Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thực sự của rau cũng như chất lượng môi trường do lượng dư các hóa chất BVTV này, qua đó ản
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
NGUYỄN THỊ HÒA
ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG DƯ LƯỢNG THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC SẢN XUẤT RAU XÃ VÂN NỘI, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
NGUYỄN THỊ HÒA
ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG DƯ LƯỢNG THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC SẢN XUẤT RAU XÃ VÂN NỘI, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI
MÃ SỐ : 60.44.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS ĐOÀN VĂN ĐIẾM
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn đã chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hòa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Đoàn Văn Điếm, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Với những lời chỉ dẫn, những tài liệu, sự tận tình hướng dẫn và những lời động viên của Thầy đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy chương trình cao học “Khoa học Môi trường” đã truyền dạy những kiến thức quý báu, những kiến thức này rất hữu ích và giúp tôi nhiều khi thực hiện nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin cám ơn về những góp ý có ý nghĩa rất lớn khi tôi thực hiện đề cương nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hòa
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Yêu cầu của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau 4
1.2.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình tiêu thụ rau trên thế giới 6
1.2 Thực trạng sản xuất, tiêu thụ rau ở Việt Nam 7
1.2.1 Tình hình sản xuất rau tại Việt Nam 7
1.2.2 Tình hình tiêu thụ rau tại Việt Nam 9
1.3 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau 10
1.3.1 Những hiểu biết chung về thuốc BVTV 10
1.3.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới 13
1.3.3 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV cho rau tại Việt Nam 14
1.3.4 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với môi trường 17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Phạm vi nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
Trang 62.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 25
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 26
2.4.3 Phương pháp khảo sát, quan trắc thực địa 26
2.4.4 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu 27
2.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 28
2.4.6 Phương pháp đánh giá tình hình sử dụng thuốc BVTV và biến động dư lượng thuốc BVTV trong môi trường khu vực sản xuất rau trên địa bàn xã Vân Nội 28
2.4.7 Phương pháp kế thừa 29
2.4.8 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 29
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế, xã hội của xã Vân Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Vân Nội 30
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Vân Nội 34
3.2 Tình hình sản xuất rau ở địa bàn nghiên cứu 36
3.2.1 Tình hình sản xuất rau tại xã Vân Nội 36
3.2.2 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau tại xã Vân Nội 40
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng thuốc BVTV 47
3.3.1 Điều kiện tự nhiên và mùa vụ 47
3.3.2 Giống rau 47
3.3.3 Thị trường tiêu thụ rau 48
3.3.4 Chính sách phát triển nông nghiệp của nhà nước 48
3.4 Đánh giá biến động dư lượng thuốc BVTV trong môi trường tại khu vực sản xuất rau xã Vân Nội 50
3.4.1 Nước mặt 50
3.4.2 Nước ngầm 52
3.4.3 Đất 54
3.5 Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng rau và bảo vệ môi trường sinh thái 60
Trang 73.5.1 Giải pháp về quản lý, chính sách 60
3.5.2 Giải pháp về kỹ thuật 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 68
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Biến động diện tích và năng suất rau trên thế giới giai đoạn 1980
– 2002 4
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất rau của thế giới năm 2008 5
Bảng 1.3 Diện tích rau ở Việt Nam phân theo địa phương 8
Bảng 1.4 Lượng thuốc sâu sử dụng ở Việt Nam qua các giai đoạn 15
Bảng 1.5 Thực trạng thời gian cách ly thuốc BVTV đối với rau 16
Bảng 1.6 Tình hình dư lượng thuốc BVTV trên rau ở một số nước 19
Bảng 2.1 Vị trí lấy mẫu nước và đất trồng rau tại làng Vân Nội, Đông Anh 27
Bảng 3.1 Diện tích đất đai thích nghi đối với các loại hình sử dụng đất 32
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất tại xã Vân Nội năm 2013 33
Bảng 3.3 Cơ cấu dân số, lao động tại xã Vân Nội năm 2013 34
Bảng 3.4 Diện tích, năng suất, sản lượng rau tại xã Vân Nội 2006 – 2012 37
Bảng 3.5 Kết quả điều tra về cơ cấu sản xuất các loại rau tại Vân Nội 38
Bảng 3.6 Một số công thức luân canh RAT vụ xuân ở xã Vân Nội 39
Bảng 3.7 Cơ cấu chủng loại rau trong phạm vi hộ tại xã Vân Nội 40
Bảng 3.8 Các loại thuốc BVTV được sử dụng trên rau tại xã Vân Nội 42
Bảng 3.9 Loại thuốc BVTV và số lần phun trên cây trồng vụ Xuân – Hè tại HTX Vân Nội 44
Bảng 3.10 Kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV của người dân xã Vân Nội 46
Bảng 3.11 Các hoạt động tuyên truyền về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 49
Bảng 3.12 Dư luợng thuốc BVTV trong nuớc mặt năm 2011 50
Bảng 3.14 Dư luợng thuốc BVTV trong nuớc mặt năm 2013 51
Bảng 3.15 Dư luợng thuốc BVTV trong nuớc ngầm năm 2011 52
Bảng 3.16 Dư luợng thuốc BVTV trong nuớc ngầm năm 2012 52
Bảng 3.17 Dư luợng thuốc BVTV trong nuớc ngầm năm 2013 53
Bảng 3.18 Dư luợng thuốc BVTV trong đất năm 2011 54
Bảng 3.19 Dư luợng thuốc BVTV trong đất năm 2012 55
Bảng 3.20 Dư luợng thuốc BVTV trong đất năm 2013 56
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Mức độ thích nghi đất đai đối với vùng chuyên rau 32
Hình 3.2 Sơ đồ hệ thống phân phối thuốc BVTV tại xã Vân Nội 41
Hình 3.3 Diễn biến hàm lượng Cypermethrin giai đoạn 2011 – 2013 57
Hình 3.4 Diễn biến hàm lượng Diazinon giai đoạn 2011 – 2013 57
Hình 3.5 Diễn biến hàm lượng Dimethoate giai đoạn 2011 – 2013 58
Hình 3.6 Diễn biến hàm lượng Trichlofon giai đoạn 2011 – 2013 59
Hình 3.7 Diễn biến hàm lượng 2,4 D giai đoạn 2011 – 2013 59
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật
Bộ NN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
Liên Hiệp Quốc
GAP : Thực hành Nông nghiệp tốt HCBVTV : Hóa chất bảo vệ thực vật HTX : Hợp tác xã
MRL : Dư lượng tối đa cho phép RAT : Rau an toàn
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu được trong đời sống hằng ngày Cùng với thức ăn động vật, rau cung cấp những dinh dưỡng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người Tục ngữ có câu: “Cơm không rau như đau không thuốc” Rau cung cấp cho cơ thể những chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin, các axít hữu cơ, chất khoáng… Theo tính toán của nhiều nhà dinh dưỡng học, muốn cơ thể hoạt động bình thường cần cung cấp 2300-2500 kcal mỗi ngày, trong đó phải có 250-300 gam rau (tương đương với 7,5-8 kg/tháng hay 90-108 kg/năm) Như vậy tổng nhu cầu rau của nước ta sẽ là 7.650 – 9.180 nghìn tấn, tổng sản lượng rau các loại năm 2006 đạt 9.650 nghìn tấn Chính vì thế, rau xanh trở thành một sản phẩm Nông Nghiệp có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ rộng lớn
Với điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, Việt nam có thể sản xuất rau quanh năm Theo thống kê 2005, diện tích sản xuất rau ở nước ta vào khoảng 635,8 nghìn ha, sản lượng 9640,3 nghìn tấn, so với năm 1999 diện tích tăng 175,5 nghìn ha (tốc độ tăng bình quân 3,61%/ năm), sản lượng tăng 3071,5 nghìn tấn (tốc độ tăng bình quân 7,55%/năm) Trong đó rau ở miền bắc vào khoảng 249,7 ngàn ha (chiếm 39,3% tổng diện tích) (Ngọc Anh, 2005)
Hà Nội là một trong những địa phương sản xuất khá nhiều rau trong cả nước Tổng diện tích gieo trồng rau các loại của thành phố Hà Nội có 8,1 ngàn ha, năng suất đạt 186,2 tạ/ha, sản lượng 150,8 ngàn tấn Do vậy, ngành hàng rau của tỉnh có những ảnh hưởng nhất định tới toàn bộ hệ thống ngành hàng rau của miền Bắc Sản xuất rau một mặt đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đang ngày càng tăng, mặt khác là giải pháp cho phép thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp Việt Nam và nâng cao thu nhập cho người dân, chuyển đổi hiệu quả và bền vững cơ cấu cây trồng cũng như các điều kiện sản xuất
Sản xuất rau đòi hỏi kỹ thuật thâm canh cao, do có nhiều loại sâu bệnh gây hại nên mức sử dụng phân bón cũng như các loại thuốc BVTV ngày càng gia tăng Quá trình sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu chủ yếu là tự phát, kinh nghiệm mà
Trang 12không theo một quy trình hướng dẫn nào Vì vậy ngày càng có nhiều loại sâu bệnh
có tính kháng thuốc cao, là yếu tố buộc người sản xuất phải đầu tư nhiều hơn Điều này để lại những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến chất lượng rau, cũng như môi trường đất, nước, hệ sinh thái nông nghiệp , trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Theo thống kê của tổ chức lao động quốc tế (ILO), ở Việt nam con số bị ngộ độc do ăn rau là không nhỏ Từ năm 1993 đến 6/1998, hàng chục ngàn người bị nhiễm độc do ăn phải rau còn dư lượng thuốc trừ sâu cao Nặng nhất là ở ĐBSCL, năm 1995
có 1300 người nhiễm độc, trong đó có 354 người chết Hàng loạt vụ ngộ độc đã và đang xảy ra là hồi chuông cảnh báo tới các cấp, các ngành và chính người sản xuất cũng như người tiêu dùng cần phải quan tâm hơn nữa (Trần Văn Hai, 2008)
Đông Anh là một huyện ngoại thành, ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô
Hà Nội, là một vùng trọng điểm nằm trong vùng đô thị lõi mở rộng trong quy hoạch tổng thể thủ đô Hà Nội đến năm 2050 Trong những năm vừa qua, huyện đã có những bước phát triển vượt bậc Trước năm 2009, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn ước đạt dưới 15 triệu đồng/người/năm thì đến hết năm 2012 đã tăng lên 22 triệu đồng/người/năm Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư đúng hướng
và có hiệu quả (Huy Kiên, 2013)
Diện tích đất cho công nghiệp ngày một tăng, diện tích đất cho nông nghiệp ngày càng thu hẹp Trong khi yêu cầu đặt ra là đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho huyện đã tạo ra sức ép khá lớn lên diện tích đất nông nghiệp nhỏ hẹp này, đòi hỏi cần có những biện pháp kỹ thuật tác động để nâng cao năng suất cây trồng trong khoảng thời gian ngắn Tuy nhiên, thâm canh cao trong nông nghiệp gắn liền với việc tăng cường sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ đã làm ảnh hưởng xấu tới môi trường xung quanh
Xã Vân Nội là xã nằm ở phía Tây huyện Đông anh - ngoại thành Hà nội
Từ lâu, xã Vân Nội đã nổi tiếng là làng rau chuyên canh với diện tích khá lớn của huyện, là nơi cung cấp rau cho thành phố Hà Nội và các vùng lân cận Nhu cầu thị hiếu của người dân về rau ngày càng gia tăng, rau bán trên thị trường trước hết phải có mẫu mã đẹp, xanh, non, mà không bị sâu bệnh Vì vậy, đòi hỏi người sản xuất cần phải tăng hàm lượng sử dụng thuốc BVTV, diệt trừ hết sâu
Trang 13bệnh để đảm bảo rau của mình dễ dàng được người dân sử dụng Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thực sự của rau cũng như chất lượng môi trường do lượng dư các hóa chất BVTV này, qua đó ảnh hưởng tới sức khỏe con người
Do vậy , việc tìm hiểu thực trạng sản xuất rau trong khu vực, thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau của xã và dư lượng của nó trong đất, nước là điều rất quan trọng và hết sức cần thiết Để từ đó đưa ra được những biện pháp quản
lý và kiểm soát cũng như các biện pháp kỹ thuật phù hợp trong sản xuất rau vừa đáp ứng được nhu cầu rau trong khu vực, vừa đảm bảo được chất lượng rau cũng như chất lượng môi trường xung quanh
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá biến động dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật trong môi trường tại khu vực sản xuất rau xã Vân Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội ”
3 Yêu cầu của đề tài
- Thông tin thu thập về tình hình sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn phải chính xác, phù hợp với thực tế của địa phương
- Các số liệu phân tích trong phòng thí nghiệm phải đảm bảo tính đại diện cho vùng trồng rau địa bàn nghiên cứu
- Nắm vững đầy đủ các thông tư, nghị định, quy định hiện hành về thuốc BVTV, các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường để đưa ra những kết quả đánh giá chính xác về tình hình sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn
- Đưa ra những đề xuất giải pháp khả thi, phù hợp với tình hình thực tiễn của xã
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau
1.2.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm rau, bên cạnh việc cải tiến không ngừng về giống, chủng loại rau, công nghệ sản xuất rau trên thế giới cũng không ngừng được hoàn thiện nhằm nâng cao năng suất và sản lượng rau xanh Đồng thời kiểm soát triệt để hơn hàm lượng kim loại nặng, nitrat, vi sinh vật, cũng như dư lượng thuốc BVTV có hại đối với sức khỏe con người Vì thế, năng suất và sản lượng rau trên thế giới các năm đã tăng lên rõ rệt Theo số liệu thống kê năm 2001 của FAO sự gia tăng đó được thể hiện qua bảng 1.1
Bảng 1.1 Biến động diện tích và năng suất rau trên thế giới
(Nguồn : Theo FAO STAT, số liệu năm 2006 )
Theo Sootsukon và cộng sự hiện có 120 chủng loại rau được sản xuất ở các vùng khác nhau nhưng chỉ có 12 loại chủ yếu được trồng nhiều chiếm khoảng 80% diện tích rau toàn thế giới (Bộ NN&PTNT,2005)
Qua bảng số 1.1 ta thấy, diện tích đất trồng rau trên thế giới liên tục tăng trong 20 năm qua Điển hình là Trung Quốc, diện tích đất trồng rau tăng rất nhanh đạt mức trung bình 6% /năm trong suốt 20 năm qua Trong khi đó các nước đang
Trang 15phát triển Châu Á và một số quốc gia phát triển khác có tốc độ tăng chậm hơn, đạt mức 3% /năm Tính chung trên toàn thế giới, diện tích đất trồng rau hiện đang tăng
ở mức 2,8 %/năm Còn đối với năng suất thì Brazil là nước có tốc độ tăng lớn nhất, đạt 2,57 % /năm Tính chung trên toàn thế giới năng suất tăng ở mức 1,18% /năm
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất rau của thế giới năm 2008
STT Tên quốc gia Sản lượng (Triệu tấn) Tỷ lệ (%)
(Nguồn: số liệu thống kê của FAO, 2008, Tỷ lệ quốc gia/ thế giới)
Hiện nay nhiều nước trên thế giới đã quan tâm đến RAT Hầu hết các nước trên thế giới đã ứng dụng những kỷ thuật tiên tiến trong sản xuất rau như: kỹ thuật thủy canh, kỹ thuật trồng rau trong điều kiện có thiết bi che chắn (nhà lưới, nhà nilon, nhà màn, màng phủ nông nghiệp) và trồng ở điều kiện ngoài đồng theo quy trình sản xuất nghiêm ngặt đối với từng loại rau và phù hợp với từng vùng sinh thái
Số liệu thống kê từ Eurostat cho thấy Thổ nhĩ kỳ, Italia, và Tây ban nha là các nước sản xuất nhiều rau quả nhất tại EU Sản lượng rau quả của
ba quốc gia này luôn đứng đầu EU trong nhiều năm qua (EU RAPGAP, 2003)
Trang 16Cùng với số lượng vấn đề chất lượng rau quả cũng đang được người tiêu dùng trên thế giới quan tâm Tháng 9 năm 2003 tổ chức bán lẻ Châu Âu (EUREP)
đã đề xuất tiêu chuẩn Thực hành Nông nghiệp tốt (GAP) Sản xuất RAT theo hướng GAP có thể được hiểu là sản phẩm khi đưa ra thị trường phải đảm bảo 3 yêu cầu:
An toàn cho môi trường, an toàn cho người sản xuất và an toàn cho người tiêu dùng
Ở Bắc Âu, năm 1991 đã có 4000 ha trồng rau trong dung dịch, ở Mỹ có 220
ha trồng trong nhà kính, trong đó có 75% ha diện tích rau được trồng bằng công nghệ không dùng đất Ở Hà Lan có 3600ha và Nam Phi có 400 ha trồng rau trong dung dịch Nước Hà Lan có nền công nghiệp phát triển diện tích việc áp dụng trồng cây không dùng đất trong mấy năm qua tăng đáng kể Từ 515 ha (1982), lên 800ha (1992), 1000ha (1984), 3000ha (1991) (Hồ Hữu An, 2005)
Tại Anh, người ta xây dựng một hệ thống kỹ thuật màng mỏng dinh dưỡng sử dụng nhiệt thừa của nhà máy điện với diện tích 8,1ha để trồng cà chua
Ở Pháp, từ năm 1975 người ta đã ứng dụng công nghệ này không những trồng rau mà còn trồng hoa với quy mô 300ha
Ở Singapo, người ta đã trồng các loại rau diếp, bắp cải, cà chua, su hào và một số loại rau ôn đới khác với kỹ thuật aeroponic Trước đây, các loại rau ôn đới trồng ở Singapore rất khó khăn nhưng với kỹ thuật mới này thì các loại rau hiện nay được trồng tương đối dễ dàng
Tại Gabong với kỹ thuật trồng không dùng đất, năng suất dưa tây đạt 3kg/m2sau trồng 75 ngày, dưa chuột 7kg/m2 sau trồng 90 ngày
Từ năm 1983 – 1984 ở Nhật Bản người ta đã trồng RAT với công nghệ không dùng đất tăng khoảng 500ha, năng suất cà chua đạt 130 – 140 tấn/ha/năm và
xà lách đạt 700 tấn/ha/năm (Hồ Hữu An, 2005)
1.1.2 Tình hình tiêu thụ rau trên thế giới
Rau được dùng kết hợp với các loại hoa quả thực phẩm rất tốt cho sức khoẻ
do có chứa các loại vitamin, các chất chống ôxi hoá tự nhiên, có khả năng chống lại một số bệnh như ung thư Do vậy nhu cầu tiêu thụ rau quả ngày càng tăng Người dân Nhật Bản tiêu thụ rau quả nhiều hơn người dân của bất cứ quốc gia nào trên thế giới, mỗi năm Nhật Bản tiêu thụ 17 triệu tấn rau các loại, bình quân mỗi người tiêu
Trang 17thụ 100 kg/năm Xu hướng hiện nay là sự tiêu thụ ngày càng nhiều các loại rau tự nhiên và các loại rau có lợi cho sức khoẻ Trung bình trên thế giới mỗi người tiêu thụ 154 - 172g/ngày (FAO, 2006 [FAO start database, 2006]) Theo dự báo của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) do tác động của các yếu tố như sự thay đổi cơ cấu dân số, thị hiếu tiêu dùng và thu nhập dân cư, tiêu thụ nhiều loại rau sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2005 - 2010, đặc biệt là rau ăn lá Việc tiêu thụ rau diếp và các loại rau ăn lá khác tăng 22 - 23%, trong khi mức tiêu thụ khoai tây và các loại rau ăn củ chỉ tăng 7 - 8 %
1.2 Thực trạng sản xuất, tiêu thụ rau ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất rau tại Việt Nam
Nước ta có lãnh thổ dài trên 15 vĩ độ địa lý với địa hình không bằng phẳng
đã hình thành nên nhiều vùng sinh thái có đặc thù riêng Nằm ở vùng Đông Nam Á, Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, gió mùa với tiềm năng nhiệt và bức xạ khá phong phú, nước ta có 4 vùng trồng rau lớn với những đặc trưng sinh thái đặc sắc (Đường Hồng Dật, 2002); (Trần Đức Hạnh, 1997)
1) Vùng rau Á nhiệt đới Sa Pa, Bắc Hà (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng): khí hậu quanh năm có nền nhiệt độ thấp, mùa đông lạnh với nhiệt độ tối thấp khoảng 4 – 50C, đôi khi xuống dưới 00C rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại rau có nguồn gốc ôn đới
2) Vùng rau nhiệt đới có mùa đông lạnh Đồng bằng và Trung du Bắc bộ: khí hậu có 4 mùa rõ rệt, mỗi mùa cho phép trồng một số loại rau thích hợp, hình thành các vụ rau khác nhau Vụ Xuân trồng các loại rau ít chịu nóng như rau cải, rau cần, ngô rau…Vụ Hè phù hợp cho các loại rau chịu nóng và ưa nước như rau muống, cà pháo…Vụ Thu trồng các loại rau ít chịu lạnh như su hào, cà chua, còn vụ Đông phù hợp với các loại rau chịu lạnh như súp lơ, bắp cải, khoai tây…
3) Vùng nhiệt đới có mùa hè khô nóng Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận): phù hợp với các loại rau đặc thù như các loại dưa và đặc biệt là tỏi, hành tây
4) Vùng nhiệt điển hình Nam Bộ với khí hậu hàng năm chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô nên có thể trồng các loại rau ưa nước trong mùa mưa và cây chịu hạn trong mùa khô
Trang 18Đầu thập kỷ 90, diện tích trồng rau của Việt Nam phát triển nhanh chóng và ngày càng có tính chuyên canh cao Ở các tỉnh phía bắc, diện tích trồng rau vụ đông năm 2005 đạt 137,4 nghìn ha( bằng 95.5%), năng suất đạt 153,5 tạ/ha(tăng 5,6%) và sản lượng đạt 2,1 triệu tấn(tăng 1,1%) so với vụ đông năm 2004 các tỉnh phía nam, năm 2006 gieo trồng được khoảng 235,182 ha rau các loại, tăng 22,959 ha so với năm 2005 và tăng chủ yếu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long( 20.504 ha) Năng suất bình quân là 154,85 tạ/ha, sản lượng đạt 3.641.896 tấn, tăng hơn năm 2005 là 363.837 tấn (Cục Trồng trọt, 2006)
Theo số liệu từ Sở NN & PTNT, năm 2012 diện tích trồng rau cả nước ước
đạt khoảng 823.728 ha (tăng 103,7% so với năm 2011), năng suất ước đạt 170 tạ/ha (tăng 102% so với năm 2011), sản lượng ước đạt 14,0 triệu tấn (tăng 106% so với năm 2011); trong đó miền Bắc diện tích ước đạt 357,5 nghìn ha, năng suất ước đạt
160 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 5,7 triệu tấn; miền Nam diện tích ước đạt 466,2
nghìn ha, năng suất dự kiến đạt 178 tạ/ha, sản lượng đạt 8,3 triệu tấn
Bảng 1.3 Diện tích rau ở Việt Nam phân theo địa phương
Nguồn: Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, 2013
Theo ông Trần Xuân Định – Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), năm 2013 diện tích gieo trồng rau cả nước đạt khoảng 834.500ha (tăng 10.772 ha so với năm 2012); năng suất ước đạt 177,5 tạ/ha (tăng 5,53%); sản lượng ước đạt 14,5 triệu tấn (tăng 7,2%) (Dân Việt, 2014)
Trang 19Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu rau quả và Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, những năm gần đây các loại rau được xác định có khả năng xuất khẩu là
cà chua, dưa chuột, đậu rau, ngô rau…phát triển mạnh cả về quy mô và sản lượng, trong đó sản phẩm hàng hóa chiếm tỷ trọng cao (Hoàng Xuân Phương, 2010)
Hiện nay rau được sản xuất theo 2 phương thức tự cung tự cấp và sản xuất hàng hóa, trong đó rau hàng hóa tập trung chính ở 2 khu vực:
- Vùng rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân cư Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông nghiệp, với nhiều chủng loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá, song mức độ không an toàn của sản phẩm rau xanh và ô nhiễm môi trường canh tác rất cao
- Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau được trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu Tiêu thụ sản phẩm rất đa dạng: phục vụ ăn tươi cho dân cư trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu
Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được hình thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh, màng dinh dưỡng, nhân giống và sản xuất các loại cây quý hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính của Israel có điều khiển kiểm soát các yếu tố môi trường (Vũ Thị Hòa, 2011)
1.2.2 Tình hình tiêu thụ rau tại Việt Nam
Nhìn chung, ngành trồng rau đã đóng góp một khối lượng sản phẩm đáng kể cho xuất khẩu ở nước ta Từ năm 1957, rau quả Việt Nam đã có mặt tại Trung Quốc Thời kỳ 1986 – 1990, thực hiện Hiệp định hợp tác đã ký giữa hai Chính phủ Việt Nam và Liên Xô cũ (01/1985) về xuất khẩu sản phẩm rau quả sang Liên Xô, một khối lượng lớn rau đã được bán, góp phần không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu cho đất nước
Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 464,3 triệu USD, tăng 5,8% so với năm 2009 Năm 2011 đạt 625 triệu USD, tăng 34,8% so với năm 2010 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2012)
Trang 20Theo Bộ Công Thương, đến năm 2012, kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng lên
770 triệu USD Những tháng đầu năm 2013 kim ngạch xuất khẩu đạt 187 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2012
Tính đến năm 2013, cả nước có 60 nhà máy chế biến rau quả với công nghệ, thiết bị hiện đại, sản phẩm đa dạng, chất lượng đáp ứng được yêu cầu của thị trường như Nhật Bản, Mỹ và châu Âu Tuy nhiên, công suất hoạt động thực tế của những nhà máy này chỉ đạt 20-30% Nguyên nhân là một số nhà máy xây dựng xong thiếu nguyên liệu, các vùng nguyên liệu xa nhà máy, chi phí vận chuyển lớn, nguyên liệu không đảm bảo các yêu cầu chất lượng nên không thể chế biến xuất khẩu được Ngoài ra, một trong những nguyên nhân khiến ngành rau quả Việt Nam gặp khó khăn là đa số các giống rau, hoa quả không ổn định cả về chất lượng và giá thành, gây ảnh hưởng đến sản xuất của nông dân Mỗi năm Việt Nam phải chi 200 triệu USD nhập khẩu các loại hạt giống phục vụ ngành trồng trọt trong nước (Đan Phương, Hoàng Tuyết, 2013)
Nhà xuất khẩu đã chịu đầu tư mở rộng tìm kiếm nghiên cứu thị trường xuất khẩu, đến nay sản phẩm rau quả đã có mặt rại 50 quốc gia trên thế giới, trong đó chủ yếu là Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hà Lan, CHLB Nga, Đài Loan…
Đa số các doanh nghiệp xuất khẩu nhận thức được tầm quan trọng về quản lý chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, một số lớn doanh nghiệp chế biến xuất khẩu
đã được chứng nhận HACCP, ISO, BRC, Kosher, Halal…Doanh nghiệp cũng rút nhiều kinh nghiệm, quen dần tập quán mua bán hàng hóa của các thị trường chính: EU, hoa Kỳ, Trung Đông, biên mậu phía Bắc…Sản phẩm rau quả Việt Nam xuất khẩu ngày càng đa dạng hơn, mới lạ hơn (Hiệp hội rau quả Việt Nam, 2009)
1.3 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau
1.3.1 Những hiểu biết chung về thuốc BVTV
1.3.1.1 Khái niệm về thuốc BVTV
Để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng do việc bùng nổ dân số, cùng với xu hướng đô thị hóa và công nghiệp hóa ngày càng mạnh, con người chỉ có cách duy nhất: Thâm canh để tăng sản lượng cây trồng Khi thâm canh cây trồng, một hậu quả tất yếu không thể tránh được là mất cân bằng sinh thái, kéo theo sự phá hoại của dịch hại ngày càng tăng Để giảm thiệt hại do dịch hại gây ra, con người phải đầu tư
Trang 21thêm kinh phí để tiến hành các biện pháp phòng trừ, trong đó biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được coi là quan trọng (Nguyễn Trần Oánh, 2007)
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật Những sinh vật gây hại chính gồm sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân khác (Trần Văn Hai, 2008)
Thuốc BVTV là những hợp chất hóa học (vô cơ, hữu cơ), những chế phẩm sinh học (chất kháng sinh, nấm, vi khuẩn, siêu vi trùng, tuyến trùng…), những chất
có nguồn gốc thực vật, động vật, được sử dụng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của các sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chim, chuột, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại…) Theo quy định tại điều 1, chương 1, điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ – CP ngày 03/06/2002 của Chính phủ), ngoài tác dụng phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm cả những chế phẩm có tác dụng điều hòa sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô cây, giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thuận tiện (thu hoạch bông vải, khoai tây bằng móc…) Những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt Trong các nhóm thuốc BVTV trên đây được sủ dụng phổ biến hơn cả là thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh và thuốc trừ cỏ dại Tuy nhiên, , các nhóm thuốc BVTV chỉ tiêu diệt được một số loài dịch hại nhất định, chỉ phát huy hiệu quả tối ưu trong những điều kiện nhất định về thời tiết, đất đai, cây trồng, canh tác…(Chi cục BVTV Phú Thọ, 2009)
1.3.1.2 Phân loại HCBVTV
* Phân loại dựa vào đối tượng phòng chống
Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên (1996) và Lê Trung (1997), phân loại như sau:
- Thuốc trừ sâu (Insecticides)
- Thuốc trừ nấm và vi khuẩn (Fungicides, Bactericides)
- Thuốc diệt loài gặm nhấm (Rodenticdes, Zoocides)
Trang 22- Thuốc trừ ký sinh trùng (Acarcides, Miticides)
- Thuốc trừ cỏ dại và cây dại (Herbicides, Arboricides)
- Thuốc gây rụng lá (Defulicumts)
- Chất điều hòa sinh trưởng (Growth regulators)
* Phân loại dựa theo con đường xâm nhập
Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên (1996) phân loại như sau:
- Thuốc có tác dụng tiếp xúc: là những loại thuốc có thể gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua da
- Thuốc có tác dụng vị độc: gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua con đường tiêu hóa
- Thuốc xông hơi: là thuốc có khả năng bốc hơi đầu độc bầu không khí bao quanh dịch hại và xâm nhập vào cơ thể sinh vật qua hệ hô hấp
- Thuốc nội hấp: là những thuốc có khả năng xâm nhập vào cây qua thân, lá hoặc rễ và được dịch chuyển trong cây
- Thuốc có tác dụng thấm sâu: là những thuốc có khả năng xâm nhập qua biểu bì lá cây và thấm sâu vào lớp tế bào nhu mô
* Phân loại dựa vào nguồn gốc, cấu trúc hóa học
Phùng Minh Phong (2002), dựa vào nguồn gốc, cấu trúc hóa học, người ta phân các HCBVTV thành 11 nhóm chính, các thuốc còn lại thuộc nhóm 12
- Nhóm 1: lân hữu cơ gồm Diazinon, Dichlorovos, Trichlofon…
- Nhóm 2: Clo hữu cơ gồm Lindan, DDT 2, 4 – D, Thiodan…
- Nhóm 3: Các hợp chất chứa axit Phenoxy alkanic
- Nhóm 4: Các hợp chất Cacbon mạch thẳng, mạch vòng và chế phẩm
- Nhóm 5: Carbamat gồm Carbaryl, Carbofran…
- Nhóm 6: Dithiocarbamat gồm Cartap (Padan)…
Trang 23- Nhóm 12: Các loại thuốc còn lại
Ngoài 3 cách phân loại trên còn có nhiều cách phân loại khác nhằm phục vụ cho mục đích sử dụng hay nghiên cứu
Theo Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên (1996), thì việc phân loại như trên mang tính quy ước vì một loại thuốc có thể trừ được nhiều loại dịch hại, chúng lại có khả năng xâm nhập khác nhau vào cơ thể sinh vật và trong phân tử của chúng lại có các nhóm nguyên tố hay các nguyên tố mà người ta xếp chyungs vào những nhóm khác nhau
1.3.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài nước tưới, phân bón, giống là 3 yếu tố tạo năng suất và sản lượng cây trồng cao thì thuốc BVTV cũng rất quan trọng Thuốc BVTV có thể được coi như sử dụng đầu tiên là dung dịch huyền phù Boocđo (1881) Trong một thời gian dài, người ta dùng các chất vô cơ như HCN, Đồng Asenat, Chì Asenat…làm thuốc trừ dịch hại cây trồng
Theo một số tác giả thì từ năm 1013 ở Đức, hợp chất thủy ngân hữu cơ đầu tiên được sử dụng để bảo quản hạt giống Năm 1924, Zeidler đã tổng hợp được DDT nhưng phải đến năm 1939, Muler mới phát hiện ra khả năng diệt sâu hại của
nó Điều đó đặt nền móng cho việc sử dụng các hợp chất hữu cơ, hữu cơ – vô cơ vào mục đích làm HCBVTV Sau đó là các hợp chất Clo hữu cơ, Carbamat, các hợp chất Photpho hữu cơ được phát hiện và dùng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới
Năm 1972, người ta đã thành công trong việc sản xuất từ cây cỏ tự nhiên nhóm hoạt chất Pyrethroid, đây là nhóm hóa chất diệt côn trùng mới và có ý nghĩa hết sực quan trọng Trong những năm của thập kỷ 70 – 80, có nhiều HCBVTV mới được ra đời, những hợp chất này có hiệu quả ở nồng độ thấp hơn các loại trước đây Tiêu biểu của thế hệ mới này là chất diệt cỏ Sulfonyl urealaxyl và Triadimefon (Phùng Minh Phong, 2002)
Tác hại của sâu bệnh, nấm, vi khuẩn…rất lớn không thể lường trước được Người ta đã dự tính tác hại của sâu bệnh, cỏ dại, vi khuẩn lên đến 46% tiềm năng năng suất lúa thế giới (Cramer, 1967) Riêng Châu Á thiệt hại đến 51,6% và riêng ở
Mỹ hàng năm thiệt hại khoảng 80 tỷ đôla Thuốc BVTV đã thực sự được đánh giá
Trang 24cao, được ghi nhận vai trò của mình trong sản xuất nông nghiệp Theo Viện lúa quốc tế (IRRI), trong thí nghiệm nhờ sử dụng thuốc BVTV mà đã bội thu được 2,7 tấn/ha, đó là kết quả nghiên cứu dài hạn từ 1964 – 1971 (Pathak và Dyek, 1974)
Theo Phùng Minh Phong (2002), ngày nay trên thế giới đang khuyến khích dùng các biện pháp sinh học và phòng trừ tổng hợp để bảo vệ cây trồng nhằm hạn chế sử dụng các hóa chất BVTV có hại cho môi trường Tuy nhiên, hóa chất BVTV vẫn được sử dụng nhiều về số lượng và chủng loại Có khoảng 90% lượng hóa chất BVTV được sử dụng trong nông nghiệp, còn lại được sử dụng trong y tế
Ngày nay, thế giới có khoảng 900 – 1000 loại thuốc chính với khoảng 5000 loại dẫn xuất khác nhau Số lượng thuốc BVTV trên toàn cầu đạt tới hàng triệu tấn (thống kê điều tra 1990 – 1991 là 25 triệu tấn) Các nhà khoa học đã nghiên cứu tình hình sử dụng hóa chất BVTV cho rằng, tiêu thụ thuốc BVTV trên toàn cầu năm
1985 khoảng 3 triệu tấn, trong những năm gần đây con số này tăng lên rất nhiều Đối với các nước phát triển như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản sử dụng khoảng 20%, còn các nước đang phát triển sử dụng 10% tổng số hóa chất BVTV
Vấn đề tác hại của hóa chất BVTV là không nhỏ, tại các nước nghèo, trình
độ dân trí thấp đã có hơn 100.000 người chết vì ngộ độc hóa chất BVTV trong nguồn nước và trong thực phẩm Ngoài ra có khoảng 400.000 người khác bị ảnh hưởng đến sức khỏe Theo tổ chức sức khỏe thế giới ước tính thì hàng năm có khoảng 3% nhân lực nông nghiệp bị nhiễm độc hóa chất BVTV theo nhiều con đường khác nhau (Nguyễn Đình Mạnh, 2000)
1.3.3 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV cho rau tại Việt Nam
Ở Việt Nam, thuốc BVTV thực sự có ý nghĩa trong sản xuất nông nghiệp trong hơn 40 năm qua (miền Bắc từ năm 1956 và miền Nam từ năm 1962) Tuy lịch
sử sử dụng thuốc BVTV ở nước ta chưa dài song bước đi cũng giống như nhiều nước khác (Hải Yến, 2006)
Giai đoạn từ trước 1957-1975, thuốc BVTV DT-666 được sử dụng đầu tiên
để trừ sâu, tiếp đến là các loại thuốc có chứa thủy ngân hữu cơ, sau đó là nhóm lân hữu cơ và carbonat Thời kì bao cấp, việc nhập khẩu quản lý và phân phối thuốc BVTV hoàn toàn do nhà nước thực hiện với hơn 20 chủng loại, chủ yếu là thuốc trừ
Trang 25sâu và thuốc trừ bệnh Giai đoạn 1976-1980, mỗi năm cả nước sử dụng 1.600 tấn hóa chất BVTV ,tiếp đó giai đoạn 1986-1990 trung bình mỗi năm sử dụng 1.400 tấn hóa chất BVTV
Giai đoạn từ 1990 đến nay, nhờ chính sách đổi mới năm 1986, thị trường hóa chất BVTV có thay đổi, nền kinh tế thị trường phát triển, nguồn hàng phong phú Năm 1991 tỉ lệ hóa chất trừ sâu chiếm 83,3%, hóa chất trừ nấm 9,5%, hóa chất diệt
cỏ 4,1%, và những loại khác 3,1% (Đỗ Văn Hòe, 2005) Đến năm 2008, tỉ lệ hóa chất trừ sâu chiếm 37,9%, hóa chất trừ nấm 21,12%, hóa chất diệt cỏ 13,77%, hóa chất diệt côn trùng 23,46% và các loại khác 3,75% Lượng hóa chất BVTV tiệu thụ qua các năm tăng dần, kinh ngạch nhập khẩu hóa chất BVTV tăng mạnh Theo số liệu của tổng cục thống kê, kim ngạch nhâp khẩu hóa chất BVTV và nguyên liệu năm 2007 là hơn 382.8 triệu USD tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 2006, năm 2008
là 473,7 triệu USD tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2007
Bảng 1.4 Lượng thuốc sâu sử dụng ở Việt Nam qua các giai đoạn
(tấn thành phẩm)
Trung bình lượng chất tác dụng (kg/ha)
(Báo cáo chất lượng môi trường quốc gia, năm 2010)
Việt Nam nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu từ các thị trường như Trung Quốc, Ấn Độ, Đức, Xingapo, Thái Lan, Nhật Bản…Số liệu thống kê sơ bộ của Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, tính từ đầu năm cho đến hết tháng 4/2014, Việt Nam đã nhập khẩu 265 triệu USD mặt hàng thuốc trừ sâu và nguyên liệu, tăng 2,83% so với cùng kỳ năm 2013 Trong đó phần lớn thuốc trừ sâu và nguyên liệu nhập từ thị trường Trung Quốc, chiếm 57,2% tổng kim ngạch, tăng 26,08%, tương đương với 151,6 triệu USD; đứng thứ hai là thị trường Ấn Độ, đạt 14,5 triệu USD, tăng 5,77% (Tổng cục Môi trường, 2014)
Trang 26Tình trạng buôn bán hóa chất, đặc biệt là thuốc BVTV trên thị trường rất phức tạp Theo thống kê, trên thị trường có khoảng 22000 cửa hàng buốn bán thuốc BVTV, trung bình mỗi tỉnh có 400 – 500 của hàng, rải đều trên diện rộng
ở tất cả các xã, phường vùng sâu vùng xa nên việc quản lý là rất khó khăn Là mặt hàng hạn chế kinh doanh nhưng theo thống kê của cục BVTV, hiện nay mới chỉ có 80% cá nhân buôn bán thuốc được cấp chứng chỉ hành nghề 20% hoạt động buôn bán không có chứng chỉ, chủ yếu tập trung ở các của hàng nhỏ
lẻ, vùng sâu, vùng xa rất khó kiểm soát (Phương Vân, 2008)
Thời gian cách ly thuốc BVTV là 1 vấn đề lớn nhất trong giai đoạn hiện nay Ở nước ta, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đó là cần có thời gian cách ly sau khi sử dụng thuốc BVTV trên rau và các loại cây thực phẩm khác Theo điều tra của cục BVTV, hầu hết nông dân đều vi phạm thời gian cách ly theo quy định sau khi phun thuốc Sự vi phạm lớn nhất là trên nhóm rau ăn quả như
cà chua, đậu đỗ, tiếp theo là đến các loại rau ăn lá
Bảng 1.5 Thực trạng thời gian cách ly thuốc BVTV đối với rau
Địa điểm
Số hộ điều tra
Tỷ lệ (%) số hộ nông dân thực hiện ở khoảng thời gian cách ly (ngày)
1 – 3 4 – 6 7 – 10 11–15 > 15
Trên rau ăn lá
Minh Khai, Từ Liêm 58 6,9 37,9 25,9 13,8 15,5 Tiền phong, Mê Linh 73 9,6 35,6 30,1 13,7 11,0 Song Phương, Hoài Đức 60 10,0 46,7 18,3 15,0 10,0
Hưng Tiệp, Hưng Yên 55 12,5 29,1 25,5 14,5 18,2
Rau ăn quả
Song Phương, Hoài Đức 60 35,0 43,3 10,0 - -
Trang 27Theo cục BVTV, hàng năm cả nước sử dụng khoảng 20.000 – 25.000 tấn thuốc BVTV các loại Nếu tính nồng độ thuốc khoảng 2% thì lượng thuốc phun là 75.1010 lít.Với diện tích canh tác 7 triệu ha đã sử dụng 10.104 lít thuốc 2%/ha/năm nay hay có thể hình dung là 11 lít thuốc 2%/m2/năm Tuy nhiên, theo Phạm Bình Quyền và CTV (1995), thuốc BVTV sử dụng ở vùng rau Đà Lạt là 5,1 – 13,5 kg/ha, vùng ĐBSCL là 1,5 – 1,7 kg/ha, chè ở Hòa Bình là 3,2 – 3,5 kg/ha Điều tra vùng trồng rau Từ Liêm, Hà Nội năm 1996 đã thấy, tại Mai Dịch, Tây Tựu, một vụ rau phun thuốc đến 25 lần, loại thuốc chủ yếu được sử dụng là Monitor, Dipterx, Basa, DDT, Wofatox, Validacin…
Gần đây (1993) tuy đã có lệnh cấm sử dụng nhóm thuốc DDT, Heptaclo (thuộc nhóm clo hữu cơ) song thực tế người dân vẫn sử dụng Nguyên nhân chủ yếu là do giá
rẻ, phổ diệt rộng và hiệu quả diệt sâu tương đối cao (Nguyễn Đình Mạnh, 2000)
1.3.4 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với môi trường
1.3.4.1 Dư lượng thuốc BVTV trên rau và tác động tiêu cực của chúng
Trên thế giới, nền công nghiệp thuốc BVTV phát triển rất nhanh để đáp ứng đòi hỏi ngày càng to lớn của nền nông nghiệp thâm canh cao Nếu như cuối những năm 80 của thế kỷ trước, doanh số thuốc BVTV bán ra trên toàn thế giới mới vượt 20 tỷ đô la
Mỹ hàng năm thì đến nay, khoảng 15 năm sau, con số này đã vượt 35 tỷ đô, trong đó khoảng một nửa là ở Châu Âu và Bắc Mỹ, khoảng 25% ở Viễn Đông và khoảng 25% ở các nước còn lại (Stephenson, 2003) Yêu cầu mức độ an toàn và sự đánh giá chặt chẽ về ảnh hưởng của thuốc đến môi trường và người tiêu dùng đã làm cho chi phí cho sự ra đời một loại thuốc mới hiện nay là rất cao Theo IUPAC – KSBS, (2003), chi phí này trung bình hiện nay là 184 triệu đô la Mỹ, gấp 8 lần so với 20 năm trước đây (gồm phát minh, phát triển và đăng ký) Thời gian phát triển mỗi sản phẩm mới trung bình là 9,1 năm (8,3 năm năm 1995), và để chọn ra một sản phẩm, số hợp chất phải đánh giá là 140.000 (52.000 trong năm 1995)
Việc lạm dụng thuốc BVTV đã đưa đến sự nguy hại cho sức khỏe con người Don Echobinson ước lượng rằng, ở Bắc Mỹ, hàng năm nhiều ngàn người bị ngộ độc thuốc BVTV; Còn ở các nước đang phát triển, hàng triệu người bị ngộ độc cấp tính và
Trang 28hàng ngàn người bị chết do sử dụng thuốc BVTV Con số người bị ngộ độc mãn tính còn lớn hơn nhiều (Stephenson, 2003)
Mức dư lượng tối đa cho phép (MRL) là mước có thể tìm thấy nếu sản phẩm được áp dụng theo “nhãn” hướng dẫn, nó là giới hạn dư lượng ở “cổng trang trại”, là chỉ tiêu để kiểm tra độ tin cậy của nhãn thuốc, như là tiêu chuẩn trong thương mại quốc tế, thấp hơn hẳn mức liên quan đến sức khỏe cộng đồng Đã phát triển chứng chỉ rộng trên thế giới toàn cầu về nông sản sản xuất theo GAP như EUREPGAP của Cộng đồng châu
Âu và nhiều siêu thị sử dụng sản phẩm có chứng chỉ này (Syngenta, 2005)
Theo Charles (2004) nghiên cứu tại Mỹ năm 2004 cho thấy thuốc BVTV có hiện tượng gây ô nhiễm không chỉ ngay ở vùng nó được sử dụng mà cả các vùng lân cận do rửa trôi Các mẫu rau có dư lượng cao thuộc về đậu ăn quả, cà chua, rau
bí, ớt, rau diếp Tuy nhiên, số liệu năm 1999 – 2000 cho thấy nông sản vùng sử dụng hóa chất thông thường có dư lượng cao gấp 5 lần và số mẫu có dư lượng cao gấp 6,8 lần so với nông sản ở vùng canh tác hữu cơ bên cạnh Cũng theo tác giả này, thuốc BVTV chính dùng cho canh tác thông thường và canh tác hữu cơ là Lưu huỳnh, dầu khoáng trừ sâu, thuốc trừ nấm chứa đồng Lưu huỳnh thường có dư lượng trong rau quả song nó rất ít độc qua thực phẩm và được miễn trừ đòi hỏi MRL Đồng cũng được miễn trừ về MRL và thực chất nó còn là dinh dưỡng quan trọng cho cây và nó ít độc qua dư lượng trong nông sản Nông dân canh tác hữu cơ dựa nhiều vào thuốc trừ sâu Baccilus thuringiensis (BT), pheromone và các sản phẩm được sinh ra từ các vật liệu không độc và được phân hủy sinh học nhanh Thuốc thảo mộc được sử dụng ngày càng nhiều trong canh tác hữu cơ (48% nông dân sử dụng) bao gồm pyrethrins, neem, rotenone, sabadilla (Charles, 2004)
Tác giả Oh (2000) đặc biệt lưu ý thận trọng về dư lượng các chất ô nhiễm hữu
cơ bền vững (POP) và các thuốc phá vỡ tuyến nội tiết (Endocrine disrupter) Các hợp chất này có thể kích thích hoặc ức chế hiệu quả của hormone như estrogen, testosterone, insulin, melatonin hoặc hoạt động như là một hệ thống tuyến nội tiết Chúng còn có thể gây ra những vấn đề về sự phát triển cơ thể và sinh sản Các thuốc có tình chất nguy hiểm này là DDT, PCB, Lindane, Zineb, Maneb, Endosulfan, Atrazine, một số thuốc Pyrethroid tổng hợp, một số hoạt chất này đã bị cấm sử dụng
Trang 29Kết quả kiểm tra gần đây ở Mỹ (năm 2003) cho thầy có 1,9% số rau nội địa không an toàn về dư lượng thuốc BVTV và 37,4% mẫu rau không phát hiện thấy dư lượng thuốc BVTV Đặc biệt một số nhóm rau có nguy cơ cao (5 – 13% số mẫu có dư lượng thuốc BVTV cao quá mức tối đa cho phép) là rau ăn lá, rau ăn thân, rau ăn củ, mướp tây, dưa chuột, cà, rau diếp (USFDA, 2005)
Trên thế giới, vấn đề kiểm tra và đánh giá dư lượng thuốc BVTV trên rau được làm thường xuyên ở nhiều nước, nhất là các nước phát triển Chẳng hạn, ở Mỹ
và Đài Loan, hàng năm mỗi nơi đều phân tích trên 10 nghìn mẫu nông sản Kết quả phân tích dư lượng được so với MRL cho thấy, đến nay tuyệt đại đa số các mẫu rau sản xuất tại nhiều nước là khá an toàn Thị trường xuất nhập khẩu rau của các nước Đông Á và Đông Nam Á hàng năm đạt hàng chục tỷ đô la đòi hỏi các nước phải có các giải pháp gắt gao để đảm bảo sản phẩm rau an toàn, nhất là về dư lượng thuốc BVTV (Vong Nguyen, 2002)
Bảng 1.6 Tình hình dư lượng thuốc BVTV trên rau ở một số nước
Nước
Tỷ lệ % mẫu
có dư lượng thuốc BVTV
Tỷ lệ % mẫu có dư lượng thuốc BVTV >
(Shu – Jen Tuan, 2001); B Y Oh, (2000)
Ở nước ta, từ năm 1996 – 2001, sản phẩm rau được kiểm tra ở Hà Nội và Tp
Hồ Chí Minh có tới 30 – 60% số mẫu rau có dư lượng thuốc BVTV, trong đó 4 – 16% mẫu có dư lượng vượt quá mức cho phép (Cục BVTV, 2002) Ở nước ta, do chưa có điều kiện quản lý chặt chẽ dư lượng thuốc BVTV trong nông sản, các kết quả về phân tích dư lượng thuốc BVTV trong sản phẩm rau còn ít, song cũng đã phản ánh tình trạng báo động về mức độ ô nhiễm này Số liệu có được từ năm 1997 – 2000 cho thấy khoảng trên 60% số mẫu rau được phát hiện có dư lượng thuốc BVTV, trong đó khoảng 30% mẫu có dư lượng thước vượt quá giới hạn tối đa cho phép (MRL)
Trang 30Đề cập đến hiện trạng dư lượng thuốc BVTV trong rau ở nước ta, Trung tâm Kiểm định thuốc BVTV phía Bắc đã đánh giá trong các năm 2000 – 2004, với rau cải, rau muống, cà chua, đậu đỗ, có tới 20 – 73% số mẫu có dư lượng thuốc BVTV, 2,8 – 36% số mẫu có dư lượng vượt mức cho phép Các loại rau có tỷ lệ mẫu mà dư lượng vượt mức cho phép cao nhất là rau cải và đậu đỗ (TT Kiểm định thuốc BVTV phía Bắc, 2005)
Theo Ohio (2003), tại Hàn Quốc, một số cơ quan có nhiệm vụ giám sát dư lượng thuốc trong nông sản như Viện Khoa học công nghệ nông nghiệp (NIAST) kiểm tra trên đồng ruộng Sở Quản lý chất lượng sản phẩm nông nghiệp quốc gia (NAPQMS) thuộc Bộ Nông nghiệp và Ngư nghiệp kiểm tra ở “cổng trang trại”, Tổng cục Thuốc và Thực phẩm (KFDA) kiểm tra ở “điểm bán hàng” Kết quả kiểm tra ở trên đồng lúa của NIAST từ năm 1999 – 2002 đối với 7 thuốc trừ sâu (BPMC, Buprofezin, Carbofuran, Edifenphos, Iprobenphos, Isoprothiolane, Tricylazole), dư lượng trên gạo là từ 0 – 0,07 ppm (đều thấp hơn hẳn mức cho phép MRL: 0,2 – 0,7 ppm), trên rơm rạ là từ 0 – 2,7 ppm
Kiểm tra dư lượng rau quả nhập khẩu tại Hàn Quốc năm 2000 cho thấy tỷ lệ mẫu rau vi phạm là 6,1%, mẫu quả vi phạm là 2,1%, cao hơn hẳn các mẫu nông sản được sản xuất trong nước
Tại Mỹ, nhiều bang thừng xuyên có tài liệu hướng dẫn được cập nhật hàng năm cho nông dân các vùng trồng rau Tài liệu chỉ rõ với mỗi cây trồng, thuốc nào được sử dụng với liều sử dụng tối đa cho một đơn vị diện tích, PHI, đối tượng phòng trừ có hiệu quả, những chú ý về an toàn trong khi xử lý (Tom K, 2005) Tại bang Illinois (Mỹ), trường đại học Illinois đã xuất bản hàng năm tài liệu “Quản lý dịch hại nông nghiệp” trong đó có dịch hại trên cây rau hàng hóa Tài liệu này đã cung cấp thường xuyên cho người sản xuất các loại thuốc trừ dịch hại hiện có thể sử dụng trên từng cây trồng, liều lượng sử dụng, PHI, giới hạn tối đa được sử dụng trong một vụ (University of Illinois, 2000) Đây thực sự là một việc làm rất có ý nghĩa đối với nông dân trong việc sử dụng có hiệu quả và an toàn thuốc BVTV mà nhiều nơi trong đó có nước ta nên làm
Trang 31Tại Australia, Bộ Nông nghiệp tổ chức cho các hộ nông dân được huấn luyện
về sử dụng thuốc BVTV nếu nông sản của họ có dư lượng vượt quá 50% MRL Nếu nông sản của họ về sau cao hơn MRL thì họ sẽ bị phạt hoặc cấm hành nghề luôn tùy theo mức nặng nhẹ (Vong Nguyen, 2002) Tác giả cũng nêu rõ nguyên nhân làm cho rau bị ngộ độc thuốc BVTV là do nông dân sử dụng bừa bãi các loại thuốc BVTV với liều lượng cao, không đúng lúc, đúng thời điểm, trộn bừa bãi các loại thuốc với nhau không dựa trên cơ sở khoa học, đất tồn lưu nhiều hóa chất độc
Về quản lý PHI (PHI) của mỗi loại thuốc, Cheah (2001) cho rằng với mỗi loại thuốc BVTV mới, mỗi nước cần có thử nghiệm nhằm xác định cách sử dụng, liều lượng phù hợp cũng như PHI nhằm đảm bảo dư lượng trong nông sản thấp hơn MRL Tác gải còn khuyến cáo, với mỗi loại thuốc mới cần giám sát và kiểm tra trước và cả sau khi sanrphaamr đã đăng ký về tác động của chế phẩm này đến môi trường để có các điều chỉnh cần thiết (Zeneca Agrochemicals, 1999)
Tại Đài loan, do MRL trong Codex thiếu nhiều và trên quan niệm chỉ số này phụ thuộc không chỉ vào khả năng ăn, khối lượng cơ thể con người ở mỗi nước, các tác giả đã đưa ra hệ thống MRL cho các nhóm rau được phân loại dựa trên khả năng tương tự của chúng về dư lượng thuốc BVTV Các nhóm rau đó là rau ăn thân củ, rau ăn lá, rau ăn rễ và củ, rau ăn quả, dưa chuột, đậu rau (Wong, 1997)
1.3.4.2 Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường và tác động tiêu cực của nó
Hóa chất BVTV là những hợp chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp được dùng để phòng và trừ nhiều loại sinh vật gây hại cây trồng và nông sản phẩm Hóa chất BVTV gồm nhiều nhóm khác nhau, gọi theo tên nhóm sinh vật gây hại, như thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh…Trừ một số trường hợp, còn nói chung mỗi nhóm thuốc chỉ có tác dụng đối với sinh vật gây hại thuộc nhóm đó
Hóa chất BVTV nhiều khi còn được gọi là thuốc trừ dịch hại và khái niệm này bao gồm cả thuốc trừ các loại ve, bét, rệp hại vật nuôi và côn trùng y tế, thuốc làm rụng lá cây, thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng (Lê Văn Khoa, 1999)
Dư lượng là phần còn lại của hóa chất, các sản phẩm chuyển hóa của chúng
và các thành phần khác có trong thuốc, tồn tại một thời gian trên cây trồng, nông sản, đất, nước, dưới tác động của các hệ sống và điều kiện ngoại cảnh (ánh sáng,
Trang 32nhiệt độ, độ ẩm…) Dư lượng của hóa chất được tính bằng mg thuốc có trong một
Để bảo vệ sức khỏe của người sử dụng nông sản có phun thuốc, thì từng loại thuốc được quy định dư lượng tối đa cho phép (Maximum Residu Limit, viết tắt là MRL), tức là dư lượng thuốc BVTV cho phép có trong nông sản mà không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và vật nuôi Mức dư lượng tối đa cho phép được tính căn cứ vào lượng thuốc không gây hại cho cơ thể người trên cơ sở kết quả thí nghiệm trên động vật máu nóng Khoảng thời gian kể từ khi phun thuốc cho đến khi phân giải hết độc hại đạt mức dư lượng tối đa cho phép gọi là thời gian cách ly Việc sử dụng thuốc BVTV trong nông nghiệp làm nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường, theo Ross khi phun hóa chất BVTV có khoảng 50% rơi vào đất Ở trong đất hóa chất biến đổi và phân tán theo các con đường khác nhau đã phát hiện
dư lượng lớn của chúng trong đất, trong các trầm tích nước ngọt, trong cá và sữa bò
Do khả năng hòa tan cao trong lipit của hóa chất nên đã phát hiện chúng trong các
mô mỡ của động vật và như vậy, chúng đã lôi cuốn vào chuỗi thức ăn, là mối đe dọa nguy hại cho sức khỏe con người
Trang 33Mặc dù độ hòa tan của hóa chất BVTV tương đối thấp, song chúng cũng bị rửa trôi vào nước, gây ô nhiễm nước bề mặt, nước ngầm và nước vùng của sông ven biển Ở California (Mỹ) năm 1980 – 1984 đã phát hiện ra chất dibromo–cloro-propane ở 2.000 giếng nước ăn trong khu vực rộng 18.000 km2 Thuốc diệt cỏ như Atrazine, Alacclo, Simazine và các loại thuốc diệt giun cũng trở thành các chất gây
ô nhiễm phổ biến ở tầng đất canh tác của vườn cam và khoai tây ở nhiều nước Rất nhiều loại thuốc BVTV như DDT cũng có khả năng bay hơi vào trong không khí, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm như nước ta (Lê Văn Khoa, 1999)
Hóa chất BVTV bằng nhiều đường phát tán vào môi trường, xâm nhập vào
hệ sinh học và cuối cùng lại đi vào môi trường đất Người ta đã xác định khoảng 50% thuốc BVTV, thuốc chống nấm, bảo quản…được sử dụng trên thế giới đã vào đất Tại môi trường đất, chúng tồn tại từ 6 tháng đến 3 hoặc 4 năm Một số có độ bền cao (DDT, 666…) có thể tồn tại vài chục năm trong đất khi điều kiện thuận lợi (Nguyễn Đình Mạnh, 2000) Theo Phạm Bình Quyền, kết quả giám định dư lượng thuốc BVTV ở tỉnh Khánh Hòa cho thấy:
- Trong 423 mẫu đất phân tích có 39% số mẫu chứa hóa chất trừ sâu vượt ngưỡng cho phép 2 – 40 lần
- Trong 120 mẫu nước, có 36,6% số mẫu có dư lượng hóa chất trừ sâu vượt ngưỡng 2 – 40 lần
- Trong 728 mẫu rau có 24,7% số mẫu chứa dư lượng hóa chất BVTV vượt ngưỡng cho phép 2 – 6 lần
Tồn dư hóa chất BVTV cũng như nhiều chất độc khác sẽ ảnh hưởng đến chuỗi dinh dưỡng của con người Động vật thủy sinh (cá, tôm…) chịu tác động của dư lượng hóa chất BVTV qua thức ăn, nước uống Người ta phát hiện được vết Dioxin trong cá, tôm nuôi tại hò Phú Nham Nghiên cứu, điều tra các loại động vật thủy sinh ở 3 điểm nước tưới là Phùng Khoan (Hà Nội), Đông Quang (hà Tây), và Mai Dịch (Hà Nội) cho thấy, mương tưới Mai Dịch (nhiễm bẩn hóa chất BVTV) chỉ có 32 loài động vật thủy sinh trong đó các loại thân mềm và giáp xác vắng hoàn toàn; mương tưới Phùng Khoan
và Đông Quang khá sạch, không nhiễm bẩn hóa chất BVTV có từ 57 – 61 loài động vật thủy sinh (Phạm Bình Quyền và CTV, 1995)
Trang 34Theo Mai Thanh Tuyết, hóa chất BVTV là tên gọi chung cho tất cả các thuốc trừ rầy, thuốc sát trùng, thuốc diệt cỏ dại, thuốc trừ nấm…Đa số các hóa chất này là
do một hay nhiều nguyên tố Benzen kết hợp với nguyên tố clo, nói chung các hợp chất này có tính độc hại lên con người tương tự như Dioxin, do đó có tên gọi là Dioxin – tương đương Bẹnh ưng thư là một trong những ảnh hưởng của các hóa chất gây ra cho con người Thêm nữa, một số hóa chất BVTV còn chứa nguyên tố Asen và thủy ngân, mức nguy hại cho đến nay vẫn chưa được các khoa học gia kết luận một cách chính xác (Mai Thanh Tuyết, 2005)
Thanh tra cục BVTVHN cho biết: sử dụng thuốc BVTV lâu dài có thể gây ra ngộ độc, biểu hiện ở việc suy kiệt cơ thể, mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, thiếu máu, ảnh hưởng đến hệ thần kinh, miễn dịch, di truyền, gây biến dị tế bào, ảnh hưởng đến thế hệ mai sau Có những loại thuốc cực độc, chỉ càn một liều nhỏ do ăn phải trong rau, quả cũng có thể gây chết người (Mỹ Hằng, 2006)
Trang 35CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Thuốc BVTV và dư lượng thuốc trong đất, nước vùng trồng rau tại xã Vân Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: Xã Vân Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội
- Thời gian: 08/2013 – 08/2014
2.3 Nội dung nghiên cứu
1) Một số đặc điểm tự nhiên và kinh tế, xã hội của xã Vân Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội
2) Phân tích tình hình sản xuất rau ở địa bàn nghiên cứu
3) Thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau tại xã Vân Nội, huyện Đông Anh
4) Điều tra, đánh giá biến động của dư lượng thuốc BVTV trong đất, nước vùng trồng rau xã Vân Nội, huyện Đông Anh giai đoạn 2011 – 2013
5) Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng rau và bảo vệ môi trường sinh thái
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Sử dụng phương pháp “phỏng vấn nông hộ” bằng phiếu điều tra
Các thông tin cần thu thập bao gồm:
1) Các nguồn lực của nông hộ như: lao động, diện tích đất đai, khả năng đầu
tư sản xuất rau
2) Tình hình sản xuất rau của nông hộ (diện tích, năng suất, sản lượng, các biện pháp canh tác )
3) Tình hình sử dụng thuốc BVTV của nông hộ (loại thuốc, nồng độ, số lần phun, thời gian cách ly )
Trang 36Tổng số hộ điều tra là 60 hộ, các hộ được chọn phỏng vấn ở ba thôn: thôn Đầm, thôn Đông Tây và thôn Ba Chữ vì đây là ba thôn có diện tích trồng rau tương đối lớn Phỏng vấn người chủ chốt: thông qua đàm thoại, trao đổi trực tiếp với cán
bộ HTX nông nghiệp, chủ tịch hội nông dân, cán bộ phòng địa chính… với những nội dung đã được chuẩn bị trước để nắm được tình hình sản xuất, quản lý rau và thuốc BVTV tại địa phương
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Tài liệu thứ cấp được thu thập tại UBND xã Vân Nội, HTX Nông nghiệp, thư viện trường ĐHNNHN, sách, báo, tạp chí và các website liên quan
Nguồn tài liệu thu thập bao gồm: tài liệu thống kê về diện tích, năng suất, tiêu thụ sản phẩm và thuốc BVTV, báo cáo tổng kết của UBND xã, HTX sản xuất nông nghiệp, Các số liệu đo đạc, quan trắc dư lượng thuốc BVTV trong đất, nước của vùng trồng rau xã Vân Nội
2.4.3 Phương pháp khảo sát, quan trắc thực địa
Căn cứ vào số lượng, quy mô, diện tích đất sản xuất nông nghiệp tại làng rau Vân Nội – Huyện Đông Anh giai đoạn 2011 – 2013 để xác định số mẫu
- Nước mặt: mẫu nước được lấy tại nguồn nước tưới, số lượng 3 mẫu, các mẫu lần lượt được kí hiệu NM1, NM2, NM3 (lấy theo TCVN 5994:1995)
- Nước ngầm: mẫu nước được lấy tại các giếng khoan, số lượng 3 mẫu, các mẫu lần lượt được kí hiệu NN1, NN2, NN3 (lấy theo TCVN 6000:1995)
- Mẫu đất: lấy tại 3 vị trí, tầng mặt và cách tầng mặt 20cm, số lượng 6 mẫu, các mẫu lần lượt được kí hiệu: Đ1-1, Đ1-2; Đ2-1, Đ2-2 và Đ3-1, Đ3-2 (lấy theo TCVN 5297:1995)
Trang 37Bảng 2.1 Vị trí lấy mẫu nước và đất trồng rau tại làng Vân Nội, Đông Anh
NM3 583996 2338967 Tại cánh đồng thôn Đầm
NN1 584729 2339183 Nhà anh Chử Văn Thôi - Thôn Ba Chữ
NN2 584459 2338705 Nhà anh Trần Văn Đông - Thôn Đông Tây
NN3 583957 2338932 Nhà anh Bùi Văn Sang - Thôn Đầm
Đ1-1 584725 2339199 Tại cánh đồng thôn Ba Chữ (tầng mặt)
Đ1-2 584725 2339199 Tại cánh đồng thôn Ba Chữ (sâu 20cm)
Đ2-1 584381 2338759 Tại cánh đồng thôn Đông Tây (tầng mặt)
Đ2-2 584381 2338759 Tại cánh đồng thôn Đông Tây (sâu 20cm)
Đ3-1 583960 2338959 Tại cánh đồng thôn Đầm (tầng mặt)
Đ3-2 583960 2338959 Tại cánh đồng thôn Đầm (cách tầng mặt 20cm)
2.4.4 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu
a Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu nước mặt và nước ngầm:
Mẫu nước mặt và nước ngầm được lấy theo phương pháp lấy mẫu đơn TCVN 5994:1995 tiêu chuẩn Việt Nam hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo; TCVN 6000:1995 tiêu chuẩn Việt Nam hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm Tọa độ của điểm lấy mẫu được xác định bằng thiết bị định vị toàn cầu (GPS)
Thiết bị đo các thông số ngoài hiện trường – thiết bị đo chất lượng nước đa thông số TOA WQC-22A
Dụng cụ lấy mẫu mở và dụng cụ lấy mẫu bề mặt
Mẫu nước sau khi lấy xong được chuyển vào bình chứa trơ hóa học đậy kín, ghi rõ địa điểm, thời gian lấy mẫu , bảo vệ khỏi ánh sáng và sức nóng và chuyển thẳng đến phòng thí nghiệm ngay sau khi việc lấy mẫu kết thúc
Trang 38Mẫu được bảo quản lạnh ở 40C trong phòng thí nghiệm TCVN 5993-1995 (ISO5667-3:1985)
b Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu đất
- Mẫu đất được lấy theo TCVN 5297:1995 (tiêu chuẩn về chất lượng đất- lấy mẫu- yêu cầu chung) Tọa độ của điểm lấy mẫu được xác định bằng thiết bị định
vị toàn cầu (GPS)
Thiết bị lấy mẫu đất sử dụng ống dung trọng 5cm3 và thiết bị lấy mẫu theo tầng Theo TCVN 5297:1995, lấy mẫu đất canh tác xác định hàm lượng các hóa chất trong đất cần lấy một hỗn hợp từ ít nhất hai mẫu đơn trên một tầng thổ nhưỡng
độ sâu 0 đến 5cm và từ 5 đến 20cm
Mẫu đất sau khi được lấy xong được bảo quản trong chai lọ, túi nilon ghi
rõ vị trí, ngày lấy mẫu, độ sâu lấy mẫu đất
2.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
a) Phương pháp phân tích:
- Phân tích dư lượng thuốc BVTV trong các mẫu nước mặt:
+ Nhóm Clo hữu cơ trong nước xác định bằng phương pháp EPA- Method 508B, thiết bị GC/MS
+ Nhóm Phospho hữu cơ trong nước xác định bằng phương pháp Method 8141A, thiết bị GC/MS
EPA-+ Nhóm hóa chất trừ cỏ trong nước xác định bằng phương pháp EPA- Method 508B, thiết bị GC/MS
- Phân tích dư lượng thuốc BVTV trong các mẫu nước ngầm: xác định bằng phương pháp AOAC 2000, thiết bị GC/MS
- Phân tích dư lượng thuốc BVTV trong các mẫu đất: Nhóm hóa chất hữu cơ trong đất xác định bằng phương pháp AOAC 2000, thiết bị GC/MS
2.4.6 Phương pháp đánh giá tình hình sử dụng thuốc BVTV và biến động dư lượng thuốc BVTV trong môi trường khu vực sản xuất rau trên địa bàn xã Vân Nội
- So sánh tình hình sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn xã với Thông tư số 21/2013/TT- BNNPTNT ngày 17 tháng 4 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn
Trang 39- So sánh chất lượng nước mặt với QCVN 08:2008/BTNMT (cột B1): Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt Cột B1 dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự hoặc các mục đích sử dụng như loại B2
- So sánh chất lượng nước ngầm với QCVN 01:2009/BYT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống
- So sánh chất lượng đất với QCVN 15:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất
2.4.7 Phương pháp kế thừa
Kế thừa kết quả quan trắc chất lượng nước mặt, nước ngầm, đất tại khu vực sản xuất rau xã Vân Nội Trung tâm quan trắc và phân tích tài nguyên môi trường Hà Nội (địa chỉ: 36A, Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội) là đơn vị chịu trách nhiệm lấy mẫu quan trắc chất lượng nước mặt, nước ngầm, đất khu vực sản xuất rau xã Vân Nội định kỳ hàng năm
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tôi kế thừa số liệu quan trắc nước mặt, nước ngầm, đất khu vực sản xuất rau xã Vân Nội từ năm 2011 – đợt 1 năm 2013
2.4.8 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu thu thập được thống kê và xử lý bằng phần mềm Excel
- Kết quả được trình bày bằng bảng số liệu, biểu đồ, bản đồ
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế, xã hội của xã Vân Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Vân Nội
3.1.1.1 Vị trí địa lý :
Vân Nội là một xã nằm ở phía Tây huyện Đông Anh – ngoại thành Hà Nội,
có vị trí địa lý rất quan trọng về chiến lược quân sự, dân số trung bình, nghề làm ruộng là chủ yếu nên đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Cách Thủ đô Hà Nội 15 km, cách trung tâm huyện Đông Anh 6 km, có hệ thống giao thông và vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa
Ranh giới hành chính:
- Phía Bắc giáp xã Bắc Hồng và xã Nguyên Khê
- Phía Đông giáp xã Tiên Dương
- Phía Tây giáp xã Nam Hồng, xã Kim Nỗ
- Phía Nam giáp xã Vĩnh Ngọc, có đầm Vân Trì hay còn gọi là sông Thiếp
Vân Nội có trục đường 23b là tuyến đường đô thị, trục kinh tế Đông Tây huyện Đông Anh Xã Vân Nội được thành phố quy hoạch là khu vực phát triển đô thị, sinh thái Cách sân bay quốc tế Nội Bài 10km, nằm giữa 2 tuyến đường: đường
3 và đường cao tôc Bắc Thăng Long – Nội Bài
Những yếu tố trên đã tạo điều kiện thuận lợi để xã có thể gia thương với các địa phương khác, mở rộng thị trường, thuận lợi phát triển kinh tế, hàng hóa, công nghiệp, thương mại dịch vụ cũng như sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là thị trường rau an toàn
3.1.1.2 Địa hình
Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, xã Vân Nội có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc theo hướng từ Bắc xuống Nam và hệ thống đầm Vân Trì nằm bao bọc từ Tây Bắc xuống Tây Nam, điểm cao nhất là 11,5 m (tại khu đất trồng cây lâu năm xóm Thổ) và điểm thấp nhất là 6,1 m (tại xứ Đồng Vác, xóm Đầm)
Với đặc điểm địa hình trên thì xã Vân Nội có điều kiện thuận lợi cho việc gieo trồng rất nhiều loại giống cây rau khác nhau : đất vàn cao trồng các loại cây rau màu; đất trung bình và vàn trũng cấy lúa; đất ao, hồ mặt nước nuôi nhiều loại thủy sản…