
Bốc hơi:
Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm ở các nơi trong vùng đều đạt từ 960
mm đến 1100 mm/năm Trong năm, những tháng mùa hè, nhất là những tháng đầu đến giữa mùa có lượng bốc hơi lớn hơn nhiều so với các tháng mùa đông Từ tháng
Trang 2520
5 đến tháng 8 đều có lượng bốc hơi đạt trên 100 mm mỗi tháng, tháng 7 là tháng có lượng bốc hơi lớn nhất trong năm tương ứng với nó là thời kỳ gió tây khô nóng hoạt động mạnh, nhiệt độ không khí cao và độ ẩm không khí cũng thấp nhất (bảng 2.4) Tháng 2 có trị số bốc hơi nhỏ nhất và cũng là tháng nhiệt độ không khí giảm thấp và
độ ẩm không khí tăng cao Các tháng mùa đông từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, trị số bốc hơi của mỗi tháng chỉ dao động trung bình khoảng từ 30 - 40
Hới 61,7 45,8 52,3 70,2 133,7 171,7 199,8 160,1 87,5 81,1 77,3 74,2 1215,4 Như vậy, xét về chế độ nhiệt và tổng lượng bức xạ trong năm, đặc biệt là các tháng mùa hè thì đây là nguồn tài nguyên dồi dào và khá thuận lợi để sử dụng phục
vụ phát triển du lịch
Độ ẩm :
Độ ẩm bình quân năm của vùng nghiên cứu từ (83-84)% Độ ẩm tối cao tuyệt đối lên đến 95% và tối thấp tuyệt đối là 63% Độ ẩm cao nhất trong năm xuất hiện vào tháng 1, tháng 2 và độ ẩm thấp nhất xảy ra vào tháng 6, tháng 7 (bảng 2.5)
Bảng 2.5 Độ ẩm trung bình tại các trạm đo [3]
Đơn vị: %
Ba Đồn 88 89 89 87 81 75 73 77 85 87 87 87 84 Đồng Hới 88 89 90 87 81 72 71 75 84 86 86 86 83
Gió: Vùng nghiên cứu có hình thể địa hình khá đặc biệt:
+ Bờ biển phía Đông từ Đèo Ngang đến xã Quảng Hưng (Quảng Trạch) nằm theo hướng Đông Bắc - Tây Nam đoạn còn lại nằm theo hướng Tây Bắc- Đông Nam
Trang 2621
- Do mang tính chất chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cho nên hàng năm
ở đây tồn tại hai mùa gió chính là gió mùa Đông và gió mùa Hè:
+ Gió mùa đông hướng gió thịnh hành trong vùng chủ yếu theo hướng Tây Bắc, trừ khu vực Ba Đồn thịnh hành hướng Tây do ảnh hưởng của dãy núi chắn gió
ở phía Bắc và thung lũng của hạ lưu sông Gianh, gió Tây Bắc đi dọc theo thung lũng đến đây đổi thành hướng Tây Ngoài hướng gió thịnh hành vừa nói trên, cũng còn có những hướng khác xuất hiện với tần suất tương đối lớn như hướng Đông Bắc
ở Ba Đồn, hướng Bắc ở Đồng Hới
+ Gió mùa hè thường bắt đầu từ tháng 5, do điều kiện địa hình ở mỗi nơi khác nhau cho nên chế độ gió cũng khác nhau
- Tốc độ gió trung bình năm ở hầu hết các nơi đều lớn hơn 2 m/s trở lên, tại
Ba Đồn là nơi có tốc độ gió trung bình năm nhỏ nhất và lớn nhất là tại Đồng Hới Tốc độ gió lớn nhất trung bình của tháng phổ biến đạt từ 10-15 m/s Trong khi đó tốc độ gió lớn nhất tức thời thường xảy ra trong các trận bão hoặc các cơn giông
Bảng 2.6 Tốc độ gió bình quân nhiều năm tại các trạm đo [3]
Trang 27Hình 2.1 Sơ đồ mạng lưới thủy văn khu vực nghiên cứu
Trang 2823
Trong khu vực có 5 hệ thống sông lớn đổ ra biển tại các cửa Ròon, cửa Gianh, cửa Lý Hòa và cửa Nhật Lệ, đồng thời đây cũng là 5 con sông lớn nhất trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
c Hải văn
Yếu tố hải văn đặc trưng của khu vực nghiên cứu là chế độ triều thuộc loại nhật triều không đều Hằng ngày xuất hiện 1 - 2 đỉnh triều, số ngày nhật triều chiếm
15 - 20 ngày, thời gian triều dâng lâu hơn khi triều rút, độ lớn con triều không đáng
kể, thời kỳ triều kém chỉ lên xuống khoáng 0,5 - 0,7 m
Hướng sóng thịnh hành là hướng Đông Bắc tập trung trong giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, sóng có độ cao trung bình từ 0,8 - 0,9m, lúc cực đại đạt 3,5m Từ tháng 4 đến tháng 8, hướng sóng thường xuyên là Đông Nam, độ cao sóng 0,6 - 0,7m, cực đại đạt 3,5m
Chế độ dòng chảy: dọc theo vùng biển ven bờ Bắc Trung Bộ luôn tồn tại
dòng chảy theo phương Tây Bắc - Đông Nam, là phần tiếp theo của hoàn lưu vịnh Bắc Bộ và có hướng chảy ổn định trong năm với tốc độ biến đổi 30 - 50 cm/s Hệ thống dòng chảy ổn định này thống trị trong vùng có độ sâu 30-50 m nước, tốc độ cực đại thường gặp ngoài khơi Hòn La (60 cm/s), tuy nhiên càng vào bờ tốc độ càng giảm, trong khu vực sát bờ, không có dòng chảy xoáy và dòng chảy đáy [13]
Độ muối trung bình dao động trong khoảng 30,6 - 31,4 0/00 [13], không có sự chênh lệch nhiều giữa các tầng mặt, tầng đáy và tầng giữa
Nhiệt độ vào mùa hè dao động trong khoảng 27 - 290C, biến đổi nhiệt độ giữa các mùa tương đối nhỏ và nhiệt độ có xu hướng tăng dần từ ngoài khơi vào bờ vào mùa hè và ngược lại vào mùa đông
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học đã chỉ ra rằng yếu tố hải văn có vai trò quan trọng trong hoạt động du lịch biển mà đặc biệt là tắm biển Cụ thể các yếu
tố đó là nhiệt độ, độ mặn, sóng và tốc độ dòng chảy Qua phân tích ở trên ta thấy, trong vùng nghiên cứu có sự tương đồng về cả 4 yếu tố kể trên
Trang 292.1.3 Đặc điểm địa chất
Cấu trúc địa chất trong khu vực từ lâu đã được các nhà khoa học nghiên cứu
và được xem là các thành tạo trầm tích có tuổi Đệ tứ (hiện đại), ngoài ra còn có tuổi Ordovic phân bố ở ven rìa phía tây nam (có tuổi cách đây khoảng 500 triệu năm), được chia thành các phân vị thạch địa tầng sau đây [9]:
- Hệ tầng Long Đại (O 3-S1lđ)
Hệ tầng Long Đại do A M Mareichev và Trần Đức Lương (trong Đovjikov
và nnk, 1965 xác lập hệ tầng Long Đại lộ ra ở phía đông, bao quanh khối granit - granodiorit Đồng Hới
- Hệ tầng Rào Chan (D 1re)
Hệ tầng do Trần Tính (1979) xác lập Trong vùng nghiên cứu hệ tầng lộ ra ở phía bắc - đông bắc khối núi đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng ở địa bàn thuộc Liên Sơn
và Thạch Lộc
Thành phần chủ yếu của hệ tầng là đá phiến sét bị ép mỏng, đá phiến sét vôi xen kẹp đá vôi sét, cát kết vôi và thấu kính đá vôi, đá phiến sét xen các lớp mỏng bột kết, cát kết có vảy sericit Bể dày hệ tầng đạt khoảng 1500m
Hệ tầng Rào Chan có quan hệ không rõ ràng với các trầm tích cổ hơn, và chuyển tiếp lên hệ tầng Bản Giàng
- Hệ tầng Bản Giang (D 1-D2ebg)
Trang 3025
Do Trần Tính (1979) xác lập Hệ tầng bao gồm chủ yếu là cát kết thạch anh màu xám, vàng, rắn chắc, cát kết dạng quarzit, có nơi xen các lớp bột kết, bột kết đá vôi, đá vôi và phiến sét màu đen Bề dày trung bình là 1000m
- Hệ tầng Đồng Trầu (T 2ađt1)
Hệ tầng bao gồm chủ yếu là bột kết, cát kết, sét kết, các lớp tuf ryolit, bề dày trung bình 1.000 - 1.200m ở phân hệ tầng trên; cuội kết cơ sở, cuội kết tuf, ryolit, đacit, cát kết, bột kết với bề dày trung bình 1.200 - 1.500 m ở phân hệ tầng dưới Trong khu vực nghiên cứu hệ tầng này phân bố chủ yếu ở khu vực phía bắc giáp ở đèo Ngang, tây Quảng Trạch và ở các đảo
- Hệ tầng Đồng Hới (N 1 3 - N2 1 đh)
Hệ tầng do N I Komarova và Phạm Văn Khải (1980) xác lập Các trầm tích của hệ tầng Đồng Hới chỉ lộ ra ở khu vực Đồng Hới, còn chủ yếu được phát hiện qua các lõi khoan ở các vùng Bắc Lý (Quảng Bình), Lệ Ninh và Ba Đồn
Hệ tầng Đồng Hới được chia làm 3 tập:
Tập 1: Nằm không chỉnh hợp trên các thành tạo đá cổ là cuội kết, sạn kết, đôi khi xen lớp bột - sét kaolin Thường bắt đầu bằng cuội kết, sạn kết, đôi khi xen lớp bột - sét kaolin Trên đó là các lớp cuội kết, sạn kết phân phiến, đá sericit, cát kết hạt vừa
Tập 2: Sét kết, cát kết chứa kaolin xen các lớp cuội kết có màu sắc loang lổ sặc sỡ vàng đỏ trắng Bề dày chung của tập là 50-120m Trong tập này có một phức
hệ bào tử phấn hoa
Tập 3: Sét, bột kết, cát kết xen cuội kết, sạn kết Tại vùng Lệ Ninh - Ba Đồn, theo tài liệu tập này xen kẽ của các lớp cát kết, bột kết, sét kết màu xám xanh, xám nâu, xám vàng dày 50-100 m, chứa mùn thực vật, mảnh than và mảnh vỡ động vật Thân mềm
Hệ tầng Đồng Hới được thành tạo trong điều kiện khí hậu cận nhiệt đới ẩm với các vật liệu lấp đầy các trũng trước núi Hệ tầng Đồng Hới phủ bất chỉnh hợp
Trang 3126
trên các trầm tích Devon và bị phủ không chỉnh hợp bởi các trầm tích có tuổi Pleistocen giữa muộn
Các trầm tích Pleistocen thượng (Q1 3b ): Các trầm tích thuộc Pleistocen
thượng phân bố rộng trong vùng nghiên cứu, phủ bất chỉnh hợp lên tất cả các trầm tích Q12-3 tạo nên một nhịp trầm tích aluvi - biển, trong đó trầm tích biển bị phong hóa loang lổ đặc trưng Tại rìa đồng bằng, nơi tiếp giáp với vùng đồi, chúng tạo thành các thềm mài mòn - tích tụ bậc II cao 10-15m Trầm tích đê cát ven bờ Pleistocen thượng bị trầm tích cát trắng Holocen giữa phủ lên
Các trầm tích Holocen hạ - trung (Q2 1-2 )
Trầm tích biển, sông - biển: các trầm tích này có diện tích phân bố rộng lớn
bao gồm đê cát trắng ven bờ và đồng bằng hẹp ở Quảng Trạch, Đồng Hới Trong các lỗ khoan từ 2 -15m
Trong các lớp bột - sét màu xám xanh thuộc tướng lagun còn thấy phong phú trùng lỗ và thân mềm biển nông
Mặt cắt trầm tích Holocen sớm ở vùng cát bao gồm hai phức hệ tướng cơ bản:
- Tập dưới: tướng đầm lầy than bùn đặc trưng giai đoạn đầu biển tiến
- Tập trên: tướng cát trắng thạch anh chon lọc mài tròn tốt bãi triều cổ và đê cát ven bờ tuổi Q22 đặc trưng cho giai đoạn biển tiến hiện đại
Các trầm tích Holocen thượng (Q2 3 ): Bao gồm các trầm tích tích tụ trên mặt
đồng bằng hiện nay với các kiểu nguồn gốc khác nhau:
Trầm tích bãi bồi, trầm tích sông - hồ, trầm tích biển - gió
Trầm tích cát lũ tích: Được thành tạo do các dòng lũ cát cuốn nhanh từ cồn cát vào đồng ruộng trong hai thời điểm mưa bão với cường độ rất lớn
Sự đa dạng của cấu trúc địa chất đã tạo nên những nét rất đặc trưng của địa hình và đây là nguồn tài nguyên địa hình tiềm năng cho phát triển du lịch
Trang 3227
Trang 3328
2.1.4 Đặc điểm địa hình - Địa mạo
Địa hình – địa mạo ảnh hưởng đến việc đi lại, cảm nhận thẩm mỹ của du khách Mỗi kiểu, dạng địa hình khác nhau có giá trị cho PTDL khác nhau Việc phân cấp các kiểu địa hình dựa trên cơ sở đặc trưng địa hình của từng nhóm, kiểu địa hình Thông thường, các kiểu địa hình đặc biệt là địa hình bờ biển, địa hình đảo, địa hình đồi cát có sức hấp dẫn cho du lịch Quy mô khai thác của điểm tham quan lớn hay nhỏ phụ thuộc nhiều vào độ hấp dẫn của nó, đồng thời khả năng tải của điểm tham quan cũng rất quan trọng bởi nếu điểm đến quá nhỏ sẽ tạo ra những hạn chế không nhỏ cho tổ chức khai thác
Là khu vực có chiều ngang hẹp nhất trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, địa hình Quảng Bình rất đa dạng và có sự phân hóa rõ rệt từ tây sang đông và từ bắc xuống nam Chỉ trên một chiều dài chừng 40 km từ đỉnh Cô Ta Run trên dãy Trường Sơn đến bãi biển Đồng Hới, độ cao đã giảm từ trên 2000 m đến 0 m và ta
có thể chứng kiến sự chuyển tiếp nhanh chóng của các kiểu địa hình khác nhau: núi đồi, đồng bằng và ven biển Tính đa dạng đó càng được tăng cường bởi sự xuất hiện của dãy Hoành Sơn đột ngột đâm ngang ra biển và khối đá vôi đồ sộ Kẻ Bàng (Hình 2.4)
Hình 2.2 Mô hình DEM tỉnh Quảng Bình
Trang 3429
Dải đồng bằng ven biển khu vực Đèo Ngang đến cửa Nhật Lệ có chiều ngang chỉ rộng từ 10 – 15 km, là khu vực có cấu trúc dạng tuyến theo phương tây bắc - đông nam, trừ dãy núi thấp Hoành Sơn cao 200 - 300m kéo dài theo phương á
vĩ tuyến, lấn sát ra tận bờ biển, hình thành một ranh giới tự nhiên khá điển hình Địa hình khu vực nghiên cứu khá đặc biệt vì xen kẹp giữa các yếu tố cảnh quan địa hình như các đồi núi ở khu vực phía bắc, khu vực đèo Lý Hòa, các đê cát và cồn cát ven
bờ
Đồng bằng Đồng Hới là điển hình của kiểu đồng bằng mài mòn - tích tụ, di tích của các bậc thềm biển mài mòn cao 20 – 30 m và 10 – 15 m còn thấy rõ ở rìa tây đồng bằng Khu vực nghiên cứu chủ yếu là các đê cát cao 20 – 60 m ở phía đông
và bề mặt đầm phá cổ cũng như hiện tại ở phía tây Các đụn cát phía nam Đồng Hới
có tuổi khá trẻ, hiện đang chịu tác động mạnh bởi gió và tốc độ lấn vào lục địa tương đối nhanh Đây là các thềm được cấu tạo bởi cát có màu xám vàng, cao từ 15 – 20 m đến 40 – 60 m, được thành tạo liên quan với thời kỳ biển tiến Pliestocen
Đặc điểm hình thái chung của khu vực nghiên cứu là hẹp và dốc nghiêng dần
từ tây sang đông, nhiều nơi còn tồn tại các dải trũng giáp chân sườn núi (trước là đầm phá cổ), phía đông của đồng bằng thường được giới hạn với biển bởi đê cát thiên nhiên cao từ 5 - 8 m đến chục mét, các cửa sông đều hẹp và thường bị thu lại đáng kể vào mùa khô bởi sự kéo dài của các doi cát biển
Hình 2.3 Mô hình DEM khu vực nghiên cứu
Trang 3530
Như vậy, với sự đa dạng, độc đáo về kiểu địa hình, địa mạo là điều kiện để phát triển kinh tế theo hướng kết hợp giữa đất liền và biển và tạo nên tiềm năng to lớn có ý nghĩa quan trọng cho phát triển du lịch trong phạm vi khu vực nghiên cứu Địa hình tự nhiên tạo ra các đê cát, cồn cát ven bờ, các cảnh quan thiên nhiên đẹp như Đá Nhảy, Vũng Chùa - Đảo Yến Các bậc thềm địa hình mà đặc biệt là các bãi cát dài, bằng phẳng ở khu vực ven biển như Quảng Đông, Đá Nhảy, Quang Phú, Nhật Lệ…chạy dọc theo bờ biển là những cảnh quan đẹp, có thể thu hút khách du lịch tìm kiếm sự thư giãn và phục vụ cho nghiên cứu khoa học Các hòn đảo ở ngoài khơi như Hòn La, Hòn Nồm, Hòn Yến là các địa điểm thuận lợi cho du lịch khám phá biển, đảo, du lịch sinh thái, nghỉ ngơi Tuy nhiên, chúng còn đang hoang sơ và
cơ sở vật chất nghèo nàn, cần cải thiện để thu hút khách du lịch
2.1.5 Lịch sử phát triển địa chất Đệ tứ đới bờ
Để hiểu rõ hơn về chất lượng bãi tắm cần phân tích sâu về địa tầng và cơ chế thành tạo các bãi cát để thấy rõ được tính độc đáo của các cồn cát nơi đây
Trong khu vực nghiên cứu, các cồn cát có địa hình đa dạng và tuổi địa chất khác nhau Trong đó phân chia thành các nhóm chính đó là:
- Địa hình bằng phẳng dạng cánh đồng cát trắng tuổi Holocen giữa: Khu vực
Ba Đồn, Quảng Lưu, Quảng Xuân huyện Quảng Trạch
- Địa hình cát đụn mấp mô gò đồi do gió tạo ra tuổi Holocen muộn: Phân bố hầu khắp ở khu vực ven biển Đồng Hới, ven biển Quảng Trạch và ven biển huyện
Bố Trạch
Các cồn cát và cánh đồng cát phân bố xen kẽ với các bàu (lagun và lạch biển sót) đặc biệt trong vùng nghiên cứu là khu vực Đồng Hới và các lagun, lạch biển cổ
đã bị lấp cạn [12] Đây là yếu tố tích cực có thể giúp khơi tạo các hồ nước ngọt trên
hệ cồn cát Mỗi hồ nước sẽ là trung tâm của một hệ sinh thái điều tiết vi khí hậu hợp thành một hệ sinh thái lớn
Cồn cát là các đụn cát được thành tạo do gió, phủ trên bề mặt của hệ thống
đê cát ven bờ và các thềm biển có tuổi cổ hơn
Trang 3631
Có thể chia quá trình thành tạo cát ven biển khu vực nghiên cứu ra các giai đoạn sau:
- Giai đoạn Pleistocen muộn, có 2 pha quan trọng:
+ Thành tạo cát thạch anh thuộc tướng đê cát ven bờ do pha biển tiến “ Vĩnh Phúc” cách ngày nay trên 70.000 năm phân bố ở đới ven biển, phủ trên các gờ nâng kiến tạo lộ ra chủ yếu ở ven biển phía nam khu vực nghiên cứu, thành tạo cát này rất dễ nhận biết vì có màu vàng nghệ, vàng rơm tương tự tầng cát vàng Đà Nẵng Cát có độ gắn kết yếu do quá trình phong hóa thấm đọng xảy ra trong giai đoạn biển thoái Pleistocen muộn phần muộn (Q13b) do ảnh hưởng của bang hà Wurm 2 Cát có
độ chọn lọc tốt (S0 <1.2), độ mài tròn tốt (R0 > 0.7), độ cầu cao (Sf > 0.6); kết quả của quá trình hoạt động của sóng mạnh được lặp đi lặp lại trong một thời gian lâu dài Đoạn bờ từ Ròn tới Đồng Hới cát vàng Pleistocen muộn bị phủ bởi cát trắng Holocen nguồn gốc biển và cát đụn do gió khá dày (10 – 20m) tuổi Holocen muộn màu xám vàng, vàng nhạt [12]
Các đê cát ven bờ tuổi Pleistocen muộn được hình thành sát biển, phủ trên một gờ nâng tương đối nhô cao khỏi mặt biển phía ngoài, cộng sinh với đới sụt dạng khối tảng hình thành nên một đới lagun ngập nước phía trong Đây là một hệ thống đê cát ven bờ - lagun tiêu biểu kết thúc chu kỳ thứ ba trong Đệ Tứ, tiền thân cho một chu kỳ tạo cát Flandrian tiếp theo
+ Giai đoạn tạo cát trắng Holocen giữa (Q22): Cát trắng trong khu vực nghiên cứu được phân bố ở ven biển Quảng Trạch, Bố Trạch Bãi cát trắng Ba Đồn rộng 5 – 7 km, dài trên 15 km chạy từ xã Quảng Long đến xã Quảng Lưu có thể coi là một thành tạo cát điển hình của khu vực: Có màu trắng, độ chọn lọc tốt nhất trong các loại cát tại Việt Nam (S0 = 1 – 1.1), hàm lượng thạch anh từ 98 – 100%, độ mài tròn tốt (R0 = 0.8 – 1.0) tầng cát trắng phủ lên một lớp than bùn dày dưới 3 m thuộc tướng đầm lầy ven biển cổ, phân bố thành từng vỉa không liên tục Chính môi trường đầm lầy tạo than bùn có khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều là đặc trưng cho chế độ khử đã tẩy trắng các hạt vụn thạch anh vốn được sóng biển mài trong, chọn lọc lý tưởng Cát trắng cũng như các thể cát trắng ở các khu vực nổi tiếng khác trên cả
Trang 37 Nguồn gốc do sông mang ra biển
Động lực của biển (sóng, dòng chảy và thủy triều) làm nhiệm vụ tái vận chuyển và phân bố trên các vị trí đường bờ cổ khác nhau trên đáy biển trong các pha biển thoái và biển tiến Đối với cát trắng là liên quan đến pha biển lùi Pleistocen muộn (W2) và pha biển tiến Flandrian (Pleistocen muộn – Holocen giữa)
Quá trình vận động của cát từ biển vào đất liền là theo phương thức dồn đẩy, do sóng – dòng ngang và dòng chảy dọc bờ từ Bắc xuống Nam
Biển tiến Holocen cực đại đã tạo nên các đê cát trắng chạy dọc ven bờ cao
từ 4 – 6m và các lagun cộng sinh bên trong như đê cát Bảo Ninh Đồng Hới, đê cát trắng bắc sông Nhật Lệ với Bàu Tró…
Hình 2.4 Mặt cắt trầm tích Đệ tứ qua cồn cát phía Nam Nhật Lệ [12]
Trong đó: a, am Q 1 2-3 trầm tích sông; sông biển tuổi Pleistocen giữa muộn; mQ1 2-3 trầm tích biển tuổi Pleistocen giữa muộn; am, mQ1 3a trầm tích sông biển, biển tuổi Pleistocen muộn, phần sớm; mvQ1 2-3 trầm tích biển gió tuổi Pleistocen
Trang 3833
giữa muộn; aQ1 3b trầm tích sông tuổi Pleistocen muộn phần muộn; mQ1 3b trầm tích biển tuổi Pleistocen muộn phần muộn bị phong hóa loang lổ, mQ2 1-2 trầm tích biển tuổi Holocen sớm giữa, amQ2 3 trầm tích sông biển tuổi Holocen muộn, mQ2 3 trầm tích sông biển tuổi Holocen muộn, mvQ2 3 trầm tích biển gió tuổi Holocen muộn
Giai đoạn biển lùi Holocen giữa muộn và quá trình cải biến địa hình cát do biển và gió đã tạo nên các kiểu địa hình sau:
+ Địa hình cồn cát biển gió (mvQ22-3): các đê cát ven bờ cao 4 – 6 m được tái tạo tôn cao do gió tạo ra cồn cát dạng gò đồi, dạng hình móng ngựa
+ Địa hình thềm cát có ba bậc: Bậc 4.5 - 6 m, bậc 2.5 – 3 m, và bậc 1 – 1.5 m
so với mực nước biển hiện đại Đây là 3 bậc địa hình đánh dấu 3 lần mực nước biển dừng tương đối lâu, sóng biển đã san bằng trầm tích cát trước đó tạo nên một bề mặt thềm mài mòn – tích tụ
2.2 ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG ĐỚI VEN BIỂN
2.2.1 Tài nguyên và môi trường nước
Đối với du lịch, yếu tố tài nguyên nước là một nhân tố môi trường có vai trò hết sức quan trọng Tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm Nước được sử dụng tùy theo mục đích và nhu cầu của cá nhân cho tắm, sinh hoạt Nhìn chung, giới hạn nhiệt độ nước trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là
180C, đối với trẻ em là trên 200C
Tài nguyên nước trong khu vực ven biển từ Đèo Ngang tới cửa Nhật Lệ khá phong phú và dồi dào, cụ thể:
a Nước mặt
Trên địa bàn khu vực nghiên cứu có 2 con sông lớn là sông Gianh và sông Nhật Lệ với nhiều hồ, bàu và các nhánh sông nhỏ nên tài nguyên nước ở khu vực khá phong phú và dồi dào
- Đặc trưng dòng chảy
Trang 3934
Cũng như lượng mưa, dòng chảy năm trong vùng nghiên cứu có sự biến đổi lớn về không gian và thời gian Dòng chảy trung bình nhiều năm tại trạm thuỷ văn Đồng Tâm (Flv= 1.150 km2) trên thượng nguồn sông Gianh là 62,3 m3/s, mô số dòng chảy khoảng 54,1 l/s/km2, tại trạm thuỷ văn Tân Lâm (Flv= 494 km2) trên sông Rào Trổ là 37,1 m3/s, mô số dòng chảy tương ứng là 75 l/s/km2 Dòng chảy năm trên lưu vực sông Nhật Lệ rất phong phú Lưu lượng bình quân năm tại cửa sông Nhật Lệ đạt 132,5 m3/s, dòng chảy mùa kiệt đạt 27,9 m3/s [13]
Tỷ số chênh lệch giữa lưu lượng bình quân năm lớn nhất với lưu lượng nhỏ nhất trên các sông dao động khoảng 2,5 - 3 lần, với lưu lượng bình quân nhiều năm
là 1,6 - 1,7 lần và tỷ số giữa lưu lượng bình quân nhỏ nhất với lưu lượng trung bình nhiều năm chỉ vào khoảng 0,5 - 0,6 lần
Lượng dòng chảy năm của các lưu vực trong vùng nghiên cứu khá dồi dào nhưng phân phối lại không đều cho các tháng trong năm, lượng dòng chảy trong 4 tháng mùa lũ (từ tháng 9 đến 12) chiếm tới 65-70 % tổng lượng dòng chảy cả năm Nhìn chung, biến trình dòng chảy trên các sông suối có thể được mô tả như sau: Dòng chảy bắt đầu tăng nhanh từ tháng 7, tháng 8 trở đi và đạt trị số lớn nhất vào khoảng tháng 9 - 11, sau tháng 12 dòng chảy giảm dần cho đến tận tháng 4 Vào tháng 5 - 6 thì lượng dòng chảy tăng lên, thời kỳ này thường có lũ tiểu mãn Phân tích tài liệu đo, dòng chảy năm trung bình được phân phối tại các trạm thuỷ văn như sau:
Bảng 2.8 Phân phối dòng chảy trung bình nhiều năm tại các trạm thuỷ văn [3]
Trái với nguồn nước mặt, nước ngầm trong cồn cát có trữ lượng khá lớn và
ổn định Nước phân bố ở hầu hết các khu vực nghiên cứu ngoại trừ vùng phía Bắc
Trang 4035
(Đèo Ngang) Mực nước ngầm ở chân các cồn cát và bãi cát khá nông, chỉ khoảng
30 - 50cm Các giếng đào có nhiều nước, quanh năm không cạn, nước có chất lượng tốt, được sử dụng trực tiếp cho sinh hoạt và sản xuất, đây cũng là nguồn nước ngọt đảm bảo phục vụ cho khách du lịch đến tắm biển và nghỉ dưỡng
Trong khu vực nghiên cứu có một số nguồn nước nóng như Trooc, với đặc điểm là nhiệt độ biến đổi từ 43 - 1000C, độ pH dao động từ 6,5 - 8,7, nước thuộc loại trung tính đến bazo Độ tổng khoáng hóa dao động với biên độ rất lớn, từ 0,695 đến 14,269 g/l Nước thuộc loại từ nhạt đến rất mặn Nước ở đây rất có giá trị sử dụng, được dùng vào nhiều mục đích khác nhau: tắm, ngâm chữa bệnh, đóng chai, phục vụ nông nghiệp, phục vụ du lịch
Theo kết quả điều tra và nghiên cứu, vùng nghiên cứu có thể cung cấp nước ước tính là 145.615 m3/ngày [13]
Vùng nghiên cứu có phức hệ trầm tích dày, các thành tạo trước đệ Tứ nước dưới đất hầu hết tồn tại ở dạng khe nứt phong hoá, kiến tạo Kastơ, các thành tạo đệ
Tứ nước dưới đất chứa trong lỗ hổng của đất đá trầm tích bở rời Các nguồn nước xuất lộ tương đối đồng đều, chủ yếu từ khe nứt của đá chảy ra dưới dạng thấm rỉ hoặc thành dòng đi xuống Nhìn chung vị trí xuất lộ thường nằm cao hơn dòng chảy mặt
2.2.2 Tài nguyên và môi trường đất
Đới ven biển từ Đèo Ngang đến cửa Nhật Lệ có kiến tạo Địa chất phức tạp nên hình thành nhiều loại đất khác nhau Nhưng chiếm phần lớn là đất cát, đất phù
sa và một diện tích nhỏ hệ đất feralit phân bố ở vùng đồi núi (Hình 2.7), trong đó nhóm đất cát có diện tích lớn nhất bao gồm các đụn cát ở dọc bờ biển từ Quảng Trạch tới Đồng Hới và đất cát biển phân bố chủ yếu ở Quảng Trạch
Nhóm đất mặn phân bố phần lớn ở khu vực các cửa sông Diện tích đất mặn
có chiều hướng tăng do nước biển lấn sâu vào đất liền dưới tác động của bão, triều cường hoặc do biến đổi khí hậu