DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DGPS: Phương pháp đo GPSphân sai ĐGHC: Địa giới hành chính GIS: Hệ thống thông tin địa lý Geographic Information System GPS: Hệ thống định vị toàn cầu Global Positi
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH 4
1.1 Khái niệm về bản đồ địa chính 4
1.2 Mục đích thành lập bản đồ địa chính 5
1.3 Yêu cầu đối với bản đồ địa chính 6
1.4 Nội dung của bản đồ địa chính 6
1.4.1 Cơ sở địa lý 6
1.4.2 Các yếu tố nội dung địa chính 11
1.5 Nguyên tắc thể hiện nội dung bản đồ địa chính 12
1.6 Các phương pháp thành lập bản đồ địa chính 14
1.7 Khả năng ứng dụng của PM trong thành lập bản đồ địa chính 19
1.7.1 Khái niệm 19
1.7.2 Khả năng ứng dụng PM trong thành lập bản đồ địa chính 20
1.7.3 Tình hình ứng dụng PM trong thu thập dữ liệu đất đai ở Việt Nam và trên thế giới 22
CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH TỪ ẢNH HÀNG KHÔNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG 28
2.1 Quy trình công nghệ và các bước thực hiện 28
2.1.1 Thu thập tài liệu lên kế hoạch 29
2.1.2 Dự báo các vấn đề nảy sinh và hướng giải quyết 30
2.1.3 Giải đoán và điều vẽ sơ bộ các đối tượng đặc trưng 32
2.1.4 Giới thiệu PM đến người dân 32
2.1.5 Người dân thảo luận, xác định ranh giới thửa đất và các đối tượng đặc trưng còn lại 33
Trang 22.1.6 Số hóa bản đồ do người dân vẽ 34
2.1.7 Đối chiếu so sánh kết quả 35
2.1.8 Biên tập bản đồ 35
2.2 Phương pháp đánh giá kết quả 36
CHƯƠNG 3 THỬ NGHIỆM THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH VỚI SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG 38
3.1 Khái quát về các khu vực nghiên cứu 38
3.1.1 Xã Đình Minh 38
3.1.2 Xã Tứ Xã 41
3.2 Thu thập tài liệu và lên kế hoạch 42
3.2.1 Tài liệu thu thập được 42
3.2.2 Thành lập ảnh trực giao phục vụ thử nghiệm PM 43
3.2.3 Kế hoạch thực hiện 48
3.3 Triển khai thực địa 49
3.3.1 Thử nghiệm tại xã Đình Minh 49
3.3.2 Thử nghiệm tại xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 54
3.4 Tổng hợp và biên tập dữ liệu 58
3.5 Phân tích kết quả thử nghiệm 58
3.5.1 Đánh giá tương quan hình ảnh giữa sơ đồ do người dân vẽ và bản đồ địa chính chính quy 58
3.5.2 Đánh giá sai số trung phương 61
3.5.3 Nhận xét 64
3.6 Đánh giá về tính khả thi và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng PM trong thành lập bản đồ địa chính tại Việt Nam 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 3DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Quy trình thành lập bản đồ địa chính theo phương pháp đo đạc
thực địa bằng máy toàn đạc điện tử 15
Hình 1.2 Quy trình thành lập bản đồ địa chính từ ảnh hàng không 18
Hình 1.3 Họp dân để phổ biến phương pháp PM tại Ấn Độ 23
Hình 1.4 Cộng đồng dân cư vẽ bản đồ trên đất 24
Hình 1.5 Vẽ trên nền ảnh hàng không 25
Hình 1.6 Phương pháp PM sử dụng mô hình nổi 26
Hình 2.1 Quy trình thành lập bản đồ địa chính bằng phương pháp PM … 28
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí xã Đình Minh 39
Hình 3.2 Sơ đồ vị trí xã Tứ Xã 41
Hình 3.3 Xác định điểm mấu khung (khu đo xã Đình Minh) 43
Hình 3.4 Tọa độ các điểm khống chế mặt đất khu vực xã Đình Minh 44
Hình 3.5 Xác định vị trí các điểm khống chế trên ảnh 44
Hình 3.6 Nhập điểm nối giữa các cặp ảnh lập thể 45
Hình 3.7 Kết quả bình sai khối ảnh xã Đình Minh 45
Hình 3.8 Quy trình thành lập mô hình số độ cao 46
Hình 3.9 Ảnh trực giao khu vực xã Đình Minh 47
Hình 3.10 Giới thiệu với người dân về PM tại xã Đình Minh 49
Hình 3.11 Người dân tiến hành khoanh vẽ ranh giới thửa đất 51
Hình 3.12 Khó khăn trong việc khoanh vẽ ở khu dân cư 51
Trang 4Hình 3.13 Chiếu bản đồ địa chính trên nền ảnh trực giao 52 Hình 3.14 Đánh giá của người dân xã Đình Minh về mức độ khó/dễ của PM 53 Hình 3.15 Giới thiệu với người dân xã Tứ Xã về PM và nội dung của đề tài 54 Hình 3.16 Người dân chỉ ranh giới trên màn hình máy tính 55 Hình 3.17 Đánh giá của người dân xã Tứ Xã về mức độ khó/dễ của PM 57 Hình 3.18 Tương quan giữa các lớp thửa đất của sơ đồ PM vàbản đồ địa
chính đã có của xóm Khưa Khảo, xã Đình Minh 59 Hình 3.19 Tương quan giữa các lớp thửa đất của sơ đồ PM vàbản đồ địa
chính đã có của Khu 7, xã Tứ Xã 60 Hình 3.20 Số hóa sơ đồ người dân vẽ 62 Hình 3.21 Sự thiếu ăn ý giữa người dân và người thao tác trên máy 62
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Sai số trung phương của tọa độ đỉnh thửa 61 Bảng 3.2 Sai số trung phương của chiều dài cạnh 61 Bảng 3.3 Sai số trung phương của tọa độ đỉnh thửa do người dân đo vẽ 63 Bảng 3.4 Sai số trung phương của chiều dài cạnh do người dân đo vẽ 63 Bảng 3.5 So sánh thuận lợi và khó khăn của xóm Khưa Khảo và Khu 7 65
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DGPS: Phương pháp đo GPSphân sai
ĐGHC: Địa giới hành chính
GIS: Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System)
GPS: Hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System)
MHSĐC: Mô hình số độ cao
PM: Lập bản đồ với sự tham gia của cộng đồng (Participatory Mapping) PPK: Phương pháp đo GPS động xử lý sau
RGSDĐ: Ranh giới sử dụng đất
RTK: Phương pháp đo GPS động thời gian thực
TKKT-DT: Thiết kế kỹ thuật - dự toán
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 71
MỞ ĐẦU
Từ xưa đến nay, bản đồ địa chính luôn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý đất đai của một quốc gia Mà đối với quốc gia nào cũng vậy, đất đai luôn được coi là vốn quý của xã hội, luôn được chú trọng gìn giữ cũng như phát huy Do
đó, việc thành lập bản đồ địa chính mang một ý nghĩa đặc biệt cần thiết
Tuy nhiên, việc đo vẽ bản đồ địa chính lại không hề đơn giản, nhất là đối với một quốc gia có nhiều đồi núi như nước ta (có tới 3/4 diện tích là đồi núi) Nếu sử dụng phương pháp truyền thống ở những vùng đồi núi sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc,… Vậy, làm thế nào để có thể lập được bản đồ với độ chính xác cần thiết nhưng lại tiết kiệm được thời gian, chi phí và nhân lực?
Thông qua tìm hiểu về một số phương pháp thành lập bản đồ địa chính cho những vùng đồi núi trên thế giới, tác giả nhận thấy rằng, sự tham gia của cộng đồng trong việc thành lập bản đồ nói chung đang là hướng đáng được quan tâm Hướng
đi này có thể tận dụng được nguồn nhân lực từ người dân bản địa, khá tiết kiệm về thời gian và chi phí, đặc biệt là địa hình tại Việt Nam khá phù hợp để áp dụng phương pháp này
Do vậy, tác giả đã quyết định lựa chọn phương pháp thành lập bản đồ với sự tham gia của cộng đồng (PM - Participatory Mapping) để thành lập bản đồ địa chính và tiến hành thử nghiệm tại xã Đình Minh, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng và xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu ứng dụng PM trong đo đạc địa chính nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này ở các khu vực miền núi khó tiếp cận
Trang 82
Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu về phương pháp PM trong việc thành lập bản đồ;
- Quy trình công nghệ thành lập và hiệu chỉnh bản đồ địa chính bằng PM trên nền ảnh hàng không hoặc ảnh vệ tinh;
- Đánh giá sự hợp tác của người dân trong quá trình thành lập bản đồ;
- Đánh giá khả năng ứng dụng của PM tại Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: thu thập, phân tích tài liệu về PM
Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung chính của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Tổng quan về bản đồ địa chính và các phương pháp thành lập bản
đồ địa chính
Trang 104
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH VÀ
CÁC PHƯƠNG PHÁP THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH
1.1 Khái niệm về bản đồ địa chính
Theo Luật đất đai 2013, Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và
các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận [5]
Thửa đất là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực
địa hoặc được mô tả trên hồ sơ
Hồ sơ địa chính là hồ sơ phục vụ quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất Bản đồ địa chính gốc: là bản đồ thể hiện hiện trạng sử dụng đất và thể hiện
trọn và không trọn các thửa đất, các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan; lập theo khu vực trong phạm vi một hoặc một số đơn vị hành chính cấp xã, trong một phần hay cả đơn vị hành chính cấp huyện hoặc một số huyện trong phạm vi một tỉnh hoặc một thành phố trực thuộc Trung ương, được cơ quan thực hiện và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận
Bản đồ địa chính gốc là cơ sở để thành lập bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) Các nội dung đã được cập nhật trên bản
đồ địa chính cấp xã phải được chuyển lên bản đồ địa chính gốc
Trích đo địa chính: là đo vẽ lập bản đồ địa chính của một khu đất hoặc thửa
đất tại các khu vực chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có bản đồ địa chính nhưng chưa đáp ứng một số yêu cầu trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Bản trích đo địa chính, mảnh bản đồ trích đo, bản đồ trích đo (gọi chung là bản trích đo địa chính): là bản đồ thể hiện trọn một thửa đất hoặc trọn một số thửa
đất liền kề nhau, các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu
Trang 115
tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã (trường hợp thửa đất có liên quan đến hai (02) hay nhiều xã thì trên bản trích đo phải thể hiện đường địa giới hành chính xã để làm căn cứ xác định diện tích thửa đất trên từng xã), được cơ quan thực hiện, Ủy ban nhân dân xã và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận
Ranh giới, diện tích, mục đích sử dụng (loại đất) của thửa đất thể hiện trên bản trích đo địa chính được xác định theo hiện trạng sử dụng đất Khi đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ranh giới, diện tích, mục đích sử dụng đất có thay đổi thì phải chỉnh sửa bản trích đo địa chính thống nhất với số liệu đăng ký quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
1.2 Mục đích thành lập bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính các tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 và 1:10000, bản trích đo địa chính (gọi chung là bản đồ địa chính) là tài liệu của Quốc gia, được thành lập nhằm mục đích [3]:
- Làm cơ sở để thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật
- Xác nhận hiện trạng về địa giới hành chính xã, phường, thị trấn; quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Xác nhận hiện trạng, thể hiện biến động và phục vụ cho chỉnh lý biến động của từng thửa đất trong từng đơn vị hành chính xã
- Làm cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng các khu dân cư, đường giao thông, cấp thoát nước, thiết kế các công trình dân dụng
và làm cơ sở để đo vẽ các công trình ngầm
- Làm cơ sở để thanh tra tình hình sử dụng đất và giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai
- Làm cơ sở để thống kê và kiểm kê đất đai
Trang 126
- Là nguồn tài liệu để xây dựng cở sở dữ liệu đất đai các cấp
1.3 Yêu cầu đối với bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Phản ảnh đầy đủ và trung thực ranh giới sử dụng đất, các tài sản gắn liền với thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan
- Đạt được độ chính xác theo các quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Được xây dựng được đồng bộ theo đơn vị hành chính cấp xã Được cập nhật đầy đủ và thường xuyên các biến động về sử dụng đất Thông tin được đồng bộ hóa với các tài liệu khác của hệ thống hồ sơ địa chính
- Đáp ứng có hiệu quả các yêu cấp bách về công tác quản lý đất đai của từng địa phương, đặc biệt là công tác đăng ký đất đai ban đầu và đăng ký biến động về
đất đai
1.4 Nội dung của bản đồ địa chính
1.4.1 Cơ sở địa lý
1.4.1.1 Cơ sở toán học
a) Hệ quy chiếu và hệ tọa độ
Bản đồ địa chính các tỷ lệ được thành lập trên mặt phẳng chiếu hình, ở múi chiếu 3o, kinh tuyến trục theo từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hệ tọa độ Quốc gia VN-2000 và hệ độ cao Quốc gia hiện hành
Những đặc trưng cơ bản của Hệ tọa độ Nhà nước VN-2000 bao gồm:
- Mặt toán học là mặt Ellipsoid WGS-84 có các tham số kích thước:
Trang 137
- Lưới chiếu bản đồ: Hệ tọa độ phẳng, thiết lập theo phép chiếu hình trụ đồng góc UTM với sai số biến dạng chiều dài tại kinh tuyến giữa múi 30 là 0,9999 tăng dần về hai phía biên múi đến 1.0 tại kinh tuyến cát tuyến và đến khoảng 1,0001 ở biên múi 30 và 1,0004 ở biên múi 60
Số hiệu của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10.000 gồm 8 chữ số: 2 số đầu là
10, tiếp sau là dấu gạch nối (-), 3 số tiếp là số chẵn ki lô mét (km) của tọa độ X, 3 chữ số sau là 3 số chẵn ki lô mét (km) của tọa độ Y của điểm góc trái trên khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ
- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000
Chia mặt phẳng chiếu hình thành các ô vuông, mỗi ô vuông có kích thước thực tế là 3 x 3 km tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 định dạng trên giấy là 60 x 60 cm, tương ứng với diện tích là 900 ha ngoài thực địa
Số hiệu của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 gồm 6 chữ số: 3 số đầu là số chẵn ki lô mét (km) của tọa độ X, 3 chữ số sau là 3 số chẵn ki lô mét (km) của tọa
độ Y của điểm góc trái trên khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ
- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000
Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 thành 9 ô vuông Mỗi ô vuông có kích thước thực tế 1 x 1 km tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 định dạng trên giấy là 50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 100 ha ngoài thực địa
Trang 148
Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 9 theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới Số hiệu của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000, gạch nối (-) và số thứ
tự ô vuông
- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000
Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 thành 4 ô vuông Mỗi ô vuông có kích thước thực tế 0,5 x 0,5 km tương ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000 định dạng trên giấy là
50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 25 ha ngoài thực địa
Các ô vuông được đánh thứ tự bằng chữ cái a, b, c, d theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, gạch nối (-) và số thứ tự ô vuông
- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500
Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 thành 16 ô vuông Mỗi ô vuông có kích thước thực tế 0,25 x 0,25 km tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500 định dạng trên giấy là 50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 6,25 ha ngoài thực địa
Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 16 theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới Số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ
lệ 1:500 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, gạch nối (-) và số thứ
tự ô vuông trong ngoặc đơn
- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200
Chia mảnh bản đồ địa chính 1:2000 thành 100 ô vuông Mỗi ô vuông có kích thước thực tế 0,10 x 0,10 km, tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200 định dạng trên giấy là 50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 1,00 ha ngoài thực địa
Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 100 theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới Số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ
Trang 159
lệ 1:200 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1: 2000, gạch nối (-) và số thứ
tự ô vuông
c) Tỷ lệ bản đồ
Theo Thông tư 55/2013-TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường [3],
tỷ lệ đo vẽ thành lập bản đồ địa chính được xác định trên cơ sở loại đất và mật độ thửa đất trung bình trên 01 hecta (ha) Mật độ thửa đất trung bình trên 01 ha gọi tắt
là Mt, được xác định bằng số lượng thửa đất chia cho tổng diện tích (ha) của các thửa đất
Được áp dụng đối với các trường hợp sau:
+ Khu vực có Mt ≥ 10 thuộc đất khu dân cư;
+ Khu vực có Mt ≥ 20 thuộc đất nông nghiệp có dạng thửa hẹp, kéo dài; đất nông nghiệp trong phường, thị trấn, xã thuộc các huyện tiếp giáp quận và các xã thuộc thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh;
+ Khu vực đất nông nghiệp tập trung có Mt ≥ 60
- Tỷ lệ 1:2000
Được áp dụng đối với các trường hợp sau:
+ Khu vực có Mt ≥ 5 thuộc khu vực đất nông nghiệp;
+ Khu vực có Mt ≤ 4 thuộc khu dân cư
- Tỷ lệ 1:5000
Được áp dụng đối với các trường hợp sau:
+ Khu vực có Mt ≤ 1 thuộc khu vực đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác;
+ Khu vực có Mt ≥ 0,2 thuộc khu vực đất lâm nghiệp
Trang 1610
- Tỷ lệ 1:10.000
+ Đất lâm nghiệp có Mt < 0,2;
+ Đất chưa sử dụng, đất mặt nước có diện tích lớn trong trường hợp cần thiết
đo vẽ để khép kín phạm vi địa giới hành chính
- Trên bản đồ địa chính dạng giấy sai số độ dài cạnh khung bản đồ không vượt quá 0,2 mm, đường chéo bản đồ không vượt quá 0,3 mm, khoảng cách giữa điểm tọa độ và điểm góc khung bản đồ (hoặc giao điểm của lưới kilômét) không vượt quá 0,2 mm so với giá trị lý thuyết
- Sai số vị trí của điểm bất kỳ trên ranh giới thửa đất biểu thị trên bản đồ địa chính dạng số so với vị trí của các điểm khống chế đo vẽ gần nhất không được vượt quá:
5 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200;
7 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500;
15 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000;
30 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000;
150 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000;
300 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10.000
Đối với khu vực nông thôn có độ dốc địa hình trên 10o
thì các sai số nêu trên được phép tăng 1,5 lần
- Sai số tương hỗ vị trí của 2 điểm bất kỳ trên ranh giới cùng thửa đất biểu thị trên bản đồ địa chính dạng số so với khoảng cách trên thực địa được đo trực tiếp
Trang 1711
hoặc đo gián tiếp từ cùng một trạm máy không vượt quá 0,2 mm theo tỷ lệ bản đồ, nhưng không vượt quá 4 cm trên thực địa đối với các cạnh thửa đất có chiều dài dưới 5m
Đối với khu vực có độ dốc địa hình trên 10o, các điểm chi tiết được xử lý tiếp biên thì các sai số tương hỗ vị trí điểm nêu trên được phép tăng 1,5 lần
- Vị trí các điểm mốc địa giới hành chính được xác định với độ chính xác của điểm khống chế đo vẽ
- Khi kiểm tra sai số phải kiểm tra đồng thời cả sai số vị trí điểm so với điểm khống chế gần nhất và sai số tương hỗ vị trí điểm Sai số lớn nhất không được vượt quá sai số lớn nhất cho phép Số lượng sai số có giá trị bằng hoặc gần bằng (từ 70% đến 100%) sai số lớn nhất cho phép không quá 5% tổng số các trường hợp kiểm tra
Trong mọi trường hợp các sai số nêu trên không được mang tính hệ thống
1.4.1.2 Các yếu tố nền
Nội dung nền cần thể hiện trên bản đồ địa chính gồm những yếu tố sau:
- Điểm khống chế tọa độ, độ cao Quốc gia các hạng, điểm địa chính, điểm khống chế ảnh ngoại nghiệp, điểm khống chế đo vẽ có chôn mốc ổn định
- Mốc địa giới hành chính, đường địa giới hành chính các cấp;
- Hệ thống giao thông và hệ thống thủy văn, thủy lợi;
- Địa vật, công trình có giá trị về lịch sử, văn hóa, xã hội và định hướng;
- Dáng đất hoặc điểm ghi chú độ cao;
- Các ghi chú thuyết minh
1.4.2 Các yếu tố nội dung địa chính
Theo Thông tư 55/2013-TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường [3], bản đồ địa chính thể hiện các yếu tố nội dung chuyên đề sau:
- Ranh giới thửa đất, loại đất, số thứ tự thửa đất, diện tích thửa đất
- Nhà ở và công trình xây dựng khác tại khu vực đô thị, các khu đô thị thuộc khu vực nông thôn và các khu đất của tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất (chỉ thể hiện trên bản đồ các công trình xây dựng chính như: nhà ở, nhà làm việc, nhà xưởng, nhà kho, bể chứa, , không thể hiện các công trình tạm thời
Trang 1812
- Các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất
- Mốc giới quy hoạch sử dụng đất Hành lang an toàn giao thông, thủy lợi, điện và các công trình khác có hành lang an toàn
1.5 Nguyên tắc thể hiện nội dung bản đồ địa chính
Theo Thông tư 55/2013-TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường [3],
khi thể hiện nội dung bản đồ địa chính phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
a) Mốc địa giới hành chính, đường địa giới hành chính các cấp
- Biên giới Quốc gia và cột mốc chủ quyền Quốc gia thể hiện trên bản đồ địa chính phải phù hợp với Hiệp ước, Hiệp định đã được ký kết với các nước lân cận; ở khu vực chưa có Hiệp ước, Hiệp định thể hiện theo quy định của Bộ Ngoại giao
- Địa giới hành chính các cấp biểu thị trên bản đồ địa chính phải phù hợp với
hồ sơ địa giới hành chính; các văn bản pháp lý có liên quan đến việc điều chỉnh địa giới hành chính các cấp
- Đối với các đơn vị hành chính giáp biển thì bản đồ địa chính được đo đạc, thể hiện tới đường mép nước biển triều kiệt trung bình tối thiểu trong 05 năm Trường hợp chưa xác định được đường mép nước biển triều kiệt thì trên bản đồ địa chính thể hiện ranh giới sử dụng đất đến tiếp giáp với biển ở thời điểm đo vẽ bản đồ địa chính
- Khi phát hiện có sự mâu thuẫn giữa địa giới hành chính thể hiện trong hồ
sơ địa giới hành chính và đường địa giới các cấp thực tế đang quản lý hoặc có tranh chấp về đường địa giới hành chính thì trên bản đồ phải thể hiện cả đường địa giới hành chính theo hồ sơ địa giới hành chính (ký hiệu bằng màu đen) và đường địa giới hành chính thực tế quản lý (ký hiệu bằng màu đỏ) và phần có tranh chấp Trường hợp đường địa giới hành chính các cấp trùng nhau thì biểu thị đường địa giới hành chính cấp cao nhất
b) Mốc giới, chỉ giới hành lang an toàn giao thông, thủy lợi, điện và các công trình khác có hành lang an toàn
Các loại mốc giới, chỉ giới này chỉ thể hiện trong trường hợp đã cắm mốc giới trên thực địa hoặc có đầy đủ tài liệu có giá trị pháp lý đảm bảo độ chính xác vị
Trang 1913
trí điểm chi tiết của bản đồ địa chính
c) Đối tượng thửa đất
- Đỉnh thửa đất là các điểm gấp khúc trên đường ranh giới thửa; đối với các đoạn cong trên đường ranh giới, đỉnh thửa đất được xác định đảm bảo khoảng cách
từ cạnh nối hai điểm chi tiết liên tiếp đến đỉnh cong tương ứng không lớn hơn 0,2
d) Loại đất
Loại đất thể hiện trên bản đồ địa chính phải đúng theo hiện trạng sử dụng đất khi đo vẽ thành lập bản đồ địa chính và được chỉnh lý lại theo kết quả đăng ký quyền sử dụng đất, kết quả chỉnh lý hồ sơ địa chính
Trường hợp đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở hoặc đất có nhiều khu vực sử dụng cho các mục đích khác nhau nhưng không thể xác định được ranh giới từng khu vực sử dụng thì ranh giới thửa đất được xác định là đường bao của toàn bộ diện tích đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở và đất có nhiều khu vực sử dụng cho các mục đích khác nhau đó; trên bản đồ địa chính phải ghi rõ ký hiệu mục đích đất ở và các mục đích nông nghiệp hiện đang sử dụng
e) Các đối tượng nhân tạo, tự nhiên có trên đất
- Ranh giới chiếm đất của nhà ở và các công trình xây dựng trên mặt đất: được xác định theo mép ngoài cùng của tường bao nơi tiếp giáp với mặt đất, mép ngoài cùng của hình chiếu thẳng đứng lên mặt đất của các kết cấu xây dựng trên cột,
Trang 2014
các kết cấu không tiếp giáp mặt đất vượt ra ngoài phạm vi của tường bao tiếp giáp mặt đất (không bao gồm phần ban công, các chi tiết phụ trên tường nhà, mái che) Ranh giới chiếm đất của các công trình ngầm được xác định theo mép ngoài cùng của hình chiếu lên mặt đất của công trình đó
- Hệ thống giao thông: biểu thị phạm vi chiếm đất của tất cả các đường sắt, đường bộ, đường nội bộ trong khu dân cư, đường giao thông nội đồng trong khu vực đất nông nghiệp, đường lâm nghiệp, đường phân lô trong khu vực đất lâm nghiệp và các công trình có liên quan đến đường giao thông như cầu, cống, hè phố,
lề đường, chỉ giới đường, phần đắp cao, xẻ sâu
- Hệ thống thủy văn: biểu thị đầy đủ hệ thống sông, ngòi, suối, kênh, mương, máng và hệ thống rãnh nước Đối với hệ thống thủy văn tự nhiên phải thể hiện đường bờ ổn định và đường mép nước ở thời điểm đo vẽ hoặc thời điểm điều vẽ ảnh Đối với hệ thống thủy văn nhân tạo thì thể hiện ranh giới theo phạm vi chiếm đất của công trình
1.6 Các phương pháp thành lập bản đồ địa chính
Hiện nay có khá nhiều phương pháp thành lập bản đồ địa chính Tùy vào đặc điểm khu đo, tỷ lệ bản và độ chính xác của bản đồ cần thành lập mà lựa chọn phương pháp thích hợp
a Phương pháp đo đạc thực địa bằng máy toàn đạc điện tử
Phương pháp này sử dụng các máy toàn đạc điện tử để đo vẽ chi tiết bản đồ Đây là phương pháp đạt độ chính xác cao, thường được áp dụng để thành lập bản đồ tỷ lệ lớn từ 1:200 đến 1:2000 cho các khu vực có giá trị cao, khu vực đô thị, khu đo có diện tích nhỏ hoặc kết hợp với phương pháp khác Phương pháp này thường kết hợp với sử dụng công nghệ GPS để thành lập lưới khống chế tọa độ
Trang 21- Nhược điểm:
+ Chi phí thành lập bản đồ lớn, sử dụng nhiều công lao động đòi hỏi có trình
độ tay nghề và kinh nghiệm
+ Thời gian đo đạc chủ yếu ngoài thực địa, do đó kết quả, năng suất lao động
và tiến độ thực hiện phục thuộc nhiều vào thời tiết và điều kiện làm việc
+ Phương pháp này đã sử dụng các loại máy móc và công nghệ hiện đại nhưng hiệu suất vẫn không bằng các phương pháp khác
b Thành lập bản đồ bằng công nghệ GPS
Phương pháp này áp dụng cho khu vực đo vẽ không bị che khuất, sử dụng công nghệ đo GPS động để thành lập bản đồ địa chính các tỷ lệ từ 1:2000 đến 1:10.000 với các phần mềm bình sai, xử lý số liệu tương ứng Công nghệ đo GPS
Trang 22+ Không cần thông hướng giữa các trạm đo
+ Không phụ thuộc vào thời tiết ngày lẫn đêm
+ GPS cho phép đo đạc trong không gian 3 chiều
+ Có tính linh hoạt cao, tiết kiệm thời gian
c Thành lập bản đồ địa chính từ ảnh hàng không
Đã từ lâu ảnh hàng không được sử dụng rộng rãi và rất có hiệu quả trong lĩnh
Trang 23sử dụng nguồn tư liệu ảnh sẵn có), thời gian đo vẽ cũng nhanh hơn rất nhiều và đo
vẽ được ở mọi địa hình, đặc biệt những vùng con người không đặt chân tới được
Hiện nay các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới nhanh chóng được ứng dụng vào ngành đo ảnh, vì thế khả năng tự động hóa việc thành lập bản đồ bằng ảnh rất lớn, càng nâng cao hiệu xuất công tác và tính kinh tế của phương pháp Hình 2.2 là
sơ đồ quy trình công nghệ tổng quát phương pháp đo vẽ bản đồ địa chính từ ảnh hàng không
Khi thành lập bản đồ địa chính từ ảnh hàng không, đa số các yếu tố nội dung của bản đồ có thể được giải đoán và đo vẽ trên ảnh ở những khu vực thông thoáng,
đó là ranh giới sử dụng đất, ranh giới hành chính, các công trình giao thông, thủy lợi, các đối tượng kinh tế - xã hội, dáng đất, Tuy nhiên, cũng có một số yếu tố nội dung không thể đo vẽ được từ ảnh hàng không như các điểm khống chế tọa độ, ranh giới hành lang an toàn giao thông,
- Ưu điểm:
+ Ảnh hàng không có độ phủ rộng, được tiến hành bay chụp theo các dải cho một khu vực do đó phương pháp này thích hợp đo vẽ thành lập bản đồ cho một vùng rộng lớn cho hiệu quả cao về năng xuất, giá thành và thời gian
+ Khắc phục được những khó khăn của sản xuất, đo vẽ ngoại nghiệp
+ Tỷ lệ chụp ảnh hiện nay phù hợp với công nghệ thành lập bản đồ địa chính đảm bảo độ chính xác ở tỷ lệ trung bình Thường được áp dụng thành lập bản đồ địa
Trang 2418
chính tỷ lệ từ 1:2000 đến 1:10000 Thích hợp thành lập bản đồ đất lâm nghiệp, đất trồng cây công nghiệp, đất chưa sử dụng
+ Thích hợp cho các khu vực ít biến động
Hình 1.2 Quy trình thành lập bản đồ địa chính từ ảnh hàng không [7]
d Thành lập bản đồ địa chính từ bản đồ địa hình cùng tỷ lệ
Để đáp ứng yêu cầu về bản đồ trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10.000 và tỷ
Trang 25đồ tài liệu, sau đó được đối soát, bổ sung, hoàn thiện bằng điều tra, đo đạc ngoài thực địa
- Ưu điểm:
+ Tiết kiệm thời gian và kinh phí, vì công việc thành lập được tiến hành hoàn toàn trong phòng nên triển khai công việc khá thuận tiện, chỉ cần sử dụng các phương tiện, dụng cụ truyền thống
+ Thích hợp thành lập bản đồ đất lâm nghiệp, đất trồng cây công nghiệp, đất chưa sử dụng
+ Thích hợp cho các khu vực ít biến động
- Nhược điểm:
+ Phương pháp này chỉ thực hiện được ở khu vực cùng thành lập đã có bản
đồ địa hình cùng tỷ lệ mới được thành lập hoặc mới hiệu chỉnh
+ Đòi hỏi nguồn tài liệu (bản đồ địa hình) có chất lượng cao và có tính hiện thời Độ chính xác của bản đồ thành lập được phụ thuộc vào độ chính xác của bản
đồ tài liệu và phương pháp chuyển vẽ
1.7 Khả năng ứng dụng của PM trong thành lập bản đồ địa chính
1.7.1 Khái niệm
PM (Participatory Mapping) còn gọi là lập bản đồ dựa vào cộng đồng - là thuật ngữ chung được sử dụng để chỉ phương pháp và kỹ thuật kết hợp các công cụ của bản đồ học hiện đại với các phương pháp có sự tham gia đại diện cho kiến thức không gian của cộng đồng địa phương
Trang 26PM được dựa trên tiền đề rằng người dân địa phương là người hiểu rõ nhất
về môi trường địa phương, nơi mà họ đang sống Bản đồ có sự tham gia của người dân đại diện cho sự hiểu biết rõ ràng về mặt xã hội, văn hóa và cảnh quan (những thông tin không được thể hiện nếu thành lập bản đồ bằng phương pháp khác)
PM luôn hướng tới cộng đồng thông qua đó giúp họ nâng cao nhận thức, trong việc quản lý, sử dụng thông tin tạo mối gắn kết giữa con người với con người
và con người với tự nhiên Nó không những mang lại lợi ích chung cho cộng đồng
thiêng liêng, và những vấn đề tương tự [24]
1.7.2 Khả năng ứng dụng PM trong thành lập bản đồ địa chính
a Cách thức thành lập bản đồ địa chính với sự tham gia của người dân
Thông thường thì việc thành lập các loại bản đồ đều do các tổ chức cơ quan nhà nước đảm nhiệm Nó được thực hiện bởi đội ngũ những người được đào tạo chuyên môn trong lĩnh vực này Họ có khả năng sử dụng khoa học công nghệ để diễn giải dữ liệu thu thập được, nhưng mặt khác lại thiếu mất kiến thức sâu sắc về thực tế điều kiện địa phương - nơi thành lập bản đồ Sự hạn chế này có thể dẫn đến
Trang 2721
hiểu sai về không gian đo vẽ và ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả đạt được
Vậy người dân tham gia thành lập bản đồ địa chính là như thế nào?
Điểm mấu chốt là cho phép người dân (những người có liên quan trực tiếp đến khu vực cần thành lập bản đồ) tham gia thực hiện quan sát, bàn luận thỏa thuận với nhau về mọi vấn đề liên quan đến thửa đất của họ Từ đó, đi đến một thống nhất được thông qua để vẽ nên ranh giới thửa đất trên ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, hoặc bản đồ địa hình của khu vực được cung cấp bởi kỹ thuật viên Sản phẩm họ làm sau
đó sẽ được số hóa để đánh giá Cần nâng cao các quyền mà họ có như là có thể nói
ra ý kiến, suy nghĩ của bản thân,
Qua hình thức thử nghiệm này, dự kiến kinh nghiệm sẽ cải thiện tính chính xác của dữ liệu thu được Hơn nữa có thể tạo niềm tin cho cộng đồng đóng góp những ý tưởng hữu ích, minh bạch trong các quyền, tạo nền tảng cơ sở cho nhiều ứng dụng sau này
b Lý do để người dân tham gia thành lập bản đồ địa chính
Mỗi người dân đều có những kiến thức về không gian của thửa đất mà họ đang quản lý nhưng họ lại không biết cách thể hiện kiến thức ấy Cho nên PM đến với người dân được xem như một người bạn giúp đỡ thể hiện được những kiến thức
họ có, thông qua các sản phẩm mang tính không gian đó là bản đồ ở cả dạng tương
tự và dạng số
Người dân đã quá hiểu với địa bàn nơi họ sinh sống nhưng lại không thể mô phỏng lại khoảng không gian đó thành các mô hình thu nhỏ như bản đồ Chính vì thế, PM tạo điều kiện cho họ được tiếp xúc, sử dụng hệ thống thông tin địa lý để họ
có thể thể hiện được kiến thức mà mình có Họ cũng được coi như là bên thứ hai cho việc xác thực, thúc đẩy trách nhiệm, tính minh bạch của nguồn thông tin Cụ thể
là hướng dẫn họ sử dụng các máy móc, phần mềm đơn giản dùng cho xây dựng hệ thống thông tin địa lý như máy đo GPS cầm tay, phần mềm hiển thị dữ liệu không gian, Cách thức tiếp cận với ảnh hàng không hoặc ảnh vệ tinh (độ phân giải cao)
và thể hiện ra các sản phẩm từ quá trình tiếp thu và trao đổi giữa mọi người [23]
Trang 2822
Các sản phẩm cuối cho ra rất đa dạng về hình thức: có thể ở dạng số nếu quá trình tham gia được sử dụng các công cụ hiện đại có độ chính xác cao, có thể là các bản vẽ giấy trên nền ảnh in, có thể là các mô hình đơn giản từ các chất liệu dễ kiếm, hoặc thậm chí chỉ là những đường vẽ trên mặt đất được chụp hình lại, Và còn rất nhiều các hình thức khác nữa tùy điều kiện mỗi nơi Tuy sản phẩm cuối có khác nhau nhưng bản chất thông tin thu được thì là một, đó chính là dữ liệu không gian
đã được xác thực, kiểm chứng trên cả mặt lý thuyết lẫn thực tế và được chứng nhận
- Tạo cơ sở cho trung gian hòa giải giữa các bên về ranh giới đất đai hiện có
- Thu được thông tin chính xác và đầy đủ hơn về tình hình sử dụng đất đai hiện tại của địa phương
- PM áp dụng trên nhiều tư liệu khác nhau như ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, bản đồ địa hình
1.7.3 Tình hình ứng dụng PM trong thu thập dữ liệu đất đai ở Việt Nam và trên thế giới
a Trên thế giới
PM - phương pháp sử dụng khả năng của người dân để lập bản đồ - chỉ được biết đến từ những năm 1990, ngay sau đó phương pháp này đã được sử dụng rộng rãi với nhiều biến thể và các ứng dụng không chỉ trong quản lý tài nguyên thiên
Trang 2923
nhiên mà còn trong nhiều lĩnh vực khác
Trong những năm gần đây, nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế đã nỗ lực thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên
Lập bản đồ với sự tham gia của người dân đã nổi lên như một công cụ quản
lý mạnh mẽ, cho phép người dân đưa ra ý kiến và quan điểm của mình, thậm chí đưa ra phương pháp quản lý phù hợp với khu vực họ đang sống, gây được sự chú ý của các cơ quan chính phủ và các nhà hoạch định chính sách
Hình 1.3 Họp dân để phổ biến phương pháp PM tại Ấn Độ [27]
Vì lý do này, phương pháp PM được sử dụng để tạo ra bản đồ quản lý đất đai, các mô hình sử dụng tài nguyên, phương pháp này dựa trên nhận thức nhận thức và tập quán truyền thống của cộng đồng để thu thập thông tin, dữ liệu vụ cho đánh giá và theo dõi tài nguyên thiên nhiên [27]
Phương pháp đặc biệt hiệu quả trong việc theo dõi tác động của khai thác gỗ,
Trang 3024
khai thác mỏ, và các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt khác
Có nhiều cách để thực hành tiếp cận với PM:
+ Vẽ các bản đồ nhanh chóng là vẽ trên mặt đất, có sử dụng các công cụ hỗ
trợ như: dầu vẽ, đá xỏi, lá cây, để thể hiện ranh giới và phân bố các đội tượng trong không gian địa lý
Sản phẩm đạt được kết quả ra sao còn phụ thuộc vào kiến thức của cộng đồng về không gian và khả năng thể hiện lại nó trên bản đồ Cách thức này rất phù hợp với những nơi kinh tế khó khăn, điển hình là các nước đang phát triển ở Châu Phi
Hình 1.4 Cộng đồng dân cư vẽ bản đồ trên đất [26]
+ Vẽ trực tiếp hiện trạng trên nền ảnh hàng không được in ở khổ lớn: cách
này sử dụng ảnh hàng không sau khi đã qua xử lý tiến hành in cho người tham gia
tự phân tích nhận biết đối tượng và vẽ ranh giới từ đó vẽ phân vùng các đối tượng
Trang 3125
Hình 1.5 Vẽ trên nền ảnh hàng không
Cách này được sử dụng cho thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, áp dụng được ở hầu hết các nước
+ Thành lập mô hình không gian 3 chiều (mô hình nổi)
Cách này đòi hỏi khá nhiều thời gian và số lượng người tham gia; sử dụng bản đồ địa hình có sẵn cùng với các công cụ hỗ trợ như bìa giấy cứng, sơn màu, đinh ghim gắn đầu nhựa các màu khác nhau, sợi dây các màu, giấy mỏng, Với những gì có tiến hành cắt các bìa giấy rồi chồng xếp lên nhau theo các đường bình
độ được mô hình nổi của địa hình Sau đó người tham gia tiến hành sơn màu theo sự phân bố thực vật, đất, gắn ghim các màu sắc theo sự phân bố của các đối tượng rời rạc khác nhau, còn các sợi dây màu để xác định ranh giới khoanh vùng đối tượng và tạo lưới tọa độ Mô hình này là một sản phẩm kết hợp giữa công nghệ và nhận thức của người tham gia Cách này được áp dụng tại tất cả các nước có sử dụng PM [28]
Trang 3226
Hình 1.6 Phương pháp PM sử dụng mô hình nổi [28]
b Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, PM còn khá mới mẻ và thường tồn tại ở dạng dự án có sự tham gia của các tổ chức quốc tế Ví dụ như dự án IAPD (Integrated Approaches to Participatory Development - Các cách tiếp cận tích hợp nhằm nâng cao sự tham gia của cộng đồng) của Avenues đã dựa vào kiến thức địa phương, có sự tham gia phối hợp với chính phủ nhiều nước, đến nay tạo ra bản đồ ở Philippines, Campuchia, Việt Nam và Malaysia Việc lập được bản đồ sẽ thúc đẩy đa dạng sinh học và bảo
vệ môi trường sống, quản lý khu vực ven biển, và giảm thiểu xung đột tài nguyên theo định hướng Bổ sung mới cho các ứng dụng Google Earth, cung cấp cho người dùng cái nhìn sâu sắc vào sự thay đổi độ che phủ rừng quốc gia theo thời gian, từ đó
nâng cao nhận thức của nhân dân [25]
Một số dự án khác chỉ mới thí điểm trên quy mô nhỏ như ở Vườn quốc gia Pumat – Nghệ An là mô hình 3D về không gian sống, hiện trạng của rừng ; một vài bản ở Sơn La thí điểm lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và một số ít ở đồng bằng sống Cửu Long là thành lập bản đồ quy hoạch sử dụng đất [23],
Trang 3327
Kết quả đạt được từ những thử nghiệm trên cho thấy khả năng nhận thức về thông tin địa lý của người dân cũng rất đáng kể Cụ thể là các sản phẩm của họ được đánh giá cao, song bên cạnh đó lĩnh vực ứng dụng PM ở Việt Nam còn khá hạn hẹp
Chính vì vậy mà thông qua luận văn này, tác giả hy vọng đề tài sẽ đóng góp một phần nào đó cho sự tiếp cận về khả năng ứng dụng PM tại Việt Nam
Trang 3428
CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH
TỪ ẢNH HÀNG KHÔNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
2.1 Quy trình công nghệ và các bước thực hiện
Qua phân tích kinh nghiệm từ dự án phát triển lâm nghiệp dưới sự hợp tác giữa Việt Nam và CHLB Đức trong thành lập bản đồ hiện trạng sử đụng đất tại một
số khu vực thuộc tỉnh Sơn La [23], quy trình công nghệ thành lập bản đồ địa chính bằng phương pháp PM trên cơ sở sử dụng bình đồ ảnh trực giao được đề tài đề xuất
trên hình 2.1
Hình 2.1 Quy trình thành lập bản đồ địa chính bằng phương pháp PM
Trang 3529
2.1.1 Thu thập tài liệu lên kế hoạch
Thông tin có vai trò vô cùng quan trọng đối với bất kỳ hoạt động nào của con người Do vậy, thu thập tài liệu là một việc rất cần thiết, nếu làm tốt công tác này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các khâu nghiệp vụ tiếp theo
a) Thu thập dữ liệu ảnh hàng không
Ảnh hàng không gốc còn chứa nhiều sai số, không thể sử dụng để đo vẽ các đối tượng bản đồ ngay được nên nên chúng ta phải xử lý để loại bỏ những sai số này và đưa ảnh về hệ tọa độ bản đồ Công tác xử lý, nắn ảnh và tạo ảnh trực giao có nhiệm vụ chính là quá trình khử những sai số hình học có trong ảnh hàng không [2]
Những sai số này bao gồm các đại lượng cơ bản sau:
- Các nguyên tố định hướng ảnh
- Sai số của hệ thống máy chụp ảnh
- Sai số của điểm ảnh do chênh cao địa hình
- Độ cong của Trái đất
Bằng phương pháp tam giác ảnh không gian, các nguyên tố định hướng ảnh được xác định, các sai số hệ thống của máy chụp ảnh cũng có thể được mô hình hóa
và xác định khi bình sai bằng phương pháp số bình phương nhỏ nhất Ảnh hưởng độ cong của Trái đất chỉ đáng kể với khối ảnh phủ trùm một vùng lãnh thổ rộng lớn Ảnh hưởng của địa hình có thể được khử bằng mô hình số độ cao
Quá trình nắn ảnh trực giao lấy các ảnh gốc và sử dụng mô hình số độ cao (MHSĐC) và các kết quả bình sai khối lưới tam giác ảnh không gian để tạo ra ảnh trực giao
b Thu thập dữ liệu khu vực nghiên cứu
- Về điều kiện tự nhiên cần thu thập các thông tin như: tên đơn vị hành chính, vị trí địa lý, ranh giới hành chính, đặc điểm địa hình - địa vật Với những đặc điểm như vậy cần phân tích và dự báo những thuận lợi và khó khăn trong công tác thực địa
- Về điều kiện kinh tế - xã hội cần thu thập các thông tin: dân số, nghề nghiệp, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, giao thông, trình độ văn hóa, tập quán sinh hoạt, những đặc điểm kinh tế xã hội và phong tục địa phương có ảnh hưởng gì tới
Trang 3630
nhận thức của người dân
- Về công tác quản lý đất đai của khu vực: Công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thống kê, kiểm
kê đất đai và đặc biệt là giao đất, cho thuê đất, thanh tra, kiểm tra đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai, đơn thư khiếu nại, tố cáo vi phạm trong sử dụng đất, với tất cả thông tin có được sẽ phục vụ cho việc lên kế hoạch được chi tiết hơn
Việc khảo sát, thăm dò khu vực nghiên cứu không phải lúc nào cũng thực hiện được đúng và đẩy đủ, nhưng đó luôn luôn là công việc cần làm, tìm hiểu được càng nhiều thông tin càng giúp ích cho quá trình lên kế hoạch và đi thực địa về sau
Từ những dữ liệu thu thập được, tiến hành lên kế hoạch thực hiện dự án Ở góc độ tổng thể, việc xây dựng kế hoạch có ý nghĩa quan trọng Trên thực tế, có thể không có kế hoạch nào hoàn toàn đúng, hoặc không khả thi nhưng việc xây dựng kế hoạch vẫn là công việc rất cần thiết
Kế hoạch là tiêu chuẩn, là thước đo kết quả so với những gì đã đề ra Kế hoạch dù có một số sai sót vẫn rất cần thiết, điều này đặc biệt quan trọng trong công tác thực địa Một kế hoạch cụ thể, chi tiết sẽ dễ dàng kiểm tra, giám sát hiệu quả thực hiện công việc của mình Đặc biệt kế hoạch sẽ giúp chúng ta tránh được những việc bị động, đột xuất chen ngang làm mất thời gian và ảnh hướng đến tiến độ
Kế hoạch được chia làm 2 loại là:
- Kế hoạch về thời gian: đi thực địa là công việc đòi hỏi tốn nhiều thời gian, công sức và tiền bạc Do vậy, cần thảo luận trước với cán bộ địa phương để lên lịch
cụ thể, sắp sếp công việc sao cho phù hợp và thuận lợi với cả hai bên, sắp xếp lịch họp dân sao cho không ảnh hưởng tới sinh hoạt và công việc của họ
- Kế hoạch làm việc: sau khi đã có thời gian làm việc cụ thể, cần lên kế hoạch làm việc, tùy theo đối tượng và mục đích của dự án mà xây dựng sẵn kịch bản sao cho phù hợp Điều hành buổi làm việc theo kịch bản đó để hạn chế những phát sinh ngoài mong muốn và đảm bảo thực hiện được mục tiêu
2.1.2 Dự báo các vấn đề nảy sinh và hướng giải quyết
Để nâng cao hiệu quả làm việc và chủ động hơn trong công việc, tránh
Trang 3731
những sự bị động không đáng có thì việc dự báo các vấn đề này sinh và tìm hướng giải quyết chúng là công việc cần thiết Từ thực tế quan sát và tham khảo các nghiên cứu có liên quan, đề tài nhận thấy rằng
a Với ảnh trực giao thuần túy, người dân khó xác định được phương hướng
và xác định ranh giới thửa đất
Người dân rất quen thuộc với địa bàn khu vực, tuy nhiên họ lại chưa được học về kỹ năng xem bản đồ Do vậy, sau khi tạo được ảnh trực giao, ta cần tiến hành điều vẽ và giải đoán một số đối tượng đặc trưng mang tính định hướng như sông, suối, đường giao thông,… và một số tên địa danh Mục đích là giúp người dân
dễ dàng xác định vị trí và ranh giới các thửa đất trên ảnh
Việc số hóa đối tượng định hướng trên bản đồ là cần thiết, và sẽ rất trực quan
để người dân quan sát Tuy nhiên, công việc này đôi khi không thực hiện được từ giai đoạn chuẩn bị do không phải lúc nào chúng ta cũng có thông tin về tên địa danh, tên cầu đường, tên xứ đồng ở địa phương đó
Có thể khắc phục bằng cách, trước khi đưa bản đồ cho người dân, cần thảo luận trước với cán bộ xã hoặc người am hiểu về khu vực, sau đó dùng bút vẽ luôn một vài đối tượng định hướng lên ảnh trực giao bằng giấy Ưu điểm là tiết kiệm thời gian và tiện lợi, nhược điểm là thiếu độ thẩm mỹ
b Việc vẽ ranh giới trên ảnh in nảy sinh một số nhược điểm
Việc vẽ ranh giới trên ảnh in nảy sinh một số nhược điểm như: chất lượng ảnh in không tốt, dễ nhàu nát, mất thêm công đoạn quét ảnh và số hóa lại sẽ gây ra thêm sai số Để khắc phục nhược điểm này, chúng ta có thể trực tiếp điều vẽ trên màn hình máy tính Tức là dùng máy chiếu, chiếu ảnh trực giao trên màn hình cho mọi người quan sát Người dân thảo luận và chỉ ranh giới cho kỹ thuật viên thao tác
vẽ ranh giới luôn trên máy tính
Tuy nhiên điều vẽ trực tiếp trên máy tính cũng tồn tại nhược điểm Nếu như với phương pháp in ảnh ra giấy, nhiều người dân có thể tham gia khoanh vi cùng lúc và ranh giới được vẽ theo đúng ý họ, thì với phương pháp vẽ trên máy tính, buộc lòng từng người dân sẽ phải ra chỉ ranh giới cho kỹ thuật viên thao tác và đôi
Trang 3832
khi sự không ăn ý là không thể tránh khỏi
2.1.3 Giải đoán và điều vẽ sơ bộ các đối tượng đặc trưng
Như đã nêu ở phần trên, người dân rất thông thuộc địa hình nơi họ đang sinh sống Tuy nhiên, do chưa có kỹ năng tiếp cận với các dữ liệu địa lý nên chỉ với tấm ảnh trực giao thông thường họ sẽ khó có thể nhận biết ra phương hướng và các đối tượng địa hình địa vật Giải đoán và điều vẽ sơ bộ các đối tượng đặc trưng lên ảnh trực giao là công việc không thể bỏ qua
Giải đoán và điều vẽ là việc đoán nhận các đối tượng được chụp trên ảnh dựa
vào các quy luật tạo hình quang học và các quy luật phân bố của các đối tượng Sử dụng kết quả giải đoán để điều vẽ, bổ xung thêm nội dung và ghi lại chúng lên bản
đồ dạng số hoặc dạng văn bản
Tùy theo điều kiện của từng khu vực, các yếu tố cần đoán đọc và điều vẽ trên ảnh gồm:
+ Xác định tên sông suối, hệ thống cầu cống, hướng dòng chảy
+ Điều vẽ hệ thống giao thông như: Tên đường quốc lộ, đường giải rải nhựa,
bờ lở, tả li, hướng đi của đường
+ Điều vẽ dân cư: Xác định các công trình công cộng, văn hóa xã hội (trụ sở UBND, trường học, bệnh viện, ) xác định tên các bản làng
+ Thảm thực vật: điều vẽ các loại rừng, cụm rừng
+ Xác định các đường biên giới, đồi trọc, núi đá
Kết quả điều vẽ được thể hiện trên ảnh phóng to và chú giải trong sổ sách kèm theo
2.1.4 Giới thiệu PM đến người dân
Đây là công việc quan trọng, tạo nhận thức ban đầu cho người dân về PM và những việc họ sẽ làm để thành lập bản đồ Giải đáp những câu hỏi và thắc mắc của người dân về PM Đối tượng tham gia là đại diện chủ sử dụng của các thửa đất thuộc khu vực nghiên cứu, là những người có địa vị trong khu vực, có tiếng nói trong cộng đồng dân cư
Trước khi thực hiện, cần phải công bố mục đích thực hiện công việc đến cán
Trang 3933
bộ địa phương và những người dân tham gia Giới thiệu cho họ khái niệm về PM và các ứng dụng của PM Giải thích cho người dân quy trình thành lập bản đồ địa chính với sự tham gia của cộng đồng, các nguồn tài liệu và trang thiết bị sử dụng trong quá trình thực hiện
Đồng thời nêu những lợi ích và ý nghĩa có thể nhận được của người dân khi tham gia các hoạt động này, quyền lợi và nghĩa vụ của họ Đánh giá cao sự tham gia
tự nguyện cũng như tinh thần đóng góp ý tưởng cho quá trình thực hiện của người dân Đưa ra dự đoán về kết quả thực hiện của đề tài và mức độ ứng dụng của nó trong cộng đồng
2.1.5 Người dân thảo luận, xác định ranh giới thửa đất và các đối tượng đặc trưng còn lại
Đây là bước chính của toàn bộ quá trình thành lập bản đồ Ảnh trực giao sau khi được thành lập sẽ được in trên giấy A0 ở tỷ lệ lớn
a Người dân thảo luận về ranh giới thửa đất
Sau khi được giới thiệu về PM và ứng dụng của nó, người dân sẽ cùng bàn luận và quan sát về nguồn tài liệu được cung cấp để thành lập bản đồ địa chính là ảnh trực giao Họ tiến hành xác định vị trí khu vực mình đang sinh sống trên ảnh và thảo luận về vị trí ranh giới chính xác các thửa đất trên nền ảnh
b Người dân xác định ranh giới các thửa đất
Với tấm ảnh in được cung cấp, người dân tự tay vẽ ranh giới thửa đất trực tiếp lên đó Họ cùng nhau bàn luận, đi đến thảo luận thống nhất giữa các bên về ranh giới thửa đất của họ
Đầu tiên là vẽ ranh giới bằng bút chì Sau đó cùng quan sát xem vẽ như vậy
đã hài lòng các bên chưa, có nảy sinh tranh chấp gì nữa không rồi đi đến thống nhất thỏa thuận đồng thời vẽ lại bằng bút mực
Sản phầm hoàn thành được đem về để số hóa, đánh giá độ chính xác
c Đánh giá sự hợp tác của người dân
Đánh giá sự hợp tác là một thủ tục cần thiết để xác định xem sản phẩm, quy trình, hệ thống, con người hay tổ chức đã đáp ứng được các yêu cầu cụ thể hay
Trang 4034
chưa? Đánh giá sự hợp tác của người dân đóng một vai trò quan trọng cho luận văn,
nó cũng là tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo của cùng lĩnh vực
Để đánh giá mức độ hợp tác của người dân, trong đề tài này tác giả dùng phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp để hỏi ý kiến của từng người dân khi tham gia khoanh vẽ Mẫu phiếu điều tra được trình bày trong phần phụ lục
Phiếu điều tra được lập nhằm mục đích sau:
- Thu thập và phân tích dữ liệu về nhận thức của nhân dân, mối quan tâm đến công tác quản lý đất đai và sự hiểu biết của họ về dữ liệu địa lý;
- Xác định sự khác biệt về tinh thần làm việc, thái độ hợp tác của người dân
về việc “thành lập bản độ địa chính với sự trợ giúp của cộng đồng” so với những nghiên cứu trước đây;
- Tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của người dân về công tác quản lý đất đai của địa phương, cho họ nói lên suy nghĩ của mình khi mà họ được tham gia một phần vào công tác quản lý đất đai
- Hình thành những chiến lược mới và kế hoạch hành động để nâng cao và thúc đẩy mối quan tâm của người dân về công tác quản lý đất đai của địa phương
2.1.6 Số hóa bản đồ do người dân vẽ
Bản đồ do người dân vẽ ban đầu ở dạng giấy, như vậy là chưa thống nhất với bản đồ địa chính dạng số có được và chưa đáp ứng yêu cầu của quản lý đất đai hiện đại Điều này gây khó khăn cho việc so sánh đối chiếu kết quả, do vậy cần chuyển bản đồ do người dân vẽ sang dạng số hay còn gọi là số hóa bản đồ Các bước thực hiện như sau:
- Quét bản đồ: Mục đích của quá trình này là chuyển các bản đồ được lưu trữ trên giấy thành các file dữ liệu số dưới dạng raster Sau đó các file này sẽ được chuyển đổi về các định dạng raster của Intergraph (*.rle hoặc *.tif)
Tuỳ theo từng loại bản đồ và mục đích sử dụng sau này mà người ta sử dụng các máy quét cùng các phần mềm chuyên dụng khác nhau Độ phân giải quy định trong mỗi bản đồ khi quét phụ thuộc vào chất lượng của tài liệu gốc và mục đích sử dụng Thông thường, độ phân giải càng cao, sẽ cho chất lượng dữ liệu raster tốt hơn