2 Để tiếp tục duy trì và tăng cường xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố Bắc Ninh nhằm nâng cao chất lượng môi trường, thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nh
Trang 1iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, ẢNH viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Những kết quả chính đã đạt được và ý nghĩa khoa học, thực tiễn 3
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THU GOM, VẬN CHUYỂN RÁC THẢI SINH HOẠT 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.1.1 Khái niệm chất thải rắn 5
1.1.1.2 Khái niệm rác thải sinh hoạt 5
1.1.1.3 Thu gom rác thải sinh hoạt 5
1.1.1.4 Lưu giữ rác thải sinh hoạt 5
1.1.1.5 Vận chuyển rác thải sinh hoạt 5
1.1.1.6 Xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 6
1.1.2 Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt tới môi trường và sức khỏe cộng đồng 8
1.2 Cơ sở thực tiễn 10
1.2.1 Hiện trạng rác thải sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam 10
1.2.1.1 Hiện trạng rác thải sinh hoạt trên Thế giới 10
1.2.1.2 Hiện trạng rác thải sinh hoạt ở Việt Nam 15
Trang 2iv
1.2.2 Kinh nghiệm thực hiện xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác
thải sinh hoạt tại một số nước trên Thế giới và Việt Nam 20
1.2.2.1 Trên thế giới 20
1.2.2.2 Ở Việt Nam 21
1.3 Quy trình và các phương pháp nghiên cứu 26
1.3.1 Quy trình nghiên cứu 26
1.3.2 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu 29
1.3.4 Phương pháp khảo sát thực địa 31
1.3.5 Phương pháp SWOT 31
Chương 2: THỰC TRẠNG THU GOM, VẬN CHUYỂNRÁC THẢI SINH HOẠT TẠI THÀNH PHỐ BẮC NINH 32
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Bắc Ninh 32
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
2.1.1.1 Vị trí địa lý 32
2.1.1.2 Địa hình, địa mạo 33
2.1.1.3 Địa chất 33
2.1.1.4 Khí hậu, thủy văn 34
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 35
2.2 Thực trạng công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 38
2.2.1 Nguồn phát sinh và thành phần rác thải sinh hoạt 38
2.2.1.1 Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt: 38
2.2.1.2 Thành phần rác thải sinh hoạt 42
2.2.2 Đánh giá thực trạng công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 46
2.2.2.1 Hiện trạng mô hình tham gia thực hiện công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại thành phố Bắc Ninh 46
2.2.2.2 Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý 50
2.2.2.3 Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại thành phố Bắc Ninh 56
Trang 3v
2.3 Đánh giá tình hình công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt theo
hướng xã hội hóa 59
2.3.1 Đánh giá tình hình xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 59
2.3.1.1 Xã hội hóa trong công tác truyền thông về thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 61
2.3.1.2 Xã hội hóa trong huy động nguồn lực phục vụ công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 64
2.3.1.3 Thành lập các tổ đội vệ sinh môi trường tự quản ở thôn, khu phố (mô hình XHH) 66
2.3.1.4 Kiểm tra, giám sát thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 68
2.3.2 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 69
2.3.2.1 Nhận thức của cộng đồng và cán bộ quản lý về xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 69
2.3.2.2 Về cơ cấu tổ chức quản lý môi trường 71
2.3.2.3 Vấn đề nguồn lực con người tham gia công tác bảo vệ môi trường 73
2.3.2.4 Vấn đề nguồn lực tài chính đầu tư cho xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 74
2.3.2.5 Vấn đề chính sách, thể chế, luật pháp liên quan đến xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 75
2.3.2.6 Vấn đề gia tăng dân số 76
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC THU GOM, VẬN CHUYỂN RÁC THẢISINH HOẠT THEO HƯỚNG
XÃ HỘI HÓA TẠITHÀNH PHỐ BẮC NINH 77
3.1 Định hướng 77
3.1.1 Các căn cứ pháp lý 77
3.1.2 Lộ trình thực hiện 79
3.2 Giải pháp chủ yếu để tăng cường xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 80
Trang 4vi
3.2.1 Giải pháp về tăng cường công tác truyền thông 81
3.2.2 Giải pháp về tăng cường công tác tổ chức và quản lý nhà nước 83
3.2.3 Giải pháp tổ chức lực lượng, phương tiện tham gia xã hội hoá để tăng
cường hiệu quả công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 85
3.3 Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả thu gom, vận chuyển rác
thải sinh hoạt 87
3.3.1 Giải pháp tăng cường đầu tư, hỗ trợ cho công tác vệ sinh môi trường
87
3.3.2 Giải pháp về tăng cường khoa học công nghệ 89
3.3.3 Giải pháp xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu thông tin môi trường 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC
Trang 5vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phát sinh chất thải rắn đô thị ở một số nước Châu Á 12
Bảng 1.2 Thành phần CTSH đặc trưng của một số nước trên Thế giới 13
Bảng 1.3 Thành phần và tỷ lệ rác thải ở Mỹ 14
Bảng 1.4 Hoạt động thu gom rác tại một số thành phố ở Châu Á 15
Bảng 1.5 Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 16
Bảng 1.6 Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam năm 2007 17
Bảng 1.7 Thành phần của RTSH ở một số đô thị miền Bắc 18
Bảng 2.1 Nhiệt độ không khí trung bình tháng 34
Bảng 2.2 Tổng lượng bốc hơi trung bình tháng 34
Bảng 2.3 Đặc trưng độ ẩm không khí thành phố Bắc Ninh 35
Bảng 2.4 Tốc độ gió trung bình tháng 35
Bảng 2.5 Dân số thành phố Bắc Ninh trong các năm 36
Bảng 2.6 Các nguồn phát sinh chất thải rắn 39
Bảng 2.7 Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại các nguồn 40
Bảng 2.8 Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt tại thành phố Bắc Ninh 41
Bảng 2.9.Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ năm 2009-2017 42
Bảng 2.10 Thành phần rác thải sinh hoạt 43
Bảng 2.11 Thành phần rác thải sinh hoạt tại thành phố Bắc Ninh 43
Bảng 2.12 Thành phần RTSH của các hộ gia đình tại các điểm nghiên cứu 44
Bảng 2.13 Khối lượng phát sinh, hiệu suất thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt tại thành phố Bắc Ninh 52
Bảng 2.14 Tình hình xã hội hóa công tác truyền thông 63
Bảng 2.15 Ý kiến đánh giá về công tác truyền thông 64
Bảng 2.16 Tình hình huy động kinh phí để thực hiện công tác thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 66
Bảng 2.17 Tình hình xã hội hóa trong tăng cường thành lập các tổ đội vệ sinh môi trường tự quản ở thôn, xã (mô hình xã hội hoá) 68
Trang 6viii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, ẢNH
Sơ đồ 1.1 Tác hại của chất thải rắn đối với sức khỏe con người 10
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ phát sinh RTSH ở các loại đô thị Việt Nam năm 2007 18
Sơ đồ 1.2 Quy trình các bước nghiên cứu 28
Hình 2.1 Sơ đồ hành chính thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 32
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ thành phần rác thải sinh hoạt 44
Sơ đồ 2.1 Công tác thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt của doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố 47
Sơ đồ 2.2 Công tác thu gom rác thải sinh hoạt của Tổ vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố 48
Ảnh 2.1 Điểm trung chuyển rác thải sinh hoạt tại một số tuyến đường trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 51
Biểu đồ 2.2 Biểu đồ khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh được thu gom và vận chuyển qua các năm trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 52
Ảnh 2.2 Bãi rác Đồng Ngo – Thành phố Bắc Ninh 54
Hình 2.2 Bản đồ các tuyến thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 55
Biểu đồ 2.3 Ý kiến của người dân về việc tham gia phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn 57
Biểu đồ 2.4 Ý kiến của người dân về công tác thu gom và vận chuyển RTSH 57
Biểu đồ 2.5 Đánh giá của cộng đồng dân cư về hệ thống quản lý rác thải sinh hoạt tại địa phương 58
Biểu đồ 2.6 Ý kiến của người dân về việc tiếp tục tham gia xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 70
Sơ đồ 2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý môi trường tại thành phố Bắc Ninh 72
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống nhân loại nói chung
và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi đất nước nói riêng Những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều chính sách liên quan đến công tác bảo vệ môi trường nhằm phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo chất lượng môi trường.Cùng với nhiều giải pháp như khoa học công nghệ, chính sách…thì xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường cũng là một giải pháp quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Thành phố Bắc Ninh là trung tâm kinh tế - văn hóa - chính trị của tỉnh Bắc Ninh; đã và đang từng bước chuyển mình phát triển kinh tế tập trung, điều chỉnh cơ cấu vì vậy đã thu hút nhiều lao động từ các vùng lân cận và các địa phương khác khiến cho mật độ dân số ngày càng cao Tính đến 31/12/2013 dân số toàn thành phố Bắc Ninh là 183.828 người, mật độ bình quân khoảng 2.225 người/km2, đã phát sinh ra lượng rác thải sinh hoạt lớn Công tác xã hội hóa trong thu gom rác thải được thực hiện song hành với công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt do Công ty TNHH MTV Môi trường và Công trình đô thị Bắc Ninh đảm nhận từ năm
2008 Quá trình triển khai công tác xã hội hoá vệ sinh môi trường trong thời gian qua tại thành phố Bắc Ninh chỉ tập trung chủ yếu trong việc thu gom rác thải Qua 5 năm triển khai tại thành phố, thực tế cho thấy còn nhiều tồn tại, khó khăn cần khắc phục, một số địa phương dù rất muốn nhưng chưa đủ điều kiện có thể tham gia xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường Tại các khu vực tiến hành xã hội hoá còn gặp nhiều khó khăn trong cơ chế quản lý, kinh phí hoạt động, phương tiện, dụng cụ và điều kiện làm việc cho người lao động; đồng thời công tác vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt trong thời gian qua cũng gặp không ít khó khăn Việc tổ chức triển khai công tác xã hội hoá thu gom, vận chuyển rác thải trong thời gian qua, bước đầu
đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, do thiếu các văn bản hướng dẫn, phân công, phân cấp nên quá trình tổ chức triển khai còn nhiều bất cập, thiếu đồng
bộ, thực trạng này đã làm cho hiệu quả công tác xã hội hoá vệ sinh môi trường chưa được như mong muốn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khoẻ và sinh hoạt của nhân dân
Trang 92
Để tiếp tục duy trì và tăng cường xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố Bắc Ninh nhằm nâng cao chất lượng môi trường, thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân, từng bước giảm chi phí đầu tư của nhà nước trong
công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tác giả thực hiện Đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt theo hướng xã hội hóa tại thành phố Bắc Ninh”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được thực trạng rác thải sinh hoạt và công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Bắc Ninh Trên cơ sở đó đề xuất định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Bắc Ninh
3 Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài;
- Đánh giá thực trạng quá trình thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Bắc Ninh;
- Phân tích tình hình thực hiện công tác xã hội hoá trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Bắc Ninh;
- Đề xuất giải pháp thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt theo hướng xã hội hóa trên địa bàn thành phố Bắc Ninh;
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là rác thải sinh hoạt và công
tác quản lý chúng
- Phạm vi nghiên cứu:
* Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của việc thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt Về xã hội hóa công tác này, đánh giá các đợt vệ sinh phong trào và các mô hình cộng đồng tự quản thực hiện trên địa bàn thành phố
Bắc Ninh
* Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại các xã, phường trên địa bàn thành phố Bắc Ninh đang thực hiện xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác
Trang 103
thải sinh hoạt; gồm 6 xã, phường: Tiền An, Ninh Xá, Vệ An, Vân Dương, Võ Cường, Nam Sơn Lý do lựa chọn các xã, phường trên làm điểm nghiên cứu vì: Tiền An, Ninh Xá, Vệ Anlà các phường trung tâm của thành phố, đã có sự phát triển lâu dài từ xưa, mang nét đặc trưng của đô thị hóa, không sản xuất nông nghiệp; các phường: Vân Dương, Võ Cường có diện tích lớn, dân số đông, đang trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng; xã Nam Sơn nằm xa trung tâm thành phố, vẫn là xã thuần nông, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu
* Phạm vi thời gian: Khoảng thời gian thu thập số liệu từ năm 2010 - 2013 5.Những kết quả chính đã đạt được và ý nghĩa khoa học, thực tiễn
a) Những kết quả chính đã đạt được:
- Đúc rút cơ sở lý luận về nghiên cứu công tác xã hội hóa việc thu gom, vận
chuyển rác thải sinh hoạt, áp dụng cho thành phố Bắc Ninh;
- Đánh giá thực trạng nguồn thải, thành phần rác thải và công tác thu gom,
vận chuyển rác thải sinh hoạt;
- Đánh giá thực trạng công tác XHH việc thu gom, vận chuyển RTSH;
- Đề xuất các giải pháp thu gom, vận chuyển RTSH theo hướng xã hội hóa;
- Cơ sở dữ liệu điều tra về thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại các xã,
phường nghiên cứu trường hợp
b) Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
+ Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
- Đề tài luận văn góp phần đánh giá thực trạng và công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Bắc Ninh theo quan điểm xã hội hóa;
- Nâng cao nhận thức, kỹ năng, khả năng thu thập và xử lý thông tin Củng cố thêm kiến thức thực tế cho học viên trong quá trình làm việc tại cơ sở
+ Ý nghĩa trong thực tiễn: Là cơ sở tiếp cận khoa học bước đầu giúp đánh giá được toàn diện các vấn đề về công tác quản lý, thu gom rác thải sinh hoạt, từ đó
đề xuất một số hướng xử lý, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho thành phố Bắc Ninh
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương như sau:
Trang 125
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
THU GOM, VẬN CHUYỂN RÁC THẢI SINH HOẠT
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm chất thải rắn
Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.[7]
Chất thải rắn được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay
khi không muốn dùng nữa.[9]
1.1.1.2 Khái niệm rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến hoạt động sống của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại.[9]
Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương
động vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả…[9]
1.1.1.3 Thu gom rác thải sinh hoạt
Thu gom rác thải sinh hoạt là hoạt động quét dọn, tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.[6]
1.1.1.4 Lưu giữ rác thải sinh hoạt
Lưu giữ rác thải sinh hoạt là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý.[6]
1.1.1.5 Vận chuyển rác thải sinh hoạt
Vận chuyển rác thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng.[6]
Trang 136
1.1.1.6 Xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt
Xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa thiết thực để huy động sự đóng góp của cộng động trong công tác bảo vệ môi trường, điều này đã được thể hiện rõ trong chỉ thị số 36/CT- TW ngày 25/6/1998
Xã hội hoá bảo vệ môi trường còn là quan điểm trong chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia “Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của mọi người dân” (Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Quyết định số 256/2003/QĐ -TTg, ngày 2/12/2003) Quan điểm này được thể hiện rõ nhất bằng chương trình xã hội hoá bảo vệ môi trường; đây là 1/36 chương trình, kế hoạch, đề
án, dự án ưu tiên cấp quốc gia về bảo vệ môi trường (Ban hành kèm theo quyết định
số 256/2003/QĐ -TTg, ngày 2/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020) Quan điểm xã hội hoá bảo vệ môi trường cần được hiểu theo quan điểm phát triển cộng đồng, phát triển bền vững, tức là phải giải quyết nhiệm vụ bảo vệ môi trường sống bằng chính nội lực với ngoại lực để đem lại lợi ích thiết thực, thiết yếu, thiết thân với mỗi người dân, mỗi cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường và toàn xã hội, không chỉ hiện tại mà cả tương lai
Trong thực tế, công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường đã được thực hiện ở nhiều địa phương, nhiều quốc gia, dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng cho đến nay chưa có một khái niệm chuẩn nào về xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường Xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt là sự kết hợp hài hòa vai trò của cộng đồng và sự quản lý của nhà nước vào các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức, các thành phần kinh tế tham gia góp sức vào thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt, chia sẻ gánh nặng với nhà nước trong lĩnh vực này để nhà nước tập trung và phát triển vào các lĩnh vực khác đòi hỏi đầu tư lớn và kỹ thuật cao hơn như công nghệ thông tin, y tế, giáo dục, kết cấu hạ tầng…Thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt là trách nhiệm và lợi ích của toàn thể cộng đồng, của các thành phần kinh tế, không phải trách nhiệm của cá nhân hay của riêng nhà nước Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào về mô hình xã
Trang 147
hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt mặc dù mô hình đã được thực hiện khá thành công, đạt hiệu quả cao ở nhiều địa phương Sau đây là một vài quan niệm về xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt
Theo Tiến sỹ Trần Thanh Lâm: Xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác
thải sinh hoạt là quá trình chuyển hóa tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới trong hoạt động thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên cơ sở đồng trách nhiệm, nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường để đạt mục tiêu phát triển bền vững.[5]
Theo Giáo sư Nguyễn Viết Phổ: Xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển
rác thải sinh hoạt là việc huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp bảo vệ môi trường của đất nước Hay nói cách khác, xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt là phải biến chủ trương bảo vệ môi trường thành nghĩa vụ
và quyền lợi của mọi tầng lớp trong xã hội từ những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý tới mọi người dân trong xã hội.[12]
Theo Sở giao thông công chính thành phố Hà Nội năm 2000: Xã hội hoá là
việc vận động tổ chức toàn xã hội và nhân dân tham gia một cách rộng rãi vào công tác bảo vệ môi trường nhằm cải thiện môi trường và từng bước nâng cao mức hưởng thụ vật chất và tinh thần của người dân.[13]
Qua các quan niệm trên cho thấy mô hình xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt là nhiệm vụ, trách nhiệm, lợi ích của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và mọi người dân Thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt đem lại lợi ích cho từng người nhưng đòi hỏi mỗi người phải tham gia vào công tác bảo vệ môi trường Chỉ có sự tham gia tích cực của mọi cấp, mọi ngành, mọi người dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng và sự quản lý của nhà nước thì công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt mới có hiệu quả
và thành công Hiệu quả đạt được thể hiện thông qua các mặt về hiệu quả quản lý, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả về môi trường Riêng về mặt kinh tế thì hiệu quả chínhlà việc tiết kiệm các nguồn chi phí cho ngân sách nhà nước trong vấn đề bảo vệ môi trường
Trang 158
1.1.2 Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
a) Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đối với môi trường không khí
Rác thải với hàm lượng hữu cơ và đạm cao sau khi phân hủy sẽ tạo nên các chất trung gian và cuối cùng tạo nên CH4, H2S, CO2 CH3OH, CH3CH2NH3COOH, Phenol, các chất này hầu hết đều độc và gây ô nhiễm không khí
Các trạm hoặc bãi trung chuyển rác xen kẽ với khu vực dân cư là nguồn gây
ô nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúc rác, bụi khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác
Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn thì mùi hôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại gây ô nhiễm không khí
b) Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đối với môi trường nước
Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa các chất thải này
sẽ theo dòng nước chảy và hòa lẫn trong nước, qua cống rãnh, ra ao hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt và các thủy vực Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác thì có nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước kém, dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực
Ở các bãi chôn lấp rác thải chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối lân cận Tại các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa nước mưa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt
c) Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đối với môi trường đất
Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom sẽ lưu giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon, hydrocacbon làm thay đổi cơ cấu và ảnh hưởng tới hệ vi sinh vật đất
Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… làm cho đất bị đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa
Trang 169
Rác thải gồm các chất hữu cơ khi bị phân hủy trong môi trường đất sẽ giải phóng CH4, CO2, H2O,…kết hợp với các thành phần hóa chất, chất độc, phóng xạ, sẵn có trong rác, gây nhiễm độc môi trường đất Các độc chất này thẩm thấu trong đất làm ô nhiễm nguồn nước ngầm Hậu quả là đất mất dần độ tơi xốp trở nên chai cứng và thoái hóa dần kèm theo sự gia tăng sâu bệnh Thoái hóa đất dẫn đến đất bị cằn cỗi không còn khả năng canh tác, hàm lượng Coban, Crom, Chì, Nitơ, Photpho
và các kim loại nặng như Cd, Cu, Pb, và Zn xấp xỉ và vượt ngưỡng cho phép
d) Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đối với sức khỏe cộng đồng
Ô nhiễm môi trường do rác thải gây ra ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng.Khí thải từ bãi rác theo con đường hô hấp vào cơ thể, một phần khác như chất hữu cơ, kim loại nặng thâm nhập vào nguồn nước vào cơ thể thông qua đồ ăn, nước
uống làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người(sơ đồ 1.1), là nguyên
nhân của khoảng 22 loại bệnh của con người trong đó có bệnh ung thư và các loại
bệnh về tai mũi họng, sốt rét, viêm phổi, đường ruột…
Theo nghiên cứu của (WHO), tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới 15,25% dân số Ngoài ra, tỷ lệ mắc ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25%.[9]
e) Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đến cảnh quan đô thị
Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý hoặc thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường… gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm
Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ
Trang 1710
Sơ đồ 1.1 Tác hại của chất thải rắn đối với sức khỏe con người
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, Quản lý chất thải rắn, NXB xây dựng, 2001)
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Hiện trạng rác thải sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1.1 Hiện trạng rác thải sinh hoạt trên Thế giới
a) Sự phát sinh rác thải sinh hoạt ở một số nước trên thế giới
Nhìn chung, lượng rác thải sinh hoạt ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng của người dân nước đó Tỷ lệ phát sinh rác thải tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầu người Tỷ lệ phát sinh rác thải theo đầu người ở một số thành phố trên thế giới như sau: Băng Cốc (Thái Lan) là 1,6kg/người/ngày; Singapo là 2kg/người/ngày; Hồng Kông là 2,2kg/người/ngày; NewYork (Mỹ) là 2,65kg/người/ngày.[11]
Trang 1811
Tỷ lệ chất thải sinh hoạt trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa các nước Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc; chiếm 78% ở Hồng Kông; 48% ở Philipin, 37% ở Nhật Bản và chiếm 80% ở Việt Nam Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, các nước có thu nhập cao chỉ có khoảng 25-35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị.[11]
+ Các số liệu thống kê gần đây về tổng lượng chất thải cho thấy: Tại Anh lượng rác thải phát sinh ra khoảng 307 triệu tấn/năm Trong đó, 60% số này được chôn lấp, 34% được tái chế và 6% được thiêu đốt Cũng theo thống kê ở đây lượng rác thải thực phẩm của hộ gia đình khoảng khoảng 6,7 triệu tấn/năm, như vậy trung bình mỗi hộ gia đình thải ra 276 kg/năm hay 5,3 kg/tuần.[11]
+ Theo số liệu thống kê mới đây của Bộ Môi trường Nhật Bản, hàng năm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác công nghiệp (397 triệu tấn) Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế, số còn lại được xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác Với rác thải sinh hoạt của các gia đình, khoảng 70% được tái chế thành phân bón hữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón.[11]
+ Mỗi ngày Singapore thải ra khoảng 16.000 tấn rác, rác ở Singapore được phân loại tại nguồn Nhờ vậy 56% số rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) quay lại các nhà máy để tái chế Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt thành tro, nhiệt năng tạo ra được sử dụng để chạy phát điện cung cấp điện cho 3% hộ dân.[10]
+ Ở Nga, mỗi người bình quân thải vào môi trường 300kg rác thải sinh hoạt/người/năm Vì vậy, trung bình một năm nước này thải vào môi trường khoảng
50 triệu tấn rác, riêng thủ đô Matxcova là 5 triệu tấn/năm.[11]
Theo Ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị.Đến năm 2025, dự tính con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày.[3]
Trang 1912
Bảng 1.1 Phát sinh chất thải rắn đô thị ở một số nước Châu Á
Quốc gia Năm
Dân số (triệu người)
GDP/
người
Lượng phát sinh CTRĐT (kilôtấn/
năm)
Tỷ lệ phát sinh MSW/
người/
ngày
Lượng RTSH (nghìn tấn/
năm)
Tỷ lệ phát sinh RTSH (kg/người/ ngày)
(Nguồn: Waste management and recycling in Asia, IGES, 2005)
b) Thành phần rác thải sinh hoạt của một số nước trên Thế giới
Thành phần rác ở các nước trên thế giới là khác nhau tùy thuộc vào thu nhập
và mức sống của mỗi nước Đối với các nước có nền công nghiệp phát triển thì thành phần các chất vô cơ trong rác thải phát sinh chiếm đa số và lượng rác này sẽ
là nguyên liệu cho ngành công nghiệp tái chế
Hàm lượng chất thải hữu cơ dao động giảm, chất thải vô cơ thì dao động tăng
theo các nước có thu nhập thấp, thu nhập trung bình và thu nhập cao(bảng 1.2) Một
trong những nguyên nhân điển hình là do: Sự phát triển kinh tế theo các hướng khác nhau, mức sống khác nhau tạo nhu cầu khác nhau và do thói quen sinh hoạt của các nước khác nhau là khác nhau
Trang 20Các nước thu nhập cao
(Nguồn: Integrated Solid Waste Management, McGRAW-HILL 199)
Hàng năm toàn nước Mỹ phát sinh một khối lượng rác khổng lồ lên tới 10 tỷ tấn Trong đó, rác thải từ quá trình khai thác dầu mỏ và khí chiếm 75%; rác thải từ quá trình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%; rác thải từ hoạt động công nghiệp chiếm 9,5%; rác thải từ cặn cống thoát nước chiếm 1%; rác thải sinh hoạt chiếm 1,5%
Thành phần rác thải sinh hoạt của Mỹ cũng rất đa dạng, bao gồm các thành
phần như: Giấy, nhựa, kim loại, thủy tinh và rác thải hữu cơ (bảng 1.3)…Tuy nhiên
tỷ lệ phần trăm các loại rác có sự khác biệt tùy theo các nguồn khác nhau, nhưng theo số liệu thống kê của bảng thì đặc trưng rác thải sinh hoạt tại Mỹ là rác thải hữu
cơ không chiếm tỷ lệ cao như Việt Nam và một số nước khác Tỷ lệ trung bình của rác thải hữu cơ trong cả nước chỉ dao động từ 18-29%, trong khi đó, giấy luôn chiếm tỷ lệ cao, tại bãi rác Colombia là 41%, theo EPA là 33% và trung bình cả nước dao động từ 35-37%
Trang 2114
Bảng 1.3 Thành phần và tỷ lệ rác thải ở Mỹ
Thành phần
Tỷ lệ % các loại rác theo các nguồn khác nhau
Tại bãi rác Colombia Theo EPA Trung bình
(Nguồn: Tạp chí Waste Management Research, Volum 23 số 1, 2/2005)
c) Mô hình phân loại và thu gom rác thải của một số nước trên Thế giới
California: Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác
nhau Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế, rác được thu gom 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng Nếu có những phát sinh khác như: khối lượng rác gia tăng hay các xe chở rác phải phục vụ tận sâu trong các toà nhà lớn, giá phải trả sẽ tăng thêm 4,92 USD/tháng Phí thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh Tất cả chất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn Để giảm giá thành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom và chuyên chở rác.[21]
Nhật Bản: Về thu gom rác thải sinh hoạt ở Nhật, các hộ gia đình được yêu
cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, rác khó tái chế nhưng có thể cháy và rác có thể tái chế.Rác hữu cơ được thu gom hàng ngày được đưa đến nhà máy sản xuất phân compost; loại rác khó tái chế hoặc hiệu quả tái chế không cao, nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng; rác có thể tái chế thì được đưa vào các nhà máy tái chế…Đối với các loại rác cồng kềnh như tivi,
tủ lạnh, máy giặt thì quy định vào ngày 15 hàng tháng đem đặt trước cổng đợi ô tô đến chở đi, không được tuỳ tiện bỏ những thứ đó ở hè phố Sau khi thu gom rác vào nơi quy định, công ty vệ sinh đưa loại rác cháy được vào lò đốt để tận dụng nguồn
Trang 2215
năng lượng cho máy phát điện Rác không cháy được cho vào máy ép nhỏ rồi đem chôn sâu trong lòng đất.[25]
Ở Singapore: Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các
nhà thầu Công ty trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác trên một địa bàn cụ thể trong thời hạn 7 năm Tại Singapore có 9 khu vực thu gom rác Rác thải sinh hoạt được đưa về một khu vực bãi chứa lớn Công ty thu gom rác sẽ cung cấp dịch
vụ “từ cửa đến cửa”, rác thải tái chế được thu gom và xử lý theo chương trình tái chế Quốc gia.[24]
Ở các nước đang phát triển: Công tác thu gom rác thải còn nhiều vấn đề
bất cập Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp lý, trang thiết
bị còn thiếu và thô sơ dẫn đến chi phí thu gom tăng mà hiệu quả lại thấp Tại thành phố Bombay của Ấn Độ việc bố trí phương tiện thu gom, vận chuyển và số trạm trung chuyển rác rất ít, chỉ có 2 trạm trung chuyển với số lần vận chuyển là 2 lần/ngày so với mức dân số 8,5 triệu người thì số lượng trạm trung chuyển và số lần vận chuyển trong ngày là rất thấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu, trong khi đó thành phố Jakarta của Indonexia và thành phố Seoul - Hàn Quốc số trạm trung chuyển là khá
Số chuyến vận chuyển trong ngày
a) Sự phát sinh rác thải sinh hoạt ở một số vùng Việt Nam
Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10-15% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các
Trang 2316
đô thị đang mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn 5,0%
Theo thống kê năm 2002, lượng RTSH trung bình từ 0,6-0,9 kg/người/ngày
ở các đô thị lớn và 0,4 -0,5 kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ, thị trấn [26] Đến năm
2009, tỷ lệ này ở các đô thị lớn đã tăng lên tương ứng là 0,9 -1,3 kg/người/ngày Kết quả điều tra cho thấy, đô thị có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất là
TP Hồ Chí Minh (5500 tấn/ngày), Hà Nội (2500 tấn/ngày); đô thị có lượng chất thải rắn phát sinh ít nhất là Bắc Kạn 12,3 tấn/ngày; Cao Bằng 20 tấn/ngày Như vậy, lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là
Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ tất cả các đô thị
Bảng 1.5 Phát sinh rác thải sinh hoạt ở một số vùng Việt Nam
Khu vực
Lượng phát thải theo đầu người (kg/người/ngày)
Tỷ lệ %
so với tổng lượng chất thải
Tỷ lệ % thành phần hữu cơ
( Nguồn : Tổng cục Bảo vệ môi trường,2009)
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam Bộ có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất tới 6.713 tấn/ngày hay 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh chất thải rắn
Trang 2417
sinh hoạt các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh chất
thải rắn sinh hoạt đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) (bảng 1.6)
Bảng 1.6 Lượng RTSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam năm 2007
STT Đơn vị hành
chính
Lượng CTRSH bình quân đầu người (kg/người/ngày)
Tổng lượng CTR
đô thị phát sinh (tấn/ngày) (tấn/năm)
Trang 2518
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ phát sinh RTSH ở các loại đô thị Việt Nam năm 2007
b) Thành phần rác thải sinh hoạt của một số vùng tại Việt Nam
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Thông thường thành phần của rác thải bao gồm các hợp phần sau: chất thải thực phẩm, giấy, catton, vải vụn, sản phẩm vườn, gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá, gạch vụn
Trang 2619
Thành phần rác thải sinh hoạt ở các đô thị đều có đặc điểm là tỷ lệ phần trăm các chất có trong rác thải không ổn định, biến động theo từng đô thị Theo kết quả
khảo sát (bảng 1.7) thấy các chất hữu cơ của một số thành phố điển hình ở miền
Bắc chiếm tỷ lệ khá cao dao động từ 40 - 65% tổng lượng chất thải, trong đó cao nhất là thành phố Nam Định với 65,0%; các chất cháy được chiếm trung bình khoảng 68%, các phế liệu có thể thu hồi tái chế chiếm từ 10% - 18% tuỳ thuộc vào hoạt động tái chế của từng đô thị
c) Công tác thu gom và vận chuyển rác thải ở Việt Nam
Ở Thành phố Hồ Chí Minh: việc thu gom, vận chuyển do cả tổ chức của
nhà nước và tư nhân thực hiện gồm có: Công ty dịch vụ công cộng thành phố thu gom, vận chuyển khoảng 50% lượng rác thải hàng ngày; 50% lượng rác còn lại là
do các xí nghiệp công trình đô thị cấp quận, các đội vệ sinh công cộng, lực lượng dọn rác dân lập đảm nhiệm
Tại thành phố rác thải của các hộ gia đình trong các hẻm, đường phố chủ yếu
do lực lượng dân lập thực hiện, phương tiện chủ yếu là xe hai bán và xe ba gác Xí nghiệp công trình đô thị cấp quận thu gom rác từ các hộ gia đình mặt tiền, các đường chính trên các diện tích quy ước, cơ quan trường học Sau khi thu gom rác tại các khu dân cư thì tập kết lại tại các điểm quy định
Bộ trung chuyển là nơi các xe chở rác nhỏ đưa về từ các nơi tập kết sau đó đưa lên xe tải hay xe chuyên dùng
Ở Hà Nội: việc thu gom được tiến hành theo các phương pháp sau:
- Thu tại các bể chứa xây cố định, sau đó xe ô tô chuyên dùng đến vận chuyển đi
- Thu bằng xe đẩy tay rồi đưa lên xe chuyên dùng lớn chở đi về bãi chôn lấp
- Thu bằng thùng rác container đặt gần như cố định tại các điểm dân cư rồi sau đó xe chở đi
- Thùng bằng xe ô tô chở rác có nắp đậy, kết hợp với xúc thủ công ở các điểm quy định được đổ rác của người dân, sau đó chở về nơi xử lý
Trang 27cho hoạt động quản lý, thanh tra, kiểm tra giám sát môi trường; thiếu kinh phí…
Kinh nghiệm của các nước cho thấy XHH công tác vệ sinh môi trường đã có những tác động tích cực và rất có hiệu quả đến hoạt động môi trường từ đó làm thay đổi hành vi của mình sao cho phù hợp với môi trường Ở một số nước trên thế giới XHH công tác vệ môi trường cộng đồng đã bắt đầu vận dụng từ những năm 1950 với mục đích phát huy được sức mạnh của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường, quản lý và khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn vệ sinh môi trường, quan tâm đến các lợi ích về xã hội và môi trường trong quá trình phát triển kinh tế
a) Ở Trung Quốc
Chìa khóa thành công của Trung Quốc về công tác XHH vệ sinh môi trường là quá trình lập kế hoạch, xác định trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền, các ngành từ Trung ương đến địa phương Sau khi lập kế hoạch việc đảm bảo nguồn tài chính là rất quan trọng Chiến lược huy động vốn từ nguồn vốn của chính phủ Trung ương, địa phương và huy động quyên góp vốn từ các tổ chức, giới kinh doanh, đóng góp của người hưởng lợi từ chương trình Kinh nghiệm thực
tế cho thấy nếu chỉ ban hành các tiêu chuẩn hay hướng dẫn thì chưa đủ mà còn cần
có các cơ quan quản lý, giám sát và các giải pháp phù hợp, xây dựng tổ chuyên trách và đề ra chế tài xử lý sẽ góp phần đảm bảo chất lượng vệ sinh môi trường Trung Quốc đã có cơ chế chính sách khuyến khích, tuyên truyền, giáo dục và hỗ
Trang 2821
trợ người dân thay đổi hành vi vệ sinh môi trường Kinh nghiệm về XHH công tác
vệ sinh môi trường ở Trung Quốc cho thấy, việc thành công chỉ có thể có được khi chiến lược, quy hoạch phải phù hợp với điều kiện và tập quán của nhân dân, công tác truyền thông thông qua các chiến dịch phải được duy trì thường xuyên và rộng rãi kết hợp giữa các bộ, các cấp chính quyền và các tổ chức xã hội, đặc biệt là thanh niên và phụ nữ.[15]
b) Ở Nhật Bản
Nhật Bản có chủ trương động viên toàn thể nhân dân thu gom chất thải và xây dựng chế độ tái chế trong thế kỷ 21 Chính phủ nước này đã có những chính sách thúc đẩy và khuyến khích việc quản lý chất thải rắn trên cơ sở sự tham gia tích cực và tự nguyện của các cộng đồng dân cư khác nhau Hệ thống quản lý chất thải rắn của Nhật Bản nhận được sự trợ lực của hệ thống tổ chức thu gom hình thành trên cơ sở các tổ chức của khu vực (hội đồng nhân dân, hội thiếu nhi và hội cha mẹ học sinh…) Các tổ chức hội này tiến hành thu gom và bán các chất thải có thể tái
sử dụng cho các công ty tái chế chất thải Tính đến năm 1993, có 82 000 tổ chức loại này tại 92 thành phố Kết quả làm cho đường phố sạch sẽ, các dịch vụ vệ sinh môi trường được cải thiện và chi phí cho công tác quản lý chất thải rắn giảm đi nhiều lần.[25]
1.2.2.2 Ở Việt Nam
a) Một số mô hình điển hình ở Việt Nam
Tại một số địa phương ở Việt Nam đã có một số mô hình xã hội hoá trong công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt Các mô hình loại này đã góp phần cải thiện môi trường sống của nhân dân, tạo việc làm cho một số lao động địa phương, nâng cao được nhận thức và ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường cho nhân dân, đồng thời kết hợp được phương thức Nhà nước và nhân dân cùng bảo vệ môi trường Với kỹ thuật đơn giản, người dân có thể tự thu gom và xử lý rác thải tại
hộ gia đình Hình thức tổ chức hợp tác xã (tổ, đội) nhỏ gọn, sử dụng các phương tiện thu gom và xử lý đơn giản, đặc biệt là những nơi có đường giao thông nhỏ mà không thể đưa xe có kích thước lớn vào Do vậy, người dân đồng tình đóng góp và thấy rõ hiệu quả và các mô hình này cũng dễ áp dụng tại các thị trấn, thị tứ Điển
Trang 2922
hình là các mô hình như: đội thu gom rác dân lập; dân cư tham gia xử lý rác thải tại
hộ gia đình; phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường; xử lý các chất thải sinh hoạt và chăn nuôi góp phần cải thiện môi trường sống và bảo vệ môi trường; tổ dịch
vụ môi trường; hợp tác xã vệ sinh môi trường; xây dựng hương ước bảo vệ môi trường; cam kết bảo vệ môi trường tại Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nghệ An, Thanh Hóa, Thừa Thiên - Huế
1) Thành lập Đội thu gom rác dân lập thị xã Cửa Lò, Nghệ An
Đội thu gom rác dân lập thực hiện các hoạt động thu gom rác sinh hoạt tại các gia đình và đưa đến địa điểm tập kết để Công ty Môi trường đô thị chở ra bãi rác Nguồn kinh phí thu được của Đội một phần do Công ty Môi trường thị xã chi trả, một phần thu phí của các hộ gia đình Sau một thời gian hoạt động, Đội đã giải quyết được việc thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn, hạn chế ô nhiễm môi trường, nâng cao nhận thức và sự quan tâm về bảo vệ môi trường của cộng đồng Do tổ chức gọn nhẹ, phương tiện đơn giản, thô sơ nhưng phối hợp với địa bàn dân cư nhỏ và với mức phí thu gom rác thải không cao, lại tận dụng được một đội ngũ lao động dư thừa nên hiệu quả tổng hợp khá tốt.[18]
2) Thu gom, vận chuyển rác thải tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội
Mô hình là thí nghiệm của một đề tài nghiên cứu khoa học theo quyết định của UBND thành phố Hà Nội bao gồm các hoạt động: phân loại rác tại gia đình, sau
đó nhà thầu tư nhân đảm nhiệm việc thu gom rác thải vận chuyển đến bãi rác của xã; tổ chức các chiến dịch làm sạch dòng sông, cống rãnh; tổ chức xử lý chất thải hữu cơ tại hộ gia đình bằng chế phẩm vi sinh EM Những hoạt động này góp phần cải thiện môi trường sống của nhân dân, nâng cao được nhận thức và ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường cho nhân dân trong xã; đồng thời kết hợp được phương
thức Nhà nước và nhân dân cùng bảo vệ môi trường.[15]
3) Thành lập Hợp tác xã vệ sinh môi trường thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, Bắc Ninh
Được thành lập từ năm 2001, Hợp tác xã (trước đó là tổ vệ sinh môi trường)
đã tiến hành thu gom rác thải sinh hoạt hàng ngày của thị trấn và đưa đến địa điểm tập kết, vệ sinh quét dọn nơi công cộng, khơi thông cống rãnh thoát nước, trồng và
Trang 3023
chăm sóc cây xanh Sau khi thực hiện, lượng rác thải được thu gom tăng gấp đôi, môi trường sạch hơn, qua đó tạo niềm tin trong cộng đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của người dân, số dân tự nguyện đóng góp phí vệ sinh ngày càng tăng từ đó mua sắm thêm được các phương tiện phục vụ công tác vệ sinh môi trường Do tổ chức theo phương thức nhỏ gọn, các phương tiện sử dụng đơn
giản, nên hoạt động của Hợp tác xã rất hiệu quả dễ áp dụng ở các thị trấn, thị tứ.[16]
4) Mô hình xã hội hoá thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn đô thị ở Tam
Kỳ, Quảng Nam (Mô hình có sự tham gia của cộng đồng)
Năm 2000, thị xã Tam Kỳ có 127.224 khẩu (40.005 hộ), lượng rác thải sinh hoạt hằng ngày trên 200 m3, khu vực nội thị là 80 m3 Rác thải sinh hoạt thị xã Tam
Kỳ, nhất là khu vực nội thị tăng rất nhanh, năm 2005 rác thải của cả thị xã khoảng
460 m3/ ngày, trong đó nội thị khoảng 146 m3 Để thu gom lượng rác này hàng năm ngân sách địa phương chi khoảng 200 triệu đồng và tiền phí của dân là trên 400 triệu đồng (năm 2001 khoảng 460 triệu đồng) Công ty Môi trường đô thị Tam Kỳ không thể bao quát hết việc thu gom và vận chuyển rác của thị xã; mặt khác, ý thức của dân chúng trong việc quản lý chất thải thấp, ỷ lại cho nhà nước Trước tình hình này, UBND thị xã, với sự tư vấn của công ty Môi trường thị xã Tam Kỳ đã xây dựng mô hình cộng đồng tham gia giữ vệ sinh môi trường và thu gom, vận chuyển,
xử lý chất thải rắn ở những nơi công cộng, đường phố.[15]
Đảng uỷ phường ra nghị quyết về nhiệm vụ quản lý chất thải trên địa bàn phường không để tình trạng vứt rác ra đường hay không tập trung để thu gom UBND phường đề ra chương trình quản lý chất thải rắn trong phường, trong có thống kê tình hình rác thải, các điểm thu gom, lập tổ vệ sinh môi trường
UBND phường lập ban vệ sinh do đồng chí chủ tịch phường trực tiếp chỉ huy gồm các thành phần: Mặt trận Tổ quốc, hội phụ nữ, thanh niên, y tế, công an, phường đội Giúp việc cho ban có 2 tổ chuyên trách gồm lực lượng công an và dân phòng phường, mỗi tổ có 4 người
Người dân sống trong địa bàn có tổ chức vệ sinh môi trường hoạt động, được quyền giao rác thải của hộ gia đình mình cho tổ chức vệ sinh môi trường; giám sát hoạt động của tổ vệ sinh môi trường, giám sát việc giải quyết rác thải của các đơn vị
Trang 31Hội phụ nữ tham gia công tác quản lý và thu tiền hàng tháng (được hưởng 4% trên tổng doanh thu) trang bị sọt rác đồng bộ Kết hợp với xí nghiệp đô thị Tam
Kỳ tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho hội viên một cách thường xuyên; phát động và duy trì hàng tuần làm vệ sinh trước, xung quanh nhà, tham gia tổng dọn vệ sinh nơi công cộng; giám sát hoạt động của tổ vệ sinh môi trường
Đoàn thanh niên phường tổ chức Đội tình nguyện xanh, hoạt động vào ngày chủ nhật hàng tuần về giải quyết rác công cộng, tổ chức tuyên truyền công tác rác thải và tuần tra, phát giác các trường hợp đổ rác bừa bãi với UBND phường
Tổ chức vệ sinh môi trường địa phương thực hiện việc thu gom rác tại nhà dân một cách thường xuyên, đúng giờ, khi thu rác phải có kẻng hiệu, hướng dẫn việc thu gom rác hộ nhân dân đảm bảo chất lượng phục vụ, xác định tuyến đường, khu phố cần quét rác hộ dân, để thực hiện theo lịch được duyệt
Kết quả hoạt động của mô hình này là lượng rác quản lý được nhiều hơn, rác công cộng được giải quyết, rác công nghiệp, rác y tế bước đầu đưa vào quản lý đúng theo quy định Công tác thu gom rác tốt sẽ góp phần giảm ô nhiễm môi trường Mặt khác, nhận thức của cộng đồng, các cấp chính quyền, đoàn thể về môi trường được nâng lên và kinh tế tăng thu từ cộng đồng, giảm chi phí bù ngân sách, việc tuyển loại rác ngay tại hộ gia đình để tận dụng, tái sinh rác là góp phần tạo của cải vật chất xã hội, giảm bớt lượng rác cần xử lý
b) Bài học rút ra từ các mô hình xã hội hóa
Từ kinh nghiệm và thực trạng triển khai một số mô hình xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại một nước trên thế giới và một số địa phương ở Việt Nam, có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Trang 3225
Thứ nhất, Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong việc đầu tư thu gom và xử lý
rác thải sinh hoạt Việc Nhà nước cung cấp những dịch vụ này về cơ bản sẽ tạo ra lợi ích mà nhiều người cùng được hưởng Đồng thời, bên cạnh việc tuyên truyền, khuyến khích, Nhà nước cần có một hệ thống pháp luật hữu hiệu (có tính hiệu quả
và hiệu lực cao) làm cơ sở cho quá trình thu gom và xử lý rác thải được tốt hơn
Thứ hai, thực hiện từng bước đa dạng hóa và xã hội hóa đầu tư cho các lĩnh
vực thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt Sự tham gia rộng rãi của các công ty tư nhân, người dân vào thu gom và xử lý rác thải là biện pháp hiệu quả nhất
để thực hiện dịch vụ này Sự tham gia của các công ty tư nhân sẽ góp phần thúc đẩy việc đổi mới cơ sở vật chất – kỹ thuật theo hướng hiện đại, đồng thời cũng tạo điều kiện cho việc giảm giá dịch vụ này Xã hội hóa việc đầu tư bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt hiện đang được nhiều nước như Nhật Bản, Trung Quốc từng bước thực hiện Việc phân loại rác thải ngay từ các hộ gia đình cũng là một trong những hình thức xã hội hóa công tác này Không những thế, việc phân loại rác thải ngay tại nguồn còn góp phần giảm chi phí xử lý rác thải
Tuy nhiên, dịch vụ thu gom và xử lý rác thải có liên quan chặt chẽ đến lợi ích của mọi người dân và đến hình ảnh, uy tín của Nhà nước nên mặc dù thực hiện
xã hội hóa, song chính quyền các cấp phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra đối với các doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực này
Thứ ba, khuyến khích tái chế, tái sử dụng rác thải góp phần tiết kiệm chi phí,
nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên Rác thải nếu biết tái chế, tái sử dụng một cách hợp lý thì đó là một nguồn tài nguyên hết sức quý giá, nhất là khi thế giới đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt một số nguồn tài nguyên thiên nhiên Tái chế, tái sử dụng chất thải là một trong những cách tiết kiệm tài nguyên, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường
Có thể thấy công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường đã được thực hiện ở nhiều quốc gia, nhiều địa phương Tuy nhiên, ở nơi nào người dân có nhận thức tốt, hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường, cùng với sự quản lý
có hiệu quả của Nhà nước, sự tham gia tích cực của các thành phần trong xã hội và việc ứng dụng thành công các thành tựu khoa học công nghệ thì việc thực hiện xã
Trang 3326
hội hoá công tác vệ sinh môi trường, trong đó xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt đảm bảo được thực hiện thành công
1.3 Quy trình và các phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Quy trình nghiên cứu
Trình tự các bước nghiên cứu được thể hiện ở sơ đồ 1.2, trong đó:
- Bước 1: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và
phương pháp nghiên cứu Mục tiêu phải rõ ràng, đây là căn cứ để xác định phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu và lựa chọn phương pháp nghiên cứu
- Bước 2: Thu thập, tổng hợp tài liệu, khảo sát thực địa và tiến hành điều tra
thông qua phiếu điều tra
+ Nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin từ các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước, các sách khoa học về lĩnh vực Tài nguyên và môi trường, các tạp chí khoa học Thu thập tài liệu thứ cấp tại các báo cáo về: tình hình phát triển kinh tế -
xã hội thành phố Bắc Ninh năm 2010-2013; về quy mô dân số, tốc độ phát triển, cơ cấu dân số; công tác quản lý Nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố; tình hình quản lý sử dụng đất của thành phố Bắc Ninh các năm 2010-2013; tình hình thực tiễn triển khai công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố các năm 2010-2013 và các văn bản pháp quy về quản lý môi trường đang
có hiệu lực thi hành
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập tại Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thành phố Bắc Ninh, Phòng Thống kê thành phố Bắc Ninh, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Ninh, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, Công ty TNHH MTV Môi trường và Công trình đô thị Bắc Ninh, UBND các
xã, phường; Website của Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh và của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trên cơ sở đó sẽ tổng quan cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu + Khảo sát thực địa và tiến hành điều tra thực tế tại 6 xã, phường chọn điểm
nghiên cứu với tổng số phiếu điều tra là 146 phiếu (cụ thể ở mục 1.3.3)
Trang 3427
- Bước 3: Từ các kết quả thu được, đánh giá tình hình thu gom, vận chuyển
rác thải sinh hoạt theo hướng xã hội hóa và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại thành phố Bắc Ninh
- Bước 4: Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng và giải pháp tăng cường công
tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt theo hướng xã hội hóa tại thành phố Bắc Ninh
Trang 35- Mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
Tình hình thu gom
Các mô hình thu gom, vận chuyển
Cán bộ quản lý
Người dân
Hộ nông nghiệp
Hộ công nhân, viên chức
Hộ kinh doanh, dịch vụ
Đề xuất định hướng và giải pháp tăng cường công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt theo hướng xã hội hóa
Kết luận
Trang 3629
1.3.2 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Khai thác và kế thừa các kết quả điều tra hiện trạng môi trường hàng năm của tỉnh, thành phố, các báo cáo khoa học về hiện trạng môi trường các nhà máy, xí nghiệp của các viện, các trung tâm nghiên cứu Thu thập, phân tích các thông tin về hiện trạng môi trường của các ngành Thu thập số liệu các yếu tố và các nguồn lực
phát triển kinh tế xã hội tác động tới môi trường của tỉnh, thành phố
- Tổng hợp tài liệu và phân tích quy mô, tác động của các nhân tố về điều kiện sinh hoạt của các hộ dân, quy mô dân số, sự gia tăng dân số, các chính sách pháp luật có liên quan đến xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt
- Phương pháp phân tích so sánh: sử dụng để làm rõ sự khác nhau về kết quả
và hiệu quả đạt được giữa các nhóm hộ, các địa phương tham gia quá trình XHH
- Đối với số liệu thứ cấp, trên cơ sở tài liệu ban đầu tôi chọn lọc những thông tin cần thiết và tính toán lại một số chỉ tiêu theo yêu cầu phân tích
1.3.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp giúp người thu thập thông tin có được một cách nhìn toàn diện nhất về cuộc điều tra của mình
Học viên tiến hành điều tra theo một kế hoạch nhất định thôngqua cách thức hỏi – đáp trực tiếp giữa người phỏng vấn (học viên thực hiện) và người dân dựa theo một bảng câu hỏi (phiếu điều tra được chuẩn bị trước) trong đó người phỏng vấn nêu các câu hỏi cho đối tượng cần khảo sát, lắng nghe ý kiến trả lời và ghi nhận vào phiếu điều tra
Lập phiếu điều tra gồm có 2 loại: phỏng vấn các hộ gia đình và cán bộ, lãnh đạo quản lý môi trường tại địa phương Số liệu điều tra được thực hiện tại 6 xã, phường chọn điểm nghiên cứu nhằm so sánh và đánh giá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt và quá trình triển khai thực hiện các mô hình xã hội hoá tại địa phương Tổng số phiếu điều tra gồm 146 phiếu, trong đó có 120 hộ gia đình
và 26 cán bộ quản lý
a) Điều tra các hộ dân:
Trang 3730
Để thu thập các số liệu sơ cấp phục vụ đề tài, tôi đã tiến hành điều tra, đánh giá 120 hộ gia đình thuộc 06 xã, phường chọn điểm nghiên cứu (20 hộ/xã, phường) gồm: Nam Sơn, Tiền An, Ninh Xá, Vân Dương, Võ Cường, Vệ An và phân các hộ
ra thành 03 nhóm đối tượng cơ bản như sau: nhóm hộ nông nghiệp, nhóm hộ kinh doanh buôn bán, nhóm hộ công nhân, viên chức của xã, phường
Nội dung điều tra chủ yếu tập trung vào những vấn đề sau: thông tin cơ bản
về hộ (số lượng nhân khẩu, độ tuổi, giới tính…); sự hiểu biết về các chính sách bảo
vệ môi trường trong đó có công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt của hộ; thực trạng thu gom và hệ thống quản lý rác thải sinh hoạt tại địa phương; quá trình chấp hành, thực hiện chính sách và mức độ tham gia của hộ gia đình vào công tác
xã hội hoá tại địa phương
b) Điều tra các cán bộ quản lý:
Việc điều tra sẽ tập trung vào các các cán bộ trực tiếp làm việc và triển khai thực hiện công tác quản lý môi trường tại UBND các, xã phường chọn điểm nghiên cứu; cán bộ của Công ty TNHH MTV Môi trường và Công trình đô thị Bắc Ninh; các cán bộ quản lý có chuyên môn chuyên sâu về công tác bảo vệ môi trường tại phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Ninh và Chi cục Bảo môi trường tỉnh Bắc Ninh và một số cơ quan có liên quan khác Số lượng cán bộ điều tra 26 người, cụ thể như sau:
- Mỗi phường xã điều tra 02 người (01 lãnh đạo + 01 nhân viên)
- Công ty TNHH TNHH MTV Môi trường và Công trình đô thị Bắc Ninh điều tra 10 người (01 lãnh đạo+ 01 cán bộ phụ trách + 08 công nhân làm việc trực tiếp)
- Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố và Chi cục bảo vệ Môi trường tỉnh Bắc Ninh điều tra mỗi đơn vị 02 người (01 lãnh đạo + 01 nhân viên)
Nội dung điều tra chủ yếu tập trung vào những vấn đề sau: thực trạng việc triển khai xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại địa phương; số địa bàn và số người tham gia trực tiếp vào việc xã hội hoá; số lượng thu gom rác thải sinh hoạt của 01 người/ ngày; số lượng rác thải được vận chuyển về
Trang 3831
khu xử lý; sự đóng góp của nhân dân vào việc xã hội hoá; những thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện xã hội hoá
Nội dung cụ thể được trình bày chi tiết trong bảng câu hỏi kèm theo
Công cụ xử lý: Excel, phần mềm SPSS để tổng hợp và xử lý số liệu
1.3.4 Phương pháp khảo sát thực địa
- Kết hợp khảo sát thực địa với quá trình điều tra, phỏng vấn hộ và quan sát, chụp ảnh, đưa ra những nhận định về hiện trạng quản lý rác thải tại địa bàn
- Xác định lượng rác phát sinh, thành phần của rác thải sinh hoạt qua quá trình cân rác trong thời gian 1 tháng tại một số hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên để so sánh lượng rác phát sinh trong các ngày khác nhau trong tuần và so sánh lượng rác cũng như thành phần rác thải sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu trên
1.3.5 Phương pháp SWOT
Được sử dụng để đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt của thành phố những năm qua, từ đó có cơ sở đề xuất giải pháp tăng cường trong thời gian tiếp theo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng phương pháp bản đồ và GIS để xây dựng các sơ đồ mạng lưới thu gom rác thải sinh hoạt và quy hoạch thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt khu vực nghiên cứu
Trang 3932
Chương 2: THỰC TRẠNG THU GOM, VẬN CHUYỂN
RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI THÀNH PHỐ BẮC NINH
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Bắc Ninh
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Bắc Ninh nằm ở phía Nam sông Cầu, phía Đông Bắc của tỉnh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 30 km về phía Nam, cách thành phố Bắc Giang 20
km về phía Bắc, ranh giới tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Yên Phong và tỉnh Bắc Giang;
- Phía Nam giáp huyện Tiên Du;
- Phía Đông giáp huyện Quế Võ;
- Phía Tây giáp huyện Yên Phong
Hình 2.1 Sơ đồ hành chính thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Trang 4033
Thành phố Bắc Ninh có 19 đơn vị hành chính gồm 16 phường (Tiền An, Ninh Xá, Suối Hoa, Vệ An, Đáp Cầu, Thị Cầu, Kinh Bắc, Đại Phúc, Vũ Ninh, Võ Cường, Vạn An, Vân Dương, Hạp Lĩnh, Khúc Xuyên, Phong Khê, Khắc Niệm) và
03 xã (Hoà Long, Nam Sơn và Kim Chân) Thành phố Bắc Ninh nằm trong tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, cách Trung tâm công nghiệp Hải Phòng, Quảng Ninh hơn 100 km về phía Đông Thành phố Bắc Ninh có các tuyến giao thông quan trọng chạy qua như Quốc lộ 1A, 1B, 38, 18, tuyến Bắc Ninh - Nội Bài, tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, tuyến đường thuỷ (sông Cầu) thuận tiện cho đi lại thông thương và giao lưu văn hoá Những điều kiện đó đã tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho Bắc Ninh phát triển trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội
2.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình: địa hình thành phố Bắc Ninh tương đối bằng phẳng với độ cao phổ biến từ +4,0 đến +2,5 m, gồm địa hình đồng bằng và địa hình chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du Hướng dốc chính của địa hình theo hướng Đông Bắc - Tây Nam
Địa mạo: gồm các khu vực đồng bằng với độ dốc trung bình < 2% xen kẽ với các đồi bát úp có độ dốc sườn đồi từ 8 -15% và có độ cao phổ biến 40 - 50m Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,25%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố, phân bố tại: xã Hòa Long (núi Quả Cảm); phường Đáp Cầu, Thị Cầu, Vũ Ninh (núi Ông Tư, Búp Lê, Điêu Sơn); phường Vân Dương, xã Nam Sơn (núi Cửa Vua, Bàn Cờ); phường Hạp Lĩnh (núi Và)
2.1.1.3 Địa chất
Trên địa bàn thành phố Bắc Ninh có các địa tầng sau:
- Hệ tầng Nà Khuất (T2nk): Thành phần chủ yếu là đá phiến sét, xen bột kết, cát kết, sét vôi Các đá của hệ tầng này lộ ra rải rác ở khu vực Thị Cầu, Đáp Cầu, Hạp Lĩnh, Vân Dương, Nam Sơn
- Hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms2) trên địa bàn thành phố Bắc Ninh có mặt phụ hệ tầng giữa (T3cms2): Thành phần chủ yếu là đá phiến, sét vôi, có các dạng quatzit xen bột kết Các đá của hệ tầng này lộ ra với diện tích khá lớn tại các đồi núi xung quanh Các đá bị uốn nếp và nứt nẻ với mức độ trung bình