Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch, nuôi trồng – đánh bắt thủy hải sản, phát triển rừng, giao thông cảng biển,… Tuy nhiên, hiện nay, các g
Trang 1Danh muc từ viết tắt 1
Danh mục bảng 2
Danh mục hình 3
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
1.1 TÀI NGUYÊN ĐỊA HÌNH 9
1.1.1 Các khái niệm 9
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá tài nguyên địa hình 12
1.1.3 Tổng quan các nghiên cứu tài nguyên địa hình phục vụ phát triển kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo 18
1.2 SINH KẾ BỀN VỮNG 21
1.2.1 Khái niệm sinh kế bền vững 21
1.2.2 Tính bền vững của sinh kế 22
1.2.3 Tiêu chí đánh giá tính bền vững của sinh kế 23
1.2.3.1 Khung sinh kế bền vững 24
1.2.3.2 Một số khung sinh kế bền vững tiêu biểu 25
1.3 NGHIÊN CỨU SINH KẾ BỀN VỮNG GĂN VỚI BẢO TỒN THIÊN NHIÊN 28
1.4 CÁC QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
1.4.1 Các quan điểm nghiên cứu 29
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu 30
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐỊA HÌNH VÀ THỰC TRẠNG SINH KẾ CỘNG ĐỒNG KHU VỰC VỊNH BÁI TỬ LONG 33
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỊA HÌNH KHU VỰC VỊNH BÁI TỬ LONG 33
2.1.1 Nhóm các nhân tố tự nhiên 33
2.1.1.1 Đặc điểm thạch học và kiến tạo 33
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu 38
2.1.1.3 Đặc điểm thủy văn – hải văn 41
2.1.1.4 Các tai biến thiên nhiên 43
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 43
2.1.2.1 Dân số và lao động 44
2.1.2.2 Kinh tế 45
Trang 22.2 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐỊA HÌNH KHU VỰC NGHIÊN
CỨU VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC, BẢO TỒN 47
2.2.1 Tài nguyên địa hình của khu vực nghiên cứu 47
2.2.2 Thực trạng khai thác và bảo tồn 60
2.3 Phân tích, đánh giá thực trạng sinh kế cộng đồng địa phương và các chính sách phát triển 62
2.3.1 Thực trạng sinh kế, xã hội khu vực 62
2.3.2 Đánh giá kiến thức và năng lực khai thác tài nguyên địa hình của cộng đồng tại vịnh Bái Tử Long 65
2.3.3 Các chính sách phát triển 69
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG SINH KẾ BỀN VỮNG NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA TÀI NGUYÊN ĐỊA HÌNH VỊNH BÁI TỬ LONG 70
3.1 PHÂN TÍCH XU THẾ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ NHU CẦU KHAI THÁC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐỊA HÌNH Ở VỊNH BÁI TỬ LONG 70
3.1.1 Bối cảnh phát triển du lịch ở vịnh Bái Tử Long 70
3.1.2 Hiện trạng du lịch ở khu vực 71
3.1.2.1 Hệ thống sản phẩm du lịch 71
3.1.2.2 Hiện trạng xúc tiến và quảng bá du lịch 75
3.1.2.3 Hiện trạng du lịch khu vực 76
3.1.3 Nững Thuận lợi – Khó khăn – Cơ hội – Thách thức và xu thế phát triển của du lịch vịnh Bái Tử Long 80
3.1.4 Xu thế phát triển du lịch và nhu cầu khai thác sử dụng tài nguyên địa hình ở vịnh Bái Tử Long 81
3.2 XÁC LẬP CÁC TIÊU CHÍ SINH KẾ BỀN VỮNG CHO CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG KHU VỰC VỊNH BÁI TỬ LONG 82
3.2.1 Bền vững về kinh tế 83
3.2.2 Bền vững về xã hội 84
3.2.3 Bền vững về môi trường 85
3.2.4 Bền vững về thể chế 86
3.2.5 Đảm bảo quốc phòng an ninh 86
3.3 ĐỀ XUẤT CÁC ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP TẠO SINH KẾ BỀN VỮNG NHẰM BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐỊA HÌNH Ở VỊNH BÁI TỬ LONG 87
3.3.1 Định hướng phát triển du lịch của huyện Vân Đồn đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 87
Trang 33.3.2 Đề xuất các đinh hướng giải pháp tạo sinh kế bền vững nhằm bảo tồn
tài nguyên địa hình ở vịnh Bái Tử Long 89
KÊT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 1 100
Trang 4Danh muc từ viết tắt
(The Department for International Development)
(Geographical Information System)
Vương quốc Anh
(International Institute for Sustainable Development)
hiệp quốc
(The United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)
Trang 5Danh mục bảng
Bảng 1: Tiêu chí và các chỉ tiêu đánh giá các lựa chọn một di chỉ địa mạo 14
Bảng 2: Các đặc trưng tiêu chí và điểm cho đánh giá giá trị các di chỉ địa mạo 15
Bảng 3: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế huyện Vân Đồn 45
Bảng 4: Bảng đánh giá giá trị cảnh quan tại khu vực nghiên cứu 49
Bảng : Đánh giá chi tiết giá trị một số cảnh quan trong khu vực 59
Bảng 5: Các tuyến tham quan du lịch ở Vân Đồn 73
Bảng 6: Các loại hình và hoạt động du lịch chính ở vịnh 74
Trang 6Danh mục hình
Hinh 1 Vịnh Bái Tử Long 6
Hình 2 Ranh giới vịnh Bái Tử Long 7
Hình 3 Mối quan hệ giữa nguyên liệu, tài sản và tài nguyên địa mạo 10
Hình 4 Khung sinh kế bền vững của DFID 26
Hình 5 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển của IMM 27
Hình 6 Bản đồ địa chất vịnh Bái Tử Long 34
Hình 7 Bề mặt sườn vách đá vôi bị rửa lũa tại khu vực vịnh Bái Tử Long 41
Hình 8 Hang hàm ếch biển 42
Hình 9 Hang Quan, một hang động Karst ở khu vực nghiên cứu 42
Hình 10-11 Các hoạt động sinh kế tại khu vực 47
Hình 12 Bản đồ tài nguyên địa hình vịnh Bái Tử Long 48
Hình 13 Bãi Dài 52
Hình 14 Bãi Dài 52
Hình 15 Bãi Quan Lạn 52
Hình 16 Bãi Quan Lạn 52
Hình 17 Bãi Minh Châu 53
Hình 18 Bãi Minh Châu 53
Hình 19 Bãi Ngọc Vừng 53
Hình 20 Bãi Ngọc Vừng 53
Hình 21 Hang Quan 55
Hình 22 Hang Quan 55
Hình 23 Vị trí địa lý Hang Nhà Trò 55
Hình 24 Cảnh trong Hang Nhà Trò 55
Hình 25 Một góc cảnh ở đảo Trà Bản 57
Hình 26 Cảnh đẹp ở đảo Trà Bản 57
Hình 27 Bên ngoài Áng Tùng Con 57
Hình 28 Áng Tùng Con 57
Hình 29-30 Bãi triều nhỏ trên đảo Trà Bản 58
Trang 7Hình 31 Biểu đồ tỷ lệ số phiếu phỏng vấn trên xã 63
Hình 32 Biểu đồ tỷ lệ giới trong phiếu điều tra 63
Hình 33 Biểu đồ trình độ dân trí của các hộ được phỏng vấn 63
Hình 34 Biểu đồ tỷ lệ thu nhập bình quân của các hộ được phỏng vẫn 64
Hình 35 Biểu đồ tỷ trọng đóng góp của các hoạt động sinh kế (tính theo năm) 65
Hình 36 Biểu đồ thống kê số người biết các cảnh quan đẹp 67
Hình 37 Biểu đồ thống kê các hoạt động của người dân ở các cảnh quan 67
Hình 38 Sơ đồ hiện trạng tài nguyên du lịch vịnh Bái Tử Long 72
Hình 39 Biểu đồ lượng khách du lịch đến với Vân Đồn 77
Hình 40 Biểu đồ hệ thống phương tiện vận chuyển hành khách 77
Hình 41 Biểu đồ số lượng cơ sở lưu trú 78
Hình 42 Biểu đồ số lượng các cơ sở kinh doanh ăn uống 78
Hình 43 Biểu đồ số lượng lao động trong ngành du lịch 79
Trang 8MỞ ĐẦU
Vịnh Bái Tử Long là khu thắng cảnh thiên nhiên rộng lớn nằm trong quần thể vịnh Hạ Long – Bái Tử Long, vịnh Bái Tử Long mang trong mình nhiều giá trị về cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học, địa chất địa mạo, văn hóa lịch sử tương đồng với vịnh Hạ Long Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch, nuôi trồng – đánh bắt thủy hải sản, phát triển rừng, giao thông cảng biển,…
Tuy nhiên, hiện nay, các giá trị về tài nguyên thiên nhiên, trong đó đặc biệt là tài nguyên địa hình, vẫn chỉ dừng lại ở mức tiềm năng, chưa được quan tâm nghiên cứu điều tra và quy hoạch Điều này dẫn đến tình trạng lãng phí tiềm năng của tài nguyên này tại khu vực Bên cạnh đó, việc khai thác tự phát, nhỏ lẻ của người dân cũng gây ra những ảnh hưởng rất lớn đến nguồn tài nguyên địa hình của vịnh như việc đưa khách du lịch tham quan các hang động một cách tự phát không có quản lý
có thể gây ra những tổn hại đến hang như: khách du lịch tự ý phá hủy cảnh hang động bằng việc bẻ thạch nhũ hay viết vẽ lên thành hang Hay việc, người dân địa phương
tự ý phá hủy các cảnh quan karst để lấy đá vôi hay làm hòn non bộ,…Ngoài ra, điều kiện cấu tạo của các đảo trong vịnh gây ra rất nhiều hạn chế với những sinh kế quen thuộc với người dân như: trồng trọt và chăn nuôi Điều này gây ra rất nhiều khó khăn cho cuộc sống của người dân trong khu vực Vì vậy, càng buộc người dân khai thác các nguồn tài nguyên khác nhiều hơn
Ngoài việc phải chịu những tác động tiêu cực từ những hoạt động sinh kế của con người, tài nguyên cảnh quan - địa hình của vịnh Bái Tử Long cũng đang bị phải chịu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu Những tác động này thể hiện qua hai mặt: Trực tiếp, những tác động từ những thay đổi của khí hậu đến tài nguyền như axit hóa nước biển, mưa axit, bão,…; Gián tiếp, biến đổi khí hậu tác động đến đời sống của cộng đồng tại địa phương gây ra những khó khăn cho cuộc sống của người dân Từ đó, buộc cộng đồng phải khai thác nhiều hơn tài nguyên thiên nhiên nói chung
và tài nguyên địa hình nói riêng Điều này lại gây ra tác động tiêu cực vào tài nguyên này
Với những lý do trên, học viên lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đề xuất định hướng sinh kế bền vững gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị của tài nguyên địa hình ở Vịnh Bái Tử Long” làm luận văn tốt nghiệp của mình, nhằm làm sáng tỏ
Trang 9thực trạng và giá trị của tài nguyên địa hình và đề xuất định hướng các loại hình sinh
kế bền vững phù hợp với điều kiện của khu vực nghiên cứu nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị đốc đáo của loại tài nguyên này ở vịnh Bái Tử Long
Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Toàn bộ khu vực vịnh Bái Tử Long
Vịnh Bái Tử Long là một phần của Vịnh Hạ Long bao gồm vùng biển phụ cận của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và huyện Vân Đồn, nằm trong tọa độ địa lý
107o13’ – 107o35’ kinh độ Đông và 20o43’ – 21o09’ vĩ độ Bắc Phía bắc giáp vùng biển huyện Tiên Yên và huyện Đầm Hà; phía tây giáp thị xã Cẩm Phả, ranh giới là lạch biển Cửa Ông và sông Voi Lớn; phía đông giáp vùng biển huyện Cô Tô; phía nam giáp khu vực Vịnh Hạ Long (đã được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới)
Vịnh Bái Tử Long rộng trên 1.000km2 bao gồm hơn 600 hòn đảo, trong đó có
20 đảo đất lớn tiêu biểu là đảo Trà Bản, Quan lạn, Đống Chén, Thẻ Vàng, Ngọc Vừng, Cống Đông, Cống Tây và Vạn Cảnh; các đảo còn lại chủ yếu là núi đá vôi xen lẫn đất và các cồn rạn trong đó diện tích phần đất nổi có 55.150 ha, diện tích bãi đượng cát có 7.381 ha, diện tích bãi triều rừng sú vẹt ngập mặn có 3.315,5 ha, ghềnh đá cồn rạn có 26,5 ha, diện tích còn lại là mặt nước biển
Hinh 1 Vịnh Bái Tử Long (nguồn Google Earth)
Trang 10Hình 2 Ranh giới vịnh Bái Tử Long (nguồn Trung tâm Bảo tồn Vịnh Bái Tử Long)
Về mặt khoa học: Phân tích đánh giá tài nguyên địa hình, tập trung vào mối
quan hệ giữa sinh kế của cộng đồng với các giá trị tài nguyên địa hình Từ đó, đề xuất các định hướng sinh kế bền vững gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị của chúng
Mục tiêu đề tài:
Xác định và đánh giá được các giá trị tài nguyên địa hình trong mối quan hệ với sinh kế của cộng đồng địa phương và định hướng phát triển của vịnh Bái Tử Long, phục vụ đề xuất định hướng sinh kế bền vững
Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu
Nội dung:
- Tổng quan cơ sở lý luận về nghiên cứu tài nguyên địa hình và sinh kế bền vững
- Phân tích đánh giá, làm rõ các giá trị của tài nguyên địa hình, làm rõ mối quan
hệ giữa tài nguyên địa hình với sinh kế của người dân và tài nguyên địa hình với sự phát triển của khu vực
- Nghiên cứu đánh giá hiện trạng sinh kế của người dân trong khu vực
- Xác lập các tiêu trí sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương
- Đề xuất các định hướng giải pháp tạo sinh kế bền vững nhằm bảo tồn tài nguyên địa hình ở vịnh Bái Tử Long
Trang 11Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu và thực hiện tốt các nội dung trên, luận văn có các nhiệm
- Lập bản đồ tài nguyên địa hình của khu vực
- Xây dựng sơ đồ định hướng phát triển cho tài nguyên địa hình
- Tổng hợp tài liệu và viết báo cáo
Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 03 chương Trong đó:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Đánh giá tài nguyên địa hình và thực trạng sinh kế của cộng đồng khu vực vịnh Bái Tử Long
Chương 3: Nghiên cứu đề xuất định hướng sinh kế bền vững nhằm bảo tồn và phát triển các giá trị của tài nguyên địa hình vịnh Bái Tử Long
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 TÀI NGUYÊN ĐỊA HÌNH
1.1.1 Các khái niệm
Tài nguyên
Theo định nghĩa của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường Việt Nam “Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người” và người ta phân loại tài nguyên như sau:
- Theo quan hệ với con người: Tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên xã hội
- Theo phương thức và khả năng tái tạo: Tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo
- Theo bản chất tự nhiên: Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khi hậu cảnh quan, di sản văn hóa kiến trúc, tri thức khoa học và thông tin
Địa mạo học
Theo định nghĩa địa mạo học trước đây: “địa mạo học là một bộ môn khoa học nghiên cứu địa hình trái đất về các mặt hình thái, nguồn gốc phát sinh, lịch sử phát triển”, còn khái niệm địa mạo hiện đại thì phát biểu như sau: “địa mạo học là lĩnh vực nghiên cứu liên ngành và hệ thống về địa hình và các quá trình hình thành cũng như làm thay đổi chúng” Có thể nói rằng toàn bộ hoạt động của con người đều liên quan chặt chẽ với địa hình của nơi cư trú Chính vì vậy, địa hình vừa là nơi để con người
cư trú, đồng thời cũng là một trong những tư liệu sản xuất quan trọng nhất của con người Do đó, tầm quan trọng và ảnh hưởng của địa hình đến các yếu tố như: khí hậu, thủy văm thực vật và sự phát triển văn hóa của con người,… đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Ngược lại, với hoạt động của mình con người cũng tác động đến địa hình làm cho cả địa hình và các quá trình thành tạo của nó (quá trình địa mạo) bị biến đổi [32]
Đối tượng nghiên cứu của khoa học địa mạo là địa hình và thành phần vật chất tạo nên chúng Do đó, địa hình được xem là có cấu trúc khối chứ không phải là mặt phẳng Địa hình là một trong những hợp phần quan trọng nhất của môi trường địa lý
và được nghiên cứu trong mối tác động tương hỗ lẫn nhau và ảnh hưởng lẫn nhau của các yếu tố như nước trên mặt đất, nước ngầm, thổ nhưỡng, thực vật và thế giới động vật (trong đó có cả con người)
Trang 13 Tài nguyên địa mạo
Theo Panizza, địa hình và các quá trình địa mạo được đánh giá là tài nguyên thông qua 4 chỉ tiêu: khoa học, văn hóa, kinh tế-xã hội và phong cảnh Trong đó, chỉ tiêu khoa học phải đảm bảo được 4 đặc trưng là: 1- là mô hình tiến hóa địa mạo; 2-
là một thực thể được sử dụng cho các mục đích giáo dục và đạo tào; 3- là một ví dụ
về cổ địa mạo và 4- là trụ cột của hệ sinh thái [32]
Theo Panizza, để ứng dụng tốt cho các vấn đề môi trường thì địa mạo được chia thành 2 hướng: tài nguyên địa mạo và tai biến địa mạo [32]
“Tài nguyên địa mạo bao gồm các nguyên liệu thô (liên quan tới các quá trình địa mạo) và địa hình – cả hai loại có ích cho con người lẫn loại có thể trở nên có ích phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội và công nghệ” Chẳng hạn, một bãi biển có thể thu được giá trị và được xem là tài nguyên địa mạo khi được sử dụng cho các khu nghỉ dưỡng ven biển [32]
Cũng theo tác giả trên, địa hình và các quá trình địa mạo đều được coi là tài sản nếu chúng có giá trị Từ những giá trị này, nếu được sử dụng thì chúng sẽ trở thành tài nguyên thiên nhiên Các thuộc tính mà có thể cho giá trị đối với tài sản, rồi trở thành tài nguyên địa mạo bao gồm: khoa học, văn hóa, kinh tế - xã hội và phong cảnh
Hình 3 Mối quan hệ giữa nguyên liệu, tài sản và tài nguyên địa mạo [32]
Di chỉ địa mạo
Theo Gay, 2004 đa dạng địa học là “sự đa dạng tự nhiên về các đặc điểm địa chất (đá, khoáng vật và hóa thạch), địa mạo (địa hình và các quá trình,…) và thổ nhưỡng Nó bao gồm các tập hợp, các mối quan hệ, các tính chất, những luận giải và các hệ thống của chúng” Đa dạng địa học ra đời từ đâu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, phục vụ cho việc công nhận các di sản học (Geohertage) trên cơ sở công ước về những điều tốt đẹp của trái đất (Declaration of the Earth’s Rights) năm 1994, thành lập mạng lưới công viên địa học Châu Âu (Europea Geoparks Network) năm 2000 và sang kiến
về công viên địa học (Initiative on Geoparks) được UNESCO thông qua vào năm
2003 (Reynard và đồng nghiệp 2007)
Trang 14Cả địa mạo và đa dạng địa học đều có chung đối tượng nghiên cứu đó chính
là địa hình và các quá trình thành tạo ra chúng Vậy địa mạo trong nghiên cứu đa dạng địa học là nghiên cứu về hình thái, trắc lượng hình thái của các dạng địa hình, các quá trình động lực trong quá khứ và hiện tại hình thành các di chỉ địa học hay di chỉ địa mạo
Di chỉ địa mạo nằm trong hệ thống các di chỉ địa học (geosites) được định nghĩa là “những vị trí của địa quyển có tầm quan trọng để nhận thức về lịch sử Trái đất Chúng được phân định về không gian và có sự khác biệt rõ rệt với xung quanh” (theo Bách khoa thư địa mạo) Di chỉ địa mạo có vị trí tầm quan trọng trong việc tìm hiểu lịch sử phát triển của một lãnh thổ nào đó ở quy mô thời gian và không gian khác nhau, hay có giá trị thẩm mỹ trong phát triển du lịch Và trong nghiên cứu mối quan
hệ địa hình – du lịch, đến nay, đã được cụ thể hóa là nghiên cứu di chỉ địa học (geosite)
và các di chỉ địa mạo (geomorphosite) Những nghiên cứu đầu tiên về di chỉ địa mạo
đã được hướng dẫn ở Italy, Thụy Sĩ, Vương Quốc Anh và Tây Ban Nha vào đầu thập
kỷ 1990, sau này trở thành một lĩnh vực được quan tâm đối với các nhà địa mạo, bao gồm cả ở Rumani Những nghiên cứu này đã được hướng dẫn bởi một danh sách khá dài của các nhà địa lý và địa chất, như Reynard (2002, 2004, 2008, 2009), Pralong (2004), Panizza (2001), Panizza và Piacente (2003), Poli (1999), Brancucci và Burlando (2001), Serrano (2002), Bertacchini (1996), Piacente (2001), Brancucci (2003), De Waele và đồng nghiệp (2004), Piccini và đồng nghiệp (2005), Hoblea (2009), Dowling và Newsome (2006, 2008) – những người đã xác định các quan niệm, phát triển được các phương pháp đánh giá Và năm 2001 – Hội địa mạo Quốc
tế thành lập nhóm nghiên cứu di chỉ địa mạo do Reynard đứng đầu
Panizza cũng đã đưa ra định nghĩa về di chỉ địa mạo như sau: “Di chỉ địa mạo bao gồm các thành tạo địa hình và quá trình phát sinh sự đa dạng địa hình nào đó có như đặc điểm tạo nên một điểm đến du lịch Di chỉ địa mạo mang các giá trị khoa học, văn hóa/lịch sử, thẩm mỹ và/hoặc khinh tế do nhân thức hoặc khai thác của con người” [32]
Các nhà khoa học đã phân chia di chỉ địa mạo thành 2 loại: di chỉ địa mạo tích cực cho phép nhìn thấy được các quá trình địa mạo đang hoạt động (thung lũng sông, bãi biển,…) và các di chỉ địa mạo thụ động biểu lộ các quá trình trước đây được xem
là di sản đặc biệt về ký ức của Trái đất Chúng là công cụ đắc lực phục vụ cho phát triển du lịch
Trang 151.1.2 Các tiêu chí đánh giá tài nguyên địa hình
Theo Panizza các tiêu chí có thể cho giá trị đối với địa hình để trở thành tài nguyên địa mạo được liệt kê dưới đây [32]
- Giá trị khoa học
- Giá trị văn hóa
- Giá trị kinh tế - xã hội
- Giá trị về phong cảnh/cảnh vật
a) Giá trị khoa học
Trên quan điểm khoa học và trong lĩnh vực địa mạo, tầm quan trọng về giá trị của tài nguyên địa mạo tự nhiên có thể đánh giá theo 4 đặc trưng (Panizza và Piacente, 1993):
1) Là một mô hình tiến hóa địa mạo, chẳng hạn phễu karst hoặc một cột đất 2) Là một vật thể được sử dụng cho các mục đích giáo dục, chẳng hạn một khúc uốn của dòng sông
3) Là một ví dụ cổ địa mạo, chẳng hạn đồi băng tích hoặc thềm sông tuổi Pleistocen
4) Địa hình có thể được xem là tài nguyên địa mạo bởi các khía cạnh khoa học của nó, cũng như khi nó là trụ cột của hệ sinh thái, có thể bởi vì nó là một môi trường sống dành riêng cho những loài động vật hay thực vật đặc biêt, mà chúng là những yếu tố không thể thiếu được trong một hệ sinh thái: Một vài vùng đất ngập nước hoặc các tích tụ mảnh vụn là những ví dụ rõ rệt Tuy nhiên, trong trường hợp này, các môn học khác, như Động vật học hay Thực vật học, hơn là Địa mạo học, sẽ chỉ ra sự đóng góp của tài sản địa mạo Trong những trường hợp khác, việc xác định giá trị khoa học của những đặc điểm hình thái đặc biệt, như hang động hoặc mái đá mà có lúc là vị trí cư ngụ của người cổ đại, có thể lại nằm trong ranh giới của Khảo cổ học
Mỗi đặc trưng trên đây có thể thừa nhận giá trị cao hay thấp nhờ mức độ hiếm
có của nó, nghĩa là tầm quan trọng của nó về mặt không gian; do đó, mức độ khác nhau về tầm quan trọng có thể được quy cho một trong 4 loại đặc trưng đã xác nhận
ở trên:
- Địa phương
- Khu vực
Trang 16- Siêu khu vực
- Rộng rãi trên thế giới
b) Giá trị văn hóa
Trên quan điểm văn hóa, tài nguyên địa mạo có thể thuộc về thế giới của nghệ thuật hoặc thuộc truyền thống văn hóa, ví dụ như: các cảnh quan đã được vẽ bởi danh họa Venetian vào thể kỷ XVI, hoặc núi Olimpo, nơi ở của các vị thần
Một tài nguyên địa mạo cũng có thể thu được giá trị kinh tế - xã hội, nếu có thể được sử dụng cho mục đích du lịch hoặc thể thao, ví dụ như thung lũng Alpo, một lối mòn cho đi bộ và tham quan tự nhiên, hoặc một bức tường đá được trang bị cho len núi
Một yếu tố phong cảnh cũng có thể là tài nguyên địa mạo cả ở cảm giác ngoạn mục, lẫn vì sự hấp dẫn của nó là một sự thu hút, mà có thể làm cho nó dễ dàng hơn đối với con người tiếp cận các vấn đề môi trường và làm tăng hiểu biết và nhân thức của họ
Từ những quan sát ở trên, có thể suy ra, tài nguyên địa mạo có thể hoặc là địa hình hoặc là nguyên liệu thô, hoặc là cả hai
c) Giá trị về phong cảnh/cảnh vật
Chỉ tiêu phong cảnh/cảnh vật có phạm vi rất rộng về bản chất trực giác Trong trường hợp này, cách tiếp cận với tự nhiên tùy thuộc vào cách thưởng ngoạn nó và tâm trí của con người tại thời điểm đó Nó được xuất phát từ những cảm giác do nhận thức cá nhân mang tính chủ quan cao, do đó, khó mà đánh giá và so sánh với những cảm giác và nhân thức của những người khác nhau
d) Giá trị kinh tế - xã hội
Tiếp cận địa mạo dựa trên cơ sở kiến thức khoa học về tài nguyên thiên nhiên, nhận thức về các quy luật điều chỉnh sự tiến hóa của nó và nhận thức về tầm quan trọng của nó đối với loài người Bởi thế, đây là nhiệm vụ có thể chỉ được thực hiện bởi những nhà địa mạo được đào tạo cẩn thận – những người có thể nhận ra và đánh giá một cách chính xác các thuộc tính này
Địa hình trở thành tài nguyên địa mạo chỉ khi nó có những hàm ý xã hội, nghĩa
là chỉ khi các tham số khác, các tham số khách quan, bắt đầu hoạt động để đầu tư cho
nó có giá trị (Panizza và Piacente, 1993)
Trang 17Tuy nhiên, việc đánh giá nên được thực hiện một cách chính xác, nghĩa là, đánh giá sự tồn tại liên tục của tài nguyên theo thời gian Một cách cụ thể hơn, điều này bao gồm cả việc điều chỉnh sử dụng nó khi mà những quan tâm về xung đột phát triển Những xung đột như vậy bao gồm nghiên cứu khoa học chống lại sự khai hoa kết trái của nó, sự hạn chế cơ hội sử dụng địa hình chống lại nhu cầu hiểu biết và những mục đích giáo dục, sử dụng trực tiếp chống lại những quan sát thuần túy,… Vì thế, thang đánh giá có thể được tổng kết như sau: ở vị trí thứ nhất – có sự tồn tại của địa hình, đánh giá xem có giá trị trở thành tài nguyên địa mạo – thứ 2, cách sử dụng
nó – thứ ba Tuy nhiên, cũng cần lưu tâm tạo ra các cơ hội công bằng cho việc sử dụng bởi tất cả các bộ phận của xã hội vì tài nguyên địa hình cũng có giá trị chung, cộng đồng khác với nó có giá trị riêng
Nếu như Panizza (1996) đưa ra các tiêu chí đánh giá giá trị của tài nguyên địa mạo thì Ielenicz M (2009) đã đưa ra bảng đánh giá bán định lượng các giá trị của một di chỉ địa mạo bằng cách cho điểm như sau:
Bảng 1: Tiêu chí và các chỉ tiêu đánh giá các lựa chọn một di chỉ địa mạo [28]
Hiếm ở địa phương 1 Hiếm ở vùng lớn 2 Quan hệ với các di chỉ địa
Thiếu - Trong khu vực
- Ngoài khu vưc
0
Không hiện đại
- Trong khu vực
- Ngoài khu vực
0.5
Hiện đại
- Trong khu vực
- Ngoài khu vực
0.5
Trang 18Các đặc trưng Chỉ tiêu Điểm
Đào tạo Nghiên cứu
Bảng 2: Các đặc trưng tiêu chí và điểm cho đánh giá giá trị các di chỉ địa mạo [26]
Đặc trưng Tiêu chí đánh giá Mức độ đánh giá thông
Mạnh (2) Khả năng nhìn thấy <100m
(0,5)
100 – 1000m (1)
>1000m (2)
(0,5)
100 – 500m (1)
>500m (2)
Ép buộc trong tập hợp cảnh quan thông qua hình dạng và màu sắc
Yếu (0,5)
TB (1,0) Mạnh (2)
Trang 19Đặc trưng Tiêu chí đánh giá Mức độ đánh giá thông
qua
Nguyên thủy Khoa học Địa mạo là kết quả của cấu
tạo, nguồn gốc và tiến hóa
Yếu (0,5)
TB (1,0) Mạnh (2)
Hiếm thông qua nguồn gốc và kích thước
Trong địa phương
Thường xuyền (0,1)
TB (0,5) Hiếm
(1,5)
Hiếm thông qua nguồn gốc và kích thước
Trong khu vực lớn
Thường xuyền (0,5)
sinh thái
Hạn chế (0,5)
TB (1) Quang
trọng (1,5) Thứ sinh Lịch sử - Văn
hóa
Nguồn cảm hứng (tranh, ảnh, thơ, tín ngưỡng, điêu khắc, lịch sử, nghệ thuật truyền thống, …)
Không Ít quan
trọng
Quan trọng
Địa điểm quan trọng cho sự kiện hoặc tính cách
Sự kiện văn hóa
Biểu diễn thể thao
trọng
Quan trọng
Trang 20Đặc trưng Tiêu chí đánh giá Mức độ đánh giá thông
Quan trọng
Mạng lưới (từ đường mòn đến đường quốc ô tô)
Không Không
hiện đại
Hiện dại
Tính dễ bị tổn thương
và mức độ bảo tồn
Các quá trình nhân sinh Không Ít bị
tác động
Bị tác động mạnh
Các quá trình tự nhiên 1 0,5 0 Dùng làm
vốn/Lợi dụng
Sự hiện diện, bố trí du lịch Không
có
Yếu Tốt cho
mỗi kiểu
Số du khách/năm hoặc trung bình Số lượng ý kiến thăm
dò về hoạt động du lịch trên các di chỉ địa mạo
<100 100-
1000
>1000
Trang 211.1.3 Tổng quan các nghiên cứu tài nguyên địa hình phục vụ phát triển kinh tế
xã hội và xóa đói giảm nghèo
Các nghiên cứu quốc tế
Các nghiên cứu về địa mạo nói chung và địa hình nói riêng đã được diễn ra từ rất lâu về trước, song lịch sử tồn tại của nó như một khoa học độc lập lại rất ngắn ngủi Trước đây, những tài liệu về địa hình mặt đất chỉ được thu thập một cách nhân tiện khi tiến hành các công trình nghiên cứu địa lý, địa chất, sinh vật học và thổ nhưỡng Thêm vào đó, đó mới chỉ là những tài liệu mạng tính mô tả Chỉ sau khi xuất hiên những công trình nghiên cứu tổng quát nổi tiếng của các nhà địa lý địa chất như Powell, Gillbert, Davis, Richthofen, A Penck và nhất là của W Penck thời kỳ cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, khoa học địa mạo mới được hình thành như chúng ta thấy ngày nay[2]
Trong những năm gần đây đã có rất nghiều tài liệu nghiên cứu về địa hình nói riêng và địa mạo nói chung dưới góc độ là một tài nguyên thiên nhiên gắn với các vấn đề môi trường hay phục vụ phát triển kinh tế xã hội Nổi bật trong số đó là cuốn sách “Environmental Geomorphology” của M Panizza Trong tác phẩm của mình, ông không chỉ chỉ ra các khái niệm cơ bản về địa mạo học, tài nguyên địa mạo, tai biến địa mạo,…, mà còn đặt chúng trong các mối quan hệ với con người (các hoạt động của con người) và môi trường
Ngoài ra còn rất nhiều tài liệu nghiên cứu về tiềm năng và giá trị của các dạng địa hình cụ thể đối với việc phát triển kinh tế xã hội Trong đó, đặc biệt nổi bật lên là các nghiên cứu về cảnh quan địa hình Karst và các giá trị độc đáo của nó
Trong tuyển tập các nghiên cứu “Sustainability of the Karst environment”
của UNESCO và International Hydrological Programme (2009), Nội dung
chính hội nghị tập trung vào:
Khía cạnh địa chất
Khía cạnh địa mạo
Thủy văn và địa chất thủy văn các khía cạnh
Vùng núi đá vôi Ven biển và bị ngập
Trang 22 Khía cạnh sinh học và sinh thái của vùng núi đá vôi
Tác động của con người và bảo vệ vùng núi đá vôi
Các khía cạnh xã hội học, nhân khẩu học và xã hội của vùng núi đá vôi
Núi đá vôi và các khu vực núi đá vôi khác (Trung Quốc, Alpine, Caribbean núi đá vôi, vv)
Đây là một báo cáo đầy đủ về nhiều khía cạnh của bảo tồn, phát triển bền vững khu vực núi đá vôi với các nghiên cứu về di chuyển trầm tích khu vực trên nghiên cứu về dòng chảy, các nghiên cứu tái tạo hệ thống cảnh quan khu vực karst, các tai biến khu vực Karst,… trên nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới
Nghiên cứu “A sustainability index for karst environments” của Philip Van Beynen, Robert Brinkmann và Kaya Van Beynen đã chỉ ra các yếu tố chịu tác
động của hoạt động dân sinh đang nảy sinh trong những khu vực hệ thống đá vôi
Quản lý tài nguyên thiên nhiên
Giao thông vận tải
Giảm lãng phí phát sinh chất thải
Dạy giáo dục
Bảo tồn nước
Quản lý khí thải nhà kính
Tài liệu trong nước
Tại nước ta, trước đây các nghiên cứu chủ yếu vẫn chỉ tập trung nghiên cứu vào các đặc điểm khoa học của địa mạo và địa hình và ứng dụng của chúng trong việc xây dưng các công trình, quy hoạch hay các tai biến liên quan,… Trong vài năm trở
Trang 23lại đây, dưới sự bùng nổ của các vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, các nghiên cứu địa mạo của nước ta dần chuyển hướng sang việc nghiên cứu các giá trị của địa hình – địa mạo, và đặt chúng trong mối quan hệ với các vấn đề môi trường và phát triển bền vững
Nhắc đến các tài liệu nghiên cứu địa hình – địa mạo, chúng ta không thể không nhắc tới các giáo trình về chúng Trong đó, giáo trình “Địa mạo đại cương” của GS.TS Đào Đình Bắc đã đặt nền móng cơ sở cho các kiến thức về địa mạo học của luận văn Bên cạnh đó, các tài liệu nghiên cứu về các dạng địa hình cụ thể độc đáo và các giá trị của nó trong phát triển kinh tế - xã hội như địa hình Karst
Năm 1956, Nguyễn Đức Chính đã biên soạn cuốn Địa lí tự nhiên Việt Nam, trong đó có nêu lên các đặc điểm karst nhiệt đới ở nước ta
Thập niên cuối thế kỷ 20, đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về “nghiên cứu địa hình karst phục vụ du lịch” do Nguyễn Quang Mỹ chủ trì (1991 – 1994) đã giải quyết một loạt vấn đề lý thuyết và thực tiễn về hang động và karst nhiệt đới ở Việt Nam
- ‘‘Địa hình karst ở Việt Nam” của Đào Trọng Năng (1979); Luận án Phó Tiến
sĩ về “karst Việt Nam” của Phạm Khang (1995);
- ‘‘Atlat du lịch hang động Việt Nam” của Nguyễn Quang Mỹ (1993); và chuyên khảo ‘‘Kỳ quan hang động Việt Nam” do Nguyễn Quang Mỹ và L Howard đồng chủ biên (2002), với gần 500 trang giới thiệu được những nét chính hang động Việt Nam trong thời kỳ hiện đại
- Hợp tác “Thám hiểm và nghiên cứu hang động trong các vùng đá vôi ở Việt Nam” giữa Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (trước đây là Trường Đại học
Tổng hợp Hà Nội) và Hội Nghiên cứu Hang động Hoàng gia Anh (British Research Cave Association - BRCA) chính thức được thực hiện từ năm 1990
Từ năm 1989, cứ 2 năm và gần đây là 1 năm một lần, đoàn thám hiểm Hang động Hoàng gia Anh đến Việt Nam và phối kết hợp với Bộ môn Địa mạo để khám phá và nghiên cứu hang động
- Đến nay, hợp tác Thám hiểm và Nghiên cứu Hang động trong các vùng đá vôi
ở Việt Nam trong đó có khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng giữa Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (trước đây là
Trang 24Khoa Địa lý - Địa chất, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội) đã được 22 năm với 13 đợt khảo sát với quy mô khác nhau, tiến hành nghiên cứu hang động ở các tỉnh như: Quảng Ninh, Quảng Bình, Ninh Bình, Lạng Sơn, Sơn La, Cao Bằng, Quảng Nam, Đà Nẵng và đã đo vẽ tổng độ dài trên 250 km của hơn 300 hang
Ngoài ra, còn một số tài liệu khác:
- Tài liệu “Giới thiệu núi đá vôi Kiên Giang” do Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành năm 2009 Tài liệu giới thiệu một cách khái quát về các giá trị của cảnh quan địa hình Karst ở Kiên Giang như: giá trị khảo cổ học, giá trị văn hóa, giá trị lịch sử, đa dạng sinh học núi đá vôi,… Ngoài ra tài liệu cũng nêu khái quát hiện trạng khai thác đang diễn ra ở đây nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững nguồn tài nguyên cảnh quan karst
- Các bài báo khoa học về địa hình Karst và hang động ở Vịnh Hạ Long nhằm tìm hiểu về đặc trưng của địa hình Karst ở khu vực nghiên cứu
1.2 SINH KẾ BỀN VỮNG
1.2.1 Khái niệm sinh kế bền vững
Khái niệm sinh kế bề vững về cơ bản được dụa trên nền tảng của khái niệm về sinh kế và sự phát triển bền vững, trong đó chú trọng hơn đến sự phát triển bền vững
Về sinh kế, các khái niệm sinh kế thường xuyên được sử dụng và trích dẫn trong các nghiên cứu đều dựa trên ý tưởng về sinh kế của Chambers và Conway (1992), trong đó, sinh kế, theo cách hiểu đơn giản nhất là phương tiện để kiếm sống Một định nghĩa đầy đủ hơn của Chambers và Conway về sinh kế là: “sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” Một sinh kế là bền vững “khi có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và nguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh
kế khác ở cấp địa phương và cấp toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn[22]
Dựa trên khái niệm về sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1992), Scoones (1998) định nghĩa sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được
Trang 25hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng; duy trì và tăng cường khẳ năng và nguồn lực hiện tại mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên [22]
Năm 2001, Cơ quan phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm về sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động hỗ trợ của mình, theo đó, sinh kế
“bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho con người” Khái niệm này về cơ bản hoàn toàn giống với khái niệm về sinh kế của Chambers và Conway (1992) và Scoones (1998) [23]
Về phát triển bền vững, thuật ngữ phát triển bền vững được giới thiệu lần đầu tiên bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN)
Họ cho rằng “sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh
tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” Để làm rõ hơn khái niệm trên, Ủy ban Thế giới về môi trường
và phát triển (WCED) (1987) đã đưa ra khái niệm phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp sứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lại …”
Theo Wikipedia, phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển trong hiện tại mà vẫn phải đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm nay hiện nay đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa,
… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 của Việt Nam, quan điểm phát triển bền vững được thể hiện như sau: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tiến bộ xã hộ và bảo vệ môi trường”
Thông qua tìm hiểu và làm rõ các khái niệm về sinh kế và phát triển bền vững thì sinh kế trở nên bền vững khi giải quyết được những căng thẳng và đột biến, hoặc
có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại và tương lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên (theo DFID, 2001)
1.2.2 Tính bền vững của sinh kế
Trang 26Chambers và Conway (1992) đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 2 phương diện: bền vững về môi trường (đề cập đến khả năng của sinh kế trong việc bảo tồn hoặc tăng cường các nguồn lực tự nhiên, đặc biệt cho các thế hệ tương lai) và bền vững về xã hội (đề cập đến khả năng của sinh kế trong việc giải quyết những căng thẳng và đột biến) Sau này, Scoones (1998), Ashley, C và Carney, D (1999), DFID (2001) và Solesbury (2003) đã phát triển tính bền vững của sinh kế trên cả phương diện kinh tế và thể chế và đi đến thống nhất đánh giá tính bền vững của sinh kế trên
4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế [22]
- Một sinh kế được coi là bền vững về kinh tế khi nó đạt được và duy trì một mức phúc lợi kinh tế cơ bản và mức phúc lợi kinh tế này có thể khác nhau giữa các khu vực
- Tính bền vững về xã hội của sinh kế đạt được khi sự phân biệt xã hội được giảm thiểu và công bằng xã hội được tối đa
- Tính bền vững về môi trường đề cập đến việc duy trì hoặc tăng cường năng suất của các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của các thế hệ tương lai
- Một số sinh kế có tính bền vững về thể chế khi các cấu trúc hoặc quy trình hiện hành có khả năng thực hiện chức năng của chúng một cách liên tục và ổn định theo thời gian để hỗ trợ cho việc thực hiện các hoạt động sinh kế
Theo các tác giả trên, cả 4 phương diện này đều có vai trò quan trọng như nhau
và cần tìm ra một sự cân bằng tối ưu cho cả 4 phương diện Cùng trên quan điểm đó, một sinh kế là bền vững khi: có khả năng thích ứng và phục hồi trước những cú sốc hoặc đột biến từ bên ngoài; không phụ thuộc và sự hỗ trợ từ bên ngoài; duy trì được năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên; và không làm phương hại đến các sinh kế khác
1.2.3 Tiêu chí đánh giá tính bền vững của sinh kế
Các nghiên cứu của Scoones (1998) và DFID (2001) đều thống nhất đưa ra một số tiêu chí đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế [23]
- Bền vững về kinh tế: được đánh giá chủ yếu bằng chỉ tiêu gia tăng thu nhập của hộ gia đình
- Bền vững về xã hội: được đánh giá thông qua một số tiêu chí như: tạo thêm việc làm, giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực
Trang 27- Bền vững về môi trường được đánh giá thông qua việc sử dụng bền vững hơn các nguồn lực tự nhiên (đất, nước, rừng, tài nguyên thủy hải sản,…), không gây hủy hoại môi trường (như ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường,…)
- Bền vững về thể chế: được đánh giá thông qua một số tiêu chí như: hệ thống pháp lý được xây dựng đầy đủ và đồng bộ, quy trình quy hoạch chính sách có
sự tham gia của người dân, các cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tư hoạt động có hiệu quả; từ đó tạo ra một môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách để giúp các sinh kế được cải thiện liên tục theo thời gian
1.2.3.1 Khung sinh kế bền vững
Các yếu tố cấu thành khung sinh kế bền vững
Về cơ bản, các khung sinh kế bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của
5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế là: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) hoạt động sinh kế; (iii) kết quả sinh kế; (iv) thể chế và chính sách; và (v) bối cảnh bên ngoài [15]
- Nguồn lực vật chất: bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản hỗ trợ cho các hoạt động sinh kế; ví dụ như đường giao thông, nhà ở, cấp thoát nước, năng lượng (điện,…), thông tin,…
- Nguồn lực tài chính: bao gồm các nguồn vốn khác nhau mà con người sử dụng
để đạt được các mục tiêu sinh kế, bao gồm các khoản tiền tiết kiệm, tiền mặt, trang sức, các khoản vay, các khoản thu nhập,…
- Nguồn lực con người: bao gồm các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, khả năng lao động, sức khỏe, trình độ giáo dục,… giúp con người thực hiện các hoạt động sinh kế khác nhau và đạt được các kết quả sinh kế mong muốn
- Nguồn lực xã hội: bao gồm các mối quan hệ trong xã hội mà con người dựa vào để thực hiện các hoạt động sinh kế, chủ yếu là các mạng lưới xã hội (các
tổ chức phi chính phủ hoặc dân sự), các thành viên của tổ chức cộng đồng,…
Hoạt động sinh kế
Trang 28Hoạt động sinh kế là cách mà hộ gia đình sử dụng các nguồn lực sinh kế sẵn
có để kiếm sống và đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống Các nhóm dân cư khác nhau trong cộng đồng có những đặc điểm kinh tế - xã hội và các nguồn lực sinh kế khác nhau nên có những lựa chọn về hoạt động sinh kế không giống nhau Các hoạt động sinh kế có thể thực hiện là: sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ, buôn bán, du lịch,…
Kết quả sinh kế
Kết quả sinh kế là những thành quả mà hộ gia đình đạt được khi kế hợp các nguồn lực sinh kế khác nhau để thực hiện các hoạt động sinh kế Các kết quả sinh kế chủ yếu bao gồm: tăng thu nhập, cải thiện phúc lợi, giảm khả năng bị tổn thương, tăng cường an ninh lương thực, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Thể chế chính sách
Các thể chế (cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tư nhân) và luật pháp, chính sách đóng vai trò quan trọng đối với việc thực hiện thành công các sinh kế Các thể chế và chính sách được xây dựng và hoạt động ở tất cả các cấp, từ cấp hộ gia đình đến các cấp cao hơn như cấp vùng, cấp quốc gia và quốc tế Các thể chế và chính sách quyết định khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế và việc thực hiện các hoạt động sinh kế của các cá nhân, hộ gia đình và các nhóm đối tượng khác nhau
Bối cảnh bên ngoài
Sinh kế bị ảnh hưởng rất lớn bởi 3 yếu tố thuộc bối cảnh bên ngoài là (i) các
xu hướng (về dân số, nguồn lực sinh kế, các hoạt động sinh kế cấp quốc gia và quốc
tế, sự thay đổi công nghệ,…), (ii) các cú sốc (về sức khỏe do bệnh dịch, về tự nhiên
do thời tiết và thiên tai, về kinh tế do khủng hoảng, về mùa màng/vật nuôi) và (iii) tính mùa vụ (sự thay đổi giá cả, hoạt động sản xuất, các cơ hội việc làm có tính thời vụ)
1.2.3.2 Một số khung sinh kế bền vững tiêu biểu
Khung sinh kế bền vững (Sustainable Liveliohoods Framework)
Trang 29Hình 4 Khung sinh kế bền vững của DFID
Năm 2001, cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khung sinh kế bền vững, theo đó, các hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống (hoạt động sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế có sẵn (5 loại nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương Những nhân tố này chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như bão lụt, các tác động mang tính thời vụ Sự lựa chọn hoạt động sinh kế của hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố này [23]
Khung sinh kế bền vững vùng ven biển (Sustainable Coastal Livelihoods Framework)
Trang 30Hình 5 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển của IMM
Trên cơ sở các khung sinh kế bền vững trên, năm 2004, IMM đã sửa đổi lại để
áp dụng cho các cộng đồng ven biển, được gọi là “Khung sinh kế bền vững vùng ven biển”
Theo IMM, sinh kế của các hộ gia đình ven biển chịu tác động của 3 nhóm yếu tố Các yếu tố thuộc nhóm thứ nhất bao gồm các nguồn lực sinh kế (5 loại nguồn lực) mà hộ gia đình sử dụng để thực hiện các hoạt động sinh kế Thuộc nhóm thứ hai
là các yếu tố đặc điểm cá nhân (như tuổi tác, giới tính, tôn giáo,…) và các yếu tố xã hội (như cơ cấu chính trị, chính sách, pháp luật,…) có ảnh hưởng gián tiếp đến cộng đồng ven biển Nhóm thứ ba bao gồm các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp như tính mùa
vụ, thiên tai, xu hướng bên ngoài,… Sự lựa chọn các hoạt động sinh kế của cộng đồng
Trang 31ven biển dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa
3 nhóm yếu tố cơ bản này [15]
Như vậy, ý tưởng chung của các khung sinh kế bền vững nêu trên là: các hộ gia đình, dựa vào nguồn lực sinh kế hiện có (bao gồm nguồn lực con người, tự nhiên, tài chính, vật chất và xã hội) trong bối cảnh thể chế và chính sách nhất định ở địa phương, sẽ thực hiện các hoạt động sinh kế (như sản xuất nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng, du lịch, đa dạng hóa các loại hình sinh kế,…) nhằm đạt được các kết quả sinh kế bền vững (như tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, giảm rủi ro và khả năng bị tổn thương, cải thiện an ninh lương thực, sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên,….) dưới sự tác động của bối cảnh bên ngoài (các cú sốc, các xu hướng và tính mùa vụ) Cụ thể hơn, việc phân tích khung sinh kế bền vững sẽ giúp trả lời câu hỏi: nguồn lực sinh kế nào, hoạt động sinh kế nào, thể chế - chính sách nào là quan trọng để đạt được sinh kế bền vững cho các nhóm đối tượng khác nhau
1.3 NGHIÊN CỨU SINH KẾ BỀN VỮNG GĂN VỚI BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
Hiện nay, có rất nhiều tài liệu nghiên cứu hướng tiếp cận sinh kế để áp dụng trong công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Những nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu các hướng áp dụng sinh kế trong các khu vực có nguồn tài nguyên
đa dạng sinh học, đặc biệt là trong các khu bảo tồn và Vườn Quốc gia Trong khuôn khổ nghiên cứu, các tài liệu này đã được tìm hiểu với mục đích tìm hiểu thế nào là sinh kế bền vững, tính bền vững của sinh kế, các tiêu chí đánh giá tính bền vững của sinh kế Đồng thời qua đó chúng ta có thể hiểu được cách phân tích đánh giá các sinh
kế thông qua khung sinh kế bền vững để phục vụ các mục tiêu của nghiên cứu
Một số tài liệu nghiên cứu sinh kế bền vững trên thế giới:
- Tác giả Abiyot Negera Biressu (2009) cho rằng các hoạt động bảo tồn của VQG cần chú ý chia sẻ lợi ích và trách nhiệm giữa các bên liên quan, đồng thời cải thiên sinh kế cho cộng đồng địa phương
- Krisna B Ghimire (2008) qua cuốn “Park and people: Livelihood Issue in national Parks Management in Thailand and Madagascar” cũng khẳng định những ý kiến trên
- Trong cuốn “Involving Indigenous peoples In Protected Are management” Comparative perspectives from Nepal, Thailand, and China” tác giả Sanjay K
Trang 32(2002) lưu ý đến việc cần phải chú ý tới các dân tộc bản địa và sinh kế của họ trong các KBT và VQG trong các hoạt động bảo tồn
Một số tài liệu trong nước
- Nghiên cứu “Tác động của Đô thị hóa và công nghiệp hóa đến sinh kế nông dân” được thực hiện bởi TS Nguyễn Văn Sửu – Trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn tại một làng ven đô Hà Nội
- Đề tài “Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội vùng cồn bãi huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình” được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu, đứng đầu là PGS.TS Hoàng Mạnh Quang (Trường Đại học Nông lâm Huế) năm 2009
- Cuốn sách “Sinh kế bền vững cho các khu bảo tồn Việt Nam” đã được hoàn thành bởi một nhóm tác giả, đứng đầu là Angus McEwin và được xuất bản năm 2007
- Báo cáo kinh tế - xã hội “Giám sát tác động và đánh giá khả năng tổn thương của các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên đất ngập nước khu vực VQG Xuân Thủy, Nam Định”, xuất bản năm 2009
1.4.1 Các quan điểm nghiên cứu
Quan điểm hệ thống: Khi nghiên cứu về một sự vật hiện tượng, chúng ta cần
xem xét nó một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái hoạt động và phát triển, để tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng Quan điểm hệ thống giúp chúng ta đặt sự vật trong một hệ thống chỉnh hợp các mối quan hệ của nó với các yếu tố khác Giúp chúng ta phân tích đối tượng thành các bộ phận các phần để nghiên cứu chúng một cách sâu sắc hơn để tìm ra tính hệ thống của chúng Đồng thời cũng đảm bảo tính thống nhất của các hợp phần nghiên cứu
Quan điểm phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể
đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng của thế hệ tương lai” theo báo cáo Brundtland năm 1987 của Ủy ban môi trường và Phát triển Thế giới – WCED Quan điểm phát triển bền vững trong nghiên cứu được thể hiện thông qua việc đề xuất định hướng các sinh kế Các sinh kế được đề xuất trong nghiên cứu phải đáp ứng được các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường
Trang 33 Quan điểm bảo tồn để phát triển và phát triển để bảo tồn: Bảo tồn là hoạt động
bảo vệ và duy trì; phát triển có thể hiểu đơn giản là sự đi lên hay lớn lên của
sự vật Bảo tồn để phát triển trong nghiên cứu chỉ sự bảo vệ và duy trì hiện trạng cũng như các giá trị của tài nguyên từ đó tạo nguồn lợi không ngừng cho cộng đồng địa phương Còn phát triển để bảo tồn lại chỉ khi người dân thu được nguồn lợi từ những giá trị mà mình đã bảo tồn thì từ đó sẽ có ý thức hơn trong việc khai thác làm sao để thu được lợi ích lâu dài nhất
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng quan và phân tích tài liệu
Nội dung của phương pháp là quá trình tìm kiếm, tổng hợp và xử lý những tài liệu thu thập được trước khi bắt đầu nghiên cứu Từ đó, xây dựng được một cái nhìn tổng quan về đề tài Điều này sẽ hỗ trợ rất nhiều cho các bước tiếp theo của đề tài Các tài liệu được tổng hợp và phân tích bao gồm: các tài liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu; các tài liệu tài nguyên địa mạo nói chung và tài nguyên địa hình nói riêng; các tài liệu về sinh kế, sinh kế bền vững và phát triển bền vững Ngoài ra còn có các tài liệu về định hướng phát triển kinh tế - xã hội của khu vực
- Xây dựng lộ trình thực địa: thông qua việc tìm hiểu về khu vực nghiên cứu, lựa chọn ra các điểm cần thực địa, lộ trình thực địa Từ đó, tăng hiệu quả của quá trình thực địa, tránh việc lãng phí về thời gian, công sức, tài chính, cũng như việc lan man làm giảm kết quả của chuyến thực địa
- Báo cáo thực địa: Sau khi đi thực địa trở về, viết báo cáo tóm tắt quá trình thực địa, các kết quả đạt được trong quá trình thực địa, các vấn đề còn chưa đạt được Từ đó, rút ra các kinh nghiệm cho các chuyến thực địa sau
Phương pháp địa chất, địa mạo
Trang 34Với nội dung chính của đề tài liên quan đến đánh giá giá trị của hệ thống hang động và địa hình karst Phương pháp là việc ứng dụng các kiến thức về địa chất và địa mạo trong quá trình thực địa Từ đó, làm nổi bật nhưng giá trị địa chất, địa mạo
đã được phát hiện trước đây; tìm kiếm những giá trị địa chất, địa mạo còn tiềm tàng của khu vực
Phương pháp bản đồ, viễn thám và GIS
Đây là phương pháp sử dụng những công cụ địa lý như: bản đồ, viễn thám và GIS vào phục vụ quá trình nghiên cứu và hỗ trợ triệt để cho quá trình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các công cụ địa lý:
- Ảnh vệ tinh của khu vực nghiên cứu
- Bản đồ địa hình khu vực nghiên cứu
- Bản đồ địa chất khu vực nghiên cứu
- Các sơ đồ hiện trạng phân bố tài nguyên du lịch, sơ đồ định hướng phát triển
du lịch,…
Tất cả các công cụ trên được sử dụng nhằm giúp luận văn xây dựng được một các nhìn tổng quan về tài nguyên địa hình, hiện trạng phát triển du lịch của khu vực nghiên cứu Từ đó, góp phần trong việc xây dựng bản đồ hiện trạng tài nguyên địa hình, và các định hướng phát triển sinh kế bền vững cho vịnh Bái Tử Long
Phương pháp phỏng vấn, điều tra
Với mục tiêu điều tra, đánh giá hiện trạng sinh kế của khu vực để từ đó đưa ra những đề xuất định hướng sinh kế bền vững của mình Phương pháp này sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc điều tra các thông tin về hiện trạng sinh kế của địa phương, giúp đề tài thu được những thông tin cần thiết để đưa ra những đánh giá và đề xuất Phương pháp này được thực hiên thông qua các bước:
- Xây dựng bảng hỏi điều tra: Sau khi nghiên cứu các tài liệu về khu vực nghiên cứu cũng như các tài liệu liên quan, luận văn đã nghiên cứu xây dựng một bảng hỏi điều tra với các câu hỏi bám sát vào các thông tin cần thu thập
- Lựa chọn mẫu điều tra: Bảng hỏi được lấy mẫu ngẫu nhiên tại khu vực nghiên cứu Tuy nghiên, các mẫu này được phân bố hợp lý giữa hai khu vực dân cư là: cộng đồng dân cư sinh sống trên các đảo lớn và cộng đồng dân cư sinh sống trên các bè nổi trong khu vực
Trang 35- Xác định quy mô mẫu: Với công tác điều tra bảng hỏi, số lượng mẫu thu được càng nhiều thì kết quả phân tích càng chính xác Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận văn xác định số lượng mẫu tối thiểu mình cần điều tra là 30 mẫu
Phương pháp phân tích, thống kê
Phương pháp được sử dụng sau hai phương pháp thực địa và điều tra, khảo sát Với nhiệm vụ, thống kế số liệu thu thập được từ 02 phương pháp trên, sau đó sử dụng các yếu tố phân tích và thống kể để cho ra là các số liệu hữu ích đối với nghiên cứu như:
- Số liệu về tài nguyên địa hình khu vực nghiên cứu
- Các số liệu về sinh kế
- Các số liệu về hoạt động và hiểu biết của cộng đồng địa phương đối với tài nguyên địa hình
Phương pháp so sánh
Được sử dụng để so sánh đánh giá giữa các sinh kế bền vững với các sinh kế
có sẵn tại địa phương, giữa các sinh kế bền vững với nhau Để đưa ra được sinh kế bền vững tối ưu nhất
Trang 36CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐỊA HÌNH VÀ THỰC TRẠNG SINH
KẾ CỘNG ĐỒNG KHU VỰC VỊNH BÁI TỬ LONG
LONG
Địa hình là kết quả của các tác động đồng thời, ngược nhau và liên tục của hai quá trình nội sinh và ngoại sinh Trong đó, có rất nhiều nhân tố thuộc hai quá trình trên tác động đến sự hình thành và phát triển địa hình như: đặc điểm thạch học và kiến tạo, nhóm các nhân tố khí hậu, nhóm các nhân tố thủy văn và hải văn,… Bên cạnh các nhóm nhân tố tự nhiên trên, con người cùng với các hoạt động của mình ngày càng tác động nhiều hơn vào tài nguyên địa hình nhằm phục vụ các mục đích
sử dụng của mình
2.1.1 Nhóm các nhân tố tự nhiên
2.1.1.1 Đặc điểm thạch học và kiến tạo
Theo các tài liệu nghiên cứu về đặc điểm địa chất và kiến tạo của vịnh Hạ Long – vịnh Bái Tử Long đã được công bố như cuốn “Lịch sử địa chất vịnh Hạ Long” [12], cuốn “Kỳ quan địa chất vịnh Hạ Long” [11]; “Bản đồ địa chất tờ Hạ Long (Hòn Gai) tỷ lệ 1:200.000” [3], và các tài liệu khác, luận văn đã rút ra đặc điểm địa chất của khu vực nghiên cưu bao gồm:
a) Đặc điểm thạch học
Hệ tầng Dưỡng Động (D1-2 dđ)
Hệ tầng có tuổi Devon sớm – giữa, phân bố rộng rãi ở khu vực rìa Đông Bắc
và Tây Nam Vịnh Hạ Long Ở rìa Đông bắc, trầm tích hệ tầng gặp ở Ngọc Vừng, Vạn Cảnh Ở Tây nam gặp ở Bắc Thủy Nguyên, Nam Đông Triều Bề dày trầm tích hệ tầng khoảng 450 – 550m Thành phần chủ yếu là cát kết, cát kết dạng quarzit màu xám sang xen các lớp mỏng sét bột kết, cát bột kết Các loại hóa thạch Tay cuộn, San
hô, Huệ biển chỉ thị cho môi trường ven bờ với các dạng đặc trưng là Euryspirifer tonkinensis, Indospirtifer kwangsiensis Atripaex gr Reticularis,… Quan hệ dưới của
hệ tầng không rõ, quan hệ trên chuyển tiếp lên hệ tầng Lỗ Sơn
Trang 37Hình 6 Bản đồ địa chất vịnh Bái Tử Long
Trang 38 Hệ tầng Bản Páp (D2 bp)
Tuổi Devon sớm – giữa, trong phạm vi Đông Bắc Bộ; hệ tầng Bản Páp phân
bố rộng rãi ở Hà Giang, Tuyên Quyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên
và vùng duyên hải Bắc Bộ Đá vôi tái kết tinh hạt nhỏ, màu xám xẫm, phân lớp trung bình đến dày, đôi khi xen những lớp mỏng sét vôi chứa: Coenites cf vermicularis, Parastriatopora champugensis,…, dày 230m Đá xám, phân lớp không đều, đôi khi xen những lớp mỏng sét vôi, phần trên cùng là đá vôi silic hạt mịn, trong đá chứa Favosites stellaris, dày 75m Đá vôi hạt nhỏ đến xám sáng, phân lớp không đều đôi khi xen những lớp mỏng sét vôi phong hóa có màu nâu đỏ, những lớp trên cùng của tập chứa Lỗ tầng và Tay cuộn kích thước nhỏ, …, dày khoảng 150m Đá vôi mịn hạt, màu xám sẫm, phân lớp mỏng đến trung bình, xen những lớp mỏng hoặc thấu kinh
đá phiến silic, vôi silic màu xám sẫm tới đen, dày 250 – 280m Tổng bề dày của hệ tầng ở mặt cắt này hơn 700m
Loạt Sông Cầu
Tuổi Devon sớm, phân bố ở phía Đông Bắc Bộ; tỉnh Thái Nguyên; bản Chanh – Bản Tắc, theo suối Bản Rõm đổ ra sông Cầu, Thái Nguyên Cát kết thạch anh dạng quarzit màu xám vàng hoặc tím gụ, dày 500m; đá vôi, cát kết vôi xám đen, xen đá phiến vôi, cát kết dạng quarzit, dày 400 – 450m Tổng chiều dày của loạt này từ 900 – 1000m
Hệ tầng Cát Bà (C1 cb)
Trầm tích cacbonat nguồn gốc hóa học và sinh vật của hệ tầng dày 400 – 450m, phân bố trên đảo Cát Bà, phổ biến rộng rãi ở vịnh Hạ Long, kể cả trong khu di sản vịnh Bái Tử Long và một số nơi phía Bắc Thủy Nguyên Thành phần trầm tích khá đồng nhất gồm đá vôi phân lớp mỏng đến dày, màu đen, xám đen, xám sáng xen kẹp
ít lớp mỏng và mẩu ổ silic
Phụ hệ tầng dưới dày 200m gồm đá vôi màu đen, xám đen, phân lớp mỏng đến dày, xen kẹp những lớp mỏng và mẩu ổ silic, có xen ít lớp mỏng sét vôi Đá vôi thường vi hạt, ẩn tinh, đôi nơi kết tinh thành hạt nhỏ, phân lớp dày 20 – 40cm đến 1m, khoáng vật can xít chiếm 96 – 100%, thạch anh và plagiocla khoảng 1 – 2%, sét
2 – 3% Các lớp đá silic cứng và giòn, dày dưới 5cm, màu đen nhạt
Trang 39Phụ hệ tầng trên dày 250m, thành phần trầm tích khá đồng nhất bao gồm đá vôi xen kẹp đá vôi giả trứng cá, màu đen, xám sẫm, xám sáng, phân lớp vừa đến dầy
Đá vôi có cấu tạo vị hạt, ẩn tinh, thành phần khoáng vật canxit 98 – 100%, thạch anh
1 – 2%, có nơi do bị dolomit hóa, lượng khoáng vật dolomit đạt trên 50%
Hệ tầng Bắc Sơn (C-P bs)
Tuổi Carbon hạ - Permi, phân bố rộng rãi ở Đông Bắc Bộ: Hải Phòng, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên; Tây Bắc Bộ: các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, Thanh Hóa; Bắc Trung Bộ:các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Gồm đá vôi màu xám, xám sáng, phân lớp vừa, dày và dạng khối Đá vôi silics,
đá vôi sét dày 20 – 25m; đá vôi tái kết tinh, dày 50 – 100m; đá vôi trứng cá, dày 40 – 70m; đá vôi hạt hơi thô, dày 200m; đá vôi trứng cá, dày 250 – 400m; đá vôi dạng khối, dày 100m; đá vôi hữu cơ, dày 70 – 90m; đá vôi dạng khối, dày 150 – 200m; đá vôi dạng khối nhiều di tích hữu cơ, dày 50m Bề dày chung của hệ tầng đá vôi này khoảng 1000 – 1500m Hệ tầng Bắc Sơn được chia thành 13 sinh đới Trùng Lỗ: Uralodiscus, Glomodiscus, Endothyranopsis – Pseudoendothyra,…
Hệ tầng Hòn Gai (T3n-r hg)
Trầm tích chứa than hệ tầng Hòn Gai tuổi Trias muộn, phân bố ở thành phố
Hạ Long, đảo Cái Bầu, Vàng Danh, Mạo Khê Ngoài ra còn phân bố trên các đảo Tuần Châu, Hoàng Tân, bề dày 2000 – 2500m Phụ hệ tầng dưới là cuội kết, sạn kết, cát kết và những thấu kinh than mỏng nằm bất chỉnh hợp góc trên đá Pecmi, bề dày thay đổi từ 200 – 500m Phụ hệ tầng trên gồm cát kết, cuội kết, bột kết, acgilit và những vỉa than dày Bề dày phụ hệ tầng trên là 600 – 800m và chứa từ một vài đến
60 vỉa than có chất lượng tốt, trữ lượng lớn trên 3 tỷ tấn Phức hệ hóa thạch thực vật Tuế và Dương xỉ rất phong phú, hơn 150 loại
Hệ tầng Hà Cối (J1-2 hc)
Có tuổi Jura hạ - trung, phân bố trên những diện tích rộng lớn ở Quảng Ninh, ven vịnh Hà Cối từ Móng Cái đến Mông Dương, qua Đông Triều và trên các đảo Cái Bầu, Vĩnh Thực, Cái Chiên; ngoài ra còn lộ ở Đình Lập, An Châu, Thái Nguyên và rải rác ở một số nơi khác Phân hệ tầng dưới chủ yếu là trầm tích hạt thô: 1 Cuội kết thạch anh phân lớp dày đến dạng khối xen ít lớp kẹp bột kết; 2 Cát kết thạch anh hạt thô màu trắng xen ít lớp kẹp cát kết dạng quarzit xám trắng; 3 Bột kết nâu đỏ xen ít cát kết màu xám chứa vật chất than đen; 4 Cát kết thạch anh, cát kết dạng quarzit
Trang 40xám trắng, hồng nhạt chứa hóa thạch Chân bụng bảo tồn xấu xem ít lớp kẹp bột kết nâu đỏ Bề dày chung của phân lớp đạt khoảng 390m Trong những lớp sét than, bột kết than ở vùng Thác Than, Bắc Tiên Yên
Trầm tích mặt đáy vịnh Hạ Long
Trầm tích mặt đáy vịnh Hạ Long có tuổi Holoxen không phân chia Trầm tích mặt vịnh gồm các loại bột lớn, bùn bột nhỏ và bùn sét bột Bùn bột nhỏ là trầm tích phủ hầu hết diện tích đáy vịnh có đường kính cấp hạt trung bình Md = 0,021 – 0,049mm Bùn sét bộ Md = 0,007 – 0,008mm phân bố hạn chế ở vài nơi có đáy khá bằng phẳng Bột lớn Md = 0,053 – 0,083mm phân bố ở phía Nam Vịnh và dọc theo các trục luồng sâu Màu sắc đặc trưng là màu xám xanh Quy luật phân bố trầm tích của một bồn đang tích tụ là trầm tích mịn dần theo độ sâu tăng Bức tranh phân bố trầm tích ở vịnh Hạ Long ngược lại, cho thấy trầm tích mặt đáy chủ yếu “đã tích tụ” trong quá khứ, chứ không phải “đang tích tụ” hiện nay trong môi trường nước trong Nguồn gốc trầm tích bề mặt đáy vịnh Hạ Long vẫn đang là vấn đề cần nghiên cứu sâu hơn
b) Đặc điểm kiến tạo
Lịch sử địa chất vịnh Hạ Long – vịnh Bái Tử Long được biết đến cách ngày nay khoảng gần 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý hết sức khác nhau Trong thời gian các kỷ Ocdovic – Silua (500 – 410 triệu năm trước), khu vực cơ bản
là vùng biển sâu, rộng nằm trong chế độ hoạt động địa máng hoạt động tích cực Đáy biển liên tục hạ lún và được bồi tụ bằng tầng trầm tích chứa nhiều hóa thạch bút đá Ban đầu, biển rất sâu, sau đó do lắng đọng các trầm tích sét, bột, cát, sạn và các sản phẩm bùn núi lửa khiến cho đáy biển ở đây nông dần
Vào cuối kỷ Silua vịnh Hạ Long – vịnh Bái Tử Long trải qua một pha chuyển động nghịch đảo tạo sơn, biến vùng biển sâu trở thành một vùng núi uốn nếp Đến kỷ Devon (410 – 340 triệu năm trước), khu vực là một vùng núi chịu quá trình xâm thực, bóc mòn mạnh mẽ trong điều kiện khô nóng Sau pha chuyển động tạo sơn, có lúc có nơi biển tiến lấn sát vào nhưng khu vực vẫn là lục địa nổi cao
Vào cuối kỷ Devon, do ảnh hưởng của chuyển động kiến tạo Hecxini, khu vực Vịnh Hạ Long và cả vùng Đông Bắc tiếp tục bị nâng cao và môi trường biển hoàn toàn biến mất Tuy nhiên, sang kỷ Cacbon chế độ biển nông được thiết lập trở lại và tồn tại trong suốt kỷ Cacbon – Permi (340 – 240 triệu năm trước), đây là thời kỳ tích