1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội

93 805 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BTNMT: bộ tài nguyên môi trường CNH, HĐH: công nghiệp hóa, hiện đại hóa DĐĐT: dồn điền đổi thửa ĐBSH: đồng bằng sông Hồng ĐBSCL: đồng bằng sông Cửu Long GTNĐ: g

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU……… …….….…1

1 Tính cấp thiết đề tài……….… 1

2 Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa……….….….2

3 Phạm vi nghiên cứu ……… ……2

4 Phương pháp nghiên cứu……….……… … 3

5 Cơ sở tài liệu để thực hiện luận văn……… … ….…5

6 Cấu trúc luận văn……… ……5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……… ……6

1.1 Tổng quan về chủ trương, chính sách, quy định pháp lý của Đảng và Nhà nước, thành phố Hà Nội, huyện Mỹ Đức trong công tác DĐĐT… … 6

1.2 Các quan điểm trong sử dụng đất NN……… … 10

1.3 Tình hình DĐĐT trong nước, hiệu quả trong công tác quản lý Nhà Nước về đất NN ……….…… … 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 28

2.1 Phân tích điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ảnh hưởng đến dồn điền đổi thửa 28

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 28

2.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội 32

2.1.3 Dân số và lao động 34

2.1.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 35

2.2 Hiện trạng quản lý và sử dụng đất NN huyện Mỹ Đức… 36

2.2.1 Tình hình giao đất NN huyện Mỹ Đức 36

2.2.2 Tình hình quản lý đất đai huyện Mỹ Đức 38

2.2.3 Hiện trạng sử dụng đất NN 40

2.2.4 Định hướng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 41

2.3 Thực tiễn công tác DĐĐT tại huyện Mỹ Đức… 47

Trang 2

2.3.1 Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH huyện Mỹ Đức đến năm

2030 gắn liền với quy hoạch xây dựng nông thôn mới 47

2.3.2 Tổ chức thực hiện DĐĐT 47

2.3.3 Kết quả của công tác DĐĐT ở huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội 55

2.3.4 Những tồn tại sau khi thực hiện công tác DĐĐT trên địa bàn nghiên cứu 61

CHƯƠNG 3: HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG GHIỆP- MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA HUYỆN MỸ ĐỨC, TP HÀ NỘI…… 66

3.1 Hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trong phát triển kinh tế NN 66

3.1.1 DĐĐT tác động đến sự thay đổi hệ thống ruộng đất 66

3.1.2 Tác động của chính sách DĐĐT đến cơ cấu thu nhập và đa dạng hóa cây trồng 70

3.1.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất trước và sau DĐĐT 72

3.1.4 Dồn đổi ruộng góp phần nâng cao hiệu quả xã hội 77

3.1.5 Dồn đổi ruộng góp phần bảo vệ môi trường 77

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn nghiên cứu……… …… 77

3.2.1 Giải pháp về hoàn thiện hành lang pháp lý DĐĐT … 78

3.2.2 Giải pháp về quy hoạch 78

3.2.3 Giải pháp về giao thông, thủy lợi … 79

3.2.4 Giải pháp tuyên truyền và vận động 79

3.2.5 Xây dựng phương án DĐĐT đảm bảo tính công bằng, công khai, minh bạch 81 3.2.6 Giải pháp về tài chính……… …….…82

3.2.7 Giải pháp hoàn thiện hồ sơ địa chính sau DĐĐT ……….…83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……….….… 85

Kết luận……… ……85

Kiến Nghị……… ….….83

Trang 3

Hình 2.7: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2012 huyện Mỹ Đức

Hình 3.1: Đường, mương sau dồn điền đổi thửa xã Mỹ Thành (ảnh tác giả- năm 2013)

Hình 3.2: Cánh đồng đậu tương xã Phù Lưu Tế (ảnh tác giả- năm 2013)

Bảng 1.3: Tình hình chuyển đổi ruộng đất ở một số địa phương

Bảng 2.1: Thống kê hiện trạng lao động các xã năm 2011 huyện Mỹ Đức

Biểu 2.2 : Thống kê công tác giao đất theo nghị định 64/CP 3 xã trong địa bàn nghiên cứu

Bảng 2.3: Thống kê giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp huyện Mỹ Đức năm 1994

Bảng 2.4: Tổng hợp quy hoạch sử dụng đất huyện Mỹ Đức- TP Hà Nội giai đoạn 2012- 2030

Trang 4

Bảng 2.5: Tổng hợp báo cáo tiến độ đo đạc bản đồ đất NN trên địa bàn huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội (tháng 2 năm 2014)

Bảng 2.6 : Thực trạng manh mún ruộng đất tại 3 xã trong vùng nghiên cứu

trước DĐĐT

Bảng 2.7: Mội số kết quả sau DĐĐT ở 3 xã trong vùng nghiên cứu

Bảng 3.1: Đất công ích trước và sau DĐĐT của 3 xã trong địa bàn nghiên cứu Bảng 3.2: Giá thầu đất công ích thực tế trước DĐĐT

Bảng 3.3: Thay đổi diện tích đất NN bình quân khẩu tại 3 xã vùng nghiên cứu

Bảng 3.4: Diện tích đất giao thông, thủy lợi trước và sau DĐĐT

Bảng 3.5: Sự thay đổi cơ cấu thu nhập trước và sau DĐĐT

Bảng 2.6: Mức chi phí bình quân cho 1 ha lúa/ năm trước và sau DĐĐT tại 3 xã trong vùng nghiên cứu

Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế bình quân của mô hình thủy sản- chăn nuôi- trồng trọt kết hợp

Bảng 3.8: Hiệu quả kinh tế mô hình chuyên thả cá (1 ha)

Bảng 3.9: Hiệu quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng sau DĐĐT (1 ha)

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTNMT: bộ tài nguyên môi trường

CNH, HĐH: công nghiệp hóa, hiện đại hóa DĐĐT: dồn điền đổi thửa

ĐBSH: đồng bằng sông Hồng

ĐBSCL: đồng bằng sông Cửu Long

GTNĐ: giao thông nội đồng

GTTT: giá trị tăng trưởng

GTSX: giá trị sản xuất

GCNQSDĐ: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HSĐC: hồ sơ địa chính

HTX: hợp tác xã

NN: nông nghiệp

NTM: nông thôn mới

UBND: ủy ban nhân dân

TSN: thủy sản ngọt

SXNN: sản xuất nông nghiệp

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Luật Đất đai năm 1993 với quy định về giao đất cho hộ gia đình cá nhân sử dụng đất ổn định, lâu dài, tạo điều kiện cho người sử dụng đất an tâm và có kế hoạch đầu tư, cải tạo làm nâng cao hiệu quả sử dụng; đem lại hiệu quả trong việc khai thác nguồn lực, khuyến khích nông dân sản xuất, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Tuy nhiên, việc giao đất NN cho hộ gia đình cá nhân đã dẫn đến tình trạng ruộng đất bị chia nhỏ manh mún, mỗi hộ có nhiều mảnh ruộng với diện tích mỗi mảnh thường nhỏ Hiện nay, với điều kiện sản xuất tiên tiến, hiện đại thì tình trạng ruộng đất bị chia nhỏ manh mún đã gây khó khăn, bất cập trong việc

áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng các quy trình kỹ thuật đồng nhất của một loại hình canh tác nào đó trong sản xuất Ngoài ra, tình trạng manh mún ruộng đất còn gây nên những khó khăn trong công tác quy hoạch, quản lý của nhà nước Để khắc phục tình trạnh manh mún ruộng đất nhiều địa phương đã và đang thực hiện DĐĐT

Trong những năm gần đây, một số địa phương đã coi DĐĐT là mục tiêu xây dựng NTM (Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010- 2020) và đạt được hiệu quả như tỉnh Hưng Yên, tỉnh Thái Bình và TP Hà Nội

Đối với thành phố Hà Nội, các huyện ngoại thành (thuộc tỉnh Hà Tây cũ) đã triển khai đề án DĐĐT nhằm giảm manh mún và phân tán ruộng đất Thực hiện quyết định 16 (QĐ/16) ngày 06 tháng 7 năm 2012 của Ủy ban nhân dân thành phố

Hà Nội, chương trình số 02- CTr/ TU ngày 29 tháng 8 năm 2011 của thành ủy Hà Nội về phát triển NN, xây dựng NTM, từng bước nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2011 – 2015 trọng điểm công tác dồn điền đổi thửa (DĐĐT), các huyện đã chỉ đạo đo vẽ, chỉnh lý bản đồ, chia ruộng lại bằng máy móc chuyên dụng, lưu trữ bản

đồ Trên cơ sở hướng dẫn tạo Thông tư 09/2007/TT- BTNMT và thông tư 17/2009/TT- BTNMT ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, phòng tài nguyên các huyện đã thực hiện lập hồ sơ địa chính (HSĐC) đảm bảo tính thống nhất nội dung thông tin thửa đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) và hiện trạng sử dụng đất

Trang 7

Huyện Mỹ Đức nằm ở phía Tây Nam thành phố Hà Nội Thực hiện chỉ đạo Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về công tác DĐĐT Huyện Mỹ Đức

đã xây dựng kế hoạch số 1066/ KH- UBND ngày 19 tháng 9 năm 2012 về việc thực hiện DĐĐT đất sản xuất NN trên địa bàn huyện Mỹ Đức giai đoạn 2012 - 2013 Kết quả thực hiện DĐĐT đã giảm số mảnh ruộng trung bình mỗi hộ từ 6 – 7 mảnh xuống còn 2 – 4 mảnh Diện tích một mảnh ruộng tăng gấp đôi, gấp ba so với trước

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc DĐĐT ở huyện Mỹ Đức còn có những tồn tại bất cập như: Có những nơi số mảnh ruộng mỗi hộ giảm không đáng

kể, có xã công việc DĐĐT chưa thực hiện quyết liệt nên quá trình DĐĐT kéo dài

Việc lập hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ NN sau DĐĐT còn nhiều lúng túng, vướng mắc

Để khắc phục những tồn tại bất cập trong công tác DĐĐT nhằm đẩy nhanh

và nâng cao hiệu quả công tác DĐĐT trên địa bàn huyện Mỹ Đức cần thiết phải có điều tra, phân tích đánh giá đầy đủ, toàn diện về thực trạng việc DĐĐT ở huyện Mỹ Đức

Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề

xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội” là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực trong tình hình hiện

nay

2 Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa

Đánh giá thực trạng công tác DĐĐT nhằm chỉ ra những tồn tại, bất cập trong công tác DĐĐT của huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội

Đề xuất giải pháp cơ bản để nhằm hoàn thiện để nâng cao hiệu quả công tác DĐĐT ở huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội

Trang 8

4.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu

Thu thập các số liệu tại các cơ quan nhà nước và chuyên môn liên quan tại huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội

Phương pháp sử dụng để thu thập thông tin tư liệu về đặc điểm tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế- xã hội và hiện trạng sử dụng đất đai huyện Mỹ Đức; về công tác quy hoạch sử dụng đất và chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn nghiên cứu

Thu thập thông tin số liệu sơ cấp : Là những thông tin chưa được công bố chính thức tới từng nông hộ, phản ánh đời sống kinh tế, văn hóa xã hội, đặc biệt là các vấn đề sử dụng đất và vấn đề liên quan

Phương pháp điều tra nhanh nông hộ trong vấn đề hiệu quả kinh tế, thu nhập sau DĐĐT

4.2 Phương pháp quan sát

Tiến hành khảo sát thực trạng sử dụng đất, quan sát các mô hình kinh tế sau DĐĐT các xã trong huyện Mỹ Đức, chụp ảnh lưu lại để minh họa cho công tác nghiên cứu

4.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

Sử dụng các tài liệu, số liệu thu thập được tiến hành chọn lọc, phân tích tổng hợp theo mục đích nghiên cứu

Sử dụng phương pháp thống kê hiện trạng sử dụng đất, thống kê dân số huyện, thống kê số ô thửa trước và sau DĐĐT huyện Mỹ Đức, minh chứng cho việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau DĐĐT

4.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích

Đánh giá, làm rõ thực trạng công tác DĐĐT, công tác quản lý đất NN, hiệu quả sử dụng đất sau DĐĐT Rút ra bài học kinh nghiệm áp dụng cho các địa phương khác trong tỉnh

4.5 Phương pháp so sánh

Phương pháp chỉ ra sự khác biệt của toàn huyện trong việc giảm ô thửa trước

và sau DĐĐT, giảm bớt tình trạng manh mún ruộng đất, hệ số sử dụng đất tăng lên, thấy rõ hiệu quả kinh tế của DĐĐT trong phát triển kinh tế

Trang 9

Ngoài ra sử dụng phương pháp thấy được sự khác biệt giữa các địa phương trong huyện

4.6 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Các điểm nghiên cứu cần có các đặc điểm sau :

- Có điều kiện tự nhiên đặc trưng cho các tiểu vùng trong địa bàn nghiên cứu

- Có đủ số liệu phục vụ cho việc đánh giá tác động của DĐĐT trong sản xuất nông nghiệp

Theo kết quả phân vùng kinh tế sinh thái và kinh tế của huyện, cùng với việc nghiên cứu quy hoạch chung huyện Mỹ Đức, địa bàn nghiên cứu đuợc chia thành

03 tiểu vùng sinh thái gồm : vùng ven sông Đáy, vùng cao và vùng trũng (khái niệm cao và trũng chỉ mang tính chất tương đối của địa bàn nghiên cứu)

* Vùng ven sông Đáy (hay là vùng kinh tế trung tâm) gồm 8 xã : Hồng Sơn,

Lê Thanh, Xuy Xá, Phùng Xá, Phù Lưu Tế, Hợp Tiến, Hợp Thanh và thị trấn Đại Nghĩa Khu vực này chủ yếu phát triển cây rau màu, cây ăn quả và lúa

* Vùng cao gồm các xã trong đê : Phúc Lâm, Đồng Tâm, Thuợng Lâm, Mỹ Thành, An Mỹ, Tuy Lai và Bột Xuyên Vùng này chủ yếu phát triển lúa và cây màu

* Vùng thấp gồm các xã : An Tiến, Hùng Tiến, Vạn Kim, Đốc Tín, Hương Sơn, An Phú Các xã trong vùng chủ yếu trồng lúa và nuôi trồng thủy sản kết hợp Ngoài ra khu vực xã Hương Sơn còn phát triển du lịch

Trong điều kiện nguồn lực, thời gian nghiên cứu hạn chế nên việc nghiên cứu điểm mô hình chỉ tập trung ở 3 xã: xã Mỹ Thành, xã Phù Lưu Tế, xã Đốc Tín

Xã Phù Lưu Tế thuộc vùng kinh tế trung tâm, được chọn làm điểm nghiên cứu với đặc trưng của vùng đất phù sa được bồi hành năm Đây là vùng có địa hình hơi trũng, một phần đất thường bị ngập vào mùa mưa, đất thích hợp với trồng cây màu, cây ăn quả hàng năm và cây công nghiệp ngắn ngày

Xã Mỹ Thành thuộc vùng kinh tế phía bắc, là khu vực kinh tế nông nghiệp với chức năng chính là sản xuất nông nghiệp chất lượng cao, chăn nuôi Xã được chọn làm điểm nghiên cứu với đặc trưng của vùng đất phù sa không được bồi hàng năm, nằm ở trong đê Địa hình bằng phẳng, đất phù sa màu mỡ, nền đất chắc, hiện tại đang sử dụng để trồng 2 vụ lúa và 1 vụ màu rất hiệu quả

Trang 10

Xã Đốc Tín, thuộc vùng kinh tế phía nam, là khu vực kinh tế Dịch vụ- Du lịch, Nông nghiệp, Thủy sản Điểm nghiên cứu có đặc trưng là loại đất phù sa Glay, địa hình thấp, khó thoát nước, hiện trạng đất được sử dụng cho việc cấy lúa 2 vụ và phát triển mô hình thủy sản- lúa

5 Cơ sở tài liệu để thực hiện luận văn

- Luật đất đai 2003

- Chương trình 02 -CTr/TU ngày 29 tháng 8 năm 2011 thành ủy Hà Nội về phát triên nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2011 – 2015

- Kế hoạch 68/KH-UBND ngày 09/05/2012 thực hiện dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 – 2013

- Quyết định, thông tư, văn bản hướng dẫn thực hiện về công tác DĐĐT của huyện Mỹ Đức

- Các báo cáo của các cấp: Thành phố Hà Nội, UBND huyện Mỹ Đức liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Các giáo trình cơ sở địa chính, hồ sơ địa chính, hệ thống chính sách pháp luật đất đai,…

- Tài liệu chuyên ngành quản lý đất đai, quy hoạch sử dụng đất của các chuyên gia;

- Thông tin, tư liệu từ việc điều tra thực tế tại địa phương

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và kiến nghị, Luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng công tác DĐĐT huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Chương 3: Hiệu quả công tác trong phát triển kinh tế NN- Một số giải pháp

nhằm nâng cao hiệu quả DĐĐT huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về chủ trương, chính sách, quy định pháp lý của Đảng

và Nhà nước, thành phố Hà Nội, huyện Mỹ Đức trong công tác DĐĐT

1.1.1 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước

Để giải quyết vấn đề manh mún ruộng đất, Đảng và Nhà nước đề ra một số chính sách làm cơ sở giúp các tỉnh thành phố dựa vào đó làm căn cứ chỉ đạo hướng dẫn các hộ nông dân thự hiện DĐĐT

- Trong văn kiện Đại hội Đảng khóa IX cho thấy, trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010, phần định hướng phát triển các ngành kinh tế và các vùng kinh tế đối với NN, lâm nghiệp, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn có nêu: Đẩy nhanh CNH, HĐH NN, nông thôn theo hướng hình thành nền NN hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và sinh thái của từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề,

cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút lao động ở nông thôn… Đồng thời trong phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2001- 2005 nêu rõ: “Chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu sản xuất NN và kinh tế nông thôn; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh phù hợp với tiềm năng lợi thế về khí hậu, đất đai và lao động của từng vùng, địa phương”

- Trong phần định hướng phát triển vùng ĐBSH và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có nêu: "Phát triển NN theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành các vùng lúa chất lượng cao ở các tỉnh ĐBSH Tiếp tục phát triển cây thực phẩm và chăn nuôi gắn với công nghiệp chế biến nhiều trình độ công nghệ, hình thành các vùng chuyên canh…"

- Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 94/2002/QĐ- TTg, ngày 17/7/2002 về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, tại điểm 1 mục II Quyết định 94/2002/QĐ- TTg nêu:

+ Trong quý IV của năm 2002, Bộ NN và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Tổng cục địa chính, Bộ tài chính, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hướng dẫn việc “dồn điền đổi thửa” trên nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận và các bên cùng có lợi kết hợp tổ chức quy hoạch lại ruộng đồng, tập trung ruộng đất để phát triển sản xuất hàng hóa, mở mang ngành nghề

Trang 12

Nhưng chúng ta chỉ nhận thức rằng, để thực hiện được những định hướng nêu trên thì trong các giải pháp tất yếu phải có giải pháp DĐĐT Bởi sản xuất NN luôn gắn với đất đai, mà muốn chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu thì phải chuyển đổi

cơ cấu sử dụng đất hay nói cách khác là phải DĐĐT Mặc dù Trung ương có Nghị quyết, Chính phủ có Quyết định về DĐĐT đất NN song chúng ta mạnh dạn chỉ ra rằng điều này chưa được quan tâm đúng mức Công tác kiểm tra đôn đốc không được chú trọng, việc triển khai, tổ chức thực hiện rời rạc thiếu sự quyết tâm “đầu voi đuôi chuột” kết quả hầu như không có gì đáng kể

Chuyển sang nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc khóa X vấn đề DĐĐT đã được chính thức đưa vào văn kiện một cách cụ thể:

- Trên cơ sở đó Hội nghị lần 7 Ban chấp hành TW khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26- NQ/ TW ngày 5/8/2008 về NN, nông thôn, nông dân Trong phần nhiệm vụ và giải pháp có nêu rõ: Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch sản xuất NN trên cơ

sở nhu cầu thị trường và lợi thế từng vùng, sử dụng đất NN tiết kiệm, có hiệu quả, duy trì diện tích đất lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài

Cơ cấu lại ngành NN, gắn sản xuất với chế biến và thị trường

Ý kiến chỉ đạo trên đây tuy không nêu cụ thể bằng cụm từ “dồn điền đổi thửa” nhưng cụm từ “ Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch sản xuất NN trên cơ sở thị trường và lợi thế của từng vùng, sử dụng đất NN tiết kiệm có hiệu quả”… cũng có thể hiểu điều đó đồng nghĩa với việc DĐĐT

Tuy nhiên cho đến nay hai nhiệm kỳ đại hội, chủ trương DĐĐT về thực chất mới dừng ở chủ trương, nghị quyết

1.1.2 Các chủ trương chính sách của thành phố Hà Nội, huyện Mỹ Đức trong công tác DĐĐT

Trước năm 2008, huyện Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Tây (cũ), các chủ trương chính sách của huyện nằm trong khuôn khổ của tỉnh Hà Tây

Nhằm đẩy mạnh sản xuất trên cơ sở chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, ngày 12/02/1997 tỉnh uỷ Hà Tây đã ban hành Chỉ thị số 14 - CT/

TU Tiếp theo đó, để đẩy mạnh phong tào chuyển đổi ruộng đất, ngày 10/04/1998 UBND tỉnh Hà Tây đã ra Chỉ thị số 11/1998/ CT - UB về việc đẩy mạnh và hoàn thành chuyển đổi ruộng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp

Trang 13

Thực hiện nghị quyết số 10/ NQ – HU ngày 1/10/2003 của Huyện ủy và kế hoạch số : 483/ KH – UB ngày 17/10/2003 của UBND Huyện Mỹ Đức về việc DĐĐT đất sản xuất nông nghiệp

Công tác DĐĐT của thành phố Hà Nội xuất phát từ thực tế manh mún ruộng đất, từ công tác quản lý và được dựa trên các cơ sở pháp lý như sau:

- Nghị quyết số 03/2010/ NQ - HĐND ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về xây dựng NTM thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020, tầm nhìn đến năm 2030;

- Nghị quyết số 04/2012/ NQ - HĐND ngày 05 tháng 4 năm 2012 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội khóa XIV, kỳ họp thứ 4 về việc thí điểm một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất NN, xây dựng hạ tầng nông thôn thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2016;

- Xét đề nghị của Liên Sở: NN và Phát triển nông thôn - Tài chính - Kế hoạch và Đầu tư tại Tờ trình số 77/ LS: NN&PTNT- TC- KH&ĐT ngày 06 tháng 6 năm 2012,

Với mục đích khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân đầu

tư phát triển sản xuất NN, xây dựng hạ tầng nông thôn thành phố Hà Nội nhằm phát triển NN theo hướng sản xuất hàng hóa, chất lượng cao, an toàn vệ sinh thực phẩm, hoàn thành chỉ tiêu xây dựng NTM Thành phố đã đề ra đến năm 2015 thông qua quyết định số 16/2012/ QĐ- UBND, ngày 06/7/2012 của UBND thành phố Hà Nội

về ban hành Quy định thí điểm một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất

NN, xây dựng hạ tầng nông thôn thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2016;

- Kế hoạch số 68/ KH - UBND, ngày 09/5/2012 của UBND thành phố Hà Nội về kế hoạch thực hiện DĐĐT đất sản xuất NN trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2012-2013;

- Hướng dẫn số 29 / HD - SNN, ngày 14/5/2012 của Sở Nông nghiệp & PTNT Hà Nội về Hướng dẫn quy trình thực hiện công tác DĐĐT đất sản xuất NN trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Căn cứ Chỉ thị số 17/ CT - UBND, ngày 19/9/2012 của UBND huyện Mỹ Đức về việc tăng cường chỉ đạo công tác DĐĐT, xây dựng NTM trên địa bàn huyện

Mỹ Đức;

Trang 14

- Thực hiện Kế hoạch số 1066/ KH - UBND, ngày 19/9/2012 của UBND huyện Mỹ Đức về thực hiện DĐĐT đất sản xuất NN trên địa bàn huyện Mỹ Đức năm 2012-2013;

- Hướng dẫn số 45/ KT, ngày 10 tháng 10 năm 2012 V/v hướng dẫn xây dựng Đề án dồn điền, đổi thửa đất sản xuất NN, xây dựng NTM trên địa bàn huyện

Mỹ Đức

- Nghị quyết của Đảng ủy, HĐND xã, thị trấn về Dồn điền, đổi thửa đất sản xuất NN, xây dựng NTM trên địa bàn xã, thị trấn : Căn cứ Nghị quyết Đảng ủy xã Đốc Tín số 51/ NQ - ĐU ngày 04/11/2012 và Nghị quyết HĐND số 19/ NQ - HĐND ngày 26 tháng 12 năm 2012 của HĐND xã Đốc Tín về tăng cường lãnh đạo

và tiếp tục thực hiện DĐĐT đất sản xuất nông nghiệp-xây dựng NTM trên địa bàn

xã Đốc Tín; Căn cứ Nghị quyết số 4/ NQ - ĐU ngày 28/4/2012 và Nghị quyết số 6/

NQ – HĐND ngày 27/6/2012 của Hội đồng nhân dân xã về công tác DĐĐT đất sản xuất nông nghiệp 2012

Tất cả các quyết định, thông tư, hướng dẫn cho công tác “dồn điền, đổi thửa” với mục đích:

- Khắc phục tình trạnh manh mún và phân tán ruộng đất, tạo điều kiện quy hoạch vùng sản xuất tập trung, thuận lợi cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, thực hiện cơ giới hóa trong NN, giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu suất lao động; chuyển dịch cơ cấu cây trông - vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu lao động trong NN; nâng cao thu nhập cho người nông dân; tạo sản phẩm háng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, tăng giá trị/ha canh tác;

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực NN, nông thôn;

- Tạo nguồn nội lực thực hiện xây dựng NTM, xây dựng các công trình phúc lợi của địa phương;

- Tập trung quỹ đất công ích vào các khu vực cụ thể để thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng đất đai và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất công ích ở từng địa phương bảo đảm theo quy định của pháp luật hiện hành;

- Lập hồ sơ địa chính, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất NN; từng bước nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý đất đai của Nhà nước các cấp

Trang 15

Kết luận: Qua các công trình nghiên cứu về công tác DĐĐT nhận thấy, công tác DĐĐT được Đảng, Nhà nước rất quan tâm, chú trọng, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề này trên cả khía cạnh lý thuyết và thực tiễn Điều này minh chứng cho việc sản xuất NN luôn luôn là mối quan tâm lớn nhất Việc quản lý ruộng đất, sản xuất hiệu quả sau DĐĐT đem lại niềm vui cho bà con nông dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế NN, đảm bảo an ninh lương thực, làm giàu cho quốc gia

1.2 Các quan điểm trong sử dụng đất NN

1.2.1 Vấn đề về tập trung ruộng đất

a Khái niệm tập trung ruộng đất

Tập trung ruộng đất là phương thức làm tăng quy mô diện tích của thửa đất

và chủ thể sử dụng đất thông qua các hoạt động dẫn tới tập trung ruộng đất như: chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê đất, thuê lại đất, thừa kế, thế chấp… Có thể hiểu tập trung ruộng đất là việc sát nhập hoặc hợp nhất ruộng đất của những chủ sở hữu khác nhau vào một chủ sở hữu hoặc hình thành một chủ sở hữu mới có quy mô ruộng đất lớn hơn Tập trung ruộng đất diễn ra theo hai con đường: một là hợp nhất ruộng đất của các chủ sở hữu cá biệt nhỏ hơn thành một chủ sở hữu cá biệt khác lớn hơn Con đường này được thực hiện thông qua việc xây dựng HTX sản xuất NN ở nước ta trước đây.14

Hai là, con đường sát nhập ruộng đất của các chủ sở hữu nhỏ cá biệt để tạo ra quy mô lớn hơn Con đường này được thực hiện thông qua biện pháp tước đoạt hoặc chuyển nhượng mua bán ruộng đất Con đường này diễn ra mạnh mẽ ở các nước tư bản

Việc tập trung ruộng đất vào tay chủ sở hữu mới tạo ra kết quả hai mặt là: Một mặt làm cho một bộ phận nông dân trở thành không có ruộng đất, buộc họ phải

đi làm thuê hoặc rời quê hương tìm kế sinh nhai Mặt khác, tạo cho chủ đất có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng, chuyển một bộ phận lao động NN sang các kinh tế ngành khác, mà trước hết là công nghiệp

Ở nước ta, việc tập trung ruộng đất diễn ra do một số nguyên nhân sau:

Trang 16

- Một số hộ làm ăn khá giả, có vốn, có trình độ kỹ thuật và quản lý kinh doanh muốn có thêm đất đai để sản xuất

- Một số hộ do yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm ăn không hiệu quả, không đảm bảo được cuộc sống trên ruộng đất được giao nên chuyển nhượng, cho thuê để đáp ứng yêu cầu trước mắt hoặc chuyển sang để làm các ngành nghề khác

Mặt khác, trong luật đất đai hiện hành của nước ta đã và đang tạo ra hành lang pháp lý cho quá trình tập trung đất đai trong sản xuất NN Đó chính là việc xác định chế độ sử dụng đất:

- Chủ thể sử dụng đất: là những tổ chức, hộ gia đình,cá nhân được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để sử dụng

- Khách thể của quyền sử dụng đất: là một vùng nhất định mà Nhà nước giao cho các chủ thể sử dụng đất

- Chuyển đổi quyền sử dụng đất: là việc ''đổi đất lấy đất'' giữa các chủ thể sử dụng đất được Nhà nước giao đất để sử dụng nhằm mục đích chủ yếu là tổ chức lại sản xuất cho phù hợp, khắc phục tình trạng đất đai manh mún, phân tán như hiện nay

- Cho thuê đất: là một dạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thời hạn, bên thuê đất phải trả cho bên cho thuê đất một khoản tiền nhất định để được quyền

sử dụng

- Thế chấp quyền sử dụng đất: là hoạt động trong quan hệ tín dụng, từ đó các chủ thể sử dụng đất thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê lại

tổ chức tín dụng để vay vốn sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật

- Cho thuê lại đất: là một dạng của chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất khi người đi thuê cho người thuê lại

b Ý nghĩa của việc tập trung ruộng đất

Quá trình tập trung ruộng đất có một ý nghĩa lớn đối với việc phát triển kinh

tế xã hội nói chung, đối với NN nói riêng Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay chúng

Trang 17

ta đang chuyển sang nền NN hàng hoá thì việc tập trung ruộng đất càng có một ý nghĩa lớn

Một là: Tập trung ruộng đất là một vấn đề mang tính quy luật trong tiến trình

đi lên một nền sản xuất lớn Nó diễn ra trong suốt tiến trình phát triển NN theo hướng hàng hoá, thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động

Hai là: Nâng cao hiệu quả sử dụng ruộng đất thông qua việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển một nền NN theo hướng CNH, HĐH Mác đã chỉ ra rằng,

NN là một bộ phận mà tất cả các phương pháp khoa học hiện đại đối với NN (phân hoá học, dùng máy móc, tưới tiêu,…) chỉ có thể áp dụng có kết quả khi canh tác trên quy mô ruộng đất lớn

Ba là: Trên thực tế thì lại có mâu thuẫn, đó là có nhiều loại sản phẩm có khối lượng hàng hoá lớn nhưng lại được sản xuất ở những nông hộ có quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ nên chất lượng thấp, người sản xuất không nắm được thông tin thị trường, vì vậy mà sức cạnh tranh kém Do đó mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua con đường tập trung ruộng đất

Bốn là: Tập trung ruộng đất đã và đang khuyến khích người nông dân thực hiện phương thức "ai giỏi nghề gì làm nghề đấy" Từ khi ban hành luật đất đai 1993 trở lại đây cho thấy xu thế chuyển đổi từ NN manh mún, tự túc sang sản suất hàng hoá có quy mô lớn ngày càng rõ Kinh tế trang trại ra đời và phát triển ở nhiều vùng của cả nước Quá trình tập trung ruộng đất đã khuyến khích những người có khả năng và nguyện vọng, có vốn, có kiến thức, có khả năng sản suất và có ý chí làm giàu kinh doanh NN, phát triển kinh tế trang trại

Năm là: Tạo điều kiện sử dụng đầy đủ và có hiệu quả đất đai, hợp lý và bảo

vệ môi trường đất ở nước ta.Trong một thời gian khá dài ruộng đất do HTX NN thống nhất quản lý và sử dụng, hiệu quả sử dụng ruộng đất thấp, tình trạng khan hiếm lương thực, thực phẩm kéo dài, đời sống nhân dân gặp khó khăn Nghị Quyết

10 của Bộ Chính trị ban hành (4/1988) khẳng định việc giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ xã viên, phần lớn hộ xã viên ở các địa phương đòi hỏi sự công bằng trong giao ruộng với phương thức: "có gần, có xa", "có tốt, có xấu" để đảm bảo thửa

Trang 18

này mất mùa thì thửa khác còn gỡ được Với nhận thức là hướng vào sản xuất tự cấp tự túc trong điều kiện sản xuất thấp kém thì phương thức giao ruộng này có thể giúp cho người nông dân vượt qua những khó khăn Cùng với quá trình đổi mới kinh tế điều kiện sản xuất đã thay đổi, NN Việt Nam đang chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, ứng dụng nhiều hơn tiến bộ khoa học công nghệ mới, thì những mảnh ruộng bị chia cắt, phân tán là lực cản trở trên con đường phát triển NN hiện đại Vì vậy thực hiện tập trung đất đai cho phép người nông dân áp dụng được những thành tựu khoa học công nghệ và trong sản suất NN, nhằm sử dụng đầy đủ

và có hiệu quả các yếu tố trong sản suất NN, trong đó yếu tố quan trọng nhất là đất đai Công tác chuyển đổi ruộng đất đã và đang diễn ra ở các địa phương và bước

đầu đã đem lại những hiệu quả thiết thực, được nông dân đồng tình hưởng ứng.[14]

Trang 19

trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong nông thôn gắn với chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Nền NN phát triển gắn với quá trình CNH càng đẩy mạnh thì tất yếu sẽ xuất hiện nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo xu thế từ đất NN sang đất phi

NN, hoặc từ đất trồng lúa sang đất trông cây công nghiệp, chăn nuôi, nuôi thủy sản… Nếu không thừa nhận quá trình đó, một mặt sẽ làm cho quá trình này tuột khỏi sự quản lý của Nhà nước đi theo hướng kênh ngầm Mặt khác sẽ ngăn cản sự vận động của quan hệ đất đai theo hướng sử dụng hợp lý hơn, có hiệu quả hơn Việc chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng là điều kiện tiền đề quan trọng trong quan hệ đất đai vận đọng theo quy luật kinh tế khách quan Đất đai được tích

tụ tập trung một cách hợp lý vào những người chủ có năng lực sản xuất, kinh doanh thực sự có hiệu quả, đồng thời quá trình này sẽ là một trong những động lực thúc đẩy sự phân công lại lao động ở nông thôn theo hướng "ai giỏi nghề gì làm nghề đấy" từng bước rút bớt lao động NN sang lao động công nghiệp, dịch vụ Tuy nhiên nhà nước từng bước có biện pháp hỗ trợ tài chính cho các địa phương để quy hoạch lại đồng ruộng, chuyển đổi cơ cấu sản xuất khuyến khích nông dân chuyển đổi ruộng đất cho nhau để khắc phục tình trạng manh mún

1.2.2 Những vấn đề về manh mún ruộng đất

a Khái niệm manh mún ruộng đất

Khái niệm manh mún được hiểu theo 2 khía cạnh : [12]

- Sự manh mún về quy mô thửa đối với một đơn vị sản xuất (hộ nông dân), một hộ có nhiều thửa ruộng với kích thước mỗi thửa tương đối nhỏ

- Sự manh mún thể hiện quy mô đất đai trên một đơn vị sản xuất (hộ nông dân), quy mô diện tích quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu

tố sản xuất khác

Hai kiểu manh mún này đều dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả sản xuất, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cản trở bước tiến của quá trình CNH, HĐH NN, nông thôn Ngoài ra tình trạng manh mún ruộng

Trang 20

đất còn gây nên những khó khăn trong quy hoạch, quản lí và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai

b Thực trạng manh mún ruộng đất ở Việt Nam

Ở Việt Nam, tình trạng manh mún ruộng đất diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là

ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam Trên thực tế, khái niệm manh mún ruộng đất xuất hiện từ khi chia ruộng cho các hộ nông dân theo nghị định 64/CP năm 1993 của Chính Phủ Theo số liệu tổng hợp của Bộ tài nguyên và môi trường cho thấy, cả nước có khoảng hơn 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ có 0.25- 0.5 ha đất NN với con số bình quân 6.8 thửa đất/ hộ Khu vực có mức độ manh mún nhiều nhất là Trung du miền núi phía Bắc, ĐBSH và khu 4 cũ

Theo thống kê của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển NN và nông thôn (1999), 70.36% hộ nông thôn có diện tích canh tác khoảng 0,5 ha Trong đó chỉ có 3,46% số hộ có diện tích canh tác lớn hơn 3 ha Từ năm 2004 đến 2006, tỉ lệ

hộ có diện tích lớn hơn 3,6 ha tăng lên 4.6 lần Tỉ lệ các hộ có diện tích trung bình thấp hơn 0,5 ha (94,2%) trên khắp khu vực nông thôn

Vào giai đoạn năm 1998 - 2000, ĐBSH có khoảng 672 000 ha đất NN phân cho 2 643 000 (Lưu ý sửa lại cách viết sô cho đúng trong toàn LV) hộ sử dụng, bình quân chỉ có 0.25 ha/hộ hay khoảng 625 m2

/khẩu NN Theo số liệu của tổng cục địa chính trung bình một hộ ở ĐBSH có 7 - 8 mảnh ruộng (cá biệt có tới 25 mảnh), như vậy mỗi mảnh trung bình chỉ rộng 317 m2

(cá biệt có mảnh chưa đầy 10 m2

[19]

Nếu lấy tròn số thì cả nước hiện nay có 7 843 ngàn ha đất NN thuộc về

10824 ngàn hộ sử dụng và chia thành 75 triệu mảnh (số liệu của Tổng cục địa chính) Tính trung bình cả nước 1 hộ sử dụng 0.72 ha đất NN và trung bình một mảnh là 1045 m2 Xét cả về quy mô trung bình của hộ lẫn diện tích trung bình 1 mảnh thì quy mô ruộng đất ở ĐBSH đều chỉ bằng 1/4 đến 1/3 so với trung bình cả

nước Đó là một thách thức đối với sản xuất ở đây [20]

Trang 21

Bảng 1.1: Số hộ sử dụng đất sản xuất NN phân theo quy mô sử dụng đất

của một số tỉnh thuộc vùng ĐBSH

(ĐVT ha) S

(Nguồn: TCTK, kết quả tổng điều tra NT, NN và TS năm 2006 [15], Hà Nội,

Hà Tây, Vĩnh Phúc, số liệu trước khi chia tách, sáp nhập)

Bảng 1.2: Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh ĐBSH

Trang 22

c Các đặc điểm manh mún ruộng đất ở ĐBSH

- Thứ nhất: Sự manh mún ruộng đất không có mối quan hệ nào mật độ dân

số Nói cách khác không phải khu vực nào đông dân thì ruộng đất cũng manh mún theo

- Thứ hai: Sự manh mún ruộng đất thể hiện sự khác biệt giữa các vùng Địa hình khu vực nào bị chia cắt nhiều thì manh mún ít hơn so với khu vực địa hình bằng phẳng

- Thứ ba: Trong cùng một vùng, mức độ manh mún cũng không giống nhau Các khu vực ngoài đê, hoặc ô trũng thì ít bị xé nhỏ hơn so với khu vực trong đê

- Thứ tƣ: Sự manh mún ruộng đất còn phụ thuộc vào đối tƣợng quản lý ruộng đất Những nơi có tỷ lệ diện tích đất công điền thấp thì mức độ manh mún càng cao Hay hiểu theo cách khác là đất đai càng bị tƣ hữu triệt để thì tình trạng manh mún ô

thửa càng lớn.[6]

Trang 23

d Nguyên nhân của tình trạng manh mún ruộng đất

Nguyên nhân khách quan nhất dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất là sự phức tạp của địa hình ở mỗi địa phương Do được khai phá từ rất sớm ruộng đất của các làng xã đã bị các đê bối phân cắt thành các ô thửa có địa hình cao thấp khác nhau Mỗi làng, mỗi xã đều có ruộng cao ruộng thấp và ruộng vàn khá phức tạp Nguyên nhân chủ quan thể hiện qua tư tưởng: chia đều ruộng đất cho tất cả các con cái Ở Việt Nam, ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các con sau khi ra ở riêng, vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ sản xuất nhỏ Ngoài ra thì tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ Do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi liên quan đến ruộng đất Và nguyên nhân thứ 4 là liên quan đến phương pháp chia ruộng bình quan theo nguyên tắc “có tốt, có xấu” khi thực hiện nghị định 64/CP của Chính phủ

Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có được sự công bằng giữa các hộ đã góp phần không nhỏ tới tình trạng manh mún ruộng đất

Quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng

và nhiều lý do sau đây khiến đa số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:

- Tất cả các hộ đều phải có ruộng xa - gần, tốt - xấu, cao - thấp, có như vậy mới thể hiện được tính công bằng xã hội;

- Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ

- Do hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều đất cho các hộ

- Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như: úng, hạn, chua… do

đó việc chia đều rủi ro cho các hộ là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng [29]

đ Hạn chế của tình trạng ruộng đất manh mún và những nhu cầu mới đặt ra Một là: Hạn chế khả năng cơ giới hóa NN

Giảm chi phí lao động chỉ được chuyển từ lao động thủ công sang cơ giới, để

cơ giới hóa được phải có quy mô diện tích của thửa đất đủ lớn, mặc dù hiện nay có nhiều loại máy nhỏ, phù hợp với quy mô sản xuất của hộ gia đình Theo số liệu của

Bộ NN và Phát triển nông thôn đã khảo sát tại xã Đại Tập huyện Khoái Châu (Hưng Yên), mỗi hộ có đến 12- 15 thửa, có thửa dài hàng cây số, thậm chí 2 km và chỉ

Trang 24

gieo được 1- 2 hàng ngô Tình trạng này không chỉ xảy ra ở xã Đại Tập huyện Khoái Châu mà còn có ở hầu hết các xã ven sông Hồng Tại các xã phân bố trong nội đồng cũng diễn ra tương tự, mảnh đất không dài như ngoài đê nhưng diện tích thửa đất nhỏ, trung bình 288 m2, nhỏ nhất 10 m2 (Báo cáo dồn ghép ruộng đất trong NN tỉnh Vĩnh Phúc) Do vậy, làm cản trở quá trình đầu tư, mua sắm thiết bị

Hai là: Hạn chế khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

Đất đai manh mún, phân tán không khuyến khích người lao động, hộ gia đình, cá nhân đầu tư lao động, vốn, vật tư để thâm canh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng đa dạng hóa cây trồng, đặc biệt là hạn chế khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng Qua khảo sát các mô hình cho thấy, trong một lô đất

có nhiều hộ sử dụng, khả năng vốn, trình độ canh tác không đồng đều, từ giống cây trồng, đầu tư phân bón, điều tiết nước tưới, phòng trừ sâu bệnh và các biện pháp canh tác cũng khác biệt, phần lớn các hộ gia đình cho rằng với một ruộng nhỏ, có đầu tư áp dụng các tiến bộ kỹ thuật thì hiệu quả kinh tế tăng không đáng kể, nếu mất mùa còn ảnh hưởng khác Do vậy năng suất cây trồng thấp so với nhiều hộ có

lô đất rộng, để đầu tư áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đây cũng là nguyên nhân làm cho hiệu quả kinh tế của một đơn vị diện tích đất thấp

Ba là: Giảm diện tích đất canh tác NN

Nguyên nhân làm giảm diện tích đất canh tác có nhiều, trong đó có nguyên nhân do đất manh mún nên phải đắp bờ ngăn giữa các hộ nhiều, và một phần diện tích đất "đầu thừa đuôi thẹo" dư thừa khi giao chia trong cùng một lô đất

Theo báo cáo kết quả DĐĐT tại Hưng Yên khi giao đất theo nghị định 64/CP ngày 27/9/1993, diện tích đất NN có 89 nghìn ha, nhưng năm 2001 khi thực hiện chỉ thị 05/CT- TU của thường vụ tỉnh ủy và quyết định số 34/2001/QĐ- UB của UBND tỉnh Hưng Yên về thí điểm DĐĐT thì diện tích đất NN lên đến 92.309 ha,

Trang 25

chênh lệch 3309 ha, tăng 4% Một số địa phương khác (tỉnh Hà Tây cũ, Vĩnh Phúc) cũng có tình trạng tương tự Theo số liệu tổng hợp của nhiều địa phương thì tình trạng manh mún đất đai đã làm giảm diện tích đất canh tác trung bình từ 2,4- 4% diện tích Như vậy, nếu khắc phục được tình trạng nói trên chỉ riêng ĐBSH sẽ tăng thêm ít nhất 20 nghìn ha đất NN

Bốn là: Tình trạng manh mún ruộng đất làm gia tăng chi phí hoàn thiện hồ

sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ

Quá trình hoàn thiện hồ sơ địa chính gồm nhiều khâu công việc từ đo đạc, giao đất ngoài thực địa, lập sổ mục kê, cấp GCNQSDĐ, đăng ký theo dõi biến động, giúp cho công tác quản lý đất đai được chặt chẽ Do quy mô diện tích thửa đất nhỏ, số thửa trong một hộ nhiều, các địa phương phải tăng việc can vẽ bản đồ hoặc trích đo bổ sung

Theo tính toán của nhiều địa phương khi thực hiện nghị định 64/CP, chỉ riêng đo đạc đã tăng 1,5 - 2 lần, nếu tính chi phí từ khâu đo đạc đến hoàn thiện HSĐC và cấp GCNQSD cho người sử dụng thì tăng từ 30- 50% so với tổng chi phí thực hiện ở địa bàn đã DĐĐT (chỉ còn 1- 4 thửa/ hộ)

Năm là : Tình trạng manh mún ruộng đất làm tăng chi phí trong sản xuất NN

Để đảm bảo công bằng cho người sử dụng đất, nguyên tắc giao đất ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân có "xa, gần, tốt, xấu" nên ruộng đất của mỗi hộ có nhiều thửa và nằm ở nhiều xứ đồng khác nhau Ví dụ: kết quả điều tra ở xã Phương

Tú, huyện Ứng Hòa có hộ có 25 thửa đất phân bố ở 25 xứ đồng, xứ đồng xa nhất 2

km, nếu tính trung bình 1 tháng đi thăm đồng 4 lần thì trong 1 vụ phải đi 32 km, chưa kể đoạn đường dích dắc từ thửa nọ đến thửa kia Như vậy, thời gian để đi lại thăm đồng, chăm sóc rất lớn do phải chạy thửa so với khi dồn lại chỉ còn 1 đến 2 thửa, hiệu quả kinh tế sản phẩm làm ra giá thành sẽ cao lên, do tăng ngày công lao động Nếu sản phẩm làm ra hàng hóa, thì sức cạnh tranh về giá kém so với sản phẩm cùng loại được sản xuất trong điều kiện tập trung đất đai với quy mô lớn

Mặt khác, sản xuất NN ở nước ta về cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hóa, đặc biệt như một số nông sản chủ yếu: cafe, cao su, điều Quá trính sản xuất

NN hàng hóa tập trung chủ yếu ở vùng có quy mô bình quân đất NN lớn và có lợi thế cạnh tranh về mặt hàng hóa nông sản, gạo hàng hóa ở ĐBSCL, cafe ở Tây

Trang 26

Nguyên, chè ở các tỉnh vùng núi phía Bắc Các vùng như ĐBSH được coi là vùng

có thế mạnh về sản xuất lương thực, thực phẩm nhưng trong điều kiện quy mô đất

NN của từng hộ rất thấp, bình quân 0.05 ha/người, tình trạng đất manh mún đã làm

hạn chế khả năng sản xuất hàng hóa nông sản [3]

Như vậy, tình trạng manh mún đất đai, ảnh hưởng đến phát triển sản xuất

NN, hàng hóa cản trở quá trình CNH, HĐH NN, nông thôn, tăng chi phí sản xuất, làm mất đất canh tác và làm tăng đáng kể chi phí hoàn thiện HSĐC, gây khó khăn cho việc quản lý nhà nước về đất đai Chính vì lẽ đó ngay khi giao ruộng cho hộ nông dân, nhiều địa phương đã tự nguyện DĐĐT tạo điều kiện sản xuất hàng hóa

[18]

1.2.3 Nhu cầu DĐĐT ở nước ta

Tác động tiêu cực của tình trạng manh mún ruộng đất đến sản xuất, Chính phủ đã ban hành một số văn bản, chỉ thị liên quan như : Chỉ thị số 10/1998/CT-TTg ngày 20 tháng 2 năm 1998 và chỉ thị số 18/1999/CT-TTg ngày 1 tháng 7 năm 1999, nhằm khuyến khích nông dân và chính quyền địa phương các cấp chuyển đổi ruộng đất từ các ô thửa nhỏ thành các ô thửa lớn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho canh tác

Ở một số địa phương để giải quyết trước mắt tình trạng manh mún về số thửa

và quy mô thửa ruộng, người ta đã tổ chức cho nông dân dồn đổi ruộng Quá trình này được tổ chức dân chủ Nông dân tự nguyện đổi ruộng cho nhau, họ sẽ bàn bạc xây dựng để đi đến thống nhất phương án đổi ruộng và quy hoạch thuỷ lợi nội đồng Chính quyền các cấp là người tổ chức và trọng tài cho quá trình này Các tỉnh như

Hà Tây (cũ), Thanh Hoá là các địa phương đi đầu trong công tác này Ví dụ của thị

xã Bỉm sơn dưới đây chứng minh cho thành công bước đầu này

Thị xã Bỉm Sơn quyết định tiến hành dồn ruộng năm 1999 Khi chưa dồn ruộng bình quân một hộ ở đây có 8.5 mảnh, cao có thể đến 15 mảnh Trung bình mỗi mảnh là 310 m2 Sau khi dồn ruộng, số thửa trên cả thị xã giảm từ 26.492 thửa xuống còn 11.595 thửa, giảm 56% Mỗi hộ nông dân sau khi dồn ruộng chỉ còn 3,8 thửa Trong khi đó diện tích trung bình thửa đã đạt 748 m2

Chúng ta cũng có thể quan sát được ở một vài địa phương trong ĐBSH tuy công tác dồn ruộng quy hoạch lại ruộng đồng chưa trở thành phong trào ở địa

Trang 27

phương, chính quyền chưa tham gia vào việc tổ chức hoạt động này nhưng do nhu cầu sản xuất người dân đã tự đứng ra mua bán, chuyển nhượng hoặc đổi chác cho nhau để có thể mở rộng quy mô các mảnh ruộng, tăng diện tích đất của hộ gia đình

Ví dụ này có thể thấy rõ nhất ở vùng vải Thanh Hà, Hải Dương Trước đây khi chia ruộng theo quyết định số 721/ UB của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Hưng (cũ), thì ruộng đất ở đây cũng được xé nhỏ chia đều cho các hộ, bởi thế kích thước trung bình mảnh chỉ đạt trên dưới 200 m2/mảnh Với kích thước này thì việc chuyển đổi đất ruộng cấy lúa sang lập vườn là không hiệu quả Một mảnh vườn trồng vải để bảo đảm được kích thước luống và mật độ cây trồng cũng như đầu tư quy hoạch và chăm sóc thì tối thiểu nó cần đạt 400 m2

trở lên, tốt nhất là khoảng 1000 m2/mảnh Bởi thế cho nên người dân đã tự chuyển thửa, đổi chác thậm chí mua bán để tự quy hoạch các mảnh ruộng của mình Kể từ năm 1997 trở lại đây chúng tôi quan sát được kích thước của các ô ruộng vùng chuyển đổi đã tăng gấp đôi (400 m2/mảnh) Trong vùng nhiều hộ nông dân đã có tổng diện tích canh tác lên đến hơn 1 ha do họ

đầu tư mua thêm ruộng [20]

1.2.4 Mối quan hệ giữa xây dựng NTM và DĐĐT hiện nay

Xây dựng NTM được khởi động từ năm 2010, bao gồm 19 tiêu chí, trọng tâm vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Trong 19 tiêu chí, có 6 tiêu chí gồm: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch; Giao thông; Thủy lợi, Cơ cấu lao động; Hình thức tổ chức sản xuất; Môi trường gắn liền với lập đề án dồn điền đổi thửa Các xã trước khi lập đề án dồn điền đổi thửa phải áp dụng 6 tiêu chí xây dựng NTM này để đảm bảo ruộng đồng được quy hoạch quy củ, phân rõ khu sản xuất tập trung, quy hoạch hệ thống giao thông nội đồng, hệ thống thủy lợi Do đó các địa phương xây dựng đề án dồn điền đổi gắn với chương trình “Phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, gắn với xây dựng NTM” Muốn phát triển kinh tế nông nghiệp có hàng loạt vấn đề liên quan cần giải quyết như quy hoạch nông thôn, chính sách đất đai, xác định và thành lập vùng chăn nuôi, trồng trọt, đầu tư tài chính, đào tạo nguồn nhân lực, đưa khoa học công nghệ có hàm lượng chất xám cao vào phát triển nông nghiệp Theo đó, Cơ quan Sở Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu ra các văn bản hướng dẫn: Tổ chức thực hiện công tác dồn điền, đổi thửa đất NN tại mỗi tỉnh Đây là tài liệu quan trọng, có tính pháp lý cao để làm tài liệu phổ biến cho

Trang 28

cán bộ, nhân dân Căn cứ vào hướng dẫn của cấp trên, các thôn xây dựng quy hoạch, kế hoạch dồn điền, đổi thửa họp thống nhất từ chi bộ, tới các đoàn thể và nhân dân trong thôn tham gia Qua thảo luận, góp ý điều chỉnh, thống nhất cao, Ban chỉ đạo của thôn căn cứ quy hoạch thực hiện dồn điền, đổi thửa trên đồng ruộng

1.3 Tình hình DĐĐT trong nước, hiệu quả trong công tác quản lý Nhà Nước về đất NN

1.3.1 Tình hình DĐĐT của một số tỉnh

Xuất phát từ yêu cầu phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN, chuyển đổi cơ cấu cây trồng đòi hỏi ruộng đất phải có ô thửa lớn, đất đai phải được tích tụ, tập trung ở một quy mô nhất định, nhiều hộ nông dân ở các địa phương đã chuyển đổi ruộng đất cho nhau để tiện canh tiện cư, thuận lợi cho phát triển sản xuất Trước yêu cầu của thực tiễn sản xuất và nhu cầu của nông dân, một số tỉnh, thành phố đã có chủ trương vận động nông dân chuyển đổi ruộng đất Đến nay đã

có 18 tỉnh, thành phố, gần 80 huyện và trên 700 xã, phường, thị trấn tiến hành vận động nông dân chuyển đổi ruộng đất, nhiều tỉnh có chỉ thị, nghị quyết của tỉnh ủy, hội đồng nhân dân, quyết định của UBND tỉnh về chuyển đổi ruộng đất

Đến nay có 11 tỉnh thuộc ĐBSH với 50/96 huyện, thị xã (52,7%) với 766/2001 xã, phường, thị trấn (38,1%) tổ chức thực hiện DĐĐT, ở Nghệ An có 8/19 huyện, thị xã với 217/466 xã, phường, thị trấn; ở Hà Tĩnh có 11/11 huyện đã tiến

hành [2]

Về số thửa bình quân của mỗi hộ ở Hà Nội trước khi DĐĐT là 6 thửa, sau khi chuyển đổi mỗi hộ bình quân còn 4,8 thửa; ở Hà Tây (cũ) con số này là 9,5 thửa

và 4,8 thửa; Bắc Ninh từ 11,7 và 7 thửa; Hải Dương 9,2 thửa và 3,7 thửa; Hưng Yên

8 thửa và 6 thửa; Hà Nam là 8,1 và 4,2 thửa [2]

Những địa phương xuất hiện DĐĐT đã gắn với công tác quản lý nhà nước về đất đai, rà soát kiểm tra lại quỹ đất NN của địa phương từ đó giúp cho công tác thống kê, lập HSĐC, cấp GCNQSDĐ cho hộ nông dân được thực hiện nhanh chóng, chính xác Đưa việc theo dõi biến động, quản lý đất đai chặt chẽ, đi vào nề nếp

Trang 29

Diện tích đất đai có điều kiện để rà soát, bổ sung xây dựng và hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, phục vụ kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, xây dựng NTM, nông thôn văn minh, hiện đại

DĐĐT ở các địa phương đã tạo ra các thửa ruộng lớn hơn, số thửa ở các tỉnh, thành phố đã giảm đi rõ rệt: ở Hà Nội giảm 80,3%, Hà Tây giảm 50,9%, Hưng Yên giảm 67,6%, Hà Nam giảm 47,2%, Nghệ An giảm 56%, Hà Tĩnh 33,3%

Bình quân diện tích mỗi thửa ở Hà Nội trước khi DĐĐT là 286,9 m2

, sau khi DĐĐT 357 m2 ; tỉnh Hà Tây là 216,8 m2 và 425 m2; tỉnh Hải Dương là 283 m2 và

đã làm tăng diện tích đất canh tác (quy mô một xã khoảng 400 ha canh tác diện tích) diện tích dôi ra do bỏ bờ đã tăng thêm từ 10- 16 ha

Thực hiện việc DĐĐT, nông thôn các địa phương đã gắn với việc quản lý sử dụng ngân sách, nguồn thu từ đất, giúp cho việc quản lý chi tiêu đúng pháp luật, chính sách, hạn chế tiêu cực xảy ra Chuyển đổi ruộng đất đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc như thu hồi nợ đọng của hộ xã viên, giải quyết tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai, những nghị kỵ ngờ vực do việc giao đất không công bằng, tạo được không khí hồ hởi, phấn khởi, đoàn kết trong thôn, xóm thi đua sản xuất, làm giàu chính đáng

DĐĐT thực hiện trong NN đã tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển Đã huy động được nguồn lực của kinh tế hộ nông dân, phát huy tính tự chủ của đơn vị kinh tế cơ sở, hộ có điều kiện đầu tư thâm canh, bố trí lại cơ cấu sản xuất, thời vụ cây trồng vật nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng để tăng vụ, tăng năng xuất lao động, tạo nhiều sản phẩm, đạt hiệu quả kinh tế cao Nhiều địa phương đã

và đang hình thành vùng sản xuất nông sản hàng hóa, trang trại NN xuất hiện ngày càng nhiều Theo số liệu báo cáo của các địa phương, sau khi thực hiện chính sách DĐĐT sau một vài vụ sản xuất, năng xuất cây trồng tăng 10- 15%, giá trị thu nhập tăng từ 13 triệu đồng/ ha / năm lên 18 triệu đồng và có nhiều diện tích đạt tới 25- 30 triệu đồng/ha/năm, một số nơi đạt từ 50- 60 triệu /ha/năm Nhiều địa phương sau

Trang 30

khi chuyển đổi ruộng đất, thực hiện DĐĐT đã xắp xếp lại lực lượng lao động, rút lao động dư thừa sang làm ngành nghề khác như sản xuất tiểu thủ công nghiệp Ví

dụ như huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa), Từ Sơn, Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh), huyện Hoài Đức, Thanh Oai (tỉnh Hà Tây)

Tóm lại thực hiện việc DĐĐT ở các địa phương, đồng ruộng được cải tạo thành những thửa ruộng lớn, thuận lợi cho việc cơ giới hóa, nhân dân có điều kiện mua sắm máy móc, phục vụ sản xuất NN, giải phóng sức lao động, đặc biệt là những khâu nặng nhọc như làm đất, bơm nước, tuốt lúa, và dịch vụ sản xuất sau trong nông thôn có điều kiện để phát triển

DĐĐT ở các địa phương đã làm thay đổi cách nghĩ, cách làm của nhiều hộ nông dân, trước đây họ còn do dự, trần trừ với thói quen canh tác trên thửa ruộng nhỏ, lẻ tẻ, chật hẹp nay sản xuất ở thửa lớn, nếp nghĩ, cách làm cũng vượt khỏi tầm suy nghĩ "tự cung tự cấp" để vươn lên sản xuất hàng hóa, vươn lên làm giàu, phù hợp với tiến trình CNH NN, HĐH nông thôn

1.3.2 Những kết quả đạt được trong quản lý Nhà nước về đất đai và sản xuất NN sau DĐĐT

- Chuyển đổi ruộng đất khắc phục cơ bản tình trạng manh mún

Bảng 1.3: Tình hình chuyển đổi ruộng đất ở một số địa phương

Đơn vị hành

chính

Tổng số thửa

Bình quân số thửa/ hộ

Diện tích bình quân/thửa (m 2 )

Trang 31

- DĐĐT gắn liền với công tác quản lý Nhà nước về đất đai

DĐĐT là thời điểm kiểm tra lại quỹ đất NN, công tác lập HSĐC được nhanh chóng, chính xác Minh họa ở tỉnh Ninh Bình, qua chuyển đổi ruộng đất, các huyện

đã đo đạc, rà soát lại quỹ đất phát hiện đất dôi dư: qua báo cáo của 22 xã phát hiện diện tích dư là 491,93 ha; trong đó xã Sơn Hà (huyện Nho Quan) 200ha, Yên Thắng (huyện Yên Mô) 36,86 ha… Bên cạnh đó đã có 53 xã lập HSĐC để cấp đổi

GCNQSDĐ, làm cơ sở pháp lý để Nhà nước quản lý lâu dài về đất đai [4] Điều đó

đã gớp phần làm cho việc quản lý Nhà nước về đất đai được chặt chẽ, nề nếp, hiệu quả hơn

DĐĐT đã là cho diện tích đất công ích của xã được dồn gọn vùng, gọn thửa

để tiện quản lý, canh tác và sử dụng vào mục đích chung của xã

DĐĐT tạo các ô thửa lớn, tiết kiệm diện tích đắp bờ, phát hiện diện tích giao thiếu công bằng ở một số nơi và giải quyết những vướng mắc, mâu thuẫn phát sinh trong sử dụng đất đai

- DĐĐT góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển

Sau DĐĐT có thể nói phần lớn đồng ruộng đã được quy hoạch đảm bảo việc

sử dụng lâu dài và hiệu quả Đất giao thông nội đồng, hệ thống thủy lợi, đất vùng chuyển đổi đều rõ rang, đất công điền được tập trung, có thể đa dạng hóa về mục

Trang 32

đích sử dụng Ở Hải Dương, sau khi chuyển đổi ruộng đất người dân đã tích cực đóng góp công sức, tiền của xây dựng mương máng, giao thông nội đồng, ngày công Sau DĐĐT, bà con hoạch toán qua một vài vụ sản xuất thấy năng suất tăng 5-

10 tạ/ha; chi phí điện nước, công lao động tiết kiệm được 10-15% Thu hoạch vụ

đông, thương nhân vào mua tận ruộng [5]

DĐĐT đã phát huy được tính tự chủ của đơn vị kinh tế hộ nông dân trong đầu tư thâm canh cây trồng vật nuôi Có điều kiện để bố trí cơ cấu sản xuất, thời

vụ, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào đồng ruộng, tăng vụ, tăng năng suất lao động, bước đầu hình thành các trang trại NN, hiệu quả kinh tế đạt cao hơn

DĐĐT đã tác động tích cực tới nhiều mặt trong quá trình phát triển kinh tế

xã hội ở địa phương Đây là điều kiện để hợp tác kinh tế nảy nở, từ mô hình hợp tác, mô hình doanh nghiệp NN đến hợp tác kinh tế vùng Từ đó thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đầu tư và xúc tiến thị trường tiêu thụ cho sản xuất hàng hóa nông sản

DĐĐT thành công giúp người dân tiết kiệm được thời gian lao động, chi phí sản xuất ở các khâu canh tác, chăm bón… các hộ mạnh dạn đầu tư mua máy móc

NN phục vụ cho các hộ khác, góp phần giải phóng sức lao động làm cho hiệu quả

kinh tế và hiệu quả sử dụng đất cao hơn [6]

Trang 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA

HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Phân tích điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ảnh hưởng đến dồn điền đổi thửa

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Đặc điểm chung của huyện Mỹ Đức

Huyện Mỹ Đức là một huyện ngoại

thành của thành phố Hà Nội gồm 21 xã,

01 thị trấn, cách nội thành Hà Nội

khoảng 40km về phía Tây Nam, cách

thành phố Phủ Lý (tỉnh Hà Nam) khoảng

20km, giáp với huyện Lương Sơn (tỉnh

Hòa Bình) về phía Tây, nằm trên tuyến

cao tốc Tây Bắc nối QL5B và đường Hồ

Chí Minh

Phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ;

Phía Nam giáp tỉnh Hà Nam; Phía Đông

giáp huyện Ứng Hòa; Phía Tây giáp

huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là

Trang 34

- Địa hình đồng bằng ven sông Đáy: Địa hình bằng phẳng, có độ cao trung bình khoảng 3,8 – 7 m so với mực nước biển; Đây là khu vực thuận lợi cho sản xuất

NN của địa phương

- Khu vực úng trũng nằm chuyển tiếp giữa địa hình núi đá vôi ở phía Tây và địa hình đồng bằng ven sông Đáy ở phía Đông: Gồm nhiều khu vực có địa hình thấp tạo thành các hồ chứa nước lớn như Hồ Quan Sơn, Tuy Lai, Giang Nội là khu vực có điều kiện thuận lợi cho phát triển mô hình kinh tế kết hợp nuôi trồng thủy sản – trồng cây ăn quả

c Khí hậu

Thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ bình quân năm là 23,5 0C Lượng mưa trung bình năm là 1.530 mm, phân bố không đồng đều trong năm, tập trung mưa vào tháng 4- 10; Mùa khô bắt đầu từ cuối tháng 10 đầu tháng 11 đến tháng 3 sang năm

d Thổ nhưỡng

Trên địa bàn huyện Mỹ Đức, gồm các loại đất chính như sau:

- Đất phù sa được bồi hàng năm: Phân bố chủ yếu ở khu vực ngoài đê thuộc các xã Đốc Tín, Vạn Kim, Phù Lưu Tế, Phùng xá, Xuy Xá, Lê Thanh, An Mỹ, Bột Xuyên; Một phần bị ngập nước vào mùa mưa, đất thích hợp với phần lớn các cây màu,cây ăn quả hàng năm và cây công nghiệp ngắn ngày

- Đất phù sa không được bồi hàng năm: Phân bố chủ yếu phía trong đê, ở các

xã Phúc Lâm, Mỹ Thành, Bột Xuyên, An Mỹ, Lê Thanh, Xuy Xá, Phùng Xá, Phù lưu tế, Đại Nghĩa, Đại Hưng, Vạn Kim, Đốc Tín và một phần diện tích xã Đồng

Trang 35

Tâm, Thượng Lâm, Hồng Sơn Hợp Tiến, Hợp Thanh, An Tiến, Hùng Tiến, Hương Sơn, An Phú Hiện đang khai thác trồng lúa 2 vụ và 1 vụ màu

- Đất phù sa Glây: Phân bố ở những nơi có địa hình thấp khó thoát nước chủ yếu ở các xã Đồng Tâm, Thượng Lâm, Hồng Sơn, Hợp Tiến, Hợp Thanh, An Tiến, Hùng Tiến, An Phú, Hương Sơn; hiện đang khai thác trồng lúa

- Đất phù sa úng nước: Phân bố chủ yếu ở các xã Thượng Lâm, Tuy Lai, Hương Sơn, An Phú, Hợp Thanh Đất diễn ra quá trình glây hóa mạnh, một số nơi duy trì lúa 1 vụ, một số thực hiện mô hình trồng lúa-nuôi thả cá nhằm khai thác hiệu quả loại đất này

- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ, vàng: Phân bố chủ yếu ở các xã Đồng Tâm, Tuy Lai và An Phú

- Đất Than bùn: Phân bố tập trung ở Đồng Tâm, An Phú, hình thành ở địa hình trũng, khó thoát nước

- Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của cacbonat: Phân bố ở Hương Sơn, hiện đang khai thác trồng hoa màu

- Đất đỏ vàng trên đá sét: Phân bố chủ yếu ở Hồng Sơn và Hợp Tiến, đang được khai thác trồng rừng

- Đất nâu vàng trên phù sa cổ: Phân bố chủ yếu ở Thượng Lâm, Đồng Tâm, Tuy Lai, An Phú, Hồng Sơn, thuận lợi cho phát triển mô hình trang trại nông-lâm kết hợp

- Đất đỏ nâu trên đá vôi: Phân bố chủ yếu ở Hợp Tiến, Hồng Sơn Hiện được khai thác trồng cây ăn quả như mơ, nhãn, vải, đu đủ

Trang 36

d Thủy văn

Huyện Mỹ Đức hiện có 4 con

sông chảy qua địa bàn Sông lớn nhất

là sông Đáy với chiều dài 40km;

Sông Bùi chảy từ phía Bắc huyê ̣n ;

Sông Thanh Hà là một nhánh của

sông Đáy bắt nguồn từ vùng núi đá

huyện Kim Bôi, Hòa Bình, có chiều

dài 28km; sông Mỹ Hà là sông đào

phía Tây dài 30km và một số kênh

lớn

Hệ thống diện tích mặt nước

lớn tại hồ Quan Sơn - Tuy Lai với

diện tích khoảng 850 ha, đây là

nguồn dự trữ nước ngọt quan trọng;

Hình 2.2: Ảnh vệ tinh thể hiện mạng lưới

sông ngòi huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội

đ Động thực vật

Diện tích rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở vùng Hương Sơn cũng là nơi có nhều loài thực vật Theo thống kê có 350 loài thực vật thuộc 92 họ trong đó có nhiều cây quý hiếm như Lành Xanh, cây Xưa, cây Nho Vàng, cây Lát Hoa

Động vật nói chung là nghèo về loài và số lượng: Có 88 loài chim; 35 loại bò sát; 32 loài thú

e Khoáng sản

Tập trung 2 loại khoáng sản chính là than bùn và đá vôi

- Than bùn: Phân bố rải rác trên các xã, trữ lượng hàng triệu tấn

Trang 37

- Đá vôi: Kéo dài từ xã Đồng Tâm đến xã Hương Sơn, trữ lượng ước khoảng

an dưỡng, tổ chức sự kiện, hội thảo, hội họp kết hợp thăm quan nghỉ dưỡng, tổ chức

lễ hội truyền thống…

Cảnh quan đồi núi

Với đặc trưng địa hình đá vôi núi phía Tây Nam, trong vùng nghiên cứu có nhiều hang động và phong cảnh đẹp có giá trị lịch sử, du lịch lớn như động Hương Tích, động Tiên Sơn

Nhận xét chung: Với sự đa dạng về địa hình, nhiều loại đất gây nhiều khó

khăn trong công tác dồn ruộng, đặc biệt khu vực núi đá vôi phía tây của huyện Thực tế, việc dồn ruộng các huyện ngoại thành như Thanh Oai, Phú Xuyên tuy thực hiện sau so với huyện Mỹ Đức nhưng thời gian kết thúc nhanh hơn do các huyện này địa hình tương đối bằng phẳng Hơn thế, các xã trong huyện cũng có tiến độ khác nhau Việc lên phương án dồn đổi ruộng của các xã Hương Sơn, Tuy Lai có phần chậm hơn so với các xã khác địa hình trong đê Đáy như Phúc Lâm, Mỹ Thành,

An Mỹ Bởi đảm bảo được sự công bằng cho các hộ nông dân nhận ruộng là khó khăn với điều kiện tự nhiên đa dạng phức tạp

2.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội

Năm 2010, quy mô GTTT của huyện đạt 822.7 tỷ đồng (giá 1994), tăng 1,7 lần so với năm 2005 Tốc độ tăng trưởng GTTT thời kì 2006 - 2010 đạt trung bình 10.7% năm Tốc độ tăng giá trị sản xuất của các ngành đều có những tiến bộ đáng

kể

Công nghiệp và dịch vụ là những ngành có tốc độ tăng mạnh mẽ nhất, đạt trung bình 30.9%/ năm và 30.7%/ năm chủ yếu từ sự đóng góp của ngành xây dựng (41.7%); nông lâm thủy sản có tốc độ tăng trung bình 3.0%/ năm trong cùng thời kì,

Trang 38

chủ yếu từ sự đóng góp của ngành thủy sản (15.9%) và chăn nuôi (5.6%/năm) Bình quân thu nhập theo đầu người tăng từ 3,92 triệu đồng/người năm 2005 lên 11 triệu đồng/người/ năm 2010

Tốc độ tăng trưởng của các ngành đã phản ánh xu hướng chuyển dịch kinh tế huyện Mỹ Đức theo hướng: Tỉ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 57,9% năm 2005 xuống còn 36% năm 2010, tỉ trọng ngành dịch vụ tăng nhanh tương ứng

từ 23.3% lên 35.0%, tỉ trọng công nghiệp tăng từ 18,8% lên 29% Tuy nhiên các hoạt động công nghiệp nhằm khai thác và chế biến sản phẩm từ NN còn rất hạn chế Tốc độ chuyển dịch lao động theo ngành là khá chậm

a Khu vực I: Nông, lâm, ngư nghiệp

Huyện Mỹ Đức về cơ bản là huyện thuần nông, tỉ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp tuy có giảm nhưng vẫn chiếm 36% giá trị sản xuất, lao động trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 73.7% tổng số lao động của huyện

Đất dành cho sản xuất NN chiếm tỷ trọng lớn, về lâu dài hình thành các vùng sản xuất lúa chất lượng cao

b Khu vực II: Công nghiệp - xây dựng

Nhóm ngành công nghiệp - xây dựng của huyện Mỹ Đức trong giai đoạn

2006 - 2010 có GTSX trung bình năm đạt 30.9%/ năm, nhóm ngành xây dựng cơ bản đạt 41.7%/ năm Tổng giá trị sản xuất nhóm ngành công nghiệp - xây dựng năm

2010 ước đạt 749.8 tỉ đồng

Nghề thủ công truyền thống điển hình là dệt, nhuộm, thêu, mây tre đan, mộc, chế biến nông sản Một số làng nghề như làng nghề Phùng Xá (được công nhận là làng nghề truyền thống), Thượng Lâm, Đồng Tâm, Tuy Lai, An Tiến

c Khu vực III: Dịch vụ

Tổng giá trị sản xuất ngành dịch vụ năm 2010 ước đạt 613 tỉ đồng, đạt 94.2%

so với kế hoạch Tốc độ tăng trưởng trung bình thời kỳ 2006 - 2010 là 30.7%/năm

- Thương mại - dịch vụ: Hoạt động thương mại trên địa bàn huyện khá phát triển, hàng hóa đa dạng, đáp ứng được phần lớn nhu cầu và sức mua của người dân Hiện trên địa bàn huyện có 1 trung tâm thương mại ở thị trấn Đại Nghĩa, 2 chợ

Trang 39

phạm vi vùng ở xã Hương Sơn và xã An Mỹ Toàn khu vực nông thôn huyện Mỹ Đức hiện có 27 chợ, chưa có chợ nào đạt chuẩn theo tiêu chí chợ nông thôn mới

- Du lịch: hiện nay, trên địa bàn huyện đang chỉ có một khu vực xã Hương Sơn đang khai thác các hoạt động du lịch lễ hội Các khu vực như khu An dưỡng đường tại xã Tuy Lai, khu du lịch Quan Sơn tại xã Hợp Tiến và Hồng Sơn vẫn còn đang ở giai đoạn dự án, chưa khai thác

2.1.3 Dân số và lao động

Theo thống kê của Huyện năm 2010 dân số là 172.910 người, mật độ dân số

là 747người/km2 Năm 2011 dân số tính đến 31/12/2011 là 177.020 người, mật độ dân số là 757ng/km2, nữ là 89.800 người chiếm tỷ lệ 50,7% Dân cư tập trung phần lớn ở những xã thuộc khu vực đồng bằng phía Đông ven sông Đáy

Tỷ lệ dân số đô thị của huyện năm 2010 là 6.602 người, đạt tỷ lệ 3,8%, năm

2011 là 6.809 người, đạt tỷ lệ 3,9%

Về nguồn lao động: khá dồi dào Tính đến năm 2009, số người trong độ tuổi lao động có 88.734 người, chiếm 51,9% dân số, trong đó lao động NN chiếm 62,1%; công nghiệp - xây dựng chiếm 10%; dịch vụ thương mại chiếm 27,9%

Số

Số lượng %

Lâm 2.133 56,00% 838 22,00% 838 22,00% 3.809 Tuy Lai 2.816 43,79% 1.866 29,02% 1.749 27,20% 6.431

Trang 40

Phúc Lâm 2.572 46,99% 1.423 26,00% 1.478 27.01% 5,473

Mỹ

Thành 1.339 69,99% 383 20,02% 191 9.98% 1,913 Bột

An Mỹ 3.027 72,40% 711 17,01% 443 10.60% 4,181 Hồng Sơn 2.798 67,91%

Sơn 2.488 23,11% 156 14,49% 672 62,41% 10,768 Hùng

Tiến 4.406 90,00%

Tính chung LĐ phi

An Tiến 2.003 55,30% 912 25,18% 707 19,52% 3,622 Hợp Tiến 5.156 72,05%

Dân cƣ đƣợc phân bố theo 2 hình thức:

+ Các hộ sống tập trung theo thôn, đội Bình quân đất ở mỗi hộ 100– 210 m2

Ngày đăng: 03/07/2015, 18:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn(2003), Báo cáo thực trạng ruộng đất hiện nay và giải pháp tiếp tục thực hiện việc dồn điền đổi thửa khắc phục tình trạng manh mún đất đai trong nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng ruộng đất hiện nay và giải pháp tiếp tục thực hiện việc dồn điền đổi thửa khắc phục tình trạng manh mún đất đai trong nông nghiệp
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2003
3. Nguyễn Sinh Cúc, Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986- 2002, NXB Thống kê, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986- 2002
Nhà XB: NXB Thống kê
4. Đinh Thị Dung, (2004), Những kinh nghiệm và hiệu quả dồn điền đổi thửa ở Ninh Bình, Báo Đảng, số 10/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kinh nghiệm và hiệu quả dồn điền đổi thửa ở Ninh Bình
Tác giả: Đinh Thị Dung
Năm: 2004
5. Đỗ Nguyên Hải (1999), Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất luợng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững cho sản xuất nông nghiệp, Tạp chi khoa học đất số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất luợng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững cho sản xuất nông nghiệp
Tác giả: Đỗ Nguyên Hải
Năm: 1999
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2003), Báo cáo nghiên cứu đề xuất giải pháp khắc phục các tình trạng manh mún đất đai trong nông nghiệp ở ĐBSH (phần thực trạng và giải pháp chủ yếu) Khác
6. Lã Bình Minh, 2011, Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả dồn điền đổi thửa tại huyện Thanh Miện- tỉnh Hải Dương Khác
9. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mỹ Đức: Báo cáo kiểm kê đất đai, năm 2012, quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, 2030 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Số hộ sử dụng đất sản xuất NN phân theo quy mô sử dụng đất   của một số tỉnh thuộc vùng ĐBSH - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Bảng 1.1 Số hộ sử dụng đất sản xuất NN phân theo quy mô sử dụng đất của một số tỉnh thuộc vùng ĐBSH (Trang 21)
Bảng 1.3: Tình hình chuyển đổi ruộng đất ở một số địa phương - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Bảng 1.3 Tình hình chuyển đổi ruộng đất ở một số địa phương (Trang 30)
Hình 2.1: Bản đồ hành chính  huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội (Trang 33)
Hình 2.2: Ảnh vệ tinh thể hiện mạng lưới  sông ngòi - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Hình 2.2 Ảnh vệ tinh thể hiện mạng lưới sông ngòi (Trang 36)
Bảng 2.1: Thống kê hiện trạng lao động các xã năm 2011 huyện Mỹ Đức - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Bảng 2.1 Thống kê hiện trạng lao động các xã năm 2011 huyện Mỹ Đức (Trang 39)
Bảng 2.3 : Thống kê giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp   huyện Mỹ Đức năm 1994 - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Bảng 2.3 Thống kê giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp huyện Mỹ Đức năm 1994 (Trang 44)
Bảng 2.4: Tổng hợp quy hoạch sử dụng đất huyện Mỹ Đức- TP Hà Nội giai đoạn 2012- 2030 - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Bảng 2.4 Tổng hợp quy hoạch sử dụng đất huyện Mỹ Đức- TP Hà Nội giai đoạn 2012- 2030 (Trang 49)
Hình 2.3: Đồng ruộng xã Đốc Tín  Hình 2.4: Đồng ruộng xã Đại Hưng - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Hình 2.3 Đồng ruộng xã Đốc Tín Hình 2.4: Đồng ruộng xã Đại Hưng (Trang 61)
Bảng 2.5: Tổng hợp báo cáo tiến độ đo đạc bản đồ đất NN trên địa bàn huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội (tháng 8 năm 2014) - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Bảng 2.5 Tổng hợp báo cáo tiến độ đo đạc bản đồ đất NN trên địa bàn huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội (tháng 8 năm 2014) (Trang 62)
Bảng 2.6 : Thực trạng manh mún ruộng đất tại 3 xã   trong vùng nghiên cứu trước DĐĐT - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Bảng 2.6 Thực trạng manh mún ruộng đất tại 3 xã trong vùng nghiên cứu trước DĐĐT (Trang 65)
Bảng 2.7: Mội số kết quả sau DĐĐT ở 3 xã trong vùng nghiên cứu  Xã  Tổng số - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Bảng 2.7 Mội số kết quả sau DĐĐT ở 3 xã trong vùng nghiên cứu Xã Tổng số (Trang 66)
Hình 2.5: Cánh đồng xã Mỹ  Thanh trước DĐĐT - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Hình 2.5 Cánh đồng xã Mỹ Thanh trước DĐĐT (Trang 68)
Hình 2.7: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm  2012 huyện Mỹ Đức - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Hình 2.7 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2012 huyện Mỹ Đức (Trang 70)
Bảng 3.2: Giá thầu đất công ích thực tế trước DĐĐT - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Bảng 3.2 Giá thầu đất công ích thực tế trước DĐĐT (Trang 72)
Hình 3.1: Đường, mương sau DĐĐT xã Mỹ Thành (ảnh tác giả- 2013) - Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện mỹ đức, thành phố hà nội
Hình 3.1 Đường, mương sau DĐĐT xã Mỹ Thành (ảnh tác giả- 2013) (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm