1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội

108 759 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 863,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kho bạc Nhà nước Kho bạc Nhà nước; Thực hiện việc thanh toán, chi trả các khoản NSNN căn cứ vào dự toán được giao, quyết định chi của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước và tín

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

HOÀNG THỊ THU HÀ

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC HUYỆN GIA LÂM,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HOÀNG THỊ THU HÀ

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC HUYỆN GIA LÂM,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực

và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 9 năm 2014

Tác giả

Hoàng Thị Thu Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, góp ý của nhiều tập thể và cá nhân trong và ngoài Học viện

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, các thầy cô giáo trong trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam), đã trực tiếp giảng dạy, chỉ dẫn cho tôi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Phạm Văn Hùng, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi về kiến thức cũng như phương pháp nghiên cứu, chỉnh sửa trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Kho bạc Nhà nước Gia Lâm

đã tạo điều kiện và cho phép tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Xin cảm ơn các anh chị em đồng nghiệp tại Kho bạc nhà nước Gia Lâm

đã động viên, chia sẻ và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Tôi xin cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo các đơn vị trong huyện Gia Lâm đã nhiệt tình cung cấp số liệu và những thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng nhưng không thể thiếu, Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, gia đình, người thân đã động viên, chia sẻ, hỗ trợ và khuyến khích tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nhưng luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy, cô giáo và tất cả bạn bè, đồng nghiệp, những người quan tâm nghiên cứu trong lĩnh vực này

Hà Nội, tháng 9 năm 2014

Tác giả

Hoàng Thị Thu Hà

Trang 5

2.1.3 Vai trò và đặc điểm của quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước 11

2.1.5 Chức năng, nhiệm vụ quản lý của Kho bạc Nhà nước về chi NSNN 14

2.2.1 Quản lý chi thường xuyên NSNN tại một số nước trên thế giới 24

Trang 6

2.2.2 Quản lý chi thường xuyên thường xuyên NSNN tại một số địa phương 26 2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn quản lý chi thường xuyên

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

4.1 Tổng quan quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà nước Hà

4.2 Thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà nước

4.2.1 Phân công nhiệm vụ quản lý chi thường xuyên NSNN ở Kho bạc Nhà

4.2.2 Tình hình thu – chi thường xuyên NSNN trên địa bàn Gia Lâm 51 4.2.3 Thực trạng quản lý về chi thường xuyên NSNN trên địa bàn Gia Lâm 53

4.2.7 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong quá trình kiểm soát chi thường

4.2.8 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho

Trang 7

4.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Số đơn vị giao dịch và số tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước Gia Lâm 52 Bảng 4.2 Số liệu thu, chi NSNN tại KBNN Gia Lâm Nội 2011- 2013 53

Bảng 4.4 Tình hình chi ngân sách tại Kho bạc Nhà nước Gia Lâm 57 Bảng 4.5 Tình hình kiểm soát, thanh toán chi thường xuyên Ngân sách nhà

Bảng 4.6 Kiểm soát chi thường xuyên NSNN của các đơn vị tham gia giao

Bảng 4.8 Tình hình từ chối thanh toán chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc

Bảng 4.9 Lý do từ chối không thanh toán chi thường xuyên ngân sách nhà

Bảng 4.10 Lý do từ chối không thanh toán chi thường xuyên ngân sách nhà

Bảng 4.11 Ý kiến của các đơn vị sử dụng NSNN về chi thường xuyên 66

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

Sơ đồ 2.1 Các cơ quan,đơn vị quản lý chi NSNN thuộc ngành tài chính 13

Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Kho bạc Nhà nước Gia Lâm 40

Sơ đồ 4.1 Kiểm soát chứng từ giao dịch tại Phòng (Tổ) kế toán 51

Sơ đồ 4.2 Quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà nước 54

Trang 10

DANH CÁC CHỮ VIÊT TẮT

Trang 11

PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống Kho bạc Nhà nước được thành lập ngày 01 tháng 04 năm

1990 và nhanh chóng trở thành công cụ sắc bén trong quản lý mọi hoạt động thu, chi Ngân sách Nhà nước, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Luật Ngân sách Nhà nước (2002) ra đời, từng bước được sửa đổi, hoàn thiện đã tạo ra sự chuyển biến về công tác quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước; Theo đó, kiểm soát chi được thể chế hoá và trở thành một công cụ không thể thiếu của hệ thống Kho bạc Nhà nước Trong thời gian qua, tại Kho bạc Nhà nước Gia Lâm, chi Ngân sách Nhà nước (NSNN) đã đảm bảo được các nhu cầu kinh phí cần thiết cho các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước trong mỗi thời kỳ Vấn đề quản lý các khoản chi Ngân sách Nhà nước có ý nghĩa hết sức to lớn về mặt kinh tế - xã hội, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu và hoàn thiện một cách hữu hiệu nhất

Cơ chế quản lý, cấp phát thanh toán chi NSNN tuy đã được thường xuyên sửa đổi và từng bước hoàn thiện, nhưng cũng chỉ có thể quy định được những vấn đề chung nhất, mang tính nguyên tắc Vì vậy, nó không thể bao quát hết được tất cả những hiện tượng nảy sinh trong quá trình thực hiện chi NSNN Cũng chính từ đó, cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước thiếu cơ

sở pháp lý cụ thể cần thiết để thực hiện kiểm tra, kiểm soát từng khoản chi NSNN Như vậy, cấp phát chi NSNN đối với cơ quan tài chính chỉ mang tính chất phân bổ NSNN, còn đối với Kho bạc Nhà nước thực chất chỉ là xuất quỹ NSNN, chưa thực hiện được việc chi trả trực tiếp đến từng đơn vị sử dụng kinh phí, chưa phát huy hết vai trò kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN Mặt khác, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) của đất nước, chi NSNN cũng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Điều này cũng làm cho cơ

Trang 12

chế quản lý chi thường xuyên NSNN nhiều khi không theo kịp với sự biến động và phát triển của hoạt động chi NSNN Trong đó, một số nhân tố quan trọng như hệ thống tiêu chuẩn định mức chi tiêu còn chưa phù hợp với thực

tế, thiếu đồng bộ, thiếu căn cứ để thẩm định; chưa có một cơ chế quản lý chi thường xuyên phù hợp và chặt chẽ đối với một số lĩnh vực

Các khoản chi của NSNN đều mang tính chất không hoàn trả trực tiếp Tính chất cấp phát trực tiếp không hoàn lại của các khoản chi NSNN là một

ưu thế cực kỳ to lớn đối với các đơn vị sử dụng NSNN Trách nhiệm của họ là phải chứng minh được việc sử dụng các khoản kinh phí bằng các kết quả công việc cụ thể đã được Nhà nước giao Tuy nhiên, việc dùng những chỉ tiêu định tính và định lượng để đánh giá và đo lường kết quả công việc trong nhiều trường hợp là thiếu chính xác và gặp không ít khó khăn Từ thực tế trên, đòi hỏi những cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình chi tiêu để phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu cực của những đơn vị sử dụng kinh phí NSNN; đồng thời phát hiện những kẽ hở trong

cơ chế quản lý để từ đó có những giải pháp và kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung kịp thời những cơ chế, chính sách hiện hành, tạo nên một cơ chế quản lý chi thường xuyên chặt chẽ

Trong những năm qua đã có một số đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này, song mới nghiên cứu tổng thể, vai trò, trách nhiệm của cơ quan kiểm soát thanh toán, chưa đưa ra được những vấn đề bất cập đến những cơ chế, chính sách, các chế độ và quy trình nghiệp vụ có liên quan đến quản lý chi thường xuyên NSNN Mặt khác lý luận về quản lý chi thường xuyên NSNN và trách nhiệm của cơ quan kiểm soát, thanh toán NSNN trong nền kinh tế thị trường chưa được nghiên cứu đầy đủ dưới giác độ quản lý kinh tế

Trong giai đoạn từ năm 2008 đến nay đã có nhiều thay đổi về quy trình, chế độ, nghiệp vụ mới theo chương trình TABMIS ứng dụng cho toàn bộ đơn

vị sử dụng ngân sách và các đơn vị kiểm soát chi (tài chính và Kho bạc Nhà

Trang 13

nước) Theo đó TABMIS là một hệ thống thông tin xử lý tập trung thực hiện các chức năng: Quản lý hệ thống tài khoản, mục lục ngân sách; quản lý thu ngân sách; quản lý chi ngân sách; Cam kết chi ngân sách; quản lý ngân quỹ Ngoài các chức năng đó, TABMIS có khả năng xử lý các nghiệp vụ cuối năm

và lập báo cáo Một số giao diện với bên ngoài cũng được xây dựng, sẵn sàng

để thu nhận thông tin Vì vậy hệ thống quy trình nghiệp vụ quản lý ngân sách, Kho bạc và chế độ kế toán Nhà nước áp dụng cho TABMIS đã được rà soát hoàn thiện, kế toán, lập báo cáo tài chính và quyết toán ngân sách, trong đó có nhiều nội dung cải cách nhưng vẫn đảm bảo những nguyên tắc cơ bản đặt ra

là phù hợp với yêu cầu quản lý của Việt Nam, hướng tới thông lệ và chuẩn mực quốc tế Gần đây có một số thông tư mới được thay thế và sửa đổi những chế độ, chính sách về quản lý tài chính, kế toán được bổ sung

Xuất phát từ những lý do trên tôi lựa chọn đề tài: “Tăng cường

quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà nước Gia Lâm Từ đó đề xuất các giải pháp quản lý chi thường xuyên của Kho bạc Nhà nước Gia Lâm trong thời gian tới

Trang 14

- Đề xuất và hoàn thiện giải pháp quản lý chi thường xuyên NSNN tại Gia Lâm

Trang 15

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn nào có thể làm rõ quản lý chi thường xuyên NSNN qua hệ thống Kho bạc Nhà nước?

Thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà nước Gia Lâm như thế nào? Đã đạt được những gì? còn tồn tại, hạn chế gì? nguyên nhân gì ?

Cần có giải pháp nào để nâng cao hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà nước Gia Lâm

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý và hoạt động chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Gia Lâm, các cơ chế, chính sách, chế độ, quy trình nghiệp vụ liên quan quản lý chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Gia Lâm, với mục tiêu là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoàn thiện

cơ chế và vai trò quản lý của về chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà

nước Gia lâm

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi không gian: nghiên cứu trong hệ thống Kho bạc Nhà nước Gia Lâm

+ Phạm vi về nội dung: Phạm vi nghiên cứu tập trung vào những vấn

đề cơ chế, quy trình kiểm soát chi NSNN về chi thường xuyên

+ Phạm vi về thời gian: Tài liệu tổng quan được thu thập từ những tài liệu đã công bố từ năm 2004 đến năm 2013 Số liệu phân tích thực trạng được

sử dụng chủ yếu trong 3 năm từ năm 2011 đến 2013

Trang 16

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời,

tồn tại và phát triển trên cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá

XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 đã xác định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước NSNN là một hệ thống thống nhất, bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (gọi chung là ngân sách địa phương) NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm (Quốc hội, 2002)

Theo Luật, NSNN có vị trí và vai trò cơ bản sau:

- Với chức năng phân phối, NSNN có vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện cân đối thu, chi tài chính của Nhà nước Đó là vai trò truyền thống của NSNN trong mọi

mô hình kinh tế, nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình

- NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô Nhà nước sử dụng NSNN như là công cụ tài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả thị trường, cũng như giải quyết những nguy cơ tiềm ẩn bất ổn định về k i n h

t ế - x ã h ộ i -XH Muốn thực hiện tốt vai trò này NSNN phải có quy mô đủ lớn để Nhà nước thực hiện các chính sách tài khoá phù hợp (nới lỏng hay thắt chặt) kích thích sản xuất, kích cầu để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,

ổn định xã hội

Trang 17

- NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết của kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững Trong nền kinh tế thị trường thì mặt trái của nó là phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định xã hội Vì vậy, Nhà nước sử dụng NSNN thông qua công cụ là chính sách thuế khoá và chi tiêu công để phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân

cư và cung cấp hàng hoá dịch vụ công cho xã hội,

Quỹ NSNN là toàn bộ các khoản tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay, có trên

tài khoản của NSNN các cấp; quỹ NSNN được quản lý tại Kho bạc Nhà nước Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho chi phí bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế -xã hội của Nhà nước

Chi ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã

hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

Vốn Nhà nước: Tại khoản 1 điều 4 Luật Đấu thầu quy định vốn Nhà

nước bao gồm vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước và vốn đầu tư khác của Nhà nước

Chi thường xuyên ngân sách Nhà nước: Là các khoản chi cho hoạt

động sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do các cơ quan Nhà nước quản lý; quốc phòng an ninh

và trật tự an toàn xã hội; hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội; trợ giá theo chính sách của Nhà nước; phần chi thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước; hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã

Trang 18

hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của phát luật

Chi khác

NSNN còn các khoản chi; chi trả nợ và lãi các khoản tiền do chính phủ vay; chi viện trợ; chi vay theo quy định của pháp luật; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính Nhà nước; chi bổ sung ngân sách cấp trên cho cấp dưới; chi trả các khoản huy động đầu tư kết cấu hạ tầng theo quy định; chi chuyển nguồn ngân sách từ năm trước sang năm sau

Kho bạc Nhà nước

Kho bạc Nhà nước; Thực hiện việc thanh toán, chi trả các khoản NSNN căn cứ vào dự toán được giao, quyết định chi của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước và tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết khác theo quy định của Chính phủ; có quyền từ chối các khoản chi ngân sách không đủ điều kiện chi theo quy định hoặc tạm dừng thanh toán theo yêu cầu của cơ quan tài chính; Thủ trưởng cơ quan Kho bạc Nhà nước chịu trách nhiệm về các quyết định thanh toán, chi ngân sách hoặc từ chối thanh toán chi ngân sách…

Quản lý chi NSNN

Quản lý chi NSNN là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nước Thực chất quản lý chi NSNN là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập

kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách nhằm đảm bảo quá trình chi tiêu tiết kiệm, hiệu quả

Quản lý chi NSNN là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật Chi ngân sách Nhà nước mới thể hiện

ở khâu phân bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì

Trang 19

phải thông qua các biện pháp quản lý; như vậy, quản lý chi ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách

Đối tượng quản lý chi NSNN là toàn bộ các khoản chi ngân sách nhà nước được bố trí để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn nhất định

Cơ sở của quản lý chi là sự vận dụng các quy luật kinh tế - xã hội phù hợp với thực tiễn khách quan

Mục tiêu của việc quản lý chi NSNN là với một số tiền nhất định đem lại một kết quả tốt nhất về kinh tế- xã hội; đồng thời giải quyết hài hoà mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể khác trong xã hội

Kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc

Kiểm soát chi ngân sách Nhà nước qua Kho bạc là việc Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khỏan chi NSNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do Nhà nước quy định theo những ngyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong quá trình cấp phát thanh toán và chi trả các khoản chi của NSNN

2.1.2 Phân loại chi ngân sách Nhà nước

Phân loại chi NSNN: tuỳ thuộc vào vai trò của Nhà nước trong quản

lý chính trị, kinh tế, xã hội ở mỗi thời kỳ mà chi NSNN có những nội dung

và cơ cấu khác nhau Do tính chất của các khoản chi nên việc phân loại nội dung chi NSNN để giúp cho công tác quản lý cũng như định hướng chi NSNN là rất cần thiết Phân loại các khoản chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN theo những tiêu thức, tiêu chí nhất định vào các nhóm, các loại chi Cụ thể như:

Theo mục đích kinh tế - xã hội của các khoản chi: chi NSNN đ ược chia thành chi tiêu dùng và chi đầu tư phát triển

Trang 20

Theo tính chất các khoản chi: chi NSNN được chia thành chi cho y tế; chi giáo dục; chi phúc lợi; chi quản lý nhà nước; chi đầu tư kinh tế

Theo chức năng của Nhà nước: chi NSNN được chia thành chi nghiệp

Chi đầu tư phát triển từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước là việc sử

dụng nguồn vốn được hình thành từ Ngân sách Nhà nước cho hoạt động đầu

tư Đây là một bộ phận trong tổng nguồn vốn đâu tư phát triển của toàn xã hội Chi đầu tư phát triển bao gồm chi về đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội không có khả năng thu hồi vốn; đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết

có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật; chi bổ sung dự trữ nhà nước; chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự

án nhà nước; các khoản chi đầu tư phát triển theo quy định của pháp luật

Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối và sử dụng vốn quỹ

NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội Chi thường xuyên được đảm bảo bằng các khảon thu thường xuyên như thuế, phí và lệ phí

- Chi khác NSNN gồm chi trả nợ gốc và lãi các khoản vay do Chính phủ vay; chi viện trợ của Ngân sách trung ương cho các Chính phủ và tổ chức nước ngoài; chi cho vay của Ngân sách trung ương; chi trả gốc và lãi các khoản huy động để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng theo quy định của Luật NSNN

Trang 21

2.1.3 Vai trò và đặc điểm của quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước

2.1.3.1 Vai trò của quản lý chi ngân sách Nhà nước

Quản lý chi NSNN có vai trò cơ bản sau:

- Thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi NSNN nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả Thông qua quản lý các khoản cấp phát của chi NSNN sẽ có tác động đến đời sống KT- XH, giữ vững ổn định, giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội như: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, thực hiện công bằng xã hội góp phần khắc phục những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường

- Quản lý chi ngân sách góp phần điều tiết thu nhập dân cư, thực hiện công bằng xã hội Trong tình hình phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng, chính sách chi NSNN và quản lý chi NSNN sẽ giảm bớt khoảng cách phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, các khu vực, các tầng lớp dân cư, góp phần khắc phục những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường

- Quản lý chi NSNN có vai trò điều tiết giá cả, chống suy thoái

và chống lạm phát Khi nền kinh tế lạm phát và suy thoái, Nhà nước phải

sử dụng công cụ chi ngân sách để khắc phục tình trạng này Để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng, Nhà nước sử dụng công cụ chi ngân sách để điều tiết, can thiệp vào thị trường dưới hình thức cắt giảm chi tiêu, cắt giảm đầu tư hoặc tăng đầu tư, tăng chi tiêu cho bộ máy quản lý nhà nước, cũng như hỗ trợ vốn, trợ giá và sử dụng quỹ dự trữ tài chính của Nhà nước

- Duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế, Nhà nước sử dụng công

cụ chi ngân sách, thông qua quản lý các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, Nhà nước sẽ điều chỉnh phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng chi nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

Trang 22

2.1.3.2 Đặc điểm quản lý chi ngân sách Nhà nước

Đặc điểm quản lý chi NSNN

Theo quy định tại điều 52 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP Trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân trong việc quản lý chi NSNN như sau:

- Cơ quan tài chính: Thẩm tra việc phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng; Bố trí nguồn để đáp ứng các nhu cầu chi, trường hợp các đơn

vị sử dụng ngân sách chi vượt quá khả năng thu và huy động của quỹ ngân sách thì cơ quan tài chính phải chủ động thực hiện các biện pháp vay tạm thời theo quy định để bảo đảm nguồn; Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu và

sử dụng ngân sách ở các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách…

- Kho bạc Nhà nước: Thực hiện việc thanh toán, chi trả các khoản chi NSNN căn cứ vào dự toán được giao, quyết định chi của thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN và tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết khác theo quy định của Chính phủ; Có quyền từ chối các khoản chi ngân sách không đủ điều kiện chi theo quy định hoặc tạm dừng thanh toán theo yêu cầu của cơ quan tài chính; Thủ trưởng cơ quan Kho bạc Nhà nước chịu trách nhiệm về các quyết định thanh toán, chi ngân sách hoặc từ chối thanh toán chi ngân sách…

- Đơn vị sử dụng ngân sách: Quyết định chi đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao; Quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản Nhà nước theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức; đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả Trường hợp vi phạm, tuỳ theo tính chất

và mức độ, sẽ bị sử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Người phụ trách công tác tài chính, kế toán tại các đơn vị sử dụng ngân sách có nhiệm vụ thực hiện đúng chế độ quản lý tài chính - ngân sách, chế độ kế toán nhà nước, chế độ kiểm tra nội bộ và có trách nhiệm ngăn ngừa, phát hiện và kiến nghị thủ trưởng đơn vị,

cơ quan tài chính cùng cấp xử lý đối với những trường hợp vi phạm

Trang 23

Sơ đồ 2.1 Các cơ quan,đơn vị quản lý chi NSNN thuộc ngành tài chính

2.1.4 Nguyên tắc chi ngân sách Nhà nước

- Tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi (Bộ Tài chính, 2003)

- Tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án sử dụng kinh phí NSNN (sau đây gọi chung là đơn vị sử dụng NSNN) phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước trong quá trình lập dự toán, giao dự toán, hạch toán kế toán và quyết toán NSNN

Sở tài chính các

Các vụ chức năng chuyên ngành quản lý tài chính thuộc Bộ Tài chính

Trang 24

- Bộ Tài chính, Sở Tài chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng tài chính quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, (sau đây gọi chung là cơ quan tài chính) có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo dự toán cho các đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách; kiểm tra việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi NSNN

2.1.5 Chức năng, nhiệm vụ quản lý của Kho bạc Nhà nước về chi NSNN

Hệ thống Kho bạc Nhà nước được thành lập và đi vào hoạt động từ 01/04/1990 theo Quyết định số 07/HĐBT ngày 04/01/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) Qua quá trình hoạt động và phát triển, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã có những bước tiến nhanh và vững chắc cả về quy mô và chất lượng, luôn khẳng định được vị trí, vai trò trong hệ thống Tài chính quốc gia Để phù hợp tiến trình phát triển của nền kinh tế trong từng giai đoạn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/CP ngày 05/04/1995; Nghị định 145/1999/NĐ-CP ngày 20/09/1999; Quyết định số 235/2003/QĐ- TTG ngày 13/11/2003 và nay là Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính

Theo Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ thì: “Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài Chính quản lý nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao quản lý; quản lý ngân quỹ; tổng kế toán nhà nước; thực hiện huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật”.(Chính phủ, 2009)

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Kho bạc Nhà nước trong kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN:

Trang 25

+ Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN, bảo đảm các khoản chi

có đủ các điều kiện như: đã có trong dự toán chi NSNN năm được cấp có thẩm quyền giao; đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định (đối với các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thống nhất trong cả nước do Thủ tướng Chính phủ quy định; đối với các chế độ tiêu chuẩn định mức chi ngân sách đối với ngành, lĩnh vực

do Bộ Tài chính quy định; đối với các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu

có tính chất đặc thù cho từng địa phương do Hội đồng nhân dân tỉnh quy định, trừ những chế độ chi có tính chất tiền lương, tiền công, phụ cấp); đã được cơ quan tài chính hoặc thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc người được uỷ quyền quyết định chi; có đủ hồ sơ chứng từ hợp pháp, hợp lệ theo quy định

+ Thực hiện kiểm soát, thanh toán trực tiếp các khoản chi NSNN cho đơn vị, người cung cấp hàng hoá dịch vụ (đối với các đơn vị, người cung cấp hàng hoá dịch vụ có mở tài khoản tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước), hoặc thanh toán qua đơn vị sử dụng ngân sách để thanh toán cho người cung cấp hàng hoá dịch vụ (đối với trường hợp người cung cấp hàng hoá, dịch vụ chưa mở tài khoản tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước) + Tổ chức hạch toán kế toán các khoản chi NSNN theo Mục lục NSNN hiện hành

+ Thống kê, báo cáo tình hình chi NSNN cho cơ quan có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước cấp trên theo chế độ thống kê, báo cáo do Bộ Tài chính và Kho bạc Nhà nước quy định

+ Đối chiếu, xác nhận số thực chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước cho đơn vị sử dụng NSNN hàng tháng, quý, năm

+ Thực hiện thu hồi giảm chi NSNN theo quyết định của cơ quan tài chính hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền

+ Tạm dừng thanh toán nếu tồn quỹ NSNN không đảm bảo đủ để chi trả

Trang 26

+ Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiện thanh toán, giao dịch bằng tiền mặt, chuyển khoản với các cơ quan, đơn vị và cá nhân có quan hệ giao dịch với Kho bạc Nhà nước Kho bạc Nhà nước được mở tài khoản (không kỳ hạn, có kỳ hạn) tại Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại quốc doanh để giao dịch và thanh toán

+ Tổ chức thanh toán, điều hoà vốn và tiền mặt trong hệ thống Kho bạc Nhà nước, đảm bảo tập trung nhanh các khoản thu, đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán, chi trả của NSNN

+ Tổ chức hoạt động kế toán, thống kê và báo cáo quyết toán quỹ NSNN, quỹ dự trữ tài chính nhà nước, tiền và tài sản tạm thu, tạm giữ,

Để phù hợp với chức năng và nhiệm vụ trên, Kho bạc Nhà nước được

tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất thành hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương Ở Trung ương có cơ quan Kho bạc Nhà nước; ở địa phương có Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Kho bạc Nhà nước tỉnh) trực thuộc Kho bạc Nhà nước và Kho bạc Nhà nước quận, huyện, thị xã (sau đây gọi chung là Kho bạc Nhà nước huyện) trực thuộc Kho bạc Nhà nước tỉnh (Chính phủ, 2009)

- Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng quy định; tham gia với các cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước của các đơn vị sử dụng NSNN

Kho bạc Nhà nước có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả và thông báo cho đơn vị sử dụng NSNN biết, đồng thời gửi cơ quan tài chính đồng cấp giải quyết trong các trường hợp sau:

+ Chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt

+ Chi không đúng chế độ, định mức chi tiêu tài chính của Nhà nước + Không đủ các điều kiện chi theo quy định

Trang 27

- Mọi khoản chi NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo từng niên độ ngân sách và theo Mục lục NSNN Các khoản chi NSNN bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và hạch toán chi bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động

do cơ quan có thẩm quyền quy định (Bộ Tài chính, 2003)

- Trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSNN các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước thực hiện việc thu hồi cho NSNN (Bộ Tài chính, 2003)

2.1.6 Vai trò quản lý của Kho bạc Nhà nước về chi NSNN

Quản lý chi NSNN là trách nhiệm của các ngành,các cấp,các cơ quan, đơn vị có liên quan việc quản lý và sử dụng kinh phí NSNN, trong đó hệ thống Kho bạc Nhà nước giữ vai trò đặc quan trọng, trực tiếp kiểm soát và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm soát của mình

Do yêu cầu phát triển cuả nền kinh tế và quản lý tài chính công

Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói chung và đổi mới

cơ chế quản lý NSNN nói riêng, đòi hỏi mọi khoản chi của NSNN phải bảo đảm tiết kiệm và có hiệu quả, bởi vì nó là nguồn lực của đất nước, trong đó chủ yếu là tiền của và công sức lao động do nhân dân đóng góp, do đó không thể chi tiêu một cách lãng phí Vì vậy, quản lý chặt chẽ các khoản chi NSNN thực sự trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và của toàn xã hội Thực hiện tốt công tác này sẽ có ý nghĩa rất to lớn trong việc thực hành tiết kiệm, tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội, chống các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí, góp phần lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, kiềm chể lạm phát Góp phần nâng cao trách nhiệm và phát huy được vai trò của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến quản lý và sử dụng NSNN Đặc biệt, theo Luật NSNN quy định, hệ thống Kho bạc Nhà nước chịu trách nhiệm

Trang 28

kiểm soát thanh toán, chi trả trực tiếp từng khoản chi NSNN cho các đối tượng sử dụng đúng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được Nhà nước giao, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật tài chính

Do yêu cầu của mở cửa hội nhập, quản lý của Kho bạc Nhà nước về chi NSNN phải phù hợp với thông lệ Quốc tế

Theo kinh nghiệm quản lý NSNN của các nước và khuyến nghị của các

tổ chức tài chính quốc tế, việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN chỉ thực hiện có hiệu quả trong điều kiện thực hiện cơ chế chi trả trực tiếp từ cơ quan quản lý quỹ NSNN đến từng đối tượng sử dụng ngân sách Có như vậy mới có thể bảo đảm đề cao kỷ cương, kỷ luật quản lý tài chính nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí của NSNN Đồng thời tính tương đồng trong cơ cấu tổ chức của bộ máy tài chính, trong cơ chế quản lý chi của Kho bạc Nhà nước đối với chi NSNN tạo điều kiện giao lưu hợp tác, học tập kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Kho bạc Nhà nước giữa các nước trong khu vực và trên thế giới

Do đòi hỏi thực hiện kịp thời và có hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Trong cơ chế thị trường, chi NSNN không còn là kế hoạch cấp vốn duy nhất cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, Chính phủ phải điều chỉnh chi tiêu Ngân sách cho các mục tiêu trọng tâm liên quan đến các hoạt động kinh tế - xã hội của khu vực Nhà nước mà khu vực tư nhân không thể đáp ứng Vì vậy chi tiêu Ngân sách cho các mục đích và lĩnh vực tiêu dùng của xã hội, các hoạt động sự nghiệp có tính chất thường xuyên phải được bố trí ưu tiên ngay từ khi xây dựng và thiết lập cân đối Ngân sách Mặt khác chi cho phát triển chủ yếu phải nhằm đầu tư vào kết cấu hạ tầng để tạo hành lang và môi trường cho các hoạt động kinh tế của cả khu vực Nhà nước lẫn khu vực tư nhân cùng phát triển

Trang 29

Đây là cơ sở ban đầu để hình thành lên sự cân đối NSNN, đảm bảo nguyên tắc hợp lý, tiết kiệm các khoản chi Ngân sách Điều này có nghĩa

là chi cho các hoạt động kinh tế - xã hội có tính chất thường xuyên bao gồm: Các khoản chi cho các hoạt động sự nghiệp tiêu dùng chung của xã hội như Giáo dục đào tạo, khoa học kỹ thuật, y tế, văn hoá xã hội, phúc lợi và việc làm, các sự nghiệp kinh tế của Nhà nước, đảm bảo an ninh quốc gia và trật tự xã hội, bộ máy quản lý Nhà nước và trợ giá thực hiện các chính sách của Chính phủ bị khống chế tối đa trong khuôn khổ khả năng thu trong nước có được

Chi đầu tư phát triển của Ngân sách trong cơ cấu cân đối thu chi, cần được bố trí để đầu tư cho đối tượng thuộc các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình kết cấu then chốt có tác động thay đổi cơ cấu kinh tế của cả nước

và từng vùng, vốn đầu tư ban đầu cho các doanh nghiệp Nhà nước, chi trợ giá đảm bảo chính sách của Chính phủ và các khoản chi dự trữ quốc gia cần thiết

Do quản lý chi NSNN còn bất cập, tồn tại và hạn chế

Cơ chế quản lý, cấp phát thanh toán chi NSNN tuy đã được thường xuyên sửa đổi và từng bước hoàn thiện, nhưng cũng chỉ có thể quy định được những vấn đề chung nhất, mang tính nguyên tắc Vì vậy, nó không thể bao quát hết được tất cả những hiện tượng nẩy sinh trong quá trình thực hiện chi NSNN Cũng chính từ đó, cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước thiếu cơ sở pháp lý cụ thể cần thiết để thực hiện kiểm tra, kiểm soát từng khoản chi NSNN Như vậy, cấp phát chi NSNN đối với cơ quan tài chính chỉ mang tính chất phân bổ NSNN, còn đối với Kho bạc Nhà nước thực chất chỉ là xuất quỹ NSNN, chưa thực hiện được việc chi trả trực tiếp đến từng đơn vị sử dụng kinh phí, chưa phát huy hết vai trò kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN Mặt khác, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế - xã hội, công tác chi NSNN cũng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Điều này cũng làm cho cơ chế quản lý chi NSNN nhiều khi không theo kịp với sự biến động

Trang 30

và phát triển của hoạt động chi NSNN, trong đó, một số nhân tố quan trọng như hệ thống tiêu chuẩn định mức chi tiêu còn xa rời thực tế, thiếu đồng bộ, thiếu căn cứ để thẩm định; chưa có một cơ chế quản lý chi phù hợp và chặt chẽ đối với một số lĩnh vực Mặt khác, công tác kế toán chưa được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ đã tạo ra những kẽ hở trong cơ chế quản lý chi NSNN

Từ thực tế trên, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình chi tiêu để phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu cực của những đơn vị sử dụng kinh phí NSNN; đồng thời phát hiện những kẽ hở trong cơ chế quản lý để từ đó có những giải pháp và kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung kịp thời những cơ chế, chính sách hiện hành, tạo nên một cơ chế quản lý chi chặt chẽ

Một thực tế khá phổ biến là các đơn vị sử dụng kinh phí được NSNN cấp thường có chung một tư tưởng là tìm mọi cách sử dụng hết số kinh phí được cấp, ít quan tâm đến việc chấp hành đúng mục đích, đối tượng và dự toán đã được duyệt Các đơn vị này chi tiêu không có trong dự toán đã được phê duyệt, không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu; thiếu các hồ sơ, chứng từ pháp lý có liên quan…Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần thiết phải có một

tổ chức thứ ba có thẩm quyền, độc lập và khách quan, có kỹ năng nghề nghiệp, có vị trí pháp lý và uy tín cao để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát và đưa ra ý kiến nhận xét, kết luận chính xác đối với khoản chi của đơn vị bảo đảm có trong dự toán được duyệt; đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn được duyệt; có đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán theo đúng quy định…, có giải pháp chấn chỉnh và xử lý kịp thời các gian lận, ngăn chặn các sai phạm và lãng phí

có thể xảy ra trong việc sử dụng NSNN của các cơ quan, đơn vị, bảo đảm tiết kiệm và có hiệu quả

Các khoản chi của NSNN đều mang tính chất không hoàn trả trực tiếp Tính chất cấp phát trực tiếp không hoàn lại của các khoản chi NSNN là một

ưu thế cực kỳ to lớn đối với các đơn vị sử dụng NSNN Trách nhiệm của họ là

Trang 31

phải chứng minh được việc sử dụng các khoản kinh phí bằng các kết quả công việc cụ thể đã được nhà nước giao Tuy nhiên, việc dùng những chỉ tiêu định tính và định lượng để đánh giá và đo lường kết quả công việc trong nhiều trường hợp là thiếu chính xác và gặp không ít khó khăn Vì vậy, cần phải có một cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi của NSNN, bảo đảm tương xứng giữa khoản tiền nhà nước đã chi ra với kết quả công việc mà các đơn vị sử dụng NSNN thực hiện Xuất phát từ thực tế khách quan trên, Kho bạc Nhà nước được giao nhiệm vụ tập trung và phản ảnh đầy đủ, kịp thời các khoản thu NSNN quy định Thực

hiện hạch toán số thu NSNN theo quy định Thực hiện chi NSNN, kiểm

soát, thanh toán, chi trả các khoản chi NSNN theo quy định của pháp luật Với nhiệm vụ đó, với các điều kiện quản lý NSNN, nên Kho bạc Nhà nước được giao kiểm soát chi NSNN là phù hợp với thực tế khách quan

2.1.7 Nội dung quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước

Lập kế hoạch dự toán chi thường xuyên NSNN

Thực hiện Thông tư số 161/20012/TT-BTC ngày 02 tháng 10 năm

2012 thay thế Thông tư 79/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính Hướng dẫn chế

độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách qua Kho bạc Nhà nước, các nội dung liên quan đến dự toán quý, nhu cầu chi quý đã được loại

bỏ Dựa trên thực tế, kế hoạch NSNN được hướng dẫn điều hành theo năm của Bộ Tài chính Dự toán của Kho bạc Nhà nước dựa trên các dự toán được giao của đơn vị Dự toán cấp I cho các đơn vị sử dụng NSNN cấp II

Cơ quan giao dự toán NSNN (cấp I): căn cứ vào khả năng ngân sách hàng năm được Quốc hội, HDND các cấp quyết định dự toán chi tiêu trong đó

có chi thường xuyên NSNN cho các ngành, các địa phương Bộ Tài chính đối với ngân sách trung ương, UBND các cấp đối với ngân sách địa phương ra quyết định giao dự toán cho các cấp,các ngành Sau đó các cấp, ngành giao dự toán cho các đơn vị sử dụng NSNN

Trang 32

Thực hiện dự toán chi thường xuyên NSNN

Các khoản chi có tính chất thường xuyên được chia đều trong năm để chi; các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời điểm như đầu tư XDCB, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi có tính chất không thường xuyên khác phải thực hiện theo dự toán quý được đơn vị dự toán cấp I giao cùng với giao dự toán năm

Điều kiện cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN

Chi NSNN chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:

Một là: Đã có trong dự toán chi NSNN hàng năm được giao Dự toán

chi NSNN của các đơn vị phải phản ảnh đầy đủ các khoản chi theo đúng chế

độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, trong dự toán phải ghi rõ các nguồn thu của đơn vị được sử dụng và phần hỗ trợ của NSNN; các khoản chi phải theo nhóm mục của mục lục NSNN Cơ quan tài chính cùng cấp có trách nhiệm kiểm tra kết quả lập

và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị Nếu có sự sai lệch so với nội dung dự toán được cấp có thẩm quyền giao thì yêu cầu đơn vị điều chỉnh lại

Hai là: Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định: Định mức tiêu chuẩn chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành là căn cứ quan trọng để lập dự toán chi NSNN hàng năm và

là căn cứ để Kho bạc Nhà nước kiểm soát khi cấp phát thanh toán cho đơn vị

sử dụng ngân sách Những khoản chi chưa có tiêu chuẩn định mức được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, Kho bạc Nhà nước căn cứ vào dự toán được

cơ quan cấp trên trực tiếp của đơn vị sử dụng ngân sách phê duyệt làm căn cứ

để kiểm soát

Ba là: Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được

uỷ quyền quyết định chi: Trong quản lý và điều hành ngân sách, chuẩn chi là

sự cho phép, đồng ý chi Thẩm quyền chuẩn chi phải là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, đồng thời là chủ tài khoản, đã được cơ quan nhà nuớc có thẩm

Trang 33

quyền phê duyệt Chủ tài khoản phải đăng ký chữ ký mẫu và con dấu của cơ quan, đơn vị tại Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch

Bốn là: Các khoản chi phải có đủ hồ sơ, chứng từ hợp lệ Mỗi khoản

chi đều phải lập theo mẫu chứng từ quy định và được cấp có thẩm quyền duyệt Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ trước khi cấp phát, thanh toán kinh phí NSNN cho đơn vị sử dụng

Ngoài các điều kiện quy định trên, trường hợp sử dụng vốn, kinh phí NSNN để đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá thì còn phải

tổ chức đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật

Cơ chế quản lý chi thường xuyên

Đơn vị sử dụng kinh phí chi thường xuyên NSNN : khi có dự toán năm được giao,các đơn vị sử dụng NSNN gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch, Căn cứ dự toán được giao,hàng tháng các đơn vị sử dụng ngân sách đến Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch làm thủ tục rút kinh phí để chi tiêu.Việc rút kinh phí phải có đầy đủ hồ sơ chứng từ theo chế độ qui định đồng thời phải chi tiêu theo đúng chế độ chi tiêu của cấp có thẩm quyền quyết định

Kiểm soát và báo cáo chi thường xuyên NSNN

Kho bạc Nhà nước nơi thực hiện cơ chế kiểm soát chi thường xuyên NSNN: kiểm soát chi NSNN thực hiên theo thông tư hướng dẫn về kiểm soát chi NSNN qua kho bạc (Thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 của

Bộ Tài chính quy định về chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước)

Kho bạc Nhà nước thực hiện thanh toán chi thường xuyên theo hệ thống kiểm soát TABMIS, nên hệ thống báo cáo được kịp thời Số liệu trong

hệ thống kho bạc nối mạng quốc gia nên giảm được các hình thức báo cáo truyền thống

Trang 34

Có thế nói việc triển khai dự án TABMIS nói riêng,dự án cải cách quản

lý tài chính công nói chung, đến nay đã đạt được mục tiêu quan trọng, từ cải cách về cơ chế chính sách, hiện đại hóa công nghệ,cũng như nâng cao chất lượng nguồn lực,đồng thời đẩy mạnh cải cách quản lý ngân sách như cải cách qui trình hoạch toán,quyết toán, chuyển nguồn và rút ngắn thời gian chỉnh lý ngân sách cho các cấp ngân sách theo TT 107/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008; xây dựng và tổ chức thực hiện chế độ kế toán nhà nước áp dụng cho TABMIS (TT 212/2009/TT-BTC ngày 06/11/2009),xây dựng hệ thống kế toán đồ(COA)đảm bảo theo dõi đầy đủ các đối tượng kế toán cần quản lý cũng như đầy đủ thông tin về mục lục NSNN;xây dựng ban hành cơ chế về kiểm soát cam kết chi ngân sách (TT 113/2008TT-BTC ngày 27/11/2008), thực hiện cải cách quản lý vay nợ, từng bước tổ chức thực hiện quản lý ngân quỹ và thực hiện tài khoản thanh toán tập trung của Kho bạc Nhà nước (TSA)

Dự án TABMIS đã hoàn thành trên cả nước đã vận hành và áp dụng đến nay có thể nói là thành công bước đầu cho ngành tài chính trong việc cải cách tài chính công các quy trình nghiệp vụ kiểm soát chi được kiểm tra chặt chẽ đảm bảo từ khâu phân bổ dự toán,đến thực hiện và quyết toán ngân sách

và cấp thành phố, thị xã và cấp xã Cấp tỉnh, thành phố, thị xã và cấp xã là cấp địa phương Quản lý chi NSNN chú trọng đến hiệu quả của chi ngân sách, có tác động gì đến việc khai thác nguồn thu và kích thích các đơn vị thụ hưởng ngân sách chi tiêu tiết kiệm, hiệu quả đảm bảo chức năng và nhiệm vụ của

Trang 35

đơn vị Nhật Bản chuyển từ hệ thống phê chuẩn sang hệ thống tư vấn; thông qua hệ thống này, chính quyền địa phương đó có thể thực hiện vay nợ mà không cần có sự chấp thuận của Hội đồng địa phương

- Xác định và đo lường các chi tiết và báo cáo những đầu ra (hàng hóa công) được tạo bởi các cơ quan nhà nước

- Mô tả mối liên kết giữa đầu ra của các cơ quan nhà nước và kết quả mong muốn đạt được theo chiến lược phát triển của Nhà nước

- Báo cáo công khai đầu ra then chốt dựa vào các chỉ tiêu thực hiện chương trình mục tiêu Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường, Chính phủ Singapore rất coi trọng đến việc cải cách hệ thống tài khóa, đặc biệt là vấn đề quản lý thu, chi NSNN Từ năm

1980 đến 1984 đây là thời kỳ Chính phủ Singapore bắt đầu phân chia nguồn thu cho địa phương Từ năm 1985 đến 1993 là thời kỳ thực hiện cơ chế khoán ngân sách, phân định nguồn thu giữa các cấp ngân sách, tăng cường quyền tự chủ cho địa phương trong việc quản lý NSNN

Trang 36

Hoa Kỳ

Kinh tế Hoa kỳ được mô tả như là một hệ thống thị trường tự do, năng động Việc huy động nguồn lực tài chính trong nền kinh tế là do thị trường quyết định Như vậy, Chính phủ Hoa Kỳ rất coi trọng việc quản lý thu, chi NSNN và cân đối thu - chi NSNN để điều chỉnh chu kỳ kinh tế và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân tăng cường tiết kiệm và đầu tư phát triển Từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 - 1933) cho đến cuối thập kỷ 60 nền knh tế Hoa Kỳ phát triển như vũ bão, các vấn đề kiểm soát thu chi ngân sách trong lý thuyết của Keynes đã được Chính phủ Hoa Kỳ sử dụng triệt để Bước vào thập kỷ 70 và những năm đầu thập kỷ 80, nền kinh tế Hoa Kỳ rơi vào tình trạng suy thoái, lạm phát tăng Để phục hồi nền kinh tế lúc này, Chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục cải cách tài chính một cách sâu sắc với nội dung cơ bản là cải cách thuế theo xu hướng giảm thuế suất, đặc biệt là thuế thu nhập Bên cạnh cải cách hệ thống thuế, Chính phủ Hoa Kỳ đã tiến hành cải cách chi tiêu một cách triệt để Mặc dù nền kinh tế Hoa Kỳ ở những năm cuối thập kỷ 80 và đầu năm 1990 được khôi phục, nhưng bội chi ngân sách vẫn cứ tăng (1980: 1,3%, 1990: 2,5% và 1995: 2,3%) Vì vậy, Quốc hội và Chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục ban hành đạo luật Omnibus với mục đích kiểm soát thu, chi ngân sách một cách nghiêm ngặt hơn Đạo luật này quy định, có tăng thu thì mới tăng chi Chính sách tài khóa của Hoa Kỳ đã tập trung vào cắt giảm khoản chi tiêu không cần thiết để tiến tới loại trừ bội chi ngân sách hướng tới một ngân sách thặng dư nhằm giảm bớt áp lực nợ, giảm lãi suất, tạo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định trong dài hạn

2.2.2 Quản lý chi thường xuyên thường xuyên NSNN tại một số địa phương

Bắc Ninh

Chi ngân sách Nhà nước là một công cụ quan trọng của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế Chi ngân sách bao gồm: chi cho đầu tư phát triển (tích lũy), chi tiêu dùng thường

Trang 37

xuyên duy trì hoạt động của các cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị, đơn vị hành chính sự nghiệp công lập và chi trả nợ gốc Chính phủ vay Trong các khoản chi thì chi thường xuyên giữ vai trò thúc đẩy toàn bộ guồng máy xã hội hoạt động trơn chu Với ý nghĩa đó, nhiều năm qua, UBND tỉnh Bắc Ninh đặc biệt chú trọng công tác quản lý loại chi này

Bắc Ninh tuy là địa phương có diện tích nhỏ (nhỏ nhất cả nước) nhưng quy mô dân số đông với hơn 1 triệu dân, lại có vị trí địa lý cận kề thủ đô Hà Nội, tiếp giáp với nhiều đầu mối kinh tế quan trọng Hơn 10 năm qua, Bắc Ninh luôn là tỉnh giữ nhịp độ tăng trưởng kinh tế- xã hội ở tốp đầu các tỉnh đồng bằng Bắc bộ Diện mạo kinh tế- xã hội đổi thay từng ngày trong tiến trình trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015 và thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2020 Để thực hiện mục tiêu này kèm theo đó là nhu cầu chi thường xuyên tăng liên tục Nhiệm vụ chi thường xuyên được HĐND tỉnh thông qua bao gồm nhiều nội dung, hạng mục chi được quy định bởi các chính sách, chế độ cụ thể Tuy nhiên việc phân định, phân bổ ngân sách, thực chi, hiệu quả cuối cùng và hiệu quả của nó luôn có chênh lệch giữa kế hoạch với thực tế sử dụng tài chính, giữa các thời kỳ, các địa phương, vùng, miền mức độ cũng khác nhau Lý do chêch lệch ấy được xem xét trên 4 cấp độ : (1) Biến động tỷ trọng chi thường xuyên so với tổng chi ngân sách của từng cấp (2) Tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách nhà nước qua từng năm ở mỗi cấp (3) Chi thường xuyên trong những biến động về số lượng, quy mô, phân cấp tổ chức bộ máy công quyền (4) Tỷ lệ phân bổ ngân sách, định mức chi tiêu, giá cả

Chi thường xuyên trong chi ngân sách Nhà nước các cấp luôn tồn tại nhiều áp lực bởi ngành nào, lĩnh vực nào cũng quan trọng và đòi hỏi nguồn ngân sách cấp đúng hạn nhằm triển khai hiệu quả nhiệm vụ được giao Việc quản lý tốt chi thường xuyên công bằng, công tâm, đúng đối tượng luôn là đòi hỏi cấp thiết Mặt khác, nó còn là động lực quan trọng thúc đẩy cả hệ thống

Trang 38

chính trị và các cơ quan chuyên môn vận hành trơn tru, đạt hiệu suất cao nhất, đóng góp tích cực vào quản lý xã hội, phát triển kinh tế -xã hội tăng trưởng theo đúng kế hoạch đề ra

Bảng 2.1 Chi thường xuyên năm 2010 ở tỉnh Bắc Ninh

toán

Thực hiện

Tỷ lệ (%)

2

3 Tổng số tiết kiệm chi thường xuyên Triệu đồng 14.284

4 Đầu mối các đơn vị thụ hưởng chi

thường xuyên do NS tỉnh quản lý

(Nguồn: Linh Hoa, 2012)

Thực tiễn qua hoạt động phân bổ ngân sách chi thường xuyên tại tỉnh Bắc Ninh đặt ra một số vấn đề cơ bản sau:

- Hàng năm, cơ quan chuyên môn giúp việc UBND tỉnh (Sở Tài chính) cần rà soát, phân tích xác định định mức chi hợp lý, mỗi khoản chi thường xuyên lệ thuộc để từ đó tham mưu cho UBND tỉnh phân định rõ: định mức và khối lượng Định mức có nhiều loại: Định mức cơ sở, định mức ngành, định mức địa phương, định mức quốc gia Định mức là cơ sở để quản lý, (trước khi xác định mức chi thường xuyên phải rà soát để “căn chỉnh” định mức đã có), loại

bỏ những hạng mục chi không cần thiết từ đó thiết lập hệ thống định mức mới

- Trong nhiều năm qua tỉnh Bắc Ninh đã xác lập được hàng ngàn định mức chi cho các cấp, các nội dung cụ thể và đã điều chỉnh được 40% định mức, xây dựng mới 30% lượng định mức đủ để làm căn cứ quản lý và xây dựng kế hoạch ngân sách

Trang 39

- Xây dựng dự toán chi thường xuyên sát thực tế và đúng quy định Khi cân đối ngân sách, chi thường xuyên lệ thuộc định mức phân bổ từ Trung ương, nhưng mỗi cơ sở thụ hưởng thường viện dẫn căn cứ tính dự toán là định mức chi; nếu lấy định mức phân bổ thì không đáp ứng hết nhu cầu thực tế, nếu lấy định mức chi thì dễ phá vỡ cơ cấu Để làm tốt việc xây dựng dự toán chi thường xuyên, tỉnh Bắc Ninh đồng thời giải quyết các vấn đề:

- Tinh gọn bộ máy, phân định rạch ròi chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi cấp Việc hợp nhất, tách chia, lồng ghép nhiệm vụ để có bộ máy tinh gọn giúp cho cơ quan xây dựng dự toán cân đối ngân sách phù hợp bảo đảm đủ nguồn để hoạt động Giải quyết tốt vấn đề này sẽ xác định chuẩn xác đối tượng hưởng chi ngân sách

- Giải quyết hài hoà định mức chi trong tổng định mức phân bổ được giao yêu cầu phải đạt được là định mức chi có căn cứ thuyết phục của từng loại công việc thuộc danh mục tổng nguồn, tổng các cơ cấu được phân định Chỉ xử lý một số trường hợp đặc biệt khi cơ quan co thẩm quyền cho phép

Với cách làm đó, dự toán chi thường xuyên của các đối tượng thụ hưởng ở Bắc Ninh đã được hài hoà, công khai, công bằng và đảm bảo để các đơn vị hoạt động

- Đề cao vai trò xã hội hoá nguồn lực, sử dụng lồng ghép nguồn lực để nâng cao nguồn lực tài chính cho chi thường xuyên Xã hội hoá cần chỉ rõ loại

gì, bao nhiêu, cơ sở pháp lý, tính ổn định, vững chắc Nếu có những chương trình mục tiêu, chương trình trọng điểm thì lồng ghép để tránh trùng lặp -Quản lý chặt chẽ chi tiêu trong năm kế hoạch nhằm hạn chế tối đa thất thoát, sử dụng sai mục đích ngân sách HĐND-UBND tỉnh Bắc Ninh yêu cầu mỗi đơn vị thụ hưởng phải quản lý chặt chẽ quá trình thực hiện Chẳng hạn, khi mua sắm phải tìm nguồn cung cấp, đấu giá, đấu thầu nhằm tiết kiệm nhất, phải tuân thủ quy tắc quản lý, sử dụng tài sản công…Hàng năm tỉnh luôn đặt

Trang 40

ra mục tiêu tiết kiệm chi trong khuân khổ quy định, nhờ đó 100% các đơn vị

dự toán không bị phá vỡ, không để nợ đọng phải thu, phải trả

- Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu kết hợp với kiểm tra, thanh tra thường xuyên nhằm chấn chỉnh, phát hiện, xử lý trong khi thực hiện dự toán chi thường xuyên Tỉnh Bắc Ninh yêu cầu các khối cơ quan quản lý cấp trên, các cơ quan chuyên môn phải có tối thiểu 2 cuộc kiểm tra, thanh tra/năm Do vậy, những sai sót được phát hiện giúp các đơn vị hoạt động đúng quỹ đạo, tránh những tổn thất không đáng có

Tỉnh Bắc Ninh gắn việc chấp hành dự toán chi thường xuyên, mức độ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, chính trị trong các cuộc sơ kết, tổng kết, chấm điểm thi đua hàng năm, bình xét các tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên theo khối Việc làm thường xuyên nề nếp này có tác dụng khuyến khích từng đơn vị tự xác định được mức độ thi đua và tạo lập thói quen sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách

Nhiều năm qua, bằng những biện pháp đồng bộ, dự toán ngân sách nhà nước tỉnh Bắc Ninh liên tục hoàn thành xuất sắc, chi thường xuyên được đảm bảo, kết quả tích cực đó đã góp phần xây dựng nền tài chính lành mạnh, thúc đẩy toàn bộ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh tiến bộ vững chắc, tạo được dấu ấn: Tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm qua là 13,8%/năm, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân được nâng cao

rõ rệt, từng bước phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững

Lạng Sơn

Bắt đầu từ ngày 1/6/2013, Kho bạc Nhà nước tỉnh Lạng Sơn thực hiện quản lý, kiểm soát cam kết chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước theo Thông tư số 113/2008/TT-BTC, ngày 27/11/2008 của Bộ Tài chính Do

có sự chuẩn bị chu đáo về tuyên truyền, tập huấn nghiệp vụ, đầu tư cơ sở vật chất… nên chỉ mới 3 tháng đầu thực hiện, Kho bạc đã thực hiện tốt quản lý,

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2003). Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/06/2003 hướng dẫn thực hiên Nghị định số 60/2003/ NĐ-CP ngày 06/06/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/06/2003 hướng dẫn thực hiên Nghị định số 60/2003/ NĐ-CP ngày 06/06/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2003
2. Bộ Tài chính (2003). Thông tư số 79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2003
3. Bộ Tài chính (2007). Thông tư số 130/2007/TT0BTC ngày 2/11/2007 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điểm của thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 3/4/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 130/2007/TT0BTC ngày 2/11/2007 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điểm của thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 3/4/2007
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
4. Bộ Tài chính (2008). Quyết định số 120/2008/QĐ-BTC ngày 22/12/2008 của Bộ trưởng bộ Tài chính về Chế độ kế toán ngân sách và hoạt động nghiệp vụ Kho bạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 120/2008/QĐ-BTC ngày 22/12/2008 của Bộ trưởng bộ Tài chính về Chế độ kế toán ngân sách và hoạt động nghiệp vụ Kho bạc
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2008
5. Bộ Tài chính (2009). Thông tư 212/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc thực hiện hướng dẫn kế toán Nhà nước áp dụng cho Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc Nhà nước (TABMIS), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 212/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc thực hiện hướng dẫn kế toán Nhà nước áp dụng cho Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc Nhà nước (TABMIS)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2009
6. Bộ Tài chính (2011). Thông tư số 164/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 của Bộ Tài chính quy định về chế độ thanh toán tiền mặt qua Kho bạc Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 164/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 của Bộ Tài chính quy định về chế độ thanh toán tiền mặt qua Kho bạc Nhà nước
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2011
7. Bộ Tài chính (2012). Thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 của Bộ Tài chính quy định về chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 của Bộ Tài chính quy định về chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
8. Bộ Tài chính (2013). Thông tư 08/2013/TT-BTC ngày 10/1/2013 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện kế toán Nhà nước áp dụng cho Hệ thốngthông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 08/2013/TT-BTC ngày 10/1/2013 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện kế toán Nhà nước áp dụng cho Hệ thốngthông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2013
9. Chính phủ (2003). Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
10. Chính phủ (2007). Quyết định số 138/2007/QĐ-TTG ngày 21/08/2007 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 138/2007/QĐ-TTG ngày 21/08/2007 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
11. Chính phủ (2009). Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/08/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/08/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
12. Kho bạc Nhà nước (2007). Quyết định 1116/QĐ ngày 24/08/2007 của Tổng giám đốc Kho bạc Nhà nước về việc ban hành qui chế thực hiện một cửa trong kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 1116/QĐ ngày 24/08/2007 của Tổng giám đốc Kho bạc Nhà nước về việc ban hành qui chế thực hiện một cửa trong kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc nhà nước
Tác giả: Kho bạc Nhà nước
Năm: 2007
13. Kho bạc Nhà nước (2007). Quyết định 1116/QĐ- ngày 24/8/2007 của Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước về việc ban hành quy chế thực hiện một cửa trong kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 1116/QĐ- ngày 24/8/2007 của Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước về việc ban hành quy chế thực hiện một cửa trong kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước
Tác giả: Kho bạc Nhà nước
Năm: 2007
14. Kho bạc Nhà nước (2010). Kho bạc Nhà nước Việt Nam – Quá trình xây dựng và phát triển, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho bạc Nhà nước Việt Nam – Quá trình xây dựng và phát triển
Tác giả: Kho bạc Nhà nước
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2010
15. Kho bạc nhà nước (2012). Quyết định số 567/QĐ- ngày 31/05/2012 về việc ban hành Quy chế kiểm soát nghiệp vụ kế toán trong Hệ thống Kho bạc Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 567/QĐ- ngày 31/05/2012 về việc ban hành Quy chế kiểm soát nghiệp vụ kế toán trong Hệ thống Kho bạc Nhà nước
Tác giả: Kho bạc nhà nước
Năm: 2012
16. Kho bạc Nhà nước huyện Gia Lâm (2010-2013). Báo cáo quyết toán Kho bạc Nhà nước Gia Lâm các năm 2010, 2011, 2012, 2013, Gia Lâm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quyết toán Kho bạc Nhà nước Gia Lâm các năm 2010, 2011, 2012, 2013
17. Nguyễn Thị Thu Hương (2011). Tăng cường vai trò của Kho bạc Nhà nước trong kiểm soát chi thường xuyên của Ngân sách nhà nước, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 188 (tháng 9), trang 33-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Quản lý nhà nước
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Năm: 2011
18. Đỗ Văn Phúc (2011). Hoàn thiện kiểm soát chi ngân sách qua Kho bạc nhà nước huyên Kinh môn, tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Gia Lâm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện kiểm soát chi ngân sách qua Kho bạc nhà nước huyên Kinh môn, tỉnh Hải Dương
Tác giả: Đỗ Văn Phúc
Năm: 2011
19. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2002), Luật NSNN ngày 16/12/2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật NSNN ngày 16/12/2002
Tác giả: Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2002
24. Vũ Đức Trọng (2010). Nâng cao quản lý nhà nước ở Kho bạc nhà nước tỉnh Hải Dương, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 173 (tháng 6), trang 57-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Quản lý nhà nước
Tác giả: Vũ Đức Trọng
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1 Các cơ quan,đơn vị quản lý chi NSNN thuộc ngành tài chính - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
Sơ đồ 2.1 Các cơ quan,đơn vị quản lý chi NSNN thuộc ngành tài chính (Trang 23)
Bảng 2.1. Chi thường xuyên năm 2010 ở tỉnh Bắc Ninh - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 2.1. Chi thường xuyên năm 2010 ở tỉnh Bắc Ninh (Trang 38)
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của huyện Gia lâm - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của huyện Gia lâm (Trang 46)
Đồ thị 4.1 Cơ cấu chi NSNN tại KBNN Hà Nội - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
th ị 4.1 Cơ cấu chi NSNN tại KBNN Hà Nội (Trang 57)
Sơ đồ 4.1 Kiểm soát chứng từ giao dịch tại Phòng (Tổ) kế toán - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
Sơ đồ 4.1 Kiểm soát chứng từ giao dịch tại Phòng (Tổ) kế toán (Trang 61)
Bảng 4.1: Số đơn vị giao dịch và số tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.1 Số đơn vị giao dịch và số tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước (Trang 62)
Bảng 4.2: Số liệu thu, chi NSNN tại KBNN Gia Lâm Nội 2011- 2013 - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.2 Số liệu thu, chi NSNN tại KBNN Gia Lâm Nội 2011- 2013 (Trang 63)
Sơ đồ 4.2 Quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà nước - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
Sơ đồ 4.2 Quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà nước (Trang 64)
Bảng 4.4 Tình hình chi ngân sách tại Kho bạc Nhà nước Gia Lâm - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.4 Tình hình chi ngân sách tại Kho bạc Nhà nước Gia Lâm (Trang 67)
Bảng 4.5  Tình hình kiểm soát, thanh toán chi thường xuyên Ngân sách - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.5 Tình hình kiểm soát, thanh toán chi thường xuyên Ngân sách (Trang 68)
Bảng 4.6 Kiểm soát chi thường xuyên NSNN của các đơn vị tham gia giao - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.6 Kiểm soát chi thường xuyên NSNN của các đơn vị tham gia giao (Trang 69)
Bảng 4.7 Công tác thanh tra, kiểm tra chi NSNN tại Gia Lâm - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.7 Công tác thanh tra, kiểm tra chi NSNN tại Gia Lâm (Trang 72)
Bảng 4.11 Ý kiến của các đơn vị sử dụng NSNN về chi thường xuyên - Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc huyện gia lâm thành phố hà nội
Bảng 4.11 Ý kiến của các đơn vị sử dụng NSNN về chi thường xuyên (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w